Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp khắc phục tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của ngân hàng Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. Nhận định xu hướng xuất nhập khẩu trong thời gian tới

1. Năm 2010

Quốc hội đề ra chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu của năm 2010 so với năm 2009 là 6%, tương ứng với kim ngạch khoảng 59,9 tỷ USD và tỷ lệ nhập siêu phải đảm bảo không quá 20% kim ngạch xuất khẩu. Để đạt yêu cầu này, thâm hụt thương mại năm 2010 không được vượt quá 12 tỷ USD tương đương với kim ngạch nhập khẩu chỉ chạm mức 71,9 tỷ USD. Tuy nhiên, những chỉ tiêu này khó có thể đạt được. Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Nhập khẩu vượt mức

Do kinh tế thế giới phục hồi nên giá bình quân nhiều mặt hàng nguyên, nhiên, vật liệu như sắt thép, dầu thô, phân bón, chất dẻo… đều tăng cao. Nếu lấy giá ở các tháng cuối năm 2009 (tăng 10% so với cả năm 2009) để tạm tính cho giá nhập khẩu của năm 2010, dù lượng hàng nhập khẩu được giữ như năm 2009, thì kim ngạch nhập khẩu của 2010 vẫn tăng thêm 10%. Lượng xăng dầu nhập khẩu sẽ giảm khoảng 3,5 – 4 triệu tấn nhưng giá mặt hàng này trong năm 2010 chắc chắn tăng, dẫn đến kim ngạch nhập khẩu xăng dầu có thể duy trì như năm 2009.

Bên cạnh đó, năm 2010, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giải ngân nhiều hơn khiến nhu cầu nhập khẩu các loại máy móc, nguyên liệu tăng lên. Ngoài ra, nền công nghiệp phụ trợ trong nước còn non yếu nên nhu cầu về nhập khẩu phục vụ sản xuất vẫn rất cao.

Mặt khác, dự đoán tỷ trọng nhóm hàng nhập khẩu cần kiểm soát và hạn chế nhập khẩu trong tổng giá trị nhập khẩu giảm không đáng kể, trong khi nhóm hàng

Dựa trên “Báo cáo tổng kết (tóm tắt) tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2009 và kế hoạch năm 2010 của ngành công thương” và “Dự kiến cán cân xuất nhập khẩu năm 2010”đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu được tạo điều kiện thuận lợi để nhập khẩu sẽ tăng cao nên kim ngạch nhập khẩu cũng không nhiều.

Xuất khẩu khó khăn

Dù có hạn chế được nhập khẩu thì khả năng hồi phục của xuất khẩu vẫn là nhân tố then chốt quyết định sự ổn định của cán cân thương mại và tăng trưởng kinh tế. Vì những hạn chế về diện tích, thời tiết, nguồn nước, năng suất và lượng xuất khẩu năm 2009 đạt khá cao nên nhóm hàng nông thủy sản năm 2010 khó có khả năng tăng trưởng cao, thậm chí một số sẽ đến ngưỡng nếu không có những biện pháp tích cực. Các mặt hàng như gạo, cà phê, cao su, thuỷ sản, dầu thô, than đá… sẽ khó có sự tăng trưởng lớn về lượng. Đặc biệt, trong năm 2010, lượng dầu thô xuất khẩu sẽ giảm để phục vụ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Do đó, kim ngạch xuất khẩu dự kiến của nhóm nhiên liệu, khoáng sản năm 2010 sẽ giảm khoảng 1,9%.

Tại các thị trường xuất khẩu, một số mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam sẽ gặp phải sự cạnh tranh quyết liệt hơn từ các đối thủ. Cụ thể, từ năm 2009, Mỹ đã bỏ hoàn toàn hạn ngạch hàng dệt may với Trung Quốc nên sức cạnh tranh mặt hàng này của Việt Nam tại Mỹ sẽ căng thẳng hơn. Ngoài ra, các hàng rào phi thuế quan và các biện pháp bảo hộ khác được các nước dựng lên cũng khiến cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam gặp khó khăn hơn.

Ngoài ra, trong kim ngạch xuất khẩu năm 2009 có sự đóng góp của 2 tỷ USD từ xuất khẩu vàng (chưa kể kim ngạch chế tác gia công đá quý, kim loại quý). So với kim ngạch xuất khẩu dự kiến, nếu không còn yếu tố đột biến của xuất khẩu vàng thì năm 2010 tăng 6% thực chất là tăng tới 9,9% so với năm 2009. Đây là con số rất cao, khó đạt được trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều biến động như hiện nay.

Từ năm 2011 đến 2015, tầm nhìn 2020

Theo dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân đạt 12,1%/năm, đến năm 2015 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt khoảng 1177 USD/người, gấp 1,7 lần so với năm 2010. Trong đó, tỷ trọng hàng công nghiệp xuất khẩu chiếm 87% tổng kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản bình 72 quân đạt 4,1-5,1%/năm. Ngoài ra, phấn đấu kiểm soát nhập siêu ở mức cho phép và đến năm 2020 cân bằng được với nhập khẩu.

Đặc biệt, đối với thị trường Trung Quốc, định hướng chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này năm 2010 là 5,4 tỷ USD và đến năm 2015 là 11,1 tỷ USD (tức tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 15,5%/năm); đồng thời, cố gắng kìm giữ tốc độ tăng nhập khẩu bình quân khoảng 10,3%/năm, tương đương kim ngạch nhập khẩu năm 2010 là 12,2 tỷ USD và đến năm 2015 là 19,9 tỷ USD28.

Về cơ cấu ngành hàng xuất nhập khẩu, vì hàng nhập khẩu về chủ yếu phục vụ cho sản xuất trong nước và xuất khẩu nên cơ cấu nhập khẩu phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu xuất khẩu. Xét về trung và dài hạn, xuất khẩu nước ta chú trọng phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên là dệt may, da giầy, chế biến nông, lâm, thủy hải sản, hóa chất và các ngành công nghiệp mũi nhọn gồm cơ khí chế tạo (ô tô, đóng tầu, thiết bị toàn bộ, máy nông nghiệp, cơ điện tử), thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin, sản phẩm từ công nghệ mới (năng lượng mới, năng lượng tái tạo, công nghệp phần mềm, nội dung số). Vì vậy, có thể hình dung xuất khẩu những năm tới dựa trên một số ngành tiêu biểu này: Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Ngành dệt may: Tiếp tục là một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, ngành dệt may sẽ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập của nước ta với kinh tế khu vực và thế giới. Giai đoạn 2011 đến 2015, tăng trưởng xuất khẩu bình quân sẽ đạt khoảng 15%, kim ngạch xuất khẩu năm 2015 dự tính đạt 18 tỷ USD. Giai đoạn sau, 2016 đến 2020, khả năng xuất khẩu vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 15%/năm, ước tính kim ngạch xuất khẩu đạt 25 tỷ USD vào năm 2020. Trong đó, thị trường trong nước phấn đấu đáp ứng đủ nhu cầu các loại phụ liệu may như cúc, chỉ, khoá kéo… phục vụ cho sản xuất, sẽ hạn chế lượng nguyên vật liệu nhập khẩu. Cụ thể, đến năm 2015 đáp ứng 50% nhu cầu nội địa về các sản phẩm xơ, sợi tổng hợp, đến năm 2020 đáp ứng 80% nhu cầu nội địa và tiến tới xuất khẩu sau năm 2020.

Ngành thủy sản: Phát triển thành ngành đi đầu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, ngành kinh tế mũi nhọn và là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước; ngành thủy sản sẽ phấn đấu nâng cao trình độ công nghệ chế biến thuỷ sản đến năm 2020 tương đương với các nước phát triển. Tiếp tục giữ vững và phát triển những thị trường xuất khẩu thủy sản truyền thống, đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường lớn (Nhật Bản 25%, Mỹ trên 30%, EU từ 20 – 22%, Trung Quốc & Hồng Kông 7 – 9%, Hàn Quốc khoảng 8%), trong đó đặc biệt quan tâm đến thị trường Trung Quốc và các thị trường tiềm năng; đồng thời, chủ động mở rộng thị trường xuất khẩu để kịp thời điều tiết khi có biến động về thị trường.

Ngành da – giầy: Ngành da giầy sẽ phát triển theo hướng nâng cao tỷ lệ sử dụng nguyên phụ liệu trong nước từ 40% năm 2010 lên 70-80% vào năm 2020 để giảm mức nhập khẩu da sơ chế, đồng thời nâng công suất thuộc da, cố gắng sau năm 2015 tự chủ được khuôn mẫu và phụ tùng thay thế thông thường.

Các ngành công nghiệp mũi nhọn:

Ngành sản xuất và lắp ráp ô tô sẽ cố gắng hoàn thiện các mẫu xe tải, xe khách với tỷ lệ sử dụng linh phụ kiện sản xuất trong nước cho xe khách là 75%, xe tải là 85% và xe con là 30% vào năm 2020; đồng thời, từng bước tham gia xuất khẩu một số linh kiện, phụ tùng. Ngoài ra, ngành còn phải hoàn thiện cơ bản các tiêu chuẩn linh phụ kiện cho ô tô sản xuất tại Việt Nam cho phù hợp với tiêu chuẩn chung của khu vực và ASEAN vào năm 2015.31

Ngành điện tử – tin học sẽ xây dựng ngành công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp điện tử theo xu hướng tham gia vào chuỗi sản xuất và cung ứng linh phụ kiện cho thế giới và khu vực; thu hút các tập đoàn đa quốc gia để phát triển cơ sở sản xuất, thiết kế các hệ thống bán dẫn tích hợp cao, vi điều khiển, IC thông minh, sản phẩm tín hiệu hỗn hợp… và các phần mềm nhúng, các bảng mạch tích hợp dùng cho thiết bị thông tin, máy tính, thiết bị ngoại vi, đồ điện, điện tử gia dụng…

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

II. Một số giải pháp đề xuất nhằm khắc phục tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

1. Nhóm giải pháp từ phía chính phủ và các cơ quan chức năng

1.1 Hoàn thiện chính sách thương mại

1.1.1 Chính sách xúc tiến thương mại

Việt Nam nên tích cực, chủ động thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế đầy đủ và sâu rộng để có thể chuyển dịch và mở rộng thị trường xuất khẩu, khắc phục tình trạng khó khăn tại các thị trường xuất khẩu chính đang bị khủng hoảng kinh tế tác động. Việt Nam cần thúc đẩy để sớm ký kết các Hiệp định song phương và đa phương, thiết lập các khu vực mậu dịch tự do tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu, như Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản, Hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản, Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Autralia – Newzeland và ASEAN – Ấn Độ. Ngoài ra, do các thành viên WTO có quyền yêu cầu cân bằng thương mại với nhau nên Việt Nam có thể trao đổi với các đối tác thương mại mà Việt Nam bị thâm hụt thương mại (trước hết là Trung Quốc, ASEAN, Hàn Quốc…) để phối hợp tìm giải pháp giảm nhập vào và tăng xuất khẩu từ Việt Nam.

Bên cạnh đó, Việt Nam phải cố gắng nâng cao khả năng đa dạng hóa thị trường, duy trì, mở rộng thị phần trên các thị trường hiện có và thâm nhập vào các thị trường mới. Vì ngoài thành công với thị trường Mỹ, Việt Nam đang bị giảm thị phần tại những thị trường lớn như châu Âu, Trung Quốc nên Việt Nam cần tăng cường củng cố các thị trường còn nhiều tiềm năng và cơ hội như Mỹ, Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc32… đồng thời khai phá mạnh các thị trường mới ở Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh cho phát triển xuất khẩu.

  • Mỹ là quốc gia đứng đầu về nhập khẩu với kim ngạch nhập khẩu bỏ xa các quốc gia khác, thêm vào đó, lượng người Việt đang sinh sống và làm việc tại Mỹ khá lớn.
  • Việt Nam mới kí hiệp định thương mại tự do (FTA) với Nhật Bản, thuế xuất khẩu vào Nhật giảm chỉ còn 0 – 5%, nếu doanh nghiệp tận dụng được thì sẽ đem lại hiệu quả cao cho xuất khẩu.
  • ASEAN, Trung Quốc là những thị trường lớn, có quan hệ hữu nghị hợp tác trên nhiều phương diện với Việt Nam, trong đó có nhiều thỏa thuận về ưu đãi thương mại.

Mặt khác, để nâng cao hiệu quả trong công tác xúc tiến thương mại, Việt Nam cần cải tiến việc thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, phát triển thị trường xuất khẩu. Việc tăng cường vai trò và trách nhiệm của các cơ quan ngoại giao và đại diện thương mại của Việt Nam ở nước ngoài là rất quan trọng. Cụ thể, các cơ quan này phải thường xuyên cung cấp thông tin, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ doanh nghiệp (trong đó, chú ý hơn đến khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước) tiếp cận thị trường, kênh phân phối nước ngoài… Ngoài ra, công tác xúc tiến đầu tư cần sự đổi mới, nâng cao chất lượng, đặc biệt là hướng vào đối tác là các tập đoàn xuyên quốc gia, các đối tác nắm công nghệ nguồn và coi trọng các dự án gắn với chuyển giao công nghệ và thân thiện môi trường…

1.1.2 Cải thiện chất lượng và nâng cao hiệu quả xuất khẩu Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Trong thời gian qua, xuất khẩu chủ yếu vẫn dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành công nghiệp gắn bó, liên kết chặt chẽ với nhau hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn. Do đó, Việt Nam cần nỗ lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ – công nghiệp và nông nghiệp nhằm tạo chuyển biến về chất trong cơ cấu xuất khẩu.

Bên cạnh đó, Việt Nam phải tập trung đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, thay thế hàng nhập khẩu, các loại nguyên liệu, mặt hàng phụ trợ nhằm phát triển nguồn cung cho xuất khẩu (cả về mặt số lượng và nâng cao chất lượng) để tạo ra được một cấu trúc xuất khẩu mang tính cạnh tranh và đạt hiệu quả cao. Trước hết, Việt Nam cần triển khai mạnh và tích cực đầu tư vào sản xuất trong ngành công nghiệp phụ trợ như kêu gọi đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài. Một số ngành cần ưu tiên phát triển công nghiệp phụ trợ trong thời gian tới là: cơ khí, dệt may, da giày, điện tử. Các tập đoàn, các Tổng công ty Nhà nước, các doanh nghiệp cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sớm đưa các dự án đầu tư về điện, phân bón, thép, cơ khí, dệt may vào sản xuất nhằm thay thế các mặt hàng nhập khẩu. Đồng thời, chính phủ nên tiến hành rà soát lại các cơ sở sản xuất các ngành phụ trợ tại công ty nhà nước, ưu tiên cấp vốn và tạo điều kiện khác để đổi mới thiết bị, thay 76 đổi công nghệ tại những cơ sở đã có quy mô tương đối lớn. Ngoài ra, lập chế độ tư vấn kỹ thuật và quản lý để mời các chuyên gia nước ngoài vào giúp thay đổi công nghệ và cơ chế quản lý tại các doanh nghiệp. Đặc biệt, có thể khuyến khích tư nhân đầu tư vào lĩnh vực sản xuất các ngành công nghiệp phụ trợ với sự hỗ trợ đặc biệt về vốn và những ưu đãi đặc biệt về thuế (miễn thuế nhập khẩu thiết bị và công nghệ, miễn thuế doanh thu…)

Một số nước phát triển, đặc biệt là Nhật Bản, có chương trình xúc tiến chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các nước đang phát triển. Tiếp nhận sự hỗ trợ từ chương trình này không chỉ thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung, mà còn là cơ hội cho Việt Nam nhanh chóng tăng khả năng cung cấp các mặt hàng công nghiệp phụ trợ hiện có, nhất là các mặt hàng đang sản xuất tại các doanh nghiệp nhà nước. Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Mặt khác, Việt Nam cần chủ động rà soát những mặt hàng nhập khẩu tăng mạnh (do việc cắt giảm thuế quan theo cam kết WTO và AFTA) mà trong nước có khả năng sản xuất để có biện pháp hạn chế nhập khẩu và khuyến khích trong nước sản xuất. Đồng thời, chính phủ cần nhiên cứu các biện pháp hạn chế sự phụ thuộc vào biến động giá cả thị trường thế giới và cách ứng phó với các rào cản thương mại mới của nước ngoài (tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường, dư lượng kháng sinh), nhất là các vụ kiện chống bán phá giá. Sự lúng túng và bị động trong đối phó với những sự kiện này khiến cho tăng trưởng xuất khẩu không vững chắc và dễ bị thương tổn bởi các cú sốc từ bên ngoài. Ví dụ, thời gian qua, nước ta hầu như đều bị thua kiện đối với những mặt hàng bị kiện bán phá giá, khiến xuất khẩu giảm mạnh (cá tra, basa và tôm ở thị trường Mỹ, xe đạp ở thị trường EU, Canada…).

Ngoài ra, thực hiện chương trình hiện đại hóa và cải cách thủ tục hải quan; xây dựng lộ trình rút ngắn thời gian tiến hành các thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu để giảm thời gian tiến hành các thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam xuống mức trung bình của khu vực ASEAN thông qua việc tăng cường áp dụng các biện pháp để tiến hành hải quan điện tử, hải quan một cửa… Rà soát, bãi bỏ một số thủ tục đối với việc nhập khẩu nông sản từ các nước có chung biên giới với Việt Nam tạo thuận lợi cho việc nhập khẩu nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu và xem xét cho thông quan hàng xuất khẩu từ các cửa khẩu phụ.

1.1.3 Hạn chế nhập khẩu

Năm qua, Việt Nam đã thực hiện tương đối tốt việc hạn chế nhập khẩu. Vì vậy, Việt Nam nên tiếp tục kiểm soát việc tiếp cận ngoại tệ theo 3 nhóm hàng: nhóm cần nhập khẩu, nhóm cần kiểm soát và nhóm hạn chế nhập khẩu. Tiếp tục quản lý chặt chẽ việc nhập khẩu vàng, trong trường hợp cần thiết có thể sử dụng hạn ngạch nhập khẩu để khống chế mức nhập khẩu sau khi đã trừ đi phần tái xuất. Quản lý nhập khẩu bằng giấy phép tự động để kiểm soát nhập khẩu đối với các mặt hàng tiêu dùng.

Ngoài ra, có thể mở rộng danh mục mặt hàng nhập khẩu phải nộp thuế ngay trước khi thông quan đối với một số mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu. Đồng thời, cần tăng cường công tác kiểm tra chất lượng hàng hoá nhập khẩu và sử dụng hàng rào kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu: rà soát, ban hành các quy định chặt chẽ về hoá chất, chất phụ gia, chất hỗ trợ chế biến trong bảo quản hàng thực phẩm…

Nghiên cứu xây dựng các biện pháp và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng đối với các ngành, sản phẩm công nghiệp nhằm bảo vệ sản phẩm trong nước khỏi sự cạnh tranh không công bằng trên thị trường trong nước, phù hợp với các quy định của WTO và các Hiệp định quốc tế mà Việt Nam ký kết. Hoàn thiện hoặc ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng hoá lưu thông trên thị trường nói chung cũng như đối với hàng hoá nhập khẩu, trước mắt là đối với những mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, tiêu dùng, sức khoẻ cộng đồng và bảo vệ môi trường.

Mặt khác, các cơ quan chức năng cần tiếp tục thực hiện các biện pháp bình ổn thị trường, cân đối cung cầu các mặt hàng cơ bản của nền kinh tế. Trong đó, đặc biệt quan tâm việc nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo xu hướng giá cả và thị trường thế giới trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, qua đó đề xuất những giải pháp bình ổn thị trường, cân đối cung cầu hiệu quả.

1.2 Hoàn thiện chính sách tiền tệ Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ một cách thận trọng, linh hoạt theo nguyên tắc thị trường, phối hợp động bộ các giải pháp tiền tệ, công cụ CSTT và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để ổn định kinh tế vĩ mô, kích thích tăng trưởng và phòng ngừa lạm phát.

Tiếp tục áp dụng mô hình kiểm soát chặt chẽ quy mô và tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, tổng dư nợ tín dụng nhằm giữ lạm phát ở mức hợp lý; đồng thời đảm bảo tính thanh khoản và hoạt động lành mạnh của các ngân hàng. Kiểm soát việc cho vay kinh doanh bất động sản, kinh doanh chứng khoán của các ngân hàng thương mại và các tổ chức kinh doanh tiền tệ khác. Tăng cường các biện pháp quản lý, xử lý nợ quá hạn, giảm tối đa nợ xấu, điều chỉnh tỷ lệ dữ trự bắt buộc phù hợp với điều kiện cụ thể; có biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng; xây dựng kế hoạch, lộ trình phù hợp để từng bước có biện pháp hạn chế sử dụng tiền mặt trong thanh toán. Nâng cao chất lượng thanh tra ngân hàng, chấn chỉnh, củng cố công tác kiểm soát nội bộ tại các tổ chức tín dụng. Quản lý chặt chẽ việc thành lập mới, mở chi nhánh ngân hàng và tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng, bảo đảm an ninh tiền tệ và an toàn hệ thống.

Duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức phù hợp, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ. Ngoài việc điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất dự trữ bắt buộc, hệ thống lãi suất chỉ đạo một cách hợp lý, có thể thực hiện bảo lãnh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như triển khai cho vay hỗ trợ lãi suất trong những tình huống khẩn cấp. Sử dụng các biện pháp hành chính khống chế trần lãi suất cho vay, kiểm soát chặt việc cho vay hỗ trợ lãi suất, cung ứng thanh khoản cho các ngân hàng có khó khăn thanh khoản. Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Mặt khác, cần ổn định thị trướng ngoại hối bằng cách đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngoại tệ của doanh nghiệp, thu hẹp khoảng cách tỷ giá trên thị trường tự do và thị trường chính thức; xác định tỷ giá linh hoạt hơn cho hệ thống kinh doanh trên cơ sở điều chỉnh tỷ giá trung tâm. Kiểm soát chặt chẽ các giao dịch ngoại hối, nhất là hoạt động kinh doanh vàng do sự biến động mạnh của giá vàng có những tác động bất lợi đến tỷ giá. Đồng thời chủ động, kịp thời điều chỉnh tỷ giá và mở rộng hay thu hẹp biên độ ấn định tỷ giá mua bán USD/VND (kiểm soát hỗn hợp) của các ngân hàng thương mại so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng khi cần thiết và yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm biên độ tỷ giá. Bởi vì, việc đó vừa tạo thuận lợi cho xuất khẩu và đầu tư, giảm căng thẳng can thiệp cho dự trữ quốc gia và sự mất cân bằng áp lực tiền do lạm phát tích lũy, vừa thu hẹp khoảng cách của hệ thống tỷ giá kép trong bối cảnh lượng tiền gửi ngân hàng theo thống kê đã đạt ngưỡng USD hóa xấp xỉ 30%.

Ngoài ra, cần phối hợp với các biện pháp điều tiết cung cầu ngoại tệ trên thị trường như NHNN bán ngoại tệ cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm nặng để hỗ trợ cung cấp đủ ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đặc biệt ưu tiên những mặt hàng nhập khẩu thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống. Để điều hoà ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, Bộ Tài chính có thể bán nguồn ngoại tệ thu được từ phát hành trái phiếu Chính phủ cho NHNN, đề nghị một số doanh nghiệp nhập khẩu lớn chuyển từ mua ngoại tệ sang vay bằng ngoại tệ. Các biện pháp chấn chỉnh hoạt động ngoại hối cũng cần được tăng cường như phối hợp với các bộ, ngành kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các hành vi quảng cáo, niêm yết giá hàng hóa bằng ngoại tệ; mua, bán ngoại tệ trái phép; tăng cường kiểm tra hoạt động mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại và hoạt động của các đại lý đổi ngoại tệ, xử lý nghiêm các vi phạm. Đặc biệt, áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp và người dân như đẩy mạnh công tác tuyên truyền và công bố công khai, rộng rãi các thông tin về tình hình ngoại hối, tỷ giá; yêu cầu các NHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay và huy động bằng ngoại tệ.

Bên cạnh đó, tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng công tác thống kê, dự báo diễn biến tiền tệ, tín dụng và kinh tế vĩ mô; thiết lập hệ thống thu thập thông tin tốt và tạo nhiều cơ hội để đối thoại với các thành viên chính của thị trường để những chính sách tiền tệ đưa ra hiệu quả, đồng bộ và không mâu thuẫn với nhau. Tập trung hoàn thiện thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, trọng tâm là hoàn thiện 2 dự thảo Luật NHNN và Luật Các tổ chức tín dụng; sau đó sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện. Đảm bảo hài hòa quyền kinh doanh của các tổ chức tín dụng và yêu cầu giám sát an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng trên cơ sở ban hành doanh mục các dịch vụ phải cấp phép hoạt động. Ngoài ra, công khai, minh bạch hầu hết các thông tin về chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm định hướng, tạo sự đồng thuận, chia sẻ, ủng hộ của nhân dân đối với các chính sách, giải pháp của Chính phủ và NHNN.

1.3 Hoàn thiện chính sách tài khóa

Chính sách tài khóa nước ta phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên trước khi kinh tế suy thoái, mức bội chi hàng năm đã trên dưới 5%/GDP và có xu hướng tăng lên nên nước ta phải nâng cao hiệu quả chi tiêu ngân sách nhà nước theo hướng tiết kiệm chi thường xuyên hơn, cắt giảm các khoản chi cho các nhiệm vụ không thật cấp bách, rà soát, loại bỏ các dự án treo, dự án đầu tư dàn trải, trùng lặp, kém hiệu quả và tăng cường các dự án đầu tư cần thiết, có hiệu quả, sử dụng được nhiều vật tư trong nước. Thực hành tiết kiệm chống lãng phí, hạn chế và giảm dần bội chi ngân sách như giảm mạnh định mức sử dụng xăng, dầu, điện, nước, các cuộc hội họp tổng kết, lễ hội phô trương hình thức… Tiếp tục thực hiện chủ trương xóa bao cấp qua giá điện, than… theo lộ trình thích hợp. Kiểm soát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài.

Ngoài ra, Việt Nam cần hoàn thiện chính sách thuế cho phù hợp với luật lệ trong nước và các cam kết quốc tế (WTO, FTA và cam kết song phương), có thể áp dụng tăng thuế suất lên trên mức thuế cam kết khi nhập khẩu tăng cao làm nẩy sinh những vấn đề mới cho nền kinh tế33. Rà soát lại các giải pháp giảm thuế, giãn thuế, chỉ thực hiện giảm thuế, giãn thuế trong những trường hợp thực sự có tác dụng kích thích đầu tư, tiêu dùng. Tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm quá trình thực hiện các luật thuế mới, trước hết là luật thuế thu nhập cá nhân. Tăng cường các biện pháp quản lý thu, chống thất thu, nợ đọng thuế, chống gian lận thương mại, trốn thuế.

1.4 Hoàn thiện chính sách đầu tư, đặc biệt là chính sách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong nước và nước ngoài Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Do tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào nhóm công nghiệp chế biến mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chi phối nên việc phục hồi và phát triển xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào khối FDI. Tăng trưởng xuất khẩu của khối FDI quyết định bởi mức độ phục hồi của kinh tế thế giới, nhu cầu tiêu dùng và chuỗi liên kết trong hệ thống phân phối toàn cầu của các Tập đoàn đa quốc gia.

Trong những năm qua, chất lượng đầu tư nguồn vốn FDI còn thấp, chủ yếu chú trọng vào đầu tư theo chiều rộng, trong khi mảng đầu tư theo chiều sâu tạo nền tảng cơ bản cho nền kinh tế chưa được để ý đúng mức. Đồng thời, tồn tại sự mất cân đối trong cơ cấu vốn FDI khi số vốn tập trung vào lĩnh vực bất động sản và du lịch quá nhiều, ngược với sự thiếu vốn trong lĩnh vực công nghiệp, chế biến. Vì vậy, Việt Nam cần chọn lọc để hướng dòng vốn FDI vào những lĩnh vực quan trọng như công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến, phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực. FDI nên hướng thu hút vào lĩnh vực dịch vụ, đầu tư cho sản xuất, nâng cao chất lượng cạnh tranh để nền kinh tế phát triển bền vững. Sau đó, các ngành chế biến nông sản, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, ngành sản xuất tiết kiệm năng lượng và các ngành có tỷ trọng xuất khẩu lớn cũng nên nhận được sự ưu tiên. Thực hiện việc này phụ thuộc rất nhiều vào các địa phương, đặc biệt trong bối cảnh phân cấp mạnh mẽ về cấp phép đầu tư. Ngoài ra, Việt Nam cần tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung vào đối tác là các Tập đoàn xuyên quốc gia, nắm công nghệ nguồn và có khả năng chuyển giao công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh của Việt Nam, nhưng cũng phải chú ý tránh các thương vụ sáp nhập và thôn tính (M&A) các doanh nghiệp trong nước nhằm độc chiếm lợi nhuận của các Tập đoàn này. Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Sau khi gia nhập WTO, một làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam hình thành. Chúng ta cần khai thác tối đa cơ hội này để đầu tư vào các ngành hàng xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam (nhất là các ngành chế biến, chế tạo và các ngành công nghiệp công nghệ cao có khả năng tăng trưởng xuất khẩu mạnh: như sản phẩm gỗ, cơ khí nhỏ, dây và cáp điện, sản phẩm nhựa, linh kiện điện tử và vi tính, phần mềm…)

Mặt khác, tuy có tỷ trọng xuất khẩu cao, giúp thúc đẩy tăng trưởng GDP, nhưng các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài khi có biến động kinh tế thì thoái lui, ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc gia. Hơn nữa về lâu dài, các quốc gia chủ yếu phải dựa vào khối đầu tư trong nước để phát triển. Vì vậy, chính sách thu hút đầu tư trong nước và thúc đẩy hình thành các Công ty đa quốc gia mạnh từ trong nước là chiến lược phát triển lâu dài của quốc gia. Nước ta phải sử dụng thật hợp lý những khoản đầu tư của nhà nước và nâng cao hiệu quả những khoản đầu tư này. Tổng nguồn lực của nhà nước là có hạn, do đó phải đầu tư tạo ra hiệu quả ngay và có tính lâu dài, không đầu tư dàn trải; đồng thời, hướng tới giải quyết những bất cập về hạ tầng cơ sở. Ngoài ra, nhà nước cần sắp xếp lại hệ thống các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp cũng phải tự tái cơ cấu lại. Phát triển nhanh các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy liên kết để hình thành những tập đoàn kinh tế theo yêu cầu của cạnh tranh, thoát ly yêu cầu nâng cấp, nâng hạng doanh nghiệp. Chính phủ cần tác động để có những tập đoàn kinh doanh đa sở hữu, ngoài những tập đoàn không có vốn góp của nhà nước, phải có những tập đoàn mà nhà nước giữ cổ phần chi phối, trên cơ sở lựa chọn những công ty hạt nhân làm nòng cốt.

1.5 Nâng cao năng lực điều hành của chính phủ.

Nhiệm vụ điều hành kinh tế vĩ mô trong thời gian tới rất phức tạp, khó khăn, đòi hỏi Chính phủ và các cơ quan chức năng phải bám sát tình hình và có những chính sách, giải pháp chỉ đạo điều hành kịp thời, linh hoạt, phù hợp trong thực thi chính sách tài chính, tiền tệ. Chính phủ cũng cần nâng cao năng lực dự báo và tăng cường phối hợp trao đổi thông tin dự báo giữa các cơ quan dự báo của chính phủ với các tổ chức nghiên cứu trong nước và quốc tế. Bên cạnh, việc xây dựng quy hoạch tổng thể về thu hút FDI gắn với các loại quy hoạch khác như: quy hoạch vùng, quy hoạch ngành…để có thể định hướng luồng vốn FDI, Chính phủ cần có cơ chế phối hợp đồng bộ, toàn diện hơn nữa giữa các chính sách kinh tế vĩ mô. Đặc biệt là sự phối kết hợp chặt chẽ ngay từ khâu hoạch định chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, 83 chính sách tỷ giá và các chính sách khác để giải quyết và đạt được các mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường ngoại tệ. Hơn nữa, nhà nước cũng cần đánh giá, ghi nhận sự phản hồi sau một giai đoạn thực hiện chính sách để qua đó có thể có những điều chỉnh cụ thể kịp thời.

Cần tạo môi trường đầu tư hấp dẫn hơn nữa như: đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao.

1.6 Cải thiện cán cân thương mại với Trung Quốc Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Thâm hụt thương mại được xem là bình thường ở một nước đang phát triển nhanh như Việt Nam nhưng bất thường ở chỗ khoảng cách nhập siêu với Trung Quốc ngày càng nới rộng và chiểm tỷ lệ quá cao trong “rổ nhập siêu” (hơn 90%). Thêm vào đó, thâm hụt thương mại với Trung Quốc sẽ tiếp tục lớn hơn do cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam đang được điều chỉnh theo hướng hạn chế dần xuất khẩu nhóm hàng nguyên liệu, nhiên liệu và khoáng sản thô35. Vì vậy, những biện pháp nhằm hạn chế thâm hụt thương mại với Trung Quốc là rất cần thiết.

1.6.1 Hạn chế nhập khẩu từ Trung Quốc

Xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết áp dụng đối với sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc (phù hợp với các quy định của WTO, ACFTA và các hiệp định quốc tế khác mà Việt Nam đã tham gia). Trong những năm qua, không ít lần báo chí Việt Nam đã đưa tin về nhiều sản phẩm từ Trung Quốc có chứa chất độc hại nhưng Việt Nam còn thiếu vắng những biện pháp kiểm tra chất lượng, an toàn sản phẩm nên chưa chứng minh được rõ ràng, gây khó khăn cho thực hiện ngăn chặn nhập khẩu những mặt hàng này. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm xây dựng hàng rào kĩ Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Chủ yếu dựa trên Số 023/2007/QĐ-BTM và “Bài toán khó: tìm giải pháp chống nhập siêu từ Trung Quốc” nhóm hàng chiếm tỷ trọng trung bình khoảng 55-60% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc thuật từ các nước tham gia thương mại toàn cầu lâu năm vì họ bảo vệ thị trường nội địa một cách rất tinh vi qua áp dụng những hàng rào kỹ thuật cao, chặt chẽ.

Cấm nhập hàng không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Ở nước ta, những mặt hàng trôi nổi, không có nguồn gốc rõ ràng, hầu hết có xuất xứ từ Trung Quốc. Trong khi hầu như chưa có biện pháp tự vệ hiệu quả, thu giữ và tiêu hủy bất cứ hàng hóa nào không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng là cách tốt nhất để ngăn chặn những hàng hóa kém chất lượng, thậm chí độc hại từ Trung Quốc. Biện pháp cứng rắn này sẽ hạn chế những thương nhân Việt Nam vì lợi nhuận mà quên đi lợi ích người tiêu dùng, hợp tác với các doanh nghiệp nhỏ, các công ty buôn bán tiểu ngạch khu vực biên giới với chất lượng hàng thấp, khó kiểm soát; đồng thời cũng giảm đáng kể nhu cầu về hàng lậu, hàng giả.

Linh hoạt trong thay đổi quy chế ràng buộc đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong khi Việt Nam không có quy chế ràng buộc cụ thể đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, phía bạn đang áp dụng hiệu quả những hàng rào kỹ thuật, đồng thời thường xuyên đề ra và thay đổi các quy định về kiểm định, mức phí nhập cảnh… Vì vậy, Việt Nam có thể linh hoạt học hỏi và thay đổi quy chế ràng buộc tương ứng với Trung Quốc.

Định hướng nhập khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam. Hàng Trung Quốc vào Việt Nam đa phần là hàng địa phương, giá rẻ với chất lượng không cao. Tuy nhiên, sản phẩm của những doanh nghiệp lớn trong đại lục hoặc Hồng Kông thường có giá cả hợp lý, mẫu mã đẹp, kĩ thuật tiên tiến. Do đó, chính phủ nên định hướng, giúp đỡ cho các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành giao dịch thương mại với những doanh nghiệp này, thông qua việc cung cấp thông tin có chọn lọc về giá cả, chất lượng máy móc, thiết bị và công nghệ, nhằm nâng cao hiệu quả nhập khẩu từ Trung Quốc.

1.6.2 Đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc

Cùng với việc miễn giảm thuế theo khuôn khổ ACFTA, nhu cầu nhập khẩu các loại hàng hóa từ Trung Quốc vẫn rất lớn nên hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng. Vì vậy, phải tăng tốc độ xuất khẩu để giảm thâm hụt thương mại.

Lựa chọn những mặt hàng phù hợp và có tiềm năng, xây dựng những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, những điểm tăng trưởng xuất khẩu mới. Có 3 nhóm hàng chính Việt Nam có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc là: nguyên liệu và khoáng sản (than đá, cao su, dầu thô); nhóm hàng nông sản, thủy sản (hoa quả, cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, thủy hải sản…); nhóm hàng công nghiệp (dệt may, da giày, dây và cáp điện, sản phẩm nhựa, vali túi xách, sản phẩm điện tử và linh kiện…). Trong đó, nhóm hàng thứ nhất sẽ từng bước cắt giảm xuất khẩu theo chủ trương của Nhà nước, nhóm hàng thứ hai cần đẩy mạnh chế biến thay vì xuất khẩu hàng sơ chế, giá thị thấp như hiện nay và nhóm hàng thứ ba được xác định là động lực tăng trưởng chính cho xuất khẩu của Việt Nam trong tương lai. Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Tận dụng tối đa những ưu đãi có được trong các cơ chế hợp tác song phương Việt-Trung và đa phương (như WTO, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc…) để đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc. Theo chương trình “Thu hoạch sớm – EHP”, Trung Quốc sẽ dành ưu đãi cho Việt Nam 531 dòng thuế, trong đó có 206 dòng thuế cho hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc; ngoài ra, theo Hiệp định tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN (CAFTA), chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2010, hơn 90% số lượng hàng hoá xuất khẩu qua khu vực sẽ có thuế suất bằng 0%. Đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đưa hàng hoá vào thị trường Trung Quốc, thị trường có nhu cầu tiêu thụ hàng hoá lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam cũng phải cố gắng hợp lý hóa sản xuất, giảm giá thành, nâng cao chất lượng, mẫu mã và cung cách phục vụ khách hàng thì mới có khả năng đẩy mạnh được xuất khẩu sang Trung Quốc.

Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài để đầu tư sản xuất các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ. Việt Nam nên kêu gọi các doanh nghiệp tại các nước phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản… để phát triển mạnh sản xuất hàng xuất khẩu nhằm xuất khẩu sang Trung Quốc. Tập trung đầu tư sản xuất các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh sẽ giúp các sản phẩm này ngày càng chiếm lĩnh tốt hơn thị trường trong và ngoài nước. Đồng thời, Việt Nam cần đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ để sản xuất nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu. Ngoài ra, Việt Nam có thể thu hút các công ty lớn, có thực lực của Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam để sản xuất hàng xuất khẩu giàu tiềm năng, sau đó xuất khẩu trở lại Trung Quốc hoặc xuất sang các nước thứ ba.

Tổ chức, điều tiết việc xuất khẩu sang Trung Quốc. Với đường đi lối lại trên bộ, đường sông, ven biển đều thuận, Việt Nam có thể xuất khẩu sang Trung Quốc nhiều mặt hàng như khoáng sản, nguyên liệu thô, hoa quả, thủy sản tươi sống… Tuy nhiên, giá các sản phẩm này thường thấp; khi giá cao, thương nhân đổ xô cung cấp khiến cung vượt cầu nên cuối cùng lại bị ép giá. Do đó, kim ngạch xuất khẩu thấp. Ngoài ra, các cơ quan hữu quan Trung Quốc đang quyết liệt kiểm tra thực phẩm, hàng hóa nhập khẩu nên nhiều lô hàng như thủy hải sản, hoa quả… của Việt Nam đã có hiện tượng bị ách tắc tại cửa khẩu Đông Hưng và Móng Cái (Quảng Ninh). Vì vậy, chính phủ cần tổ chức hoạt động xuất khẩu, điều tiết để tránh thiệt hại.

Dựa vào quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, đề nghị Chính phủ Trung Quốc quan tâm hơn tới việc phát triển quan hệ thương mại với Việt Nam. Chính phủ có thể thành lập Tổ liên ngành nghiên cứu các mặt hàng mới mà nước ta có lợi thế và đề nghị Trung Quốc hợp tác. Ví dụ, đề nghị Trung Quốc có chính sách hỗ trợ việc nhập khẩu 16 mặt hàng thế mạnh của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc, gồm cao su, cà phê, chè các loại, dây điện và cáp điện, hải sản, hàng dệt may, rau quả, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm may tre cói thảm, sản phẩm gỗ, sản phẩm sữa, dầu mỡ động thực vật, sản phẩm từ ngũ cốc và bánh kẹo…

Đẩy mạnh và tổ chức có hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại. Để thúc đẩy thương mại, cần triển khai thực hiện các hoạt động có quy mô lớn để quảng bá hình ảnh quốc gia, quảng bá thương hiệu những mặt hàng ưu thế ở trong nước trên thị trường Trung Quốc. Bên cạnh đó, đẩy mạnh, tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại của các địa phương, đặc biệt là các địa phương biên giới giáp với Trung Quốc, có triển vọng phát triển thương mại với Trung Quốc. Thành lập các trung tâm thương mại Việt Nam để trưng bày, giới thiệu các sản phẩm ưu thế của nước ta và thiết lập hệ thống các công ty chuyên giới thiệu và bán hàng Việt Nam tại các tỉnh, thành phố Vân Nam, Nam Ninh, Quảng Châu, Thượng Hải, Tứ Xuyên…

Xây dựng hệ thống phân phối hàng Việt Nam tại Trung Quốc. Việt Nam có thể tận dụng thị trường trung chuyển Hồng Kông, vốn có mối quan hệ thương mại mật thiết với Trung Quốc để đưa hàng hóa Việt Nam vào sâu trong nội địa Trung Quốc. Có chính sách hỗ trợ, khuyến khích việc hình thành các tập đoàn phân phối lớn và tạo lập mối liên kết chặt chẽ giữa các tập đoàn phân phối này với các nhà sản xuất trong nước để có thể bán sản phẩm của Việt Nam tại hệ thống phân phối của các tập đoàn này tại Trung Quốc.

Ngoài ra, chính phủ nên có chính sách đầu tư nghiên cứu khoa học, kỹ thuật hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc. Khẩn trương và tích cực xây dựng, triển khai các đề án chuyên biệt đối với từng mặt hàng xuất khẩu trọng điểm. Tận dụng lợi thế của các doanh nghiệp của người Hoa tại Việt Nam trong việc xuất khẩu hàng vào Trung Quốc.

1.6.3 Giải pháp về biên mậu Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Việt Nam nên thúc đẩy các hoạt động thương mại với Trung Quốc qua các cửa khẩu quốc tế và các cửa khẩu quốc gia trên địa bàn tỉnh; phát triển các hoạt động chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất hàng hóa qua cảng biển của Việt Nam; xuất – nhập khẩu chính ngạch lô hàng lớn qua các cảng biển và đường hàng không, nhất là nguyên liệu sản xuất. Tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động biên mậu tại các cửa khẩu biên giới, trong đó có hệ thống kho hàng để cất trữ, bảo quản hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam tại các cửa khẩu với Trung Quốc nhằm chủ động đối phó với sự biến động tại thị trường Trung Quốc.

Nâng cao hiệu quả của Ban Chỉ đạo hoạt động thương mại biên giới nhằm hướng dẫn doanh nghiệp nắm vững và thích ứng được trước việc thay đổi chính sách quản lý biên mậu của Trung Quốc. Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc nhằm thúc đẩy mạnh mẽ và hiệu quả giao lưu, trao đổi hàng hoá, người và phương tiện qua lại biên giới theo lộ trình và điều kiện cho phép.

Đồng thời, Việt Nam phải khắc phục tình trạng hàng Trung Quốc tràn vào bằng bất kì cửa khẩu nào, đường bộ, đường biển; trong khi hàng Việt Nam sang Trung Quốc buộc phải qua một hoặc một số cửa khẩu do Trung Quốc chỉ định. Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng hình thức tương tự như Trung Quốc, tức là cũng quy định mặt hàng được phép nhập khẩu qua từng cửa khẩu của Việt Nam, mức phí biên mậu thay đổi theo thời điểm, mùa vụ và kiểm dịch để kiểm soát việc xuất nhập khẩu. Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Mặt khác, Chính phủ cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế quản lý biên mậu Việt Nam – Trung Quốc theo hướng ngày càng lành mạnh hoá; kiện toàn bộ máy quản lý biên mậu từ trung ương đến địa phương; phân cấp, giao quyền rộng hơn cho chính quyền địa phương trong quản lý và tổ chức hoạt động buôn bán biên mậu để tăng cường thương mại chính ngạch, hạn chế nạn buôn lậu, gian lận thương mại qua biên giới nhằm giảm thiệt hại về kinh tế, tránh ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, lưu thông, dân sinh.

1.6.4 Giải pháp khác

Phát huy đầy đủ tác dụng của việc hợp tác giữa các bộ, ngành hữu quan hai nước, xây dựng cơ chế hợp tác có hiệu quả. Đề nghị các bộ, ngành hữu quan Trung Quốc sớm cùng các bộ, ngành hữu quan Việt Nam trao đổi và ký kết Hiệp định toàn diện về kiểm dịch động thực vật Việt Nam-Trung Quốc. Đàm phán ký Hiệp định về quá cảnh hàng hoá giữa hai chính phủ37 cho phù hợp với Hiệp định giữa chính phủ các nước Campuchia, Trung Quốc, Lào, Mianma, Thái Lan và Việt Nam về tạo thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá và người qua lại38. Đặc biệt, nâng cao hơn nữa tính hiệu quả của Uỷ ban Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt – Trung bằng việc thành lập Nhóm công tác hợp tác thương mại do cơ quan chủ quản ngành thương mại hai nước làm đầu mối. Thúc đẩy đàm phán, ký kết những thoả thuận giữa hai nước nhằm tạo thuận lợi giao lưu, trao đổi hàng hoá, người và phương tiện qua lại biên giới; ký kết những thoả thuận với Trung Quốc về trao đổi thông tin, hợp tác kỹ thuật, hợp tác quản lý, hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng thương mại và dịch vụ biên giới…

  • Cao su chỉ được qua Móng Cái hoặc Lục Lầm. Thủy hải sản chỉ được qua Móng Cái. Hoa quả tươi chỉ được qua Lào Cai hoặc Tân Thanh (Lạng Sơn).
  • Sửa đổi Hiêp định đã ký vào tháng 4 năm 1994 hoặc biên soạn, ký hiệp định mới
  • Hiệp định ký vào tháng 7 năm 2005 tại Côn Minh (Trung Quốc)

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế tài chính, tiền tệ và thanh toán trong xuất nhập khẩu với Trung Quốc. Do khi xuất khẩu với Trung Quốc hầu như chỉ thu được đồng Nhân dân tệ mà đồng tiền này khó sử dụng để nhập khẩu hàng từ thị trường khác; còn khi nhập khẩu, nước ta phải huy động các nguồn ngoại tệ mạnh (vì ngoại tệ thu từ xuất khẩu không đủ bù đắp) nên nước ta cần thương lượng với phía Trung Quốc về đồng tiền thanh toán. Ngoài ra, cơ chế thanh toán còn sơ khai, chủ yếu là tiền mặt giao ngay, hàm chứa nhiều rủi ro (đặc biệt phổ biến với buôn bán biên mậu), cần đến sự tham gia của ngân hàng quốc gia hai nước.

2. Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

2.1 Tổ chức lại sản xuất kinh doanh phù hợp với tình trạng khó khăn hiện nay

Nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ nhưng mẫu mã phù hợp với sở thích người tiêu dùng, theo tập quán từng vùng, từng dân tộc, từng quốc gia. Các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, phải kiên quyết, kiên trì thực hiện đổi mới, cải cách thể chế kinh doanh, tài chính, cơ chế tuyển dụng lao động và lãnh đạo, nâng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa để nâng cao chất lượng công tác quản lý. Chống lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách tiết kiệm và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên của doanh nghiệp. Phát triển doanh nghiệp theo hướng doanh nghiệp hiện đại. Ngày nay, tăng tốc chứ không chỉ là quy mô, tăng hàm lượng chất xám chứ không chỉ tăng kinh nghiệm, tăng nguyên liệu.

Ngoài ra, cần chú ý tăng hàm lượng quốc gia, không chỉ trong từng sản phẩm mà ngay cả trong từng doanh nghiệp. Nắm chắc thông tin thị trường, có giải pháp xử lý và dự báo tốt. Việc đó đòi hỏi doanh nghiệp phải biết tổ chức kênh từ xa đến gần và từ gần đến xa; đội ngũ cán bộ tinh nhạy, có trình độ ngoại ngữ và tin học. Tổ chức mạng lưới phân phối tốt và xây dựng thương hiệu gắn với chất lượng – công nghệ – mẫu mã. Qua nhiều năm, các mối quan hệ làm ăn với những tập đoàn lớn trên thế giới, người tiêu dùng mới có niềm tin vào một thương hiệu. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam phải quan tâm, chú trọng nhiều vào việc xây dựng thương hiệu, trước hết là trên thị trường trong nước để từ đó vươn ra thị trường thế giới.

2.2 Xây dựng chiến lược thị trường, chiến lược phát triển trong hội nhập Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Mỗi doanh nghiệp cần chủ động, khẩn trương soát xét lại kế hoạch kinh doanh, thực hiện các biện pháp đầu tư, mở rộng quy mô… bằng vốn tự có hoặc thông qua liên kết, liên doanh để nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp trên phân khúc thị trường mục tiêu. Doanh nghiệp phải xây dựng cho mình chiến lược kinh doanh trong từng thời kỳ, dựa trên cơ sở nghiên cứu đánh giá xu hướng và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm, dịch vụ, thị trường, phương thức kinh doanh, nhằm nâng cao sức cạnh tranh, khả năng thích ứng với thị trường. Đặc biệt là ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới thiết bị để nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm giá thành, làm tốt công tác tiếp thị, mở rộng mạng lưới phân phối, tạo dựng và bảo vệ thương hiệu, tạo chữ tín trong hoạt động với khách hàng cũng như với các đối tác kinh doanh. Các doanh nghiệp nên mở rộng thị trường theo phương châm đa phương hoá, đa dạng hoá để tăng lượng tiêu thụ, phòng tránh những khó khăn khi rủi ro xảy ra ở một thị trường nào đó (như việc kiện bán phá giá); tuy nhiên, cũng cần xác định chính xác một số thị trường trọng điểm để giảm chi phí vận chuyển, tiếp thị quảng cáo…

Một số ngành như tài chính – ngân hàng, viễn thông… sẽ khó khăn hơn khi hội nhập nhưng đây cũng là thời cơ thuận lợi để xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp tự chủ trong kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, phát huy mọi tiềm năng. Điều này đối với các doanh nghiệp nhà nước tồn tại nhiều khó khăn nhưng doanh nghiệp nhà nước phải nhanh chóng được sắp xếp lại, chuyển sang hình thức doanh nghiệp cổ phần (phần lớn), qua đó đổi mới quản lý, thu hút nhân tài, tiền vốn và công nghệ.

2.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bằng cách ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại trong sản xuất kinh doanh

Phải đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển trong doanh nghiệp. Việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ cần tập trung vào những sản phẩm chủ lực của mỗi doanh nghiệp, phân tích những mặt yếu của sản phẩm trong thế so sánh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Từ đó, đề ra các giải pháp nhằm cải thiện mẫu mã, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu, tìm kiếm thị trường cho sản phẩm và doanh nghiệp. Phát triển thương mại điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin trong các giao dịch thương mại. Để gắn khoa học công nghệ với sản xuất kinh doanh có hiệu quả, cần mở rộng hơn các quan hệ liên kết giữa nhà khoa học, các trường, viện, cơ quan nghiên cứu khoa học với doanh nghiệp, thông qua hình thức hợp đồng dựa trên lợi ích mỗi bên, bảo đảm cho mối quan hệ liên kết, hợp tác thêm chặt chẽ, đem lại hiệu quả thiết thực.

2.4 Tiến hành sản xuất theo các tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo chất lượng Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Trên thị trường thế giới hiện nay, khách hàng không chỉ yêu cầu các nội dung như chất lượng của sản phẩm, giá cả, thời hạn giao hàng mà còn coi trọng vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng, bảo vệ môi trường… Mỗi sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đều phải được bảo đảm bằng những tiêu chuẩn được thế giới công nhận và áp dụng đối với các lĩnh vực trên. Để bảo đảm các yêu cầu khắt khe đó, mỗi doanh nghiệp đều phải xây dựng nhiều hệ thống quản lý chất lượng, như ISO 9000 về quản lý chất lượng, ISO 14000 về quản lý môi trường, OHSAS 18000 về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, HACCP/ISO 22000 về quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm… Mỗi doanh nghiệp cần khai thác tài nguyên hợp lý và tiết kiệm; ứng dụng công nghệ sạch hoặc công nghiệp ít gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, doanh nghiệp trong các khu công nghiệp cần có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoặc khẩn trương thực hiện việc di chuyển các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư. Đây là những khoản đầu tư đem lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp. Nếu các biện pháp bảo đảm chất lượng, an toàn, vệ sinh thực phẩm… được xây dựng vào trong các quy trình tác nghiệp của doanh nghiệp và được văn bản hóa nhằm bảo đảm sự tuân thủ thì cả khách hàng và cộng đồng sẽ thỏa mãn hoàn toàn.

2.5 Đề cao văn hóa trong kinh doanh, xây dựng truyền thống và uy tín doanh nghiệp

Văn hoá doanh nghiệp có vị trí và vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, thiếu nó doanh nghiệp khó có thể đứng vững và tồn tại được. Đối với doanh nghiệp và doanh nhân, lợi nhuận là động lực trực tiếp, song người kinh doanh có văn hóa cần đặt lợi ích của mình trong sự kết hợp hài hòa với lợi ích cộng đồng, đất nước. Với tinh thần đó, doanh nghiệp phải xây dựng nền nếp quản lý kinh doanh minh bạch và trung thực, thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, khắc phục những hành vi gian lận thương mại, làm hàng giả, trốn thuế, gian lận sổ sách, đầu cơ, chộp giật, lừa đảo…

Văn hoá của doanh nghiệp được thể hiện ở phong cách lãnh đạo của người lãnh đạo và tác phong làm việc của nhân viên, các đối tác khi quan hệ thì ngoài việc quan tâm tới lợi nhuận của công ty, họ còn đánh giá doanh nghiệp qua văn hoá của doanh nghiệp đó. Vì vậy, văn hóa kinh doanh phải trở thành truyền thống gắn với thương hiệu, được thể hiện trong mỗi hàng hóa, trong hành vi ứng xử của mọi lao động trong doanh nghiệp. Quan tâm giải quyết tốt các mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động, tôn trọng chữ tín trong quan hệ với bạn hàng, đối tác, cơ quan nhà nước…

Văn hoá doanh nghiệp là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp. Ở nhiều nước châu Á, thành công của doanh nghiệp thường dựa trên mối quan hệ cá nhân của người lãnh đạo; còn tại các nước Tây Âu, thành công của doanh nghiệp được dựa trên các yếu tố như khả năng quản lý các nguồn lực, năng suất làm việc, tính năng động của nhân viên… Do đó, phải xây dựng một hệ thống định chế của doanh nghiệp (bao gồm chính danh, tự kiểm soát, phân tích các công việc, các yêu cầu), sau đó xây dựng các kênh thông tin, xây dựng các thể chế và thiết chế tập trung vào dân chủ như: đa dạng hoá các loại hình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; tiêu chuẩn hoá các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; xây dựng cơ chế kết hợp hài hoà các lợi ích… để doanh nghiệp trở thành ngôi nhà chung của mọi thành viên trong doanh nghiệp.

2.6 Mở rộng liên doanh, liên kết Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Xuất khẩu thời gian qua chưa khai thác hết được tiềm năng của mọi thành phần kinh tế và năng lực các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước vẫn còn yếu kém. Hiện nay, nước ta chưa có được các tập đoàn xuất khẩu mạnh tầm cỡ và uy tín quốc tế để làm đầu tầu cho xuất khẩu hàng hóa nên cần khuyến khích việc liên doanh, liên kết hợp nhất, sáp hợp các doanh nghiệp xuất khẩu để hình thành các tập đoàn xuất khẩu mạnh của Việt Nam. Khi đa số doanh nghiệp nước ta còn ở quy mô nhỏ và vừa, đang gặp nhiều khó khăn như thiếu vốn, yếu về công nghệ, ít hiểu biết về thị trường…, liên doanh liên kết chính là con đường hiệu quả để khắc phục những khó khăn đó. Sau khi gia nhập WTO, khả năng liên kết, hợp tác kinh doanh mở rộng ra phạm vi toàn cầu, không chỉ liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa, giữa doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp lớn, mà còn giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài, không chỉ ở tầm quốc gia mà đã ở tầm khu vực và quốc tế. Trong đó, các doanh nghiệp nên liên kết, liên doanh với các công ty xuyên quốc gia (TNC) để tranh thủ kỹ thuật và thị trường. Tuy nhiên, phạm vi, nội dung cũng như hình thức liên kết kinh tế phong phú hơn đòi hỏi doanh nghiệp nước ta có hiểu biết về luật pháp quốc tế để tận dụng được thời cơ, tránh rủi ro.

2.7 Nâng cao năng lực quản trị tài chính đối với hoạt động xuất nhập khẩu

Các doanh nghiệp cần quan tâm sử dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh xuất nhập khẩu như sử dụng các biện pháp tự phòng vệ thông qua công cụ phái sinh để tránh rủi ro tỷ giá như tham gia hợp đồng kỳ hạn, quyền chọn, hoán đổi hay thậm chí đa dạng hóa ngoại tệ trong hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các mặt hàng chủ lực ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất, nhập khẩu như xăng dầu, gạo, sắt thép… Cụ thể:

Cố gắng để cân đối quy mô, thời gian đối với từng loại ngoại tệ giữa tài sản có và tài sản nợ, tức giữa các khoản phải thu và phải trả đối với một loại ngoại tệ. Khi đó quy mô của ngoại tệ phải đối mặt với rủi ro tỷ giá sẽ được giảm thiểu nên rủi ro tỷ giá được loại bỏ đáng kể. Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Đa dạng hóa ngoại tệ trong hoạt động xuất khẩu nhập khẩu của doanh nghiệp. Đây là chiến lược kinh doanh nhằm chia sẻ rủi ro, các doanh nghiệp không nên chỉ tập trung vào một đồng ngoại tệ (USD) như hiện nay. Trong điều kiện hội nhập, đa dạng hóa các hoạt động hình thức kinh doanh quốc tế và xu hướng đa cực tiền tệ, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nên tích cực thực hiện thanh toán theo các ngoại tệ mạnh khác như đồng EUR, JPY, GBP, AUD… Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu sử dụng đồng USD như hiện nay chắc chắn đã ảnh hưởng bất lợi tới việc đẩy mạnh giao lưu hàng hóa với các nước khác. Hơn nữa khi tỷ giá USD so với các ngoại tệ mạnh khác thay đổi bất lợi sẽ gây thiệt hại cho hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam.

Doanh nghiệp cần phải lựa chọn các công cụ phái sinh để quản lý rủi ro tỷ giá và rủi ro giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu. Khi hợp đồng xuất khẩu được ký kết với lượng ngoại tệ phải thu được xác định, doanh nghiệp nên ký hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ đó trên thị trường ngoại hối. Thời hạn và quy mô phù hợp với khoản thu từ hợp đồng xuất khẩu đã ký kết. Vì tỷ giá trong hợp đồng kỳ hạn được xác định trước và không thay đổi trong thời hạn thực hiện hợp đồng nên số lượng ngoại tệ thu về hay chi ra được tính toán trước và cố định cho dù tỷ giá thị trường có biến động so với tỷ giá kỳ hạn. Như vậy, thu nhập của nhà xuất khẩu sẽ không thấp hơn khi đồng ngoại tệ giảm giá so với đồng nội tệ. Mặt khác, khi hợp đồng xuất khẩu chưa chắc được ký kết, doanh nghiệp nên ký hợp đồng mua quyền chọn bán đồng tiền đó. Doanh nghiệp sẽ bảo đảm được biến động tỷ giá không ảnh hưởng giữa thời điểm chào giá và thời điểm nhận được thanh toán nếu như ký được hợp đồng xuất khẩu; đồng thời nếu không dành được hợp đồng thì khoản lỗ doanh nghiệp phải chịu được giới hạn bởi khoản phí quyền chọn đã trả để mua hợp đồng quyền chọn. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể sử dụng hợp đồng quyền chọn tiền tệ để tự bảo hiểm rủi ro đối với những biến động về đồng tiền của đối thủ cạnh tranh nhằm đảm bảo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sản phẩm của một doanh nghiệp cạnh tranh với các công ty từ các quốc gia khác có thể gặp bất lợi về sức cạnh tranh giá cả nếu đồng tiền của một đối thủ chính yếu đi vì đồng tiền yếu đi sẽ cho phép đối thủ cạnh tranh giảm giá sản phẩm. Điều đó khiến doanh nghiệp phải đối mặt với những rủi ro do những biến động về đồng tiền của đối thủ ngay cả khi không xuất khẩu theo đồng tiền đó.

Các doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại với EU cần tích cực tìm kiếm thông tin về đồng EUR, đặc biệt là thông tin tỷ giá của đồng tiền này nhằm hỗ trợ tích cực cho việc tính giá và lựa chọn đồng tiền thanh toán trong hợp đồng xuất nhập khẩu với EU, đặc biệt khi tỷ giá EUR/USD lên xuống thất thường. Khi ký kết hợp đồng ngoại thương với đối tác không bắt buộc sử dụng đồng EUR, doanh nghiệp Việt Nam nên xem xét lựa chọn USD hay EUR để đảm bảo lợi ích vì USD vẫn có tỷ giá ổn định hơn so với đồng EUR trên thị trường tài chính Việt Nam. Trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng EUR, doanh nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng áp dụng các biện pháp bảo hiểm bằng các hợp đồng phái sinh trên thị trường ngoại hối nhằm tránh những tác động tiêu cực của đồng tiền này (nếu có).

3. Một số giải pháp khác Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

3.1 Phát triển nguồn nhân lực

Trong bất kể cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp, con người luôn được coi là nguồn vốn đặc biệt, là tài sản quý giá nhất. Do đó, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh cả tầm quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Đây là giải pháp vừa cấp bách vừa lâu dài. Phải không ngừng phát triển nguồn nhân lực cho xuất khẩu: chú ý đào tạo ứng dụng các kỹ năng nghiên cứu thị trường, marketing, kỹ năng đàm phán quốc tế, nghiệp vụ kỹ thuật ngoại thương, nâng cao trình độ luật pháp quốc tế, trình độ ngoại ngữ, ứng dụng tin học. Đội ngũ công tác liên quan đến lĩnh vực xuất nhập khẩu cần có đủ năng lực hiểu và nắm bắt, phân tích được nhu cầu của thị trường trong nước cũng như quốc tế, từ đó tìm ra nguyên nhân dẫn tới những thay đổi đó thì mới có thể đưa ra những chính sách điều chỉnh xuất, nhập khẩu đúng đắn.

Nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho doanh nghiệp nên doanh nghiệp cần chăm lo phát triển con người về tất cả các khía cạnh trong cuộc sống của mọi lao động, từ tình trạng sức khỏe tới sự tự do về kinh tế và chính trị là giải pháp cơ bản, lâu dài để doanh nghiệp phát triển, nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhập. Đó cũng là văn hóa trong kinh doanh. Doanh nghiêp thu hút được người tài, giữ được nhân tài là điều kiện quyết định để doanh nghiệp thành công trong phát triển. Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, tạo điều kiện để mọi người tham gia thảo luận những giải pháp nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, của mỗi sản phẩm, hàng hóa, cũng như trong việc xử lý những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của họ. Cải cách, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trêncơ sở tăng cường vật chất kỹ thuật và trình độ đội ngũ giáo viên của các trường đào tạo công nhân, các khóa huấn luyện nghiệp vụ ngoại thương…; trong đó coi trọng hình thức đào tạo ở nước ngoài, mời chuyên gia nước ngoài hợp tác đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao.

Ngoài ra, cần bảo đảm cho mọi thành viên đều phát huy được tài năng, trí tuệ, tính năng động, sáng tạo, đặc biệt là lớp thanh niên. Đồng thời, những người hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu cũng cần thường xuyên tự cập nhập kiến thức, thông tin mới để có thể phán đoán, phân tích tình hình kinh tế trong nước, trên thế giới luôn biến động.

3.2 Phát huy vai trò của các hội, hiệp hội ngành nghề.

Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức này có vị trí ngày càng quan trọng trong việc tư vấn, trợ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm nhiệm ngày càng nhiều những công việc, nhất là những dịch vụ công mà cơ quan nhà nước sẽ chuyển giao để phục vụ doanh nghiệp đạt hiệu quả cao hơn. Mặt khác, các tổ chức này có chức năng cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, thu thập ý kiến đóng góp của doanh nghiệp về các chủ trương, chính sách quản lý kinh tế, xã hội.

3.3 Vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân và doanh nghiệp ưu tiên sử dụng hàng Việt Nam, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu trong sản xuất và tiêu dùng nhằm hạn chế kim ngạch nhập khẩu, qua đó góp phần giảm thâm hụt thương mại cho đất nước. Để cuộc vận động có hiệu quả, cần thực hiện tốt các hoạt động xúc tiến thương mại thị trường trong nước, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá và chất lượng dịch vụ phân phối của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mỗi người dân cũng nên tự thay đổi tâm lý và thói quen mua bán, quan tâm hơn đến lợi ích quốc gia.

KẾT LUẬN

Từ năm 1986 với sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, xóa bỏ cơ chế “nhà nước độc quyền ngoại thương”, nước ta đã mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và đạt được những kết quả ngoạn mục trong xuất khẩu. Tuy nhiên, cán cân thương mại của Việt Nam thường xuyên bị thâm hụt. Đặc biệt là ba năm sau khi gia nhập WTO, Việt Nam phải giảm các rào cản thương mại trong khi sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước chưa cao; cơ cấu hàng xuất khẩu còn nặng về hàng thô, sơ chế; các ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển; chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu còn chậm… Ngoài ra, khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế thế giới, giá hàng hóa thế giới giảm cũng tác động lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu. Do đó, thâm hụt thương mại luôn ở mức cao trên 10% GDP, dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai, đe dọa tới cán cân tổng thể, có thể làm giảm GDP, sản xuất trong nước khó phát triển, tăng thất nghiệp…

Việt Nam cần có sự phối hợp đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô, duy trì chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp và nâng cao năng lực sản xuất, tận dụng tối đa lợi thế cạnh tranh của quốc gia để khắc phục tình trạng thâm hụt cán cân thương mại. Vì vậy, khóa luận đã đưa ra một số nhóm giải pháp đối với chính phủ và doanh nghiệp, kèm theo một số kiến nghị khác nhằm hướng tới cân bằng cán cân thương mại trong thời gian tới.

Tuy nhiên, vì Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển, cần nhập khẩu nhiều làm tiền đề cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn phát triển tiếp theo nên tình trạng thâm hụt thương mại sẽ tiếp tục kéo dài cho đến khi nước ta bước vào giai đoạn chủ động hội nhập và hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế thế giới. Bên cạnh đó, dù cán cân thương mại của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong thời gian qua nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề đáng quan tâm như thâm hụt ở mức cao, thâm hụt thương mại nghiêm trọng với quốc gia láng giềng Trung Quốc. Vấn đề nhức nhối này cần tiếp tục được nghiên cứu giải quyết. Hy vọng được cùng trao đổi và nhận đóng góp ý kiến từ độc giả. Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thâm hụt cán cân thương mại của ngân hàng VN

One thought on “Khóa luận: Biện pháp giảm thiểu thâm hụt thương mại VN

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464