Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Hệ thống Pháp luật về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam
Trong thời đại ngày nay, cùng với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhiều phương thức kinh doanh hiện đại đã ra đời, phát triển và du nhập vào Việt Nam. Điều đó đã tạo cho NTD nhiều sự lựa chọn hơn với độ thỏa dụng và sự tiện lợi ngày càng tăng. Tuy nhiên, mặt trái của các phương thức này là chúng lại tạo cho các doanh nghiệp làm ăn không chân chính những phương tiện tinh vi hơn để thực hiện các hành vi buôn bán gian dối và không trung thực. Những hành vi như vậy không chỉ gây thiệt hại cho NTD mà còn gây ảnh hưởng xấu đối với xã hội nói chung. Thực tiễn cho thấy, khi nền kinh tế thị trường càng phát triển, mức độ tự do hóa thương mại càng gia tăng thì càng nảy sinh nhiều vấn đề gây ảnh hưởng đến quyền lợi NTD. Trước tình hình đó, chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành một số văn bản và hệ thống các quy định pháp lý liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD. Các văn bản quy định này bao gồm:
2.1.1.1. Pháp lệnh Bảo vệ NTD
Thời kỳ trước đổi mới, do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, quyền lợi của NTD Việt Nam cũng như hệ thống pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD chưa được quan tâm một cách thích đáng. Bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ mua bán, giao dịch giữa một bên là nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ với một bên là NTD đã được xác lập và vai trò của NTD ngày càng được nâng cao. Việc bảo vệ quyền lợi NTD, vì vậy, đã có những chuyển biết rất tích cực mà đỉnh cao là sự ra đời của Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi của NTD năm 1999.
Pháp lệnh Bảo vệ NTD số 13/1999/UBTVQH10 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 27/04/1999 và có hiệu lực thi hành bắt đầu từ ngày 01/10/1999. Pháp lệnh ra đời đánh dấu bước phát triển mới trong việc thiết lập và hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý quan trọng đối với hoạt động quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ NTD.
Nội dung của Pháp lệnh gồm có 6 chương và 30 Điều, trong đó quy định cụ thể về quyền và lợi ích hợp pháp cũng như trách nhiệm của NTD, các tổ chức sản xuất kinh doanh và các cơ quan quản lý nhà nước về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD. Đồng thời, Pháp lệnh còn đưa ra một số hướng dẫn về vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý những hành vi vi phạm trong lĩnh vực này.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2.1.1.2. Nghị định 55/2008/NĐ-CP Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
Sự ra đời của Nghị định 55/2008/NĐ-CP
Mặc dù PLBVNTD số 13/1999/PL-UBTVQH10 đã có hiệu lực từ ngày 27/4/1999 và Nghị định 69/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành PLBVNTD có hiệu lực từ 2/10/2001, tuy nhiên hoạt động về bảo vệ NTD đã được triển khai tại một số đơn vị nhưng chưa đồng bộ và nhất quán, nhận thức của xã hội nói chung và NTD nói riêng về công tác bảo vệ NTD vẫn còn mờ nhạt, cơ quan quản lý tại các tỉnh chưa nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác bảo vệ NTD với sự phát triển của xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng như phát thanh và truyền hình, báo chí chưa dành thời lượng hợp lý để tuyên truyền phổ biến kiến thức về bảo vệ NTD và đưa tin về tình trạng hàng gian, hàng giả, hàng kém chất lượng, phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, hay biểu dương những đơn vị làm tốt công tác bảo vệ NTD…
Trước những bất cập trong hoạt động bảo vệ NTD ngày 24/4/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định 55/2008/NĐ-CP thay thế Nghị định 69/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD và Nghị định này đã có hiệu lực bắt đầu từ ngày 09/05/2008.
Một số điểm mới của Nghị định 55/2008/NĐ-CP so với Nghị định 69/2001/NĐ-CP
Về đối tượng áp dụng đã mở rộng hơn, không chỉ có tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, NTD, tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD mà các cơ quan quản lý Nhà nước cũng phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền lợi NTD. Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD trong phạm vi cả nước. Các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ cũng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD. Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về BVQLNTD trong phạm vi cả nước. Các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ cũng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước về BVQLNTD.
Về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với NTD: cung cấp thông tin kịp thời và chính xác; bảo đảm tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng; bảo hành hàng hóa, dịch vụ; bảo đảm an toàn cho NTD; giải quyết khiếu nại của NTD.
Về trách nhiệm giải quyết khiếu nại của NTD: NTD không còn phải chờ tổ chức, cá nhân kinh doanh tự nguyện vì quy định buộc các đối tượng này phải giải quyết khiếu nại trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Trong trường hợp cấp thiết, thời hạn giải quyết khiếu nại là 3 ngày làm việc. Kết quả giải quyết khiếu nại phải được thông báo tới NTD bằng văn bản hoặc thư điện tử. Nghị định 55 cũng nêu rõ các tổ chức, cá nhân kinh doanh phải xây dựng và niêm yết công khai quy trình giải quyết khiếu nại của khách hàng tại các điểm kinh doanh.
Kết quả thực hiện Nghị định 55/2008/NĐ-CP
Sau một năm triển khai thực hiện Nghị định 55/2008/NĐ-CP, công tác bảo vệ NTD đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.
Thứ nhất, vấn đề giám sát, kiểm tra hàng hóa, dịch vụ và vệ sinh an toàn thực phẩm đã được quan tâm một cách thích đáng. Tại nhiều tỉnh tại các chợ lớn Sở Công Thương chỉ đạo cho đặt cân đối chứng để NTD có thể trực tiếp kiểm tra việc quyền lợi của mình có bị vi phạm hay không tiêu biểu như Kiên Giang, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Lạng Sơn… Một số tỉnh Chi cục quản lý thị trường đã tổ chức gian hàng giả cho NTD nhận biết tại các trung tâm thương mại hay chợ lớn tiêu biểu là Thanh Hóa, Quảng Ninh. Bên cạnh đó, Sở Công Thương các tỉnh đã tiến hành nhiều đợt kiểm tra liên ngành với Sở Y Tế, Sở Khoa học và Công nghệ về hàng gian hàng giả, vệ sinh an toàn thực phẩm, thiết bị đo lường, thuốc và một số mặt hàng thiết yếu khác… Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
Thứ hai, về công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền về vấn đề bảo vệ NTD. Đây là một hoạt động quan trọng nhằm tuyên truyền cho người dân ý thức được hơn nữa quyền lợi của mình, đồng thời góp phần giáo dục cho NTD tiêu dùng hàng hóa dịch vụ một cách hợp lý. Thực hiện Nghị định 55, nhiều tỉnh đã liên hệ với với các tổ chức báo đài để có các chương trình hay chuyên mục thường xuyên hơn về vấn đề bảo vệ NTD. Nhờ đó mà các hoạt động trong lĩnh vực này ngày càng được quan tâm sâu sắc và được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ. Ngoài sự tích cực tham gia của các cơ quan quan quản lý nhà nước đã có nhiều tổ chức khác tích cực tham gia vào công tác bảo vệ người tiêu dùng như Báo Vietnamnet, VTC, VTV1. Tại đây, tất cả các thông tin liên quan đến quyền lợi NTD đều được đăng tải, thậm chí những khiếu nại của người tiêu dùng cũng được giải quyết hợp lý.
Thứ ba, nhờ ý thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ NTD, nhiều tỉnh đã có nhiều hoạt động thiết thực hỗ trợ kinh phí và tạo cơ chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành để công tác bảo vệ NTD được thực hiện tốt như Bình Dương, Vũng Tàu, Bình Thuận… Bên cạnh đó, các hoạt động bảo vệ NTD còn nhận được sự ủng hộ và đóng góp của các cơ quan chức năng cũng như các tổ chức xã hội – nghề nghiệp ở các địa phương nói riêng. Do đó, việc bảo vệ NTD cũng bớt gặp khó khăn.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Nghị định 55/2008/NĐ-CP vẫn tồn tại một số bất cập. Nhận thức của một số ủy ban nhân dân các tỉnh và NTD về bảo vệ NTD dùng chưa đúng mức. Nhiều tỉnh vẫn chưa dành sự quan tâm thích đáng đến công tác bảo vệ NTD dẫn đến việc chưa thành lập được hội bảo vệ NTD tại địa phương. Hơn thế nữa, nhiều tỉnh còn rất lúng túng trong việc hỗ trợ kinh phí cho việc thành lập và hoạt động của hội bảo vệ người tiêu dùng. Việc chưa bố trí nhân sự hợp lý cho công tác vận động ban thành lập hội, văn phòng nhận và giải quyết khiếu nại của NTD cũng như cơ chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành trên địa phương chưa tốt dẫn đến công tác bảo vệ NTD chưa được thực hiện đồng bộ, hiệu quả chưa cao.
2.1.1.3. Các văn bản liên quan
Bên cạnh PLBVNTD, vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD còn được đề cập ở các mức độ khác nhau tại các văn bản quy phạm pháp luật như : Bộ luật Dân sự (2005), Bộ luật Hình sự (2000), Luật Thương mại (2005), Luật Cạnh tranh (2004), Luật
Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (2006), Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi (2005), Pháp lệnh Chất lượng sản phẩm (1999), Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm (2003), Pháp lệnh Quảng cáo (2001), v.v… Đây là hành lang pháp lý quan trọng để các cơ quan chức năng thực hiện công tác bảo vệ NTD.
Luật Cạnh tranh mới ra đời là một công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ NTD. Một trong những mục tiêu quan trọng của Luật Cạnh tranh là chống lại các tác động tiêu cực của những hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường làm phương hại tới quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Thông qua việc điều chỉnh các hành vi, Luật hướng tới khuyến khích cạnh tranh lành mạnh. Theo đó, các doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh với nhau để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của NTD bằng việc đưa ra các sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao, giá cả hợp lý, chủng loại đa dạng.
2.1.1.4. Dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi NTD Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
Hiện nay, văn bản pháp lý có giá trị cao nhất đối với việc bảo vệ quyền lợi NTD là Pháp lệnh Bảo vệ Quyền lợi NTD năm 1999. Từ đó đến nay, trong quan hệ với thương nhân, quyền lợi NTD bị xâm phạm rất nhiều, nhiều vụ có tính chất tập thể nhưng rất ít người khiếu nại, khởi kiện vì thủ tục rườm rà, kéo dài, tốn kém. Dự thảo lần thứ 3 của Luật Bảo vệ NTD đang được hoàn thiện và dự kiến sẽ thông qua Quốc hội đầu năm 2010 không chỉ là một sự “nâng cấp” về mặt hình thức (từ Pháp lệnh lên thành Luật) mà còn có nhiều điểm mới, giúp NTD mạnh dạn hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của chính mình.
Nội dung cơ bản của Dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi NTD
Trên thực tế thì ở Việt Nam chưa có một bộ luật hay luật nào quy định chi tiết về vấn đề bảo vệ NTD. Hệ thống quy phạm pháp luật về vấn đề bảo vệ NTD mới chỉ dừng lại ở PLBVNTD và các Nghị định cũng như các văn bản điều chỉnh hoặc có liên quan. Việc xây dựng Luật Bảo vệ NTD là một hoạt động thiết thực nhằm góp phần vào việc xây dựng một nền kinh tế lành mạnh.
Dự thảo Luật Bảo vệ NTD của Việt Nam được Bộ Công Thương soạn thảo từ 1/06/2009 để thay thế Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999. Dự thảo luật đang lấy ý kiến của các bộ ngành liên quan và dự kiến sẽ thông qua năm 2010.
Dự thảo luật bảo vệ NTD có 9 chương, 71 điều với những quy định về bảo vệ NTD trước khi giao dịch với thương nhân, bảo vệ NTD trong giao dịch với thương nhân, bảo vệ NTD trong quá trình sử dụng hàng hoá dịch vụ, giải quyết tranh chấp giữa NTD và thương nhân, quản lý nhà nước về bảo vệ NTD, tổ chức bảo vệ NTD, xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ NTD.
Dự thảo Luật lấy NTD làm trung tâm. Trong mối quan hệ mua bán, sản xuất, NTD luôn luôn ở thế yếu, không có quyền quyết định giá cả và chịu tất cả mọi sự rủi ro cũng như không được đàm phán trong giao kết hợp đồng.
Việc xây dựng Dự thảo Luật là dựa trên cơ sở phối hợp hài hòa giữa lợi ích của doanh nghiệp và khách hàng. Đối tượng của luật hướng chủ yếu đến NTD và các doanh nghiệp lớn. Bởi trên thực tế, Việt Nam có khoảng hơn 2 triệu thương nhân buôn bán lẻ và người dân có thói quen mua ở các cửa hàng này mà không cần hóa đơn, chứng từ. Bởi vậy việc kiểm soát các đối tượng này rất khó khăn. Nhà buôn bán nhỏ lẻ không nằm trong phạm vi điều chỉnh luật.
Những điểm mới của Dự thảo Luật Bảo vệ NTD
Có thể nói, những điểm mới đột phá của Dự thảo Luật là những quy định về giải quyết tranh chấp giữa thương nhân với NTD. Ngoài thương lượng với thương nhân trong Luật thiết kế thành lập các trung tâm hòa giải chuyên nghiệp. Khi các bên đạt được thỏa thuận sẽ có biên bản hòa giải thành, trong trường hợp một bên không tự nguyện thi hành các nghĩa vụ theo biên bản hoà giải thành thì bên kia có quyền đề nghị cơ quan thẩm quyền ra quyết định buộc thi hành. Điều này sẽ tạo ra một cơ chế giải quyết mới (không thông qua cơ quan tài phán) dễ dàng hơn, thuận tiện hơn mà vẫn bảo đảm quyền lợi của NTD theo quy định của pháp luật hiện hành.
Bên cạnh đó, khi buộc phải tiến hành khởi kiện, NTD cũng có thêm lựa chọn dễ dàng hơn với quy trình xét xử rút gọn tại tòa án theo quy định của Dự thảo (có thể áp dụng đối với rất nhiều tranh chấp hiện nay). Chỉ sau hơn 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đơn, toà án sẽ phải mở phiên toà xét xử công khai. Nếu so sánh với thời gian giải quyết các vụ án dân sự hiện nay, phải mất từ bốn đến sáu tháng hoặc còn lâu hơn nữa, sẽ thấy đây là một điểm rất tiến bộ.
Về pháp luật nội dung, Dự thảo đã tập trung đi sâu làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên như quy định về trách nhiệm sản phẩm, trách nhiệm bảo hành, miễn giảm trách nhiệm đồng thời định dạng chi tiết các hành vi gian dối, gây nhầm lẫn, quấy rối, ép buộc NTD. Những quy định này sẽ giúp cho việc giải quyết vụ án trở nên dễ dàng hơn. Riêng vấn đề xác định lỗi, Dự thảo đã mạnh dạn khẳng định nguyên lý NTD không phải đưa ra chứng cứ chứng minh lỗi của thương nhân và nghĩa vụ chứng minh không có lỗi thuộc về thương nhân. Thực ra, hướng dẫn của ngành toà án cũng đã từng đề cập đến vấn đề này nhưng đó chỉ là một văn bản mang tính hướng dẫn. Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
Một điểm mới khác là Dự thảo cho phép Tổ chức Bảo vệ quyền lợi NTD có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho NTD. Tinh thần cởi mở này không chỉ khắc phục tâm lý e ngại kiện tụng của NTD mà còn tạo thế cân bằng hơn khi xảy ra tranh chấp. Đây cũng là xu thế chung trong thời kỳ hội nhập, phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội dân sự, đề cao vai trò của các hội, giảm tải áp lực cho cơ quan nhà nước trong những xung đột giữa quyền lợi của người dân với các tổ chức khác. Với những quy định mới và tiến bộ trong dự thảo Luật Bảo vệ NTD nói trên, việc kỳ vọng vào một hành lang pháp lý an toàn để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho NTD là hoàn toàn có cơ sở.
Một số yếu điểm trong Dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi NTD.
Dự thảo Luật bao gồm nguyên tắc bảo vệ NTD, trách nhiệm của thương nhân cũng như đưa ra các điều khoản giải quyết tranh chấp giữa NTD và thương nhân. Tuy nhiên, luật lại chưa bàn đến trách nhiệm tự bảo vệ mình của NTD. Điều này rất cần thiết bởi khi mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ, NTD nên phải có nghĩa vụ tìm hiểu về chất lượng, xuất xứ, cơ sở pháp lý của hàng hóa, dịch vụ sẽ tiêu dùng, tránh ham rẻ mua sắm hàng hóa không rõ cơ sở pháp lý.
Theo Dự thảo luật, khách hàng được góp ý phản ánh với thương nhân về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ… Tuy Dự thảo luật đã bàn đến trách nhiệm của thương nhân trong việc cung cấp giá cả, tính năng hàng hóa… song lại chưa nói đến cơ sở pháp lý hàng hóa mặc dù những thông tin này giúp NTD biết rõ xuất xứ cũng như đảm bảo yêu cầu an toàn chất lượng hàng hóa dịch vụ.
Dự thảo luật đã bàn đến cơ quan bảo vệ NTD nhưng lại chưa làm rõ được vai trò, tránh nhiệm, quy trình hoạt động của các cơ quan này. Trước hết NTD phải biết tự bảo vệ lấy mình thông qua các tổ chức, hiệp hội. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý Nhà nước cũng phải đứng ra bảo vệ NTD qua hệ thống pháp luật cụ thể.
Dự thảo Luật cũng quy định rõ, việc khởi kiện sẽ được giải quyết trong toà án 1 cấp với thủ tục rút gọn. Cụ thể, trong 3 ngày, kể từ nhận được đơn khởi kiện, tòa án nhân dân cấp huyện có trách nhiệm thụ lý vụ án. Trong vòng 10 ngày, phải xét xử công khai. Trong trường hợp NTD muốn thông qua tổ chức bảo vệ NTD, phải có đủ 100 người ký vào đơn mới có thể khởi kiện doanh nghiệp. Tuy nhiên điều này lại đang mâu thuẫn với pháp lệnh khiếu nại tố cáo của công dân. Đây là một vướng mắc lớn mà ban dự thảo luật sẽ phải cân nhắc để đưa ra những quy định hợp lý.
Để đảm bảo quyền lợi của NTD, Luật cần bổ sung thêm điều khoản khôi phục quyền lợi của NTD và các chế tài xử lý các hành vi vi phạm được đặt ở vị trí đặc biệt quan trọng theo hướng đủ mạnh để NTD được bảo vệ.
Tóm lại, trên thực tế, nguyên nhân chính của các trường hợp không giải quyết được các khiếu nại của NTD là vì thiếu cơ sở pháp lý, do đó việc xây dựng một hệ thống luật chuyên ngành đầy đủ và chặt chẽ là vô cùng cần thiết, nhất là trong hoạt động bảo vệ NTD. Tuy nhiên, ở Việt Nam thì cơ sở này vẫn còn nhiều hạn chế. Dự thảo Luật đang trong quá trình được thông qua và lấy ý kiến. Định hướng của dự thảo luật bảo vệ NTD là coi NTD là một bên yếu thế trong quan hệ với thương nhân về tài chính, trình độ chuyên môn, thông tin, khả năng liên kết; sử dụng quyền lực thị trường nhằm nâng cao lợi ích NTD như khuyến khích hỗ trợ các DN làm ăn đứng đắn và có ý thức bảo vệ NTD, cho phép công khai danh sách các DN vi phạm quyền lợi NTD, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức bảo vệ NTD; cân bằng lợi ích xã hội giữa DN và NTD; sử dụng cả hệ thống pháp luật để bảo vệ NTD. Mặc dù vẫn còn có một số điểm hạn chế và cần phải xem xét, mục đích chung của Dự thảo Luật vẫn là đưa ra những quy định chi tiết và cụ thể hơn về quyền lợi, trách nhiệm của các bên liên quan đến hoạt động bảo vệ NTD ở nước ta. Dự thảo Luật hứa hẹn tạo nên cơ hành lang pháp lý chặt chẽ hơn cho vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD này.
2.1.1.5. Đánh giá về hệ thống pháp luật về bảo vệ NTD ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
Từ khi tiến hành mở cửa cải cách kinh tế đến nay, nước ta đã lần lượt ban hành nhiều luật pháp liên quan đến việc bảo vệ NTD, tuy nhiên hệ thống pháp luật bảo vệ NTD vẫn còn chưa hoàn thiện, vừa thiếu, vừa yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu nói chung. Điều này được thể hiện ở một số vấn đề sau:
Thứ nhất, pháp luật về bảo vệ NTD đã dần thể hiện sự lạc hậu, không cập nhật các yêu cầu của cuộc sống, đặc biệt trong thời hội nhập và thương mại điện tử. Trước những bước phát triển mới của nền kinh tế và thông qua việc đánh giá hoạt động của mình trong những năm qua, chính các nhà lãnh đạo VINASTAS cũng phải thừa nhận PLBVNTD không còn phù hợp và cần sớm ban hành Luật Bảo vệ NTD nhằm điều chỉnh các hoạt động bảo vệ NTD, xác định rõ hơn quyền và trách nhiệm của NTD, quy định nội dung NTD, tổ chức và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các hiệp hội, các doanh nghiệp đối với việc bảo vệ NTD.
Thực chất, PLBVNTD chưa bao giờ phù hợp để bảo vệ NTD. Nó chỉ là bản tuyên ngôn về sự thông cảm của Nhà nước với NTD. Bởi vì nó không trao thêm cho NTD một công cụ tự vệ hay bảo vệ nào khác ngoài những cái có sẵn trong các văn bản pháp luật khác. Trong khi đó vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD trong các văn bản pháp luật khác lại không được chú trọng. Nhiều vấn đề luật pháp còn giản lược, còn chưa có luật pháp điều chỉnh như Luật Quản lý giá, Luật chống độc quyền và khuyến khích cạnh tranh…
Thứ hai, các quy định liên quan đến quyền và trách nhiệm của NTD cũng như của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được quy định khá rải rác, chưa mang tính hệ thống và đôi khi còn khá chung chung dẫn đến khó áp dụng trên thực tế. Các quyền của NTD theo quy định của PLBVNTD 1999 mới chỉ dừng lại ở mức độ miêu tả chứ chưa có những giải thích cụ thể. Bên cạnh đó, trách nhiệm giải quyết khiếu nại và phương thức giải quyết khiếu nại cũng như các chế tài phạt vi phạm cũng chưa được pháp luật quy định cụ thể.
Thứ ba, thiếu quy định chi tiết về hành vi vi phạm cũng như chế tài xử lý khiến khả năng bảo đảm thực thi các quy định về bảo vệ NTD là rất thấp. Có nhiều sản phẩm rõ ràng chứa những chất độc hại đối với sức khỏe tính mạng của NTD thế nhưng do thiếu quy định về tiêu chuẩn cho phép của các chất này nên các cơ quan chức năng luôn lúng túng và bị động trong việc xử lý. Do đó, việc xử lý khiếu nại của NTD cũng gặp nhiều khó khăn do không có quy định về cơ chế xác minh, xử lý nội dung khiếu nại, cũng chưa có cơ chế xử lý khiếu kiện tập thể khi quyền lợi của nhiều NTD bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, các chế tài xử phạt các hành vi xâm phạm quyền lợi NTD hiện còn quá nhẹ và thiếu tính răn đe khiến cho ý thức trách nhiệm của các doanh nghiệp vi phạm không được nâng cao.
Thứ tư, quy định về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ NTD cũng còn mang nặng tính hình thức và thiếu công cụ pháp lý để cơ quan Nhà nước có thể thực thi vai trò của mình. Bên cạnh đó, chế định cho tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD cũng có một số bất cập, có nhiều bất cập trong quy định của pháp luật, cả về cơ sở pháp lý, cả về mối liên hệ giữa các tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD. Điều này dẫn đến tình trạng quản lý chồng chéo nhưng vẫn không hiệu quả.
Thứ năm, quy định khiếu nại đòi bồi thường còn gây nhiều khó khăn cho NTD. Thủ tục khiếu nại phức tạp, một số khoản chi phí vượt quá khả năng của NTD, dẫn đến tâm lý e ngại việc khiếu nại đòi bồi thường của NTD, trong khi phản ứng của NTD là một yếu tố rất quan trọng đối với hành vi của doanh nghiệp.
Hiện trạng trên đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD, trong đó việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD, với ưu tiên hàng đầu là xây dựng Luật Bảo vệ quyền lợi NTD. Việc đẩy nhanh tiến trình xây dựng luật pháp, pháp quy bảo vệ quyền lợi NTD, sử dụng luật pháp để bảo vệ NTD là một nhu cầu bức xúc và thực tế trong quá trình phát triển hệ thống kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hơn thế nữa là trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Hiện tại, Dự thảo Luật này đã được Quốc hội thông qua và đang được các cơ quan hữu quan triển khai rất tích cực, với mục tiêu là ban hành vào năm 2010. Trong nhiều nội dung, Dự luật được kỳ vọng sẽ quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục NTD, bảo đảm an toàn sản phẩm, bảo đảm phương tiện kiểm nghiệm và xác nhận độ an toàn, chất lượng của hàng hóa và dịch vụ thiết yếu, bảo đảm khiếu nại của NTD được xem xét và giải quyết thỏa đáng và NTD được bồi thường trong trường hợp quyền lợi của họ bị vi phạm.
2.2. Tình hình hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước
2.2.1. Các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam
Căn cứ quy định của PLBVNTD, mọi cơ quan nhà nước đều có trách nhiệm bảo vệ NTD. Tuy nhiên, nhiệm vụ và phương thức thực hiện của các cơ quan nhà nước liên quan đến bảo vệ NTD là rất khác nhau.
- Trước đây, theo quy định tại Nghị định số 69/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD trong phạm vi cả nước. Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
- Từ năm 2004, tại Nghị định số 29/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2004 quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của cơ cấu tổ chức của Bộ Thương mại, Chính phủ đã giao cho Bộ Thương mại nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ NTD theo quy định của pháp luật. Ngày 6 tháng 12 năm 2004, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã có quyết định số 1080/2004/QĐ-BTM quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh, trong đó giao cho Cục làm cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Thương mại thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD. Tiếp đó, ngày 09 tháng 1 năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2006/NĐ-CP chính thức quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh là giúp Bộ trưởng Bộ Thương mại thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ NTD. Điều này là phù hợp với quy định tại Luật Cạnh tranh, theo đó Cục Quản lý cạnh tranh cũng có nhiệm vụ điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh; xử lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Trong những năm qua, Cục Quản lý cạnh tranh đã triển khai nhiều hoạt động, đặc biệt thông qua các hoạt động hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD. Nhằm hướng dẫn triển khai nhiệm vụ này ở các địa phương, Cục Quản lý cạnh tranh cũng đã phối hợp tổ chức tập huấn cho Sở Thương mại/Sở Thương mại Du lịch các tỉnh, thành phố, Hội bảo vệ NTD địa phương về các vấn đề liên quan tới pháp luật cạnh tranh và bảo vệ NTD; gửi công văn hướng dẫn các Sở Thương mại/Sở Thương mại Du lịch triển khai công tác này; xây dựng phương án hỗ trợ văn phòng khiếu nại của NTD…
Bên cạnh đó, Cục đang từng bước xây dựng và mở rộng quan hệ hợp tác với các cơ quan và tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD trên thế giới như tổ chức CI, Ủy ban Thương mại liên bang Hoa Kỳ… Cục Quản lý cạnh tranh đang hợp tác với các cơ quan bảo vệ NTD các nước ASEAN xây dựng chương trình hành động bảo vệ NTD trong khu vực và thiết lập một mạng lưới bảo vệ NTD cho các thành viên ASEAN.
Ban Bảo vệ NTD thuộc Cục Quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể quy định tại Quyết định số 27/2006/QĐ-BTM ngày 28/08/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc Cục Quản lý cạnh tranh. quản lý nhà nước về thương mại ở địa phương, Bộ Thương mại giao cho các Sở Thương mại/Sở Thương mại Du lịch nhiệm vụ hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trên địa bàn địa phương mình.
Các cơ quan chuyên ngành
Bên cạnh đó, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD còn bao gồm các cơ quan quản lý chuyên ngành như: Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Văn hóa – Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công nghiệp, Bộ Bưu chính viễn thông, Bộ Giao thông vận tải, v.v…
Tóm lại, công tác bảo vệ NTD là công tác đòi hỏi sự phối hợp liên ngành do liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như cạnh tranh, quản lý thị trường, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, dịch vụ ngân hàng, chất lượng dịch vụ bưu chính viễn thông, điện năng, nước sinh hoạt… Hơn nữa, đặc thù của công tác bảo vệ NTD là cần ưu tiên cho việc thông tin về hàng tiêu dùng và nâng cao nhận thức của NTD về các quyền và trách nhiệm. Do đó, công tác bảo vệ NTD không chỉ đòi hỏi sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan mà còn cần sự tham gia của các cơ quan thông tin đại chúng cũng như chính bản thân NTD.
2.2.2. Tình hình một số hoạt động của các cơ quan chức năng chuyên ngành ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
2.2.2.1. Hoạt động quản lý ATVSTP
Tại Việt Nam hiện nay Cục ATVSTP (Bộ Y tế) và Cục Quản lý chất lượng an toàn vệ sinh và thú y thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) là hai cơ quan chuyên ngành quản lý ATVSTP. Thực phẩm được quản lý thông qua việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP đối với các cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm trong nước và bằng giấy xác nhận đạt yêu cầu ANVSTP với thực phẩm nhập khẩu.
Nhìn chung, hoạt động quản lý ATVSTP nước ta cũng đã đạt được những hiệu quả nhất định. Công tác kiểm tra thường xuyên được tiến hành. Mỗi năm Cục ATVSTP đều phát động một tháng hành động vì ATVSTP, thành lập ra hàng nghìn đoàn thanh tra kiểm tra ATVSTP tại các tỉnh, địa phương trong cả nước… Ngoài ra, trong dịp tết Nguyên đán, tết Trung thu… hoạt động kiểm tra lại được tăng cường mạnh mẽ nhằm phát hiện xử lý, ngăn chặn các loại thực phẩm nguy hại được đưa ra thị trường. Ví dụ, đợt tết Nguyên đán 2009, thanh tra Cục ATVSTP đã lập hơn 2800 đoàn thanh tra, kiểm tra hơn 59.000 cơ sở sản xuất, chế biến kinh doanh thực phẩm, phát hiện gần 17% tổng số này vi phạm. Đồng thời, nhiều ý tưởng về đảm bảo ATVSTP cho NTD đã được đưa ra như mô hình chuỗi thực phẩm an toàn và nếu công tác kiểm tra diễn ra thực sự hiệu quả thì NTD có thể yên tâm hơn trong việc sử dụng sản phẩm trong chuỗi.
Bên cạnh đó, hoạt động ATVSTP ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế. Sự quản lý đối với các chất độc hại có trong thực phẩm còn rất lúng túng bị động. Hiện nay, ngành y tế chỉ mới xây dựng được các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm quy định các chất được phép có trong thực phẩm với hàm lượng nhất định chứ chưa có quy định cụ thể đối với các chất độc hại gây ảnh hưởng đến sức khỏe NTD. Bên cạnh đó, vấn đề quản lý thực phẩm nhập khẩu chưa đảm bảo ATVSTP đặc biệt là thực phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc theo đường tiểu ngạch. Đây là một vấn đề nhức nhối mà các cơ quan quản lý ATVSTP đang rất quan tâm
2.2.2.2. Hoạt động quản lý nhãn hàng
Tuy đã có một hệ thống quy định pháp lý khá đầy đủ nhưng các cá nhân, doanh nghiệp cung ứng hàng hoá vẫn luôn có động cơ để vi phạm quy chế nhãn hàng và xâm hại tới quyền lợi NTD, do đó, việc thanh kiểm tra thực hiện quy chế này lại đang gặp rất nhiều khó khăn và chưa thật có hiệu quả. Việc thanh kiểm tra có thể được tiến hành bởi tổng cục TCĐLCL, cục quản lý thị trường phối hợp với các cơ quan chuyên ngành thực hiện. Ngoài ra, hoạt động thanh kiểm tra nhãn hàng tại các địa phương được các chi cục của các cơ quan này đảm nhiệm. Các cơ quan này có thể tổ chức kiểm tra định kỳ theo kế hoạch hàng năm, hoặc cũng có thể kiểm tra đột xuất ngoài định kỳ. Nội dung thanh kiểm tra theo chuyên đề, chuyên môn với một nội dung, đối tượng nhất định hoặc có thể mang tính tổng hợp với nhiều đối tượng cùng được thanh kiểm tra.
Trong những năm vừa qua, vào mỗi dịp Tết nguyên đán, các lực lượng nói trên đã tích cực tổ chức các đợt tổng kiểm tra nhãn hàng, đi kèm với kiểm tra chất lượng hàng hoá. Đồng thời, các chi cục TCĐLCL, chi cục quản lý thị trường tại các địa phương cũng thường xuyên tổ chức các đợt kiểm tra nhãn hàng cả theo chuyên đề và không chuyên đề. Ví dụ như những đợt kiểm tra chuyên ngành đối với đồ chơi trẻ em ở Đà Nẵng, Hải Phòng hay những đợt kiểm tra mặt hàng bánh kẹo và Tết Trung thu, kiểm tra nhãn các sản phẩm sữa ở hầu hết các địa phương.
Mặc dù việc thanh kiểm tra đã được thực hiện bởi tổng cục TCĐLCL, cục quản lý thị trường phối hợp với các cơ quan chuyên ngành thực hiện nhưng hiệu quả quản lý mà các hoạt động này đem lại chưa cao. Các hiện tượng vi phạm quy định nhãn mác hàng hóa vẫn diễn ra phức tạp đối với hầu hết các loại hàng hóa và ở tất cả các địa phương khiến cho NTD Việt Nam không khỏi lo ngại khi tham gia tiêu dùng. Theo báo cáo của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh An Giang, nếu năm 2007 cả tỉnh xử phạt 29 trường hợp vi phạm về nhãn mác hàng hoá với số tiền 85 triệu đồng thì năm 2008 con số vi phạm bị xử lý đã lên đến 146 trường hợp, trong đó đã xử phạt 132 trường hợp với số tiền 870 triệu đồng. Hiện tượng dãn nhãn giả, hàng giả thì vẫn lan tràn trên thị trường và ngày càng khó kiểm soát.
Như vậy, có thể nói việc quản lý nhãn hàng để đảm bảo quyền lợi cho NTD còn đang hết sức khó khăn và hiệu quả chưa cao. Các hiện tượng vi phạm vẫn đang diễn ra đối với hầu hết các loại hàng hoá, và ở tất cả các địa phương.
2.2.2.3. Hoạt động tiêu chuẩn hoá Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
Hoạt động tiêu chuẩn hoá ở nước ta đã trải qua quá trình 47 năm phát triển. Đến nay chúng ta đã xây dựng được hệ thống với gần 9000 tiêu chuẩn Việt Nam, trong đó có hơn 6000 tiêu chuẩn vẫn còn hiệu lực bao quát đối tượng thuộc hầu hết các lĩnh vực xã hội.
Bên cạnh những thành tựu đó, hoạt động tiêu chuẩn chất lượng nước ta còn nhiều hạn chế, theo đó tính an toàn của sản phẩm dựa vào hệ thống quản lý tiêu chuẩn chưa cao. Trước hết phải nói đến hoạt động tiêu chuẩn hoá còn chậm và lạc hậu so với sự thay đổi của các loại hàng hoá. Yêu cầu đặt ra với các tiêu chuẩn là phải thay đổi kịp thời để phù hợp với những đặc điểm mới của hàng hoá. Vì vậy việc soát xét thay thế các tiêu chuẩn cũ phải là một hoạt động thường xuyên cần chú trọng trong công tác tiêu chuẩn hó. Theo thông lệ quốc tế thì việc này được tiến hành 5 năm một lần với mỗi tiêu chuẩn. Song ở Việt Nam, tuổi thọ của một tiêu chuẩn là khá dài. Theo số liệu thống kê năm 2005, Việt Nam có khoảng 20 tiêu chuẩn đã ban hành 1/3 thế kỷ nhưng chưa được xem xét lại. Riêng ngành dệt may có 238 tiêu chuẩn trong đó có khoảng 40% các tiêu chuẩn này được xây dựng trước năm 1990 (hanoimoi.com.vn ngày 21/01/2005)
Năng lực kiểm tra kiểm định tiêu chuẩn cơ sở vẫn còn nhiều khó khăn. Hiện cả nước ta có khoảng 900 phòng thí nghiệm phân tích chất lượng hàng hoá thuộc 17 lĩnh vực thử nghiệm khác nhau. Trên thực tế, trong 900 phòng thí nghiệm đó chỉ có 50 phòng tức 1/18 số đó là được Văn phòng Công nhận chất lượng của TCĐLCL đánh giá công nhận phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025. Với nguồn lực như vậy rất khó để có thể kiểm tra bao quát hết chất lượng hàng hoá được cơ sở tự công bố là phù hợp tiêu chuẩn.
Ví dụ như đối với mặt hàng mũ bảo hiểm vốn liên quan trực tiếp đến tính mạng NTD, thì năng lực kiểm định tiêu chuẩn chất lượng cũng còn nhiều hạn chế. Theo quy định, mũ bảo hiểm là mặt hàng bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn. Các cơ sở sản xuất mũ bảo hiểm phải công bố phù hợp tiêu chuẩn chất lượng thể hiện bằng tem CS trên sản phẩm thì mới được lưu hành. Tuy nhiên, theo thống kê của Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy trên tổng số 1809 cơ sở sản xuất mũ bảo hiểm trong nước có 950 cơ sở vi phạm quy định sản xuất và chất lượng, chiếm 52,5% (vietnamnet.vn ngày 5/04/2008). Nhiều doanh nghiệp tuy công bố phù hợp tiêu chuẩn nhưng mũ bảo hiểm sản xuất ra vẫn không đảm bảo an toàn cho NTD. Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
Mặt khác, năng lực kiểm định của các phòng thử nghiệm ở Việt Nam còn chưa đồng nhất. Với cùng một sản phẩm nhưng lại có nhiều kết quả kiểm định khác nhau, trong khi nước ta lại chưa xây dựng được quy chế lựa chọn phòng kiểm định trọng tài trong những trường hợp như vậy. Chính vì thế, ngay cả khi hàng hoá được phát hiện là không đảm bảo an toàn cho NTD nhưng kết quả kiểm định lại khác nhau nên làm chậm quá trình ra quyết định xử lý và do đó cũng khiến NTD phải chờ đợi để được bảo vệ.
2.2.2.4. Hoạt động đấu tranh chống hàng nhái hàng giả và quản lý đo lường
Để ngăn chặn vấn nạn hàng giả hàng nhái, chính phủ đã thành lập ban chỉ đạo 127 phụ trách nhiệm vụ chống buôn lậu hàng giả và gian lận thương mại. Ban chỉ đạo này được thành lập ở cả cấp trung ương và các tỉnh địa phương. Tham gia vào hoạt động chống hàng giả hàng nhái còn có hoạt động của các lực lượng quản lý thị trường, cục quản lý chất lượng hàng hoá, lực lượng công an, hải quan… và công tác đấu tranh chống hàng giả hàng nhái được tiến hành trong thị trường nội địa và vùng biên giới cửa khẩu.
Số liệu thống kê từ ban chỉ đạo 127/TƯ cho thấy, trong 10 tháng đầu năm 2008 các lực lượng chức năng đã kiểm tra xử lý hơn 80000 vụ vi phạm, tổng số thu hơn 1000 tỷ đồng, trong đó xử phạt hành chính hơn 190 tỷ, truy thu thuế hơn 524 tỷ và giá trị hàng hoá tịch tụ hơn 325 tỷ… (hanoimoi.com.vn ngày 13/10/2008). Như vậy, mức xử phạt hành chính chỉ chiếm 18% tổng số tiền thu được từ các vụ vi phạm và không đủ răn đe các trường hợp vi phạm tiếp theo.
Trước tình hình NTD bị móc túi bởi những hành vi gian lận đo lường tinh vi, các cơ quan chức năng đã tổ chức nhiều đợt kiểm tra. Chiều ngày 4/04/2008 lực lượng liên ngành gồm Thanh tra giao thông công chính, Đội cảnh sát giao thông số 2, Chi cục TCĐLCL đã ra quân kiểm tra xe taxi có biển số thuộc TP.HCM quản lý. Trong khi đó, công tác kiểm tra các cửa hàng xăng dầu được đẩy mạnh trên phạm vi cả nước. Kết qủa của các đợt thanh tra đã phát hiện được các trường hợp vi phạm, thực hiện các hình thức xử lý theo quy định pháp luật. Cụ thể, năm 2008 số tiền phạt thu được từ các cơ sở kinh doanh xăng dầu và gas là 3,8 tỷ đồng. Tuy nhiên, hình thức xử phat đối với các hành vi gian lận đo lường rõ ràng là còn quá nhẹ và không có hiệu quả răn đe. Điều này có thể thấy ngay khi so sánh giữa con số 3,8 tỷ tiền phạt thu được với 540 tỷ ước tính cho thiệt hại của NTD.
2.3. Thực trạng hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD của các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
Theo quy định trong PLBVNTD, NTD được quyền thành lập tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD còn quy định rõ chức năng của tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD. Theo đó, tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD là tổ chức xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt thành phần kinh tế, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, trình độ, nghề nghiệp, là tổ chức đại diện để bảo vệ quyền lợi NTD, được phép đăng ký hoạt động tại Ủy ban nhân dân địa phương các cấp và phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.
2.3.1. Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Việt Nam – VINASTAS
Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Việt Nam, tên giao dịch là VINASTAS được thành lập ngày 4 tháng 5 năm 1988. Hội là thành viên của Liên Hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam (VU STA) và là thành viên của Tổ chức Quốc tế người tiêu dùng (CI). VINASTAS đóng vai trò là một tổ chức phi chính phủ thực hiện chức năng bảo vệ quyền lợi NTD theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Mục đích chung của Tổ chức NTD Việt nam là phục vụ và nâng cao lợi ích của NTD. Các nội dung chính của phong trào NTD bao gồm: Thông tin giáo dục, tư vấn hoặc giúp đỡ NTD khi gặp các vấn đề khó khăng trong tiêu dùng; đấu tranh chống các biểu hiện vi phạm quyền lợi của NTD; tác động tới các cơ quan hoạch định để có các chính sách, luận pháp bảo vệ quyền lợi cho NTD đồng thời phối hợp hoạt động với các tổ chức liên quan nhằm mục tiêu bảo vệ NTD; và xây dựng lối sống tiêu dùng lành mạnh, thích hợp với mức độ phát triển kinh tế của chúng ta.
Hiện nay, VINASTAS có tổng cộng 29 Hội Bảo vệ NTD thành viên ở 29 tỉnh, thành trên cả nước. Hội Bảo vệ NTD ở các tỉnh, thành phố do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ra quyết định công nhận và trở thành thành viên của VINASTAS khi được sự chấp thuận của VINASTAS.
Các đơn vị trực thuộc VINASTAS gồm có: Văn phòng Trung ương Hội; Văn phòng phía Nam; Văn phòng người tiêu dùng; Tạp chí Người tiêu dùng; 4 Câu lạc bộ trực thuộc VINASTAS: CLB chất lượng,CLB chống hàng giả, CLB các phóng viên bảo vệ NTD, và CLB NTD nữ. Bên cạnh đó còn có Trung tâm nghiên cứu và tư vấn về tiêu dùng (CESCON); Công ty Dịch vụ Tiêu chuẩn, đo lường chất lượng; và Trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng (CETA).
VINASTAS hoạt động bằng kinh phí tự có, kinh phí thực hiện dự án và các nguồn tài trợ. Các Hội địa phương đều có văn phòng khiếu nại để tiếp nhận và xử lý các khiếu nại của người NTD. Tuy nhiên, chỉ một số ít tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD địa phương nhận được sự hỗ trợ kinh phí từ chính quyền địa phương.
2.3.2. Các hoạt động của VINASTAS Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
Các hoạt động của VINASTAS trong thời gian qua cũng đã đóng góp đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ NTD nước ta. Trong thời gian vừa qua, nhiều hội bảo vệ NTD mới đã được thành lập ở các tỉnh thành, đưa tổng số hội địa phương ở các tỉnh và thành phố tăng nhanh lên 29 hội, chiếm 45,3% trong tổng số 64 tỉnh thành trong cả nước và các hội được phân bố đều khắp cả nước. Như vậy, với sự có mặt của các hội bảo vệ NTD ở gần như một nửa tất cả các tỉnh thành trong cả nước, NTD trong tương lai sẽ có nhiều cơ hội được bảo vệ quyền lợi hơn.
Hội đã tổ chức nhiều hoạt động thông tin, giáo dục NTD dưới nhiều hình thức: tuyên truyền, giáo dục thông qua các cơ quan thông tin đại chúng như xuất bản tạp chí Người tiêu dùng một tháng hai số; trả lời phỏng vấn, tọa đàm trực tuyến trên đài phát thanh, truyền hình và một số báo; phối hợp tổ chức các triển lãm, hội chợ; tư vấn và giải quyết khiếu nại cho NTD; tổ chức các hoạt động kỷ niệm ngày Quyền của NTD thế giới – 15/03, Ngày thế giới không thuốc lá – 31/05…
Tiếp nhận và xử lý khiếu nại của NTD là một mảng hoạt động quan trọng của VINASTAS và các Hội thành viên. Theo thông tin của VINASTAS, đến năm 2005 mỗi năm VINASTAS tiếp nhận khoảng 400 đơn từ khiếu nại các loại của NTD tập trung vào các vấn đề chất lượng hàng hóa, điện nước, vệ sinh an toàn thực phẩm. 85% số vụ việc đã được VINASTAS phối hợp với các cơ quan chức năng giải quyết. Trong hai năm 2006 và 2007 VINASTAS tiếp nhận mỗi năm khoảng 1.000 đơn từ khiếu nại, trong đó 80% số vụ được giải quyết thông qua hòa giải, các trường hợp không hòa giải được Hội hướng dẫn, giúp đỡ NTD hoặc đại diện cho NTD đưa khiếu nại tới các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Bên cạnh đó, trong những vụ việc nổi cộm VINASTAS đều đã lên tiếng bảo vệ NTD. Ngày 13/11/2006 VINASTAS đã gửi đơn kiến nghị đến các Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ Thương mại, Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công nghiệp phản đối việc một số công ty sữa ghi nhãn sữa tươi hoặc sữa tươi nguyên chất cho loại sữa nước được hoàn nguyên từ sữa bột. Ngoài ra VINASTAS cũng tham gia giải quyết một số vụ điển hình khác như vụ điện kế điện tử tại TP. Hồ Chí Minh, vụ xăng có chứa aceton, đồng hồ nước của công ty nước sạch.v.v.
Theo số liệu thu được từ Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, tháng 8/2008, Vinastas đã thực hiện cuộc điều tra ý kiến NTD trên toàn quốc, thông qua 1000 phiếu, điều tra ở 10 tỉnh đã có tổ chức BVQLNTD như Phú Thọ, Hà Tây, Hải Phòng, Thanh Hoá, Nghệ An, Phú Yên, Đắc lắc, Bà Rịa-Vũng Tàu… Trong phần điều tra về giải quyết khiếu nại của NTD, đã có 666/1000 ý kiến cho rằng DN phải có trách nhiệm giải quyết nhanh chóng và thoả đáng khiếu nại của NTD, 745/1000 kiến cho rằng Hội bảo vệ quyền lợi NTD phải có trách nhiệm giúp NTD giải quyết những khiếu nại của họ và 630/1000 ý kiến muốn Luật bảo vệ quyền lợi NTD có quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại của NTD.
Gần đây đã bắt đầu có những động thái phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và VINASTAS hỗ trợ thông tin cho NTD. Theo đó, Cục Quản lý cạnh tranh và VINASTAS đã phối hợp xây dựng một mục có tên là Thông tin cảnh báo cho NTD trên trang web của Cục. Tại đây, dựa trên khiếu nại của NTD, trên ý kiến của các hội bảo vệ NTD địa phương, các sở thương mại, các phương tiện thông tin đại chúng… những sản phẩm, dịch vụ có nguy cơ gây mất an toàn, vệ sinh đối với NTD sẽ được đưa ra cảnh báo sử dụng. Bên cạnh đó, hai cơ quan, tổ chức này đang phối hợp tổ chức xét tặng hàng năm “Danh hiệu văn minh thương mại vì Người tiêu dùng Việt Nam” nhằm tôn vinh các doanh nghiệp kinh doanh trung thực, lành mạnh, thực hiện tốt trách nhiệm bảo vệ quyền lợi chính đáng của NTD.
2.4. Đánh giá hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
Bảo vệ quyền lợi NTD là một hoạt động liên quan đến nhiều lĩnh vực, và cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan ban ngành. Thế nhưng hoạt động của bản thân các cơ quan này cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan còn chưa thực sự hiệu quả.
Hiện nay, hoạt động của các cơ quan quản lý chuyên ngành đang tồn tại rất nhiều vấn đề ví dụ như Bộ Y tế bất lực với các sản phẩm độc hại, Bộ Công thương đau đầu về vấn đề độc quyền, giá cả hàng hóa bất hợp lý, Bộ Khoa học Công nghệ vất vả với các tiêu chuẩn chất lượng và việc gian lận đo lường… Điều đó cho thấy bản thân các cơ quan này còn đang lúng túng trong hoạt động quản lý của mình. Trong khi đó, các tổ chức bảo vệ NTD như VINASTAS và các hội bảo vệ NTD địa phương cũng chưa thực hiện được tốt chức năng của mình, việc hình thành còn mang tính chất cơ cấu nên hiệu quả hoạt động chưa cao. Thêm vào đó, các tổ chức này cũng gặp nhiều khó khăn về nguồn lực cả về tài chính và nhân lực. Điều này đã hạn chế rất nhiều hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Ngoài ra, đây chỉ là tổ chức xã hội, quyền lực rất nhỏ bé. Theo quy định hiện nay, các hội bảo vệ NTD chỉ có thể đại diện cho NTD khởi kiện doanh nghiệp có hành vi xâm phạm quyền lợi NTD khi được NTD ủy quyền chứ chưa được trao quyền đại diện tập thể để tự động khởi kiện. Chính vì thế, có những trường hợp ai cũng biết rằng NTD chịu thiệt thòi nhưng vì không được NTD ủy quyền nên các tổ chức này cũng không thể làm gì được. Dù luật pháp cho phép Vinastas đại diện cho NTD đứng ra khởi kiện các chủ thể xâm phạm lợi ích của họ những điều này cũng khó mà thực hiện bởi khả năng thắng kiện rất thấp do những quy định pháp lý không rõ ràng, cách đánh giá mức độ thiệt hại và phạm vi trách nhiệm bồi thường không được cụ thể, phù hợp thực tế. Chính vì thế, hiện nay, việc xử lý của Vinastas mới chỉ dừng lại ở mức độ hoà giải và các quyết định không mang tính pháp lý.
Theo thống kê, hiện trên thị trường nội địa có tới 15- 17 lực lượng thanh tra, kiểm tra. Ngoài lực lượng Quản lý thị trường, Công an là lực lượng chủ chốt còn có các lực lượng: Thanh tra VSATTP, Thanh tra y tế, Thanh tra KHCN, Thanh tra tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Kiểm dịch thực vật, Kiểm dịch động vật, thú ý, Thanh tra bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Thanh tra công thương, Thanh tra giáo dục… Các lực lượng thanh tra này thực hiện cả hai nhiệm vụ: thanh tra hành chính và thanh tra chuyên môn. Việc quy định chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền đối với từng lực lượng phần lớn do các bộ, ngành tự xây dựng và trình Chính phủ quyết định .
Với lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường đông đảo nhưng lại thuộc nhiều bộ, ngành khác nhau, và bộ, ngành nào cũng thực hiện chức năng thanh tra, kiểm soát trên thị trường đối với ngành hàng, mặt hàng, lĩnh vực quản lý đã dẫn đến sự phân tán, đồng thời cũng tạo ra sự chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động của các cơ quan. Việc một lĩnh vực, một mặt hàng có nhiều ngành, nhiều cấp quản lý đã gây ra khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Mặt khác lại dẫn đến sự bỏ trống địa bàn, lĩnh vực kiểm tra, tâm lý thụ động, trông chờ, ỷ lại, đùn đẩy trách nhiệm. Việc nào dễ thì làm, việc khó thì bỏ, coi đó không phải trách nhiệm của mình. Nhiều lực lượng có quân số mỏng, trình độ chuyên môn yếu, không thể tự mình kiểm tra, xử lý hoặc tổ chức kiểm tra, xử lý không thường xuyên, không bao quát được các địa bàn phải tổ chức liên ngành để thanh tra, kiểm tra như vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng ở gia súc. Bên cạnh đó, do cùng một hành vi vi phạm nhưng lại quy định nhiều cơ quan chức năng cùng có thẩm quyền xử lý, dẫn đến vận dụng khác nhau, không thống nhất trong cách thức xử lý, gây khó khăn cho cả đối tượng bị xử phạt.
Chung quy lại, nguyên nhân cơ bản nhất ảnh hưởng đến công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường hiện nay chính là thiếu một cơ chế phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa các lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường. Do vậy hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường trong nhiều trường hợp còn có hiện tượng “rào sân”, theo chủ trương và mục đích quản lý của từng bộ, ngành chủ quản, mà chưa thật sự hoàn toàn về mục đích chung; lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường bị tổ chức phân tán, phân cấp cho địa phương quản lý không thống nhất, phạm vi hoạt động và chức năng, thẩm quyền kiểm soát thị trường tại địa phương có sự khác biệt giữa các lực lượng dẫn đến sự phối hợp giữa các lực lượng chưa hiệu quả, chưa chặt chẽ nên hiệu quả thấp, chưa theo kịp những chuyển biến mạnh mẽ trong lưu thông hàng hoá và kinh doanh thương mại trong cơ chế thị trường.
Bên cạnh đó, vai trò của các đoàn thể, các tổ chức xã hội, các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo chưa được phát huy trong hoạt động bảo vệ NTD. Nhiều phong trào quần chúng, nhiều chương trình hành động của các đoàn thể, nhiều chương trình và đề tài nghiên cứu khoa học của các cơ quan, tổ chức, nhiều lớp đào tạo, chương trình giáo dục mà thực ra nội dung có liên quan đến tiêu dùng, đến lối sống tiêu dùng đều vắng bóng vấn đề này. Tình trạng này có phần là do khả năng tài chính của các hội, các ban dành cho vấn đề này còn hạn chế, hoạt động tuyên truyền vận động chưa sâu rộng nên tác động còn yếu. Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Biện pháp bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN