Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI tại Việt Nam- Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. Xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản lý Nhà nước đối với FDI

Từ khi luật ĐTNN được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1987 đến nay, nước ta đã hình thành được một hệ thống các cơ quan quản lý ĐTNN từ Trung ương tới địa phương. Sự phối hợp tương đối chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý này đã góp phần xử lý tương đối tốt các vấn đề QLNN đối với hoạt động đầu tư, đặc biệt đối với các dự án có vốn đầu tư lớn, sử dụng nhiều lao động và có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế Việt Nam. Công tác hoàn thiện hệ thống bộ máy QLNN đối với hoạt động FDI được chia thành các giai đoạn sau:

Thời kỳ đầu 1987-1989: Từ khi ban hành luật Đầu tư nước ngoài đến khi thành lập Ủy ban Nhà nước (UBNN) về đầu tư

Thời gian này, ĐTTT được coi là một trong những hoạt động kinh tế đối ngoại trực thuộc sự quản lý của Bộ Kinh tế đối ngoại (nay là Bộ Thương mại), với bộ phận giúp việc chuyên trách là Vụ quản lý Đầu tư. Đây là thời kỳ sơ khai của quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài, vì ngoài Luật đầu tư nước ngoài và Nghị định 139/HĐBT (ngày 5-9-1988), Việt Nam chưa ban hành các văn bản dưới luật liên quan, chưa có kinh nghiệm và hiểu biết thông lệ quốc tế. Hơn nữa, thời gian này nước ta vừa mới chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước nên kết quả trong hoạt động FDI đạt được không đáng kể. Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

Thời kỳ 1989-1995: Từ khi thành lập UBNN về hợp tác Đầu tư đến khi thành lập Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Đây là thời kỳ hoạt động mạnh mẽ của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Thời kỳ này được chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn từ 1989 đến 1993 (trước khi ban hành Nghị định 39/CP)

Mặc dù được thành lập tháng 3/1989 nhưng trên thực tế UBNN về hợp tác và đầu tư bắt đầu hoạt động đầy đủ với chức năng cơ quan quản lý đầu tư trực tiếp từ tháng 6/1989. Với mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính để các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được rõ ràng, yên tâm hơn, trong thời gian này, UBNN về hợp tác và đầu tư đã cùng với các bộ, ngành chú trọng nâng cao công tác thẩm định cấp giấy phép đầu tư, tiếp tục nghiên cứu và ban hành các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng cường công tác vận động và xúc tiến đầu tư.

Ngày 9/6/1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định 39/NĐ-CP5, quy định rõ hơn chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của UBNN về hợp tác và đầu tư hoạt động độc lập và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Công việc quan trọng hàng đầu trong thời gian này là vận động, xúc tiến đầu tư, tăng cường quản lý việc triển khai thực hiện dự án và quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau khi được cấp giấy phép đầu tư. Đặc biệt, do thấy rõ được tầm quan trọng của QLNN đối với các dự án sau khi được cấp phép đầu tư, Chính phủ đã thành lập một Vụ chức năng trực thuộc là Vụ Quản lý dự án đầu tư nước ngoài với các chức năng chính sau:

  • Hướng dẫn triển khai thực hiện các dự án sau khi được cấp giấy phép đầu tư.
  • Theo dõi tình hình các chủ đầu tư thực hiện các quy định tại giấy phép đầu tư, các quy định của pháp luật, kiến nghị các vấn đề nghiên cứu về chính sách và pháp luật đầu tư.
  • Phối hợp với các đơn vị, cơ quan liên quan kiến nghị việc điều chỉnh giấy phép đầu tư, cho phép chuyển nhượng vốn, kết thúc quá trình hoạt động, rút giấy phép và giải thể trước thời hạn các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
  • Làm đầu mối với các bộ, địa phương liên quan giải quyết những vấn đề phát sinh tại các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
  • Làm đầu mối tổ chức kiểm tra hoạt động của các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Bộ, theo dõi công tác kiểm tra của các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương về các mặt hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Thời kỳ từ 1/11/1995 đến 1997

Nguồn vốn ĐTTT nước ngoài là một bộ phận cấu thành của các nguồn vốn đầu tư toàn xã hội, các nguồn vốn này cần phải được sắp xếp theo một quy hoạch thống nhất, phù hợp với cơ cấu kinh tế của đất nước theo giai đoạn mới. Do đó, tại kỳ họp thứ 8, khóa IX, Quốc hội đã thông qua việc hợp nhất UBNN về hợp tác và đầu tư với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước lập nên Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Việc hợp nhất này làm cho cơ quan QLNN về đầu tư thêm mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giảm thiểu các thủ tục đầu tư không cần thiết cũng như kết hợp các nguồn vốn đầu tư phát triển.

Thời kỳ từ năm 1997 đến nay

Do tốc độ phát triển của việc hợp tác đầu tư với nước ngoài gia tăng một cách nhanh chóng và việc quản lý ngày càng khó khăn, phức tạp đòi hỏi Chính phủ phải có một hệ thống tổ chức quản lý chuyên trách đủ mạnh đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra. Hơn nữa, việc đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng gia tăng mạnh mẽ, số dự án đầu tư nước ngoài ở các địa phương ngày càng nhiều nên yêu cầu phải có sự phân cấp trong quản lý. Do đó, cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động FDI ở Việt Nam được tổ chức như sau:

Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chính phủ quy định việc cấp giấy phép của Bộ kế hoạch và Đầu tư: Căn cứ vào quy định, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, lĩnh vực, quy mô, tính chất của dự án đầu tư; quyết định việc phân cấp giấy phép đầu tư cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có đủ điều kiện, quy đinh việc cấp giấy phép đầu tư đối với dự án đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Là cơ quan QLNN về đầu tư nước ngoài, giúp Chính phủ quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

  • Chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch thu hút vốn đầu tư nước ngoài, soạn thảo các dự án pháp luật, chính sách về đầu tư nước ngoài, phối hợp với các bộ, các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc QLNN về đầu tư nước ngoài, hướng dẫn UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện pháp luật, chính sách về đầu tư nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam
  • Xây dựng tổng hợp danh mục đầu tư, hướng dẫn về thủ tục đầu tư, QLNN đối với các hoạt động xúc tiến và hướng dẫn đầu tư
  • Tiếp nhận dự án đầu tư và chủ trì, thẩm định, cấp giấy phép đầu tư cho các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền.
  • Làm đầu mối giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành, triển khai và thực hiện dự án đầu tư nước ngoài.
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư nước ngoài.
  • Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ: thực hiện việc QLNN về đầu tư nước ngoài theo chức năng và thẩm quyền:

  • Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc xây dựng pháp luật, chính sách, quy hoạch liên quan đến đầu tư nước ngoài
  • Xây dựng kế hoạch, danh mục dự án thu hút vốn đầu tư nước ngoài của ngành, tổ chức vận động, xúc tiến đầu tư.
  • Tham gia thẩm định các dự án đầu tư.
  • Hướng dẫn giải quyết các thủ tục liên quan đến triển khai thực hiện dự án đầu tư.
  • Kiểm tra, thanh tra các hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh thuộc lĩnh vực phụ trách.
  • Thực hiện các nhiệm vụ khác thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

  • Thực hiện việc QLNN về đầu tư nước ngoài trên địa bàn, lãnh thổ theo chức năng và thẩm quyền.
  • Căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội đã được phê duyệt lập và công bố danh mục dự án thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại địa phương tổ chức vận động, xúc tiến đầu tư.
  • Tham gia thẩm định các dự án đầu tư nước ngoài tại địa phương.
  • Tiếp nhận dự án đầu tư, thẩm định, cấp giấy phép đầu tư cho các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo phân cấp của Thủ tướng Chính phủ
  • Giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến hình thành, triển khai thực hiện dự án theo thẩm quyền.
  • QLNN trên địa bàn lãnh thổ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh.
  • Kiểm tra, thanh tra hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Ban quản lý KCN, KCX

Ban quản lý KCN, KCX là đầu mối hướng dẫn các nhà đầu tư vào KCN, KCX theo hồ sơ dự án của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và được ủy quyền tiếp nhận hồ sơ của các dự án đầu tư vào KCN, KCX và thẩm định cấp giấy phép đầu tư cho các dự án đáp ứng đủ các yêu cầu quy định; quản lý hoạt động của các dự án sau khi cấp giấy phép.

Việc thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua đã phản ánh cách nhìn nhận của Nhà nước về tầm quan trọng của FDI trong từng giai đoạn, đáp ứng yêu cầu đặt ra của thực tế và phù hợp với xu thế phát triển của FDI.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến FDI Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

2.1 Quá trình hình thành hệ thống văn bản pháp luật về FDI

Ngày 18/04/1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành điều lệ Đầu tư nước ngoài, văn bản quy định các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ FDI tại Việt Nam. Giữa bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước thời điểm đó, để khôi phục và phát triển kinh tế, Đảng ta đã có chủ trương mở cửa nền kinh tế, thực hiện công cuộc “Đổi Mới” toàn diện, trong đó có việc hoàn thiện, nâng Điều lệ Đầu tư năm 1977 thành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987. Sự ra đời của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo môi trường pháp lý cao hơn để thu hút vốn ĐTNN vào Việt Nam. Luật này đã bổ sung và chi tiết hóa các lĩnh vực cần khuyến khích kêu gọi đầu tư cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Đây là một trong những đạo luật đầu tiên của thời kỳ đổi mới. Việc ban hành Luật ĐTNN tại Việt Nam đã thể chế hóa đường lối của Đảng, mở đầu cho việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ĐTNN, theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.

Thời kỳ đẩy mạnh CNN-HĐH đất nước, việc thu hút FDI vào Việt Nam càng có ý nghĩa quan trọng. Hoạt động hợp tác đầu tư với nước ngoài đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Luật đầu tư nước ngoài tiếp tục được hoàn thiện và được quốc hội khóa IX thông qua ngày 12/11/1996. Cùng với quá trình hoàn thiện luật đầu tư nước ngoài, Nhà nước Việt Nam đã ban hành các văn bản luật như: luật dầu khí, luật dân sự, luật ngân sách, luật bảo vệ môi trường, luật thương mại, pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cá nhân tổ chức nước ngoài thuê đất tại Việt Nam,… đồng thời ban hành các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành pháp luật như các

Đặc biệt trong những năm từ 1997-2000, trước tình hình FDI vào Việt Nam liên tục suy giảm, Nhà nước tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và triển khai FDI. Chính phủ đã ban hành Nghị định 12/CP ngày 18/2/1997 quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Nghị định 10/CP/1998 ngày 23/11/1998 về một số biện pháp khuyến khích và đảm bảo hoạt động FDI tại Việt Nam kèm theo danh mục các lĩnh vực, địa bàn khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư, Nghị định 62/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 về đầu tư theo hợp đồng BOT – BTO – BT áp dụng với hoạt động FDI.

Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống luật pháp về đầu tư và tạo một sân chơi bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư, đơn giản hóa các thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư có hiệu lực từ ngày 01/07/2006, thay thế cả Luật Đầu tư nước ngoài và luật khuyến khích đầu tư trong nước. Sự thay đổi này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn ĐTNN, một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Mặt khác, đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy định chung, nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế trong từng thời kỳ, để tiến tới một đạo luật ngày càng phù hợp với xu thế hội nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ĐTNN.

Từ thực tiễn thu hút ĐTNN hơn 20 năm qua cho thấy việc tạo dựng môi trường pháp lý cho ĐTNN trong thời gian qua là rất cần thiết trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt thu hút vốn ĐTNN ở khu vực và trên thế giới.

2.2. Tình hình thực hiện Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

Cùng với các hoạt động tạo lập môi trường chính trị, kinh tế vĩ mô ổn định, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, các hoạt động điều hành trực tiếp (như quy hoạch thu hút FDI, xúc tiến đầu tư, thẩm định cấp giấy phép đầu tư và tạo điều kiện để triển khai thực hiện dự án đầu tư), quá trình xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đã tạo ra khung pháp lý đảm bảo và khuyến khích cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam theo mục tiêu và định hướng của Nhà nước.

Các kết quả đạt được về số dự án được cấp phép đầu tư, tổng số vốn đầu tư, địa bàn đầu tư, các đối tác nước ngoài đầu tư vào Việt Nam là khả quan. Đặc biệt từ năm 2007, với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, làn sóng FDI vào Việt Nam một cách mạnh mẽ đã cho thấy phần nào môi trường pháp lý tại Việt Nam đã thông thoáng hơn, các rào cản gia nhập thị trường đã từng bước được gỡ bỏ, hoặc cải thiện để phù hợp với môi trường kinh doanh quốc tế. Việc điều chỉnh thể chế kinh tế, hoàn thiện từng bước khung pháp lý, xóa bỏ các rào cản và nâng cao tính minh bạch trong các chính sách kinh tế, thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh đã làm tăng hiệu quả và thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững hơn, gia tăng luồng vốn FDI vào Việt Nam.

Có thể thấy rõ những thay đổi về chính sách, về các quy định của pháp luật ảnh hưởng lên đầu tư trực tiếp nước ngoài khi Việt Nam gia nhập WTO. Trước hết là việc cắt giảm thuế quan nhập khẩu. Theo cam kết, VN đã cắt giảm 22% thuế nhập khẩu so với mức hiện hành, thực hiện chủ yếu trong vòng 5 năm kể từ khi gia nhập WTO. Trong số 10.600 dòng thuế nhập khẩu sẽ có 36% phải cắt giảm; lộ trình cắt giảm kéo dài bình quân từ 5 – 7 năm. Mức cắt giảm nói trên tập trung vào thuế đối với ngành công nghiệp (23,9%), nông nghiệp (10,6%). Một điều đáng lưu ý là tác động này diễn ra chủ yếu đối với hàng hóa nhập khẩu đầu vào cho sản xuất hàng tiêu dùng trong nước, cũng như để phục vụ tiêu dùng tư nhân và chính phủ. Mức thuế nhập khẩu nói chung thấp đi sẽ làm giảm chi phí sản xuất và mặt bằng giá cả nói chúng, làm tăng mức hấp dẫn của Việt Nam như là một cứ điểm cho các doanh nghiệp FDI sản xuất định hướng xuất khẩu.

Thứ hai, Việt Nam khi gia nhập WTO đa cam kết tự do hóa thị trường dịch vụ. Nhiều ngành dịch vụ bị đóng cửa hoặc hạn chế chặt chẽ từ trước tới nay với đầu tư nước ngoài nay đã được mở rộng, sẽ là một mảnh đất màu mỡ cho các nhà đầu tư nước ngoài khai thác. Bên cạnh đó, tự do hóa ngành dịch vụ còn làm tăng tính cạnh tranh, tăng năng suất trong các ngành này, góp phần nâng cao năng suất của cả nền kinh tế, cải thiết chất lượng môi trường đầu tư, giảm chi phí và thời gian sản xuất tại Việt Nam. Điều này cũng tác động tích cực tới việc thu hút FDI hướng xuất khẩu.

Trong những năm gần đây có hiện tượng nhiều doanh nghiệp liên doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, cùng với sự tăng lên của hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài cũng phần nào phản ánh môi trường kinh doanh ở nước ta khá thuận lợi. Bởi vì, thông thường khi môi trường kinh doanh khó khăn phức tạp về thủ tục hành chính, độ rủi ro cao, nhà đầu tư nước ngoài thường lựa chọn hình thức liên doanh để phía đối tác nước chủ nhà đứng ra giải quyết các thủ tục hành chính và chia sẻ rủi ro. Còn khi môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, đảm bảo kinh doanh có lãi, nhà đầu tư nước ngoài thường lựa chọn hình thức kinh doanh 100% vốn nước ngoài để có thể chủ động trong kinh doanh.

3. Xây dựng và quản lý thực hiện các cơ chế, chính sách đối với FDI Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

3.1 Chính sách về thuế và ưu đãi tài chính

Mục tiêu của chính sách thuế và các ưu đãi về tài chính là tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn thông qua việc áp dụng tỷ lệ thuế thấp; thời gian, mức độ miễn giảm thuế đảm bảo được cho việc tăng tỷ lệ lợi nhuận cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Theo luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, các nhà đầu tư nước ngoài phải nộp thuế lợi tức từ 15% đến 25%. Nếu đầu tư vào miền núi, vùng sâu vùng xa thì mức thuế lợi tức có thể thấp hơn nữa. Ngoài ra, tùy thuộc vào lĩnh vực đầu tư, quy mô vốn đầu tư, khối lượng hàng xuất khẩu, tính chất và thời gian hoạt động, các nhà đầu tư nước ngoài còn được miễn giảm thuế lợi tức. Việc miễn thuế có thể diễn ra trong 2 năm đầu hoạt động, tiếp tục được giảm thuế 50% cho 2 năm tiếp theo. Tổng thời gian miễn, giảm thuế là 4 năm. Nhà đầu tư nước ngoài khi chuyển lợi nhuận về nước phải nộp thuế với mức từ 5% đến 10%. Nếu nhà đầu tư nước ngoài sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì thuế chuyển lợi nhuận này được hoàn lại. Tuy nhiên, việc quy định hình thức miễn giảm thuế không cụ thể như trên đã gây ra tình trạng tùy tiện trong việc áp dụng. Mức độ ưu đãi thuế cũng chưa gắn liền với định hướng chiến lược thúc đẩy xuất khẩu của nền kinh tế.

Năm 1996, luật Đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi bổ sung. Trước hết, các ưu đãi về tài chính được áp dụng với các tiêu chuẩn khuyến khích nhiều hơn, rõ ràng hơn về thời hạn, lĩnh vực. Các dự án được phân loại thành các nhóm khác nhau và tỷ lệ miễn thuế cũng khác nhau. Doanh nghiệp FDI nộp thuế lợi tức là 25% lợi nhuận thu được, trong trường hợp khuyến khích đầu tư mức thuế lợi tức là 20%, trường hợp có nhiều tiêu chuẩn khuyến khích đầu tư thì mức thuế lợi tứclà 15%, trường hợp đặc biệt khuyến khích đầu tư thì mức thuế lợi tức là 10% lợi nhuận thu được. Thời gian miễn giảm thuế cũng đươc kéo dài tối đa là 8 năm đối với những trường hợp đặc biệt khuyến khích đầu tư. Các doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp được hưởng các ưu đãi về thuế đối với trường hợp khuyến khích, đặc biệt khuyến khích đầu tư theo như quy định trên. Bên cạnh việc miễn giảm thuế lợi tức, việc hoàn thuế lợi tức cũng được coi trọng. Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

Luật sửa đổi bổ sung năm 2000 đã quy định thêm một số điều kiện khuyến khích cho các nhà đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nếu bị lỗ thì được chuyển lỗ sang năm sau, số lỗ này được trừ vào thu nhập chịu thuế. Thời gian chuyển lỗ không quá 5 năm. Khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài phải nộp một khoản thuế là 3%, 5%, 7% số lợi nhuận chuyển ra nước ngoài, tùy thuộc vào mức vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc vốn thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. Mức thuế này đã giảm đi so với mức thuế được quy định tại Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 là 5%, 7%, 10%.

Luật Đầu tư 2005 ra đời thay thế cho Luật đầu tư nước ngoài, tạo hành lang pháp lý chung cho nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, mức ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp FDI được quy định theo luật thuế hiện hành, cụ thể là các luật thuế thu nhập Doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,…

3.2. Chính sách về đất đai

Mục tiêu của chính sách đất đai là tạo điều kiện thuận lợi và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đảm bảo cho nhà đầu tư nước ngoài yên tâm và tin tưởng đầu tư lâu dài ở Việt Nam.

Các loại văn bản pháp lý liên quan đến đất đai gắn với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là Luật đất đai, Luật Đầu tư nước ngoài và hiện nay là Luật Đầu tư 2005. Nghị định 18/CP ngày 13/2/1995 quy định chi tiết việc thi hành pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được phép góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu đất đai đưa vào góp vốn, được xác định trên cơ sở mức tiền thuê đất theo quy định cho các trường hợp đầu tư nước ngoài. Mức tiền thuê đất được xác định tùy thuộc vào:

  • Mức quy định khởi điểm cho từng khu đất
  • Địa điểm của khu đất
  • Kết cấu hạ tầng của khu đất
  • Hệ số ngành nghề

Cách tính giá trị quyền sử dụng đất cho bên Việt Nam góp vốn trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện theo công thức sau:

Giá trị quyền sử dụng đất = Giá tiền thuê đất khởi điểm x hệ số địa điểm x hệ số hạ tầng x hệ số ngành nghề x diện tích x thời hạn góp vốn.

Thời điểm để tính giá trị quyền sử dụng đất tính từ ngày cấp phép đầu tư.

Luật Đầu tư 2005 cũng quy định về thời gian sử dụng đất đối với nhà đầu tư. Thời hạn sử dụng đất của dự án đầu tư không quá 50 năm; đối với các dự an có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, thuê đất không quá 70 năm. Khi hết thời gian sử dụng đất, nếu nhà đầu tư chấp hành đúng pháp luật về đất đai và có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất thì sẽ được xem xét gia hạn sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đã được phê duyệt.

Mặc dù Chính phủ và các địa phương đã có những chính sách ưu đãi về việc sử dụng đất và hạ tầng các KCN, nhưng vấn đề cho thuê đất theo phản ánh của các nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn một số tồn tại. Giá thuê đất ở Việt Nam còn ở mức cao so với nhiều nước trong khu vực. Nếu tính cả chi phí đền bù, giải tỏa thì giá đất bị đẩy lên cao. Đây là một yếu tố làm giảm sức cạnh tranh thu hút đầu tư. Bên cạnh đó, công tác giải phóng mặt bằng để triển khai các dự án FDI vẫn còn diễn ra chậm chạp và gặp khó khăn ở một số địa phương như tình trạng các hộ dân đã nhận tiền đền bù nhưng vẫn tiếp tục canh tác tái lấn chiếm, đất dịch vụ cho dân triển khai chưa có hiệu quả; giải quyết việc làm, đầu tư hạ tầng, công trình công cộng, phúc lợi cho những vùng lấy đất chưa được quan tâm đúng mức, xử lý các doanh nghiệp tự ý nâng giá đất chưa triệt để đã tác động không nhỏ đến công tác này.

3.3. Chính sách về lao động Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

Phát triển nguồn nhân lực từ lâu là trọng tâm trong chính sách phát triển của Đảng và Chính phủ Việt Nam. Quan điểm của đại hội Đảng VIII là “thúc đẩy nguồn lực con người như là nhân tố cơ bản của phát triển nhanh chóng và bền vững, cho rằng nguồn lực con người đóng vai trò quyết định trong phát triển kinh tế xã hội” tiếp tục được khẳng định trong các văn kiện chính thức của Đại hội Đảng IX và X.

Chính sách quản lý về lao động có mục tiêu giải quyết việc làm, nâng cao tay nghề, kỹ năng cho người lao động, nâng cao trình độ quản lý và cải thiện thu nhập cho người lao động.

Dưới đây là số liệu về tình hình thu hút lao động của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Có thể thấy rằng, tỷ trọng lao động của khu vực FDI trong tổng số lao động tăng qua mỗi năm. Tính đến năm 2008, khu vực FDI đã tạo việc làm cho hơn 1,6 triệu lao động, chiếm 3,73% tổng số lao động của cả nước.

Bảng 1.3 : Số lượng lao động trong khu vực FDI

Bước vào thế kỷ 21, chất lượng nguồn nhân lực nước ta tiến bộ đáng kể, chỉ số phát triển nhân lực HDI của Việt Nam được xếp hạng 109/177 các nước. Theo báo cáo gần đây nhất (2007-2008), chỉ số HDI của Việt Nam là 0,725. Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

Tuy nhiên, chiến lược phát triển nguồn nhân lực của nước ta còn tồn tại nhiều hạn chế. Trình độ kỹ thuật, tay nghề kỹ năng, kinh nghiệm quản lý của đội ngũ lao động Việt Nam còn rất thấp, đồng thời ý thức kỹ thuật và tinh thần hợp tác làm việc tập thể chưa cao. Đội ngũ cán bộ khoa học tuy có tiềm năng trí tuệ cao, tiếp thu nhanh tri thức mới nhưng còn thiếu sự liên kết, thiếu tinh thần hợp tác và thiếu cán bộ đầu đàn, cán bộ giỏi về kinh tế, quản lý, tài chính ngân hàng, những công trình sư, kỹ sư thực hành giỏi. Bên cạnh đó, cơ cấu nguồn nhân lực nước ta phát triển không phù hợp với nhu cầu về cơ cấu lao động của nền kinh tế cũng như không đáp ứng được nhu cầu về lao động của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Một nghịch lý là: trong khi tỷ lệ lao động thất nghiệp của nền kinh tế cao, hàng năm có một số lượng lớn sinh viên tốt nghiệp ra trường không tìm được việc làm thì rất nhiều doanh nghiệp (cả doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước lẫn nước ngoài) có nhu cầu tuyển dụng lao động kỹ thuật và quản lý có trình độ nhưng không được đáp ứng.

Nguyên nhân của tình hình trên là do công tác dự báo của Nhà nước về nhu cầu lao động, kể cả số lượng và cơ cấu chưa tốt dẫn đến việc quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế chưa hợp lý, đặc biệt là quy hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý trong các cơ quan QLNN về FDI. Không chỉ thiếu cán bộ QLNN có trình độ chuyên môn, năng lực và phẩm chất trong các cơ quan QLNN về đầu tư nước ngoài, số lao động tham gia quản lý trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như lao động kỹ thuật, đội ngũ công nhân lành nghề cũng không đáp ứng được nhu cầu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến những thiệt hại lớn của đối tác Việt Nam trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi tiếp nhận chuyển giao công nghệ, hạch toán kinh doanh… Người lao động chỉ được hưởng mức lương thấp vì do năng suất lao động thấp, không có trình độ chuyên môn cao.

Việc sử dụng lao động trong khu vực FDI còn có những hiện tượng chưa tuân thủ theo pháp luật đầu tư như vi phạm vấn đề trả lương, thời gian lao động, về sử dụng lao động không ký hợp đồng lao động và đặc biệt là vi phạm về nhân phẩm. Theo số liệu của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, từ năm 1995 đến năm 2009, cả nước có gần 4000 cuộc đình công, trong đó 72% xảy ra tại các doanh nghiệp FDI, 90% liên quan tới vấn đề trả lương. Một trong những nguyên nhân của những tồn tại đó là do công tác QLNN về vấn đề này còn có những hạn chế. Hệ thống văn bản pháp luật về quản lý sử dụng lao động trong khu vực FDI tuy được ban hành đầy đủ nhưng những quy định này được thể hiện ở những văn bản khác nhau khiến việc tìm hiểu và vận dụng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt với người nước ngoài và người lao động Việt Nam với trình độ kiến thức chuyên môn còn thấp, mức độ am hiểu luật pháp cũng hạn chế.

Hiện nay, theo dõi, xử lý mối quan hệ lao động và người sử dụng lao động do công đoàn – một tổ chức do người lao động thành lập nhưng chi phí hoạt động lại do người sử dụng lao động cấp. Thực tế ở nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức công đoàn không được thành lập. Vì vậy ở một mức độ nhất định nào đó, công đoàn vẫn chưa thể bảo về quyền lợi cho người lao động.

3.4. Chính sách về công nghệ Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

Mục tiêu của chính sách công nghệ là thu hút công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại của nước ngoài để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề, thực hiện nội địa hóa công nghệ để tăng cường năng lực nội sinh của công nghệ. Điều này được thể hiện trong các văn bản luật về đầu tư nước ngoài của Việt Nam là thu hút công nghệ hiện đại để đầu tư theo chiều sâu vào các công ty, xí nghiệp hiện có hoặc thu hút công nghệ cao để sản xuất hàng xuất khẩu.

Công tác QLNN về chuyển giao công nghệ và bảo vệ môi trường thực tế đã được tiến hành ở giai đoạn thẩm định dự án. Nhưng kết quả của công tác thẩm định có được thực hiện hay không lại phụ thuộc vào khâu quản lý thực hiện chuyển giao công nghệ gắn với việc quản lý nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ.

Trong những năm qua, cùng với sự hoàn thiện về môi trường pháp lý điều chỉnh hoạt động chuyển giao công nghệ, công tác điều hành hoạt động chuyển giao công nghệ đã đạt được những thành công đáng kể. Thông qua hoạt động chuyển giao công nghệ, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra những ngành nghề mới, sản phẩm mới, nguồn lực sản xuất mới, công nghệ mới. Qua từng thời kỳ, hoạt động QLNN về thẩm định, giám định và CGCN cũng được đổi mới từng bước theo hướng giảm thủ tục hành chính, tạo cơ chế thông thoáng cho các doanh nghiệp, khuyến khích đổi mới, ứng dụng và thương mại hoá công nghệ. Tuy nhiên, xét trên phạm vi của cả nền kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng chủ yếu vẫn là yếu tố vốn và lao động; yếu tố về công nghệ tuy có tăng nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ. Tồn tại hiện nay của nền kinh tế là đổi mới công nghệ chưa trở thành nhu cầu bức thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp. Điều này dẫn tới thực trạng là trình độ công nghệ của nhiều ngành và doanh nghiệp còn lạc hậu, năng lực công nghệ nhìn chung chậm được cải thiện, nhiều lĩnh vực công nghệ cao chậm được ứng dụng và phổ biến, nhiều sản phẩm kém sức cạnh tranh ngay cả ở thị trường trong nước.

Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu, thiếu tính đồng bộ đang báo động nguy cơ nước ta trở thành bãi rác thải công nghệ của các nước phát triển hơn, do vậy đã làm tăng chi phí sản xuất, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, nguy cơ gia tăng mức độ lạc hậu đồng thời gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động.

Nguyên nhân dẫn đến những bất cập đó có những vấn đề ở khâu QLNN:

  • Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động CGCN cũng chưa theo kịp với những thay đổi của đời sống kinh tế – xã hội, đặc biệt là với các đòi hỏi của kinh tế thế giới. Từ năm 1988 đên trước năm 2006, Nhà nước đã ban hành hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến CGCN, trong đó có hiệu lực pháp lý cao nhất là Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành về CGCN chưa thống nhất và đồng bộ. Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định 4 điều mang tính nguyên tắc về CGCN. Những quy định cụ thể chủ yếu nằm trong các văn bản hướng dẫn thi hành, hiệu lực pháp lý thấp, thiếu ổn định, ảnh hưởng tới niềm tin của các chủ thể nắm giữ công nghệ, đặc biệt là các đối tác nước ngoài khi tiến hành đầu tư, CGCN tại Việt Nam. Cho đến năm 2006, Quốc hội mới thông qua luật CGCN. Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam
  • Chưa tạo được cơ chế thực sự thông thoáng cho các doanh nghiệp khi tham gia đổi mới và CGCN. Thiếu các chính sách hỗ trợ đồng bộ, khả thi để thúc đẩy hoạt động ứng dụng, đổi mới, thương mại hoá công nghệ trong nước. Phương thức QLNN trong lĩnh vực này chưa phù hợp với cơ chế thị trường, hạn chế quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động CGCN. Thiếu cơ sở pháp lý cần thiết thúc đẩy việc hình thành và hoạt động của các tổ chức dịch vụ hỗ trợ CGCN (thông tin, tư vấn, môi giới, đánh giá, thẩm định, giám định công nghệ), mặc dù loại dịch vụ này là một yếu tố cấu thành quan trọng, không thể thiếu của thị trường công nghệ.
  • Công tác thẩm định phê duyệt hợp đồng chuyển giao công nghệ là vấn đề khó khăn phức tạp trong khi điều kiện đội ngũ cán bộ khoa học kinh tế của nước ta chưa đáp ứng kịp sự phát triển của tiến bộ kỹ thuật. có thể nói chúng ta chưa làm chủ được công nghệ chuyển giao trong khi hoạt động chuyển giao công nghệ diễn ra rộng khắp các ngành, các cơ sở sản xuất kinh doanh.

3.5. Chính sách về xúc tiến đầu tư

Xúc tiến đầu tư là hoạt động của các cơ quan QLNN về đầu tư nước ngoài để kêu gọi vốn cho các dự án đầu tư theo dự định. Hoạt động xúc tiến đầu tư bao gồm hoạt động tuyên truyền, quảng cáo về chính sách thu hút đầu tư của Nhà nước Việt Nam, các dự án kêu gọi đầu tư của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Xúc tiến đầu tư là một hoạt động quan trọng trong quy trình quản lý vốn đầu tư nước ngoài. Bộ kế hoạch đầu tư đã tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến đầu tư một cách độc lập hoặc phối hợp với các bộ ngành có liên quan như bộ Công Thương, bộ Khoa học công nghệ và môi trường, phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam, và các cơ quan khác để tổ chức các diễn đàn, hội thảo và triển lãm để tuyên truyền, giới thiệu các văn bản đầu tư nước ngoài, sách hướng dẫn đầu tư nước ngoài. Nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động xúc tiến đầu tư, các bộ, ngành, tổng công ty, các địa phương, các cơ quan đại diện của nước ta tại nước ngoài đều thành lập bộ phận xúc tiến đầu tư để có thể tiến hành hoạt động này một cách thuận lợi và độc lập.

Tuy nhiên, theo đánh giá, hoạt động xúc tiến đầu tư tuy được tiến hành một cách rầm rộ nhưng hiệu quả chưa cao vì còn thiếu thông tin, thiếu kinh phí đầu tư, và cả sự hợp tác thống nhất giữa các tổ chức xúc tiến địa phương. Kinh phí tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư hiện còn rất hạn chế. Đa số các hoạt động xúc tiến đều tổ chức bằng tiền tài trợ, hoặc phối hợp với các hoạt động khác. Hệ thống tổ chức các cơ quan xúc tiến đầu tư từ Trung ương tới địa phương tuy đã được hình thành nhưng còn nhiều điểm hạn chế. Tổ chức mỗi nơi một khác khiến cho hoạt động của các trung tâm xúc tiến đầu tư chưa được tiến hành theo một kế hoạch thống nhất, thiếu sự phối hợp. Hậu quả là sự chồng chéo trong việc tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư. Các địa phương đua nhau đưa ra các chính sách riêng, cạnh tranh thu hút đầu tư đã gây ra nhiều thiệt hại về lợi ích tổng thể.

3.6. Các chính sách ưu đãi khác Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

Xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất để khuyến khích đầu tư

Nhận thức được sự cần thiết và vai trò quan trọng của hình thức đầu tư này, ngay từ những năm đầu mở cửa, Nhà nước đã chú trọng quan tâm hoàn thiện môi trường pháp lý, quy hoạch phát triển và tổ chức xây dựng các KCN, KCX.

Theo Bộ Kế hoạch Đầu tư, đến tháng 10/2009 chúng ta đã có 228 KCN, KCX7 được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 58.220 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê là 38.075 ha, chiếm 65,5% tổng diện tích đất tự nhiên. Các KCN, KCX phân bố ở 54 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó tập trung ở 3 Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam, miền Trung và miền Bắc với tổng số 149 KCN với tổng diện tích đất tự nhiên trên 49.232 ha (chiếm trên 80,9% tổng diện tích các KCN cả nước).

Có thể nói, đến nay các KCN đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế Việt Nam. Hoạt động của nó đã và đang đem lại những kết quả đáng khích lệ cả về kinh tế lẫn xã hội. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, sản xuất kinh doanh, là địa chỉ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Theo ước tính, có đến 30% vốn đầu tư nước ngoài đầu tư thẳng vào các khu công nghiệp. Ngoài ra, KCN và KCX còn tạo ra sự tác động qua lại với doanh nghiệp ngoài KCN và KCX. Quan hệ kinh tế giữa hai khu vực này là quan hệ cung ứng vật tư, nguyên vật liệu và hàng hóa tiêu dùng. Mối quan hệ này ngày càng phát triển. Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

Tuy nhiên, sự phát triển của KCN, KCX ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế:

  • Việc đầu tư phát triển các khu công nghiệp không theo một quy hoạch thống nhất, hầu như địa phương nào cũng có các khu công nghiệp với chức năng tương tự nhau nên không tận dụng được những lợi thế so sánh, dẫn tới tình trạng cạnh tranh nhau gay gắt, chèn lấn để thu hút đầu tư.
  • Thiếu sự phối hợp giữa các KCN, giữa các địa phương trong các vùng. Các KCN thường phát triển riêng rẽ, đầu tư tất cả các hạng mục công trình, kể cả xây dựng các cụm dân cư, đầu tư tốn kém, giảm hiệu quả hoạt động của các KCN.
  • Tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp còn thấp. Hiệu quả kinh doanh của các nhà đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phụ thuộc rất lớn vào tỷ lệ lấp đầy KCN. Đến tháng 9/2008 tỷ lệ này ở khu vực Bắc Bộ là 40,9%, khu vực Nam Bộ là 53,3%, cao nhất là ở miền Trung với tỷ lệ 67,8%.
  • Quy hoạch phát triển KCN không gắn với quy hoạch đầu tư nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường, quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu ngoài KCN phục vụ ăn ở, sinh hoạt, vui chơi, giải trí, học tập… của người lao động. Vì vậy phát sinh các vấn đề như: thiếu lao động cung cấp cho KCN, KCX, gây ô nhiễm môi trường, gây các tác động tiêu cực nhiều mặt.
  • Cơ chế quản lý KCN còn nhiều bất cập, chưa làm rõ cơ chế quản lý, mối quan hệ giữa các cơ quan liên quan vẫn chưa có sự phối hợp đồng bộ, chậm ban hành sửa đổi bổ sung quy chế KCN, KCX.

Tăng tỷ trọng ngân sách cho xây dựng cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố căn bản khi khi đánh giá trình độ phát triển của một nước, cũng là một yếu tố hấp dẫn để thu hút đầu tư nước ngoài. Chính vì vậy Nhà nước ta luôn chú trọng công tác xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng nhằm tạo một nền tảng tốt cho phát triển kinh tế. Hàng năm, Ngân sách Nhà nước luôn dành một khoản đầu tư đáng kể cho xây dựng cơ bản.

Bảng 1.4 : Vốn đầu tư XDCB trong tổng NSNN

Tuy nhiên, phần lớn vốn đầu tư của Nhà nước là dành cho khu vực đô thị và các khu công nghiệp, các công trình xây dựng cơ bản khác. Chính vì vậy các khu đô thị của nước ta có nhiều điệu kiện để phát triển. Trong khi đó nguồn vốn ngân sách dành cho khu vực nông thôn, tuy có tăng về mặt tuyệt đối nhưng tỷ trọng lại tăng không đáng kể. Tổng đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho phát triển hạ tầng nông nghiệp và nông thôn trong những năm qua chỉ đạt khoảng 15-17%. Điều đó thể hiện đầu tư xã hội cho nông nghiệp và nông thôn còn quá thấp. Nhưng đáng nói hơn, hiệu suất đầu tư cũng bị kéo thấp hơn khi chất lượng và tính ổn định của quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở nông thôn còn nhiều yếu kém. Cơ cấu đầu tư còn chưa hợp lý, phân bổ vốn trong các chương trình, mục tiêu còn dàn đều, bình quân,v.v… Trong khi đó, ta cũng chưa có nhiều cơ chế, chính sách hữu hiệu nhằm khuyến khích, thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách cho đầu tư hạ tầng nông nghiệp. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực này chỉ chiếm 7,3% tổng vốn đầu tư FDI cả nước.

4. Đánh giá về thực hiện vai trò QLNN đối với FDI Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

4.1 Thành tựu

Từ thực tiễn QLNN đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong hơn năm qua, có thể nói công tác QLNN với nguồn vốn này đã đạt được những thành tựu nhất định. Trước hết, Nhà nước ta đã lựa chọn đường lối đổi mới kinh tế đúng đắn, kiên định, phù hợp với xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa, cải thiện được môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi thu hút FDI và triển khai thực hiện có hiệu quả các dự án FDI. Tổ chức bộ máy QLNN với hoạt động FDI từng bước được kiện toàn, trên cơ sở đó chất lượng công tác quản lý ngày càng được nâng cao.

Hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành đã đảm bảo thực hiện được chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài đối, bảo vệ được chủ quyền và lợi ích của Nhà nước cũng như các doanh nghiệp Việt Nam. Lợi ích của các bên Việt Nam và Nhà nước Việt Nam được xem xét bảo vệ trong quá trình thẩm định cấp giấy phép đầu tư và quản lý dự án đầu tư nước ngoài.

Việc phân cấp cấp GCNĐT về UBND cấp tỉnh và Ban quản lý là một chủ trương thực hiện cải cách hành chính trong quản lý kinh tế và đã được tổng kết trong nhiều năm qua, đã tạo điều kiện thuận lợi để UBND cấp tỉnh và Ban quản lý thực hiện được trách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư trong nước và ĐTNN trên địa bàn. Việc phân cấp đã tạo điều kiện cho các Bộ, ngành QLNN tập trung thực hiện chức năng hoạch định chính sách, dự báo, kiểm tra, giám sát. Cho tới nay, công tác quản lý hoạt động FDI ở địa phương, nhất là các địa phương có nhiều doanh nghiệp FDI đã đi vào nề nếp, theo trình tự hợp lý, đã được đơn giản hóa,… được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá có nhiều đổi mới, góp phần cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh của địa phương.

4.2. Hạn chế Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác QLNN đối với hoạt động đầu tư nước ngoài cũng còn nhiều hạn chế cần được khắc phục.

Thứ nhất, công tác QLNN còn thiếu tính hệ thống và đồng bộ trong giải pháp ổn đinh kinh tế vĩ mô dài hạn. Hệ thống pháp luật về FDI đang trong quá trình hoàn thiện nên còn thiếu tính thống nhất, một số quy định chồng chéo nhau, có quy định thiếu tính chính xác, chưa phù hợp với thực tiễn trong nước và thông lệ quốc tế, gây khó khăn cho việc tìm hiểu, áp dụng, thi hành, đồng thời gây ra những khe hở cho doanh nghiệp lách luật còn các cơ quan QLNN có thể áp dụng tùy tiện từ đó gây tham nhũng, cửa quyền. Điều cơ bản là các văn bản pháp luật và các văn bản dưới luật ban hành chậm, phải sửa đổi nhiều lần nên không đảm bảo được tính rõ ràng và dự đoán trước gây khó khăn cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp. Hệ thống chính sách liên quan trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI chưa thực sự mang tính khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác, có những khâu quản lý ban hành chậm, thậm chí còn chưa kịp ban hành dẫn đến những sơ hở gây thiệt hại cho bên Việt Nam.

Thứ hai, công tác quy hoạch chưa tốt, trong thời gian dài chưa xây dựng được chiến lược, quy hoạch tổng thể để thu hút và sử dụng FDI phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế mở. Trên thực tế hiện nay, do giữa các địa phương có sự cạnh tranh không lành mạnh, chạy theo số lượng nên đã phá vỡ quy hoạch tổng thế ngành sản phẩm và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, sản xuất thừa công suất. Công tác xây dựng quy hoạch nói chung và các quy hoạch cụ thể liên quan đến hoạt động FDI còn chậm, chưa được thực hiện thống nhất từ Trung ương đến địa phương, chất lượng chưa cao và thiếu tính cụ thể, khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài còn phải mất thời gian tìm hiểu khi mới đầu tư vào Việt Nam.

Thứ ba, công tác vận động xúc tiến đầu tư còn hạn chế, chưa thực thi đúng pháp luật, chính sách về FDI còn chưa nghiêm túc, phương thức xử lý các vấn đề liên quan đến FDI còn lúng túng, thiếu nhất quán. Công tác kiểm tra giám sát hoạt động FDI theo pháp luật còn lỏng lẻo, vấn đề xử lý các vi phạm pháp luật chưa được coi trọng. Các công cụ hỗ trợ để thi hành, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật chưa được coi trọng và vận dụng tốt.

Thứ tư, việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ quản lý kinh tế trong lĩnh vực FDI và cung ứng lao động cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không theo kịp tình hình phát triển của hoạt động FDI đã tạo ra sự hụt hẫng quá lớn, gây thiệt hại cho phía Việt Nam và cho đất nước.

Thứ năm, Chính sách phân cấp quản lý đầu tư cho các địa phương, bên cạnh mặt tích cực là nhằm tăng cường tính tự chủ, năng động của địa phương, nhưng mặt trái của nó cũng bộc lộ khá rõ. Điều đó được thể hiện rõ nét trong thời gian gần đây, ở nhiều địa phương đang diễn ra “làn sóng” rút giấy phép đầu tư hàng loạt dự án. Số liệu chưa đầy đủ cho thấy tỉnh Bắc Ninh có 46 dự án bị rút giấy phép, Tây Ninh có dự án, Lâm Đồng 29 dự án, Ninh Thuận 12 dự án, 12 dự án ở Phú Quốc (Kiên Giang), 23 dự án ở Dung Quất (Quảng Ngãi)9… “Làn sóng” rút phép đầu tư hiện nay trái ngược hẳn với phong trào “trải thảm đỏ”, tranh thủ hấp dẫn, thu hút đầu tư bằng mọi giá trước đây. Ở hầu hết các địa phương, lý do đưa ra khi rút giấy phép các dự án là do các chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính, các mục tiêu trong giấy phép đã cấp không được thực hiện, tiến độ bị ngưng trệ, kéo dài hoặc doanh nghiệp lập dự án với mục đích chiếm dụng đất, chuyển nhượng để hưởng lợi. Điều đó cho thấy khâu thẩm định cấp phép ở các địa phương còn tồn tại nhiều yếu kém. Hơn nữa, tình trạng tranh thủ thu hút đầu tư nước ngoài kéo theo phong trào “chèo kéo”, chào mời nhà đầu tư bằng mọi cách ở các địa phương, khiến cho giấy phép được cấp quá dễ dãi, mục tiêu ưu tiên hàng đầu là nhanh chóng “lấp đầy” các khu công nghiệp. Bên cạnh đó, việc quản lý đầu tư nước ngoài tại các địa phương còn khác nhau, không được xử lý một cách thống nhất, cạnh tranh trong thu hút đầu tư giữa các địa phương đã ảnh hưởng đến lợi ích chung.

Nguyên nhân

Nguyên nhân chủ quan

Hoạt động QLNN với FDI là hoạt động mang tính tổng hợp phức tạp, liên quan đến hoạt động quản lý của nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế. Hơn nữa hoạt động này không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà còn liên quan đến nhiều tổ chức quốc tế, các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây là vấn đề hoàn toàn mới mẻ đối với đội ngũ các nhà hoạch định chính sách cũng như điều hành trực tiếp công tác quản lý. Vì vậy những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý là điều không thể tránh khỏi. Mặc dù phần lớn trong đội ngũ các nhà quản lý nước ta nói chung và quản lý FDI nói riêng từ trung ương tới địa phương đều tận tâm tận lực trong công việc của mình vì sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước, mong muốn đóng góp trí tuệ để đưa đất nước sánh ngang với các cường quốc năm châu.

Quan điểm của các cấp các ngành còn chưa thống nhất về vai trò của FDI trong phát triển kinh tế nước ta, còn có những quan điểm khác nhau về hiệu quả của FDI. Điều đó ảnh hưởng, chi phối không nhất quán tới việc hoạch định chính sách, xây dựng luật pháp cũng như công tác chỉ đạo điều hành thực tiễn đối với hoạt động này. Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

Quá trình mở cửa thu hút FDI của nước ta được tiến hành chậm hơn so với các nước trong khu vực do chính sách cấm vận, bao vây, cô lập Việt Nam của các thế lực thù địch cho nên những kiến thức và kinh nghiệm thu hút, quản lý đối với các hoạt động này chưa nhiều. Đồng thời chiến tranh kéo dài đã để lại những hậu quả nặng nề cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã gây ra những tác hại nhiều mặt trong hoạt động quản lý đặc biệt việc để lại nếp tư duy quản lý lạc hậu, duy ý chí, trì trệ, quan liêu, mang nặng tính hành chính, không chú ý vận dụng các quy luật khách quan đang ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động QLNN.

Nhà nước còn lúng túng trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật và tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động QLNN đối với FDI trong điều kiện phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được xem là hiệu quả đương nhiên của các quá trình đó.

Công tác cải cách thể chế hành chính tiến hành chậm chạp trong khi quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi thượng tầng kiến trúc phải thích hợp với hạ tầng kiến trúc. Khi nhiệm vụ của các cơ quan quyền lực thay đổi nhất thiết phải có sự thay đổi về chức năng và phương pháp điều hành của bộ máy quản lý nhằm thực hiện, thích ứng và đảm bảo cho quá trình chuyển đổi từ thể chế kế hoạch hóa sang thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Để đảm đương được các chức năng và hoàn thành nhiệm vụ QLNN đối với nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một chính quyền tài năng và hiệu quả. Trong khi đó, quá trình cải cách hành chính không theo kịp với sự nghiệp đổi mới của nền kinh tế. Bộ máy QLNN về kinh tế vẫn còn ở tình trạng cồng kềnh, chồng chéo, chức năng không rõ ràng, nhiều người không xứng đáng với chức danh, không chịu trách nhiệm, thiếu kiến thức. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động của các cơ quan QLNN kém hiệu quả, dẫn đến những thủ tục phức tạp, rườm rà, gây sách nhiễu đối với doanh nghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Sự khác biệt về điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội so vơi các nước khác trong khu vực như chế độ sở hữu, chế độ hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong hợp tác đầu tư nước ngoài. Ở Việt Nam tham gia liên doanh với nước ngoài chủ yếu là doanh nghiệp Nhà nước. Sự khác biệt này đòi hỏi phải có sự sáng tạo trong công tác quản lý nhưng năng lực và trình độ cán bộ quản lý còn hạn chế.

Nguyên nhân khách quan

Tác động của quá trình cạnh tranh quốc tế trong thu hút FDI của các nước trong khu vực diễn ra gay gắt, đặc biệt là Trung Quốc và các nước ASEAN đã gây ra những tác động lớn trong lĩnh vực điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam theo hướng tương thích với các nước trong khu vực. Điều này gây ra tình trạng các chính sách tuy mới ban hành ở Việt Nam nhưng lạc hậu so với khu vực và thế giới, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh kịp thời. Khi Việt Nam điều chỉnh luật đầu tư nước ngoài tăng thời gian liên doanh lên 70 năm thì Thái Lan đã chuyển sang cơ chế cho các nhà đầu tư thuê đất vĩnh viễn, Trung Quốc còn có quyết định cho phép các nhà đầu tư nước ngoài liên doanh trong thời gian 99 năm.

Các cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế trong khu vực cũng như trên thế giới diễn ra liên tiếp, đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác quản lý FDI, điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 và cuộc suy thoái kinh tế giai đoạn gần đây. Các giải pháp để hạn chế tác động của khủng hoảng mà Việt Nam áp dụng như thắt chặt quản lý ngoại tệ đã gây tình trạng lung túng đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về hoạt động FDI tại Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464