Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ứng dụng mô hình phân tích Swot để hoạch định chiến lược phát triển trong lĩnh vực của Incoterms tại tổng công ty viễn thông quân đội Viettel dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN THỨ CẤP
1. Tìm hiểu lĩnh vực Internet và Tổng Cty Viễn thông Quân đội Viettel
Tìm hiểu khái quát về Tổng Cty Viễn thông Quân đội – Viettel và dịch vụ Internet của Viettel giúp tác giả có cái nhìn ban đầu về DN để có thể đưa ra nhận định và hình dung về lĩnh vực mà tác giả sẽ phân tích. Đồng thời từ đó tác giả sẽ có cơ sở để phân tích và đưa ra đề xuất chiến lược. Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Quá trình tìm hiểu về Cty Viettel và lĩnh vực Internet của Cty được tác giả thu thập và xử lý thông tin thứ cấp, và sơ cấp như sau : tìm hiểu trên các website của Cty, trên báo chí, điều tra trực tiếp tại Cty, và tìm hiểu từ nhân viên của Cty.
Địa chỉ: Trụ sở giao dịch: Số 1, Giang Văn Minh, Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội.
Điện thoại: 04. 62556789
Fax: 04. 62996789
Email: gopy@viettel.com.vn
Quyết định số 43/2005/QĐ-TTg ngày 02/03/2005 của Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt Đề án thành lập Tổng Cty Viễn thông Quân đội và Quyết định số 45/2005/QĐ-BQP ngày 06/04/2005 của Bộ Quốc Phòng về việc thành lập Tổng Cty Viễn thông Quân đội.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
1.1. Chức năng, nhiệm vụ chính của Tập đoàn Viễn thông Viettel đối với dịch vụ Internet Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Chức năng: Thiết kế và thi công các hệ thống mạng về Công nghệ Thông tin, lập hồ sơ thầu các dự án CNTT vừa và nhỏ, lắp đặt các thiết bị Viễn thông công nghệ cao, lập và triển khai các dự án ISP. Định hướng phát triển ứng dụng Công nghệ thông tin. Lắp đặt, quản lý, bảo dưỡng và đảm bảo kỹ thuật hệ thống thiết bị tin học, viễn thông trong nội bộ Cty.
Nhiệm vụ:
Xây dựng và phát triển mạng: Khảo sát, thiết kế và xây dựng mạng lưới theo dự án.
Tiếp nhận thiết bị và tổ chức việc lắp đặt thiết bị cho các nhà trạm.
Về khai thác: Vận hành thử và đánh giá chất lượng của hệ thống để từng bước nghiệm thu mạng. Tổ chức nghiên cứu, tận dụng tối đa các tính năng có thể có của mạng để công việc khai thác đạt hiệu quả cao.
Về kinh doanh: Xây dựng và triển khai phương án kinh doanh dịch vụ Internet Băng rộng tốc độ cao ADSL, ADSL 2+ , các dịch vụ MPLS, Wimax… Tổ chức kinh doanh thử nghiệm các dịch vụ mới.
Về quản lý: Quản lý thiết bị của toàn hệ thống. Tổ chức sửa chữa, bảo dưỡng, bảo quản đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống và đánh giá độ tin cậy của thiết bị …
Về đào tạo nguồn nhân lực: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của Cty, bổ sung nguồn nhân lực cho các dịch vụ khác của Cty.
1.2. Sản phẩm, thị trường Internet của Tổng Cty Viễn thông Viettel
Viettel kinh doanh các dịch vụ Internet như sau: kinh doanh các dịch vụ Internet công cộng (ISP) và dịch vụ kết nối Internet
- Truy nhập Internet gián tiếp 1278; băng thông rộng ADSL, HDSL.
- Truy nhập Internet trực tiếp Leased Line; Dịch vụ đấu nối Internet quốc tế – IXP.
- Dịch vụ điện thoại Internet: PC to Phone; Thư điện tử (Email);
- Dịch vụ Tư vấn giải pháp CNTT và sản xuất phần mềm.
- Truyền tệp dữ liệu (FTP); Cho thuê kênh riêng; Dịch vụ đăng ký tên miền.
Viettel là Cty đầu tiên tại Việt Nam áp dụng công nghệ thế hệ mới (NGN) cung cấp cho khách hàng các dịch vụ truy nhập Internet chất lượng cao, dịch vụ truy nhập băng thông rộng và các dịch vụ gia tăng khác.
Trong tương lai Viettel dự kiến tiếp tục đưa ra các dịch vụ cao cấp khác như:Thương mại điện tử, các dịch vụ Multimedia, truy cập Wap cho các thiết bị không dây mà đầu tiên là cho máy điện thoại di động, dịch vụ điện thoại Internet, IP Video, truyền hình cáp, MPLS, Wifi, Wimax Thị trường cung cấp dịch vụ : Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Vinh, Đà Nẵng…
Các đối thủ cạnh tranh chính của Internet Viettel: VNPT, FPT, SPT, Netnam, VNGT, HTC, EVNTelecom. Trong đó hai đối thủ cạnh tranh chính là VNPT và FPT.
2. Phân tích môi trường bên ngoài của lĩnh vực Internet tại Tổng Cty Viễn thông Viettel Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
2.1. Môi trường quốc tế ảnh hưởng đến lĩnh vực Viễn thông và Internet
Có thể nói Internet đang ngày càng thay đổi cuộc sống của chúng ta. Khi mà sống trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế càng cao thì các ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào cuộc sống ngày càng nhiều và càng trở lên phổ biến.
Thị trường thế giới về lĩnh vực viễn thông – Internet đang ngày càng mở rộng. Nó không còn là vấn đề “kéo cầu” hay “đẩy cung”, mà cả hai điều này đang xảy ra. Sự tác động lẫn nhau của hai yếu tố này khiến cho viễn thông – Internet trở thành một trong những lĩnh vực có sự tăng trưởng hàng đầu trong nền kinh tế thế giới. Nó cũng khiến cho viễn thông trở thành một trong những ngành quan trọng nhất của hoạt động xã hội, văn hoá và chính trị. Điều này đặt ra những vấn đề quan trọng có liên quan đến viễn cảnh về xã hội thông tin toàn cầu (GIS). Viễn cảnh này đã là chủ đề tranh luận trong giai đoạn 1995-1999, ban đầu là các nước công nghiệp tiên tiến G7, sau đó là trong cộng đồng quốc tế. Ngày nay những ý tưởng cơ bản ẩn sau khái niệm GIS đang được chấp nhận một cách rộng rãi. Trong viễn cảnh này, mọi hình thức hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị sẽ ngày càng phụ thuộc vào việc truy nhập những dịch vụ viễn thông và thông tin của cơ sở hạ tầng thông tin toàn cầu (GII). Sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử trên Internet là một ví dụ làm thế nào để GIS trở thành hiện thực. Thách thức cộng đồng quốc tế đang phải đối mặt đó là phải tìm ra được những hướng đi đảm bảo GIS thực sự mang tính toàn cầu và rằng mọi người ở mọi nơi có thể chia sẻ những quyền lợi của nó. Tốc độ thay đổi trong lĩnh vực viễn thông là rất lớn và các ứng dụng của nó cũng ngày càng phát triển rộng rãi. Công nghệ, kinh doanh thương mại, môi trường toàn cầu hóa về viễn thông đang là một thách thức trong vấn đề quản lý. Tốc độ thay đổi trong lĩnh vực viễn thông là rất lớn và các ứng dụng của nó đang trở nên rộng rãi hơn. Công nghệ, kinh doanh thương mại, môi trường và các tổ chức quốc tế về viễn thông đang thách thức khả năng của xã hội trong lĩnh vực quản lý. Các giải pháp lâu dài cho vấn đề truy nhập trong các khu vực vùng sâu, vùng xa đó là các công nghệ mới như là Cellular, vệ tinh, cáp quang và DSL và chúng đang tăng đáng kể trong toàn bộ thị trường. Dù sao vẫn có khác biệt lớn tồn tại như độ khả dụng của dịch vụ bên trong các nước và giữa các nước. Công nghệ mới có khả năng làm tăng thêm hoặc làm giảm sự mất cân bằng giữa các nước.
Việc truy nhập tới các dịch vụ mới sẽ đòi hỏi không chỉ đối với vấn đề cân bằng mà còn đòi hỏi về vấn đề thành công trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin. Các vấn đề mới như là truy nhập quốc tế và tính cân bằng, thương mại quốc tế và xuyên suốt các biên giới đối với thông tin và các chính sách thương mại nội địa đang nổi lên để thực hiện viễn thông cho hầu hết các lĩnh vực không kiểm soát được. Việc tư nhân hoá, quy định lại, toàn cầu hoá, sắp xếp lại thương mại và cạnh tranh là một số thay đổi đang được thực hiện trong các thay đổi lớn về thị trường và công nghệ. Các vấn đề liên quan đến xã hội và văn hoá của cuộc cách mạng này vẫn chưa được nhận thức đầy đủ mà đang được quản lý đơn lẻ. Vì vậy đã đến lúc cần quan tâm đến các ưu tiên về nghiên cứu và định hướng phát triển cho lĩnh vực viễn thông để thực hiện cho các mục đích này Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Vấn đề tự do hoá và bãi bỏ các quy định cũ đã được đưa ra đối với thị trường dịch vụ viễn thông mới. Các vấn đề mới nảy sinh đối với các nước thành viên như là cam kết của họ đối với WTO và đã mở rộng đến phạm vi quốc gia quan tâm về viễn thông. Các nước thành viên đã tự mình có những thay đổi về cơ cấu tổ chức để đáp ứng các thách thức mới như là chia sẻ khai thác kinh doanh và các quy định viễn thông. Tác động trước mắt của Internet và thương mại điện tử đã thúc đẩy hơn nữa những thay đổi cho cơ chế đang tồn tại về chính sách, quy định và thương mại trong lĩnh vực viễn thông.
Những cơ hội và thách thức từ môi trường quốc tế
Cơ hội đối với ngành Viễn thông và Internet như sau:
Thị trường kinh doanh Internet sẽ ngày càng được mở rộng trên phạm vi trong nước và quốc tế. Do sự phát triển ngành Internet trong những năm vừa qua tăng với tốc độ nhanh chóng và nhu cầu sử dụng Internet ngày càng lớn, tính đến cuối năm 2009 đã có hơn 22 triệu thuê bao Internet – chiếm 26.55% dân số Việt Nam. Hơn nữa, tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đều phụ thuộc rất nhiều vào Viễn Thông đặc biệt là Internet bởi vai trò quan trọng của nó và các ứng dụng của nó đem lại là vô cùng lớn. Thêm vào đó, xu hướng hợp tác quốc tế vượt ra khỏi gianh giới quốc gia và xu hướng toàn cầu hóa thông tin đang mở ra nhiều cơ hội cho các DN Viễn thông và Internet trong nước và quốc tế nếu các DN đó biết nắm bắt cơ hội. Do vậy mà Cty Viễn thông quân đội Viettel và Internet Viettel đã và đang thúc đẩy chiến dịch mở rộng thị trường Viễn thông và Internet sang các thị trường Lào, Campuchia và tương lai sẽ không chỉ dừng lại ở các thị trường này.
Sự hợp tác quốc tế trong những năm gần đây đặc biệt là trong ngành Viễn thông và Internet đang mở ra nhiều cơ hội cho các DN Viễn thông và Internet Việt Nam. Đó là việc học hỏi kinh nghiệp từ các DN lớn trên thế giới về quản lý, kỹ thuật hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực, tận dụng cơ sở hạ tầng của các DN nước ngoài để mở rộng thị trường, và việc chuyển giao công nghệ tiên tiến.
Thách thức đối với các DN Viễn thông và Internet Việt Nam:
Hiện nay Viễn thông và Internet là ngành đang có tốc độ phát triển khá nhanh, có sức hấp dẫn ngành cao cùng với xu thế hội nhập quốc tế. Chính vì vậy mà cạnh tranh trong ngành càng gay gắt. Việc mở cửa thị trường, sẽ có nhiều DN lớn có tiềm lực về tài chính, công nghệ, có kinh nghiệm trong quản lý, nhân lực hùng mạnh mở rộng vào thị trường Việt Nam sẽ đẩy các DN Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Bởi các DN Việt Nam không những yếu kém về tài chính, công nghệ, cơ sở hạ tầng mà còn yếu kém trong quản lý và kỹ năng nghề nghiệp.
Thách thức thứ hai là môi trường công nghệ, do công nghệ là nhân tố chủ yếu trong lĩnh vực Viễn thông và Internet. Khi mà công nghệ trên thế giới ngàycàng chuyển biến nhanh chóng, công nghệ hôm nay là hiện đại và mới được tạo ra nhưng có thể trong một tháng sau đó nó lại trở thành công nghệ lỗi thời. Trong khi các DN Việt Nam lại không có khả năng tự chủ về công nghệ, năng lực công nghệ còn yếu kém, và chúng ta sử dụng công nghệ vẫn là đi mua các ứng dụng bản quyển hay nhận chuyển giao từ các nước phát triển. Do vậy mà các DN trong nước luôn ở thế bị động khi tham gia cạnh tranh trên thương trường quốc tế.
2.2. Môi trường kinh doanh bên ngoài Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Mục đích: phân tích môi trường kinh doanh bên ngoài nhằm xác định và hiểu rõ các yếu tố của môi trường kinh doanh, tác động của chúng đến hoạt động của DN từ đó xác định các cơ hội và thách thức (đe dọa) mà DN sẽ gặp phải. Phân tích môi trường bên ngoài bao gồm: phân tích môi trường vĩ mô, và phân tích môi trường ngành.
2.2.1. Phân tích môi trường vĩ mô
Trong giai đoạn 1986 – 2009 kinh tế vĩ mô phát triển tương đối ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho Cty và nhiều thuận lợi cho Cty phát triển và mở rộng hoạt động của mình.
Môi trường kinh tế
Tình hình biến động kinh tế của Việt Nam được thể hiện qua các chỉ tiêu từ năm 2006 đến năm 2009 như sau:
Bảng 6: Biến động kinh tế Việt Nam từ năm 2006 đến 2009
Việt Nam được đánh giá là nước có môi trường đầu tư thương mại an toàn bậc nhất vực Châu Á – Thái Bình Dương. Đồng thời nền kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng cao và ổn định. Tuy năm 2008 nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng GDP là 6,18% và được dự báo là sẽ phục hồi nhanh chóng so với các nền kinh tế khác trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam được đánh giá là rất cao so với các nước phát triển trên thế giới. Năm 2008 do khủng hoảng tài chính dẫn đến nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái nặng nề, tuy GDP của Việt Nam năm 2009 có thấp hơn năm 2008 nhưng so với thế giới và so với dự báo GDP của Việt Nam đã đạt trên 5% và là con số dương. Tuy GDP không cao như các năm trước nhưng ngành Bưu chính – Viễn thông, đặc biệt là Internet thì vẫn không ngừng gia tăng. Tính đến cuối năm 12/2009 số thuê bao Internet đạt 3 triệu thuê bao, tăng 45,5% so với cùng thời điểm năm 2008. Số người sử dụng Internet tính đến cuối năm 2009 ước tính 22,9 triệu lượt người, tăng 10,3% so với thời điểm cuối năm 2008. Số thuê bao điện thoại và Internet phát triển mạnh đã góp phần quan trọng đưa tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông năm 2009 ước tính đạt 94,9 nghìn tỷ đồng, tăng 39,7% so với năm 2008.
Thu nhập bình quân theo đầu người là 1055 USD tăng lên không đáng kể so với năm 2008, đứng thứ 10 trong 13 nước ASEAN + 3 chỉ trên Lào, Campuchia, và Myanmar. Tuy nhiên giá cước dịch vụ Internet của Viettel đối với gói cước chất lượng tốt nhất chỉ có 100đ/Mb, đây là một việc thuận lợi cho người sử dụng Internet Việt Nam. Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Văn hóa – xã hội
Sau hơn 20 năm đổi mới Việt Nam đã thoát khỏi cảnh đói nghèo, và có những bước phát triển đáng ghi nhận. Nhưng về cơ bản Việt Nam vẫn là một nước nghèo kém phát triển. Phần đông dân số vẫn tập trung trong khu vực nông thôn với nền kinh tế nông nghiệp và nền văn minh lúa nước, các quan niệm truyền thống làng xã vẫn còn phổ biến và nặng nề, con người Việt Nam ưa trực quan muốn cái gì cũng phải sờ tận tay, nhìn tận mắt đây là một sự cản trở rất lớn đối với phát triển Internet vì các giao dịch hay trao đổi qua Internet là qua môi trường ảo. Tuy vậy, 30 với quá trình hội nhập kinh tế sự hòa nhập, giao lưu văn hóa nên các quan điểm, nhận thức của người Việt Nam đang dần chuyển biến tích cực. Thêm vào đó, trình độ dân trí của người dân ngày càng được nâng cao. Chính vì vậy nó tạo đà cho sự phát triển dịch vụ Internet, vốn đang rất phổ biến trên thế giới.
Cùng với đó thì Việt nam là một nước đông dân với dân số hiện nay khoảng triệu người, tỷ lệ dân số trẻ chiếm tới 60% đang có nhu cầu dịch vụ liên lạc, Internet tạo ra nhu cầu lớn và một thị trường rộng lớn sẽ là cơ hội cho Cty mở rộng hoạt động và chiếm lĩnh thị trường giàu tiềm năng này.
Môi trường chính trị
Việt Nam được đánh giá là nước có tình hình chính trị ổn định nhất thế giới. Hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam cũng đang được hoàn thiện theo hướng đồng bộ và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các quy định về thủ tục hành chính ngày càng hoàn thiện, giấy phép hoạt động kinh doanh ngày càng được rút ngắn.
Sau 10 năm phát triển thị trường internet ở Việt Nam theo đánh giá của các chuyên gia viễn thông, Việt Nam đã có những bước tiến dài trong việc cải tổ khung pháp lý cho ngành Bưu chính – Viễn thông và Internet. Bộ Thông tin và Truyền thông đã có vai trò quan trọng trong việc xây dựng những chính sách và quyết định tiến bộ đã được thông qua mấy năm gần đây như: chiến lược phát triển ngành bưu chính – viễn thông tới năm 2010 định hướng phát triển đến năm 2020; pháp lệnh về Bưu chính – Viễn thông. Đặc biệt là bản quy hoạch phát triển Viễn thông và Internet đến năm 2020 thể hiện sự quan tâm của Chính phủ tới ngành kinh tế được coi là mũi nhọn này. Những động thái đó cho thấy những dấu hiệu tốt lành cho ngành Viễn thông nói chung và Internet nói riêng. Các quy định pháp quy về quản lý và sử dụng internet dựa trên quan điểm phục vụ sự phát triển, phát triển đến đâu thì phục vụ đến đó. Nhà nước có những chính sách, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển internet để làm đòn bẩy phát triển kinh tế như: chỉ thị 58/CT/TW; quyết định 33/2002/QĐ-CP; QĐ/158/2001/QĐ-TTg; 32/2006.QĐ-TTg. Thị trường Internet cũng được điều chỉnh theo hướng mở cửa và cạnh tranh, mở rộng các thành phần tham gia cung cấp dịch vụ như: Nhà nước, tư nhân và cả các nhà cung cấp nước ngoài vào liên doanh. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu 31 tư phát triển các dịch vụ ứng dụng, truy nhập Internet, đại lý Internet công cộng, các DN viễn thông đầu tư hợp lý để phát triển mạng viễn thông phục vụ cho phổ cập Internet. Chính phủ có những chính sách chỉ đạo giảm giá cước dịch vụ phục vụ cho phát triển Internet như nghị định 55/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2001. Bộ Thông tin và Truyền thông từng bước thực hiện các chỉ thị của Chính phủ về cấp phép và thực hiện lộ trình giảm giá và có một số quyết định tạo bước đột phá cho phát triển Internet tại Việt Nam.
Môi trường công nghệ, cơ sở hạ tầng
Công nghệ: hiện nay, công nghệ Internet tập trung vào phát triển các ứng dụng trên nền tảng công nghệ băng thông rộng. Thị trường công nghệ phục vụ cho Internet phát triển và biến đổi nhanh chóng. Công nghệ biến đổi nhanh là cơ hội cho các DN mới ra nhập ngành và là trở lực cho các DN đã đi vào hoạt động. Công nghệ có tác động quyết định đến 2 yếu tố cơ bản tạo nên khả năng cạnh tranh của DN: chất lượng và chi phí cá biệt của sản phẩm, dịch vụ mà DN cung cấp cho thị trường. Song để thay đổi công nghệ không phải dễ. Nó đòi hỏi DN cần phải đảm bảo nhiều yếu tố khác như: trình độ lao động phải phù hợp, đủ năng lực tài chính, chính sách phát triển, sự điều hành quản lý. Công nghệ mới cũng đồng nghĩa với việc các DN có thể định hướng sai công nghệ cho mình đây là nguyên nhân chính dẫn đến các DN kinh doanh thua lỗ.
Cơ sở hạ tầng: Bưu chính – Viễn thông là ngành quan trọng, có mặt trong tất cả các lĩnh vực. Do đó, nó rất được Nhà nước quan tâm đầu tư. Tính cho đến nay 64/64 tỉnh, thành trong cả nước về cơ bản đã có mạng lưới Internet với dung lượng kết nối ngày càng được nâng cao. Mặt khác, trong những năm trở lại đây việc hợp tác và chuyển giao công nghệ được triển khai với nhiều đối tác nước ngoài. Chính phủ Việt Nam đã có những thay đổi nhằm phát triển công nghệ quốc gia để có thể bắt kịp với các nước khác trong khu vực và thế giới. Mạng lưới đã được thiết lập khắp 64/64 tỉnh thành phố trên cả nước, mạng truyền dẫn quốc tế tiếp tục được tăng cường dung lượng. Tính đến năm 2007 mạng truyền dẫn quốc tế có khoảng 4 tuyến cáp quang, 7 trạm vệ tinh mặt đất, 50 trạm VSAT nối với 3 tổng đài cổng quốc tế.
2.2.2. Môi trường cạnh tranh ngành Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều DN cung cấp dịch vụ Internet, thị phần của các nhà cung cấp như bảng sau:
Bảng 7: Thị phần của các ISP
Để phân tích đối thủ cạnh tranh hiện tại để tìm ra cơ hội và thách thức của ngành Internet, tác giả đi phân tích những khía cạnh: cơ cấu ngành, nhu cầu ngành, rào cản rút lui khỏi ngành, và phân tích các đối thủ cạnh tranh chính trong lĩnh vực Internet của Viettel.
Xét về cơ cấu ngành: từ bảng thị phần của các nhà mạng có thể đưa ra kết luận rằng: có rất nhiều DN tham gia cạnh tranh trong lĩnh vực Internet, tuy nhiên thì chỉ có một số DN có quy mô và thị phần lớn là VNPT, Viettel và FPT. Đặc biệt, VNPT là DN đầu tàu trong ngành và đóng vai trò chi phối toàn ngành. Hiện tại có cạnh tranh giữa gay gắt giữa các ba DN lớn này để tranh giành thị phần và thị trường. Và trong tương lai hứa hẹn sẽ có sự cạnh tranh khốc liệt hơn nữa bởi có nhiều DN mới đã nhảy vào ngành, đưa ra giá cướp hấp dẫn, chất lượng dịch vụ tốt…Do vậy đòi hỏi Viettel phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng.
Xét về nhu cầu ngành: Internet là một ngành có nhu cầu cao nhất từ trước tới nay, nhìn vào Hình 7: biểu đồ tăng trưởng thuê bao Internet thì có thể thấy rõ lượng nhu cầu sử dụng Internet ngày một lớn.
Hình 6: Biểu đồ tăng trưởng thuê bao Internet
Năm 2003 mới chỉ có hơn 3 triệu người sử dụng Interet, nhưng đến năm 2009 thì con số này đã tăng hơn 7 lần tức là có hơn 22 triệu người dùng Internet.
Mặt khác, với thị trường 86 triệu dân, tỷ lệ dân số trẻ là 60% dân số đang có nhu cầu dùng Internet tạo ra lượng cầu lớn và một thị trường rộng lớn sẽ là cơ hội cho Cty mở rộng hoạt động và chiếm lĩnh thị trường tiềm năng này. Đồng thời cũng tạo cơ hội cho các DN trong ngành tăng doanh thu và tăng tốc độ tăng trường, làm cho mức độ cạnh tranh bớt gay gắt. Tuy nhiên, nhu cầu Internet tăng cao làm cho ngành ngay trở nên rất hấp dẫn và như vậy sẽ có nhiều DN tham gia vào ngành. Từ đó sẽ làm cho mức độ cạnh tranh cao và đó là nguy cơ cho các DN trong ngành. Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Xét về rào cản rút lui khỏi ngành: rào cản rút lui khỏi ngành Internet là khá cao bởi các nguyên nhân sau. Nguyên nhân thứ nhất: chi phí đầu tư vào ngành là rất lớn, các DN phải xây dựng và lắp đặt mạng lưới, mua tài sản cố định để cung cấp dịch vụ Internet là không nhỏ. Đồng thời chi phí đào tạo nguồn nhân lực, chi phí quảng cáo, chi phí xây dựng kênh phân phối cho ngành công nghệ cao Internet cũng rất lớn. Do vậy mà để rút lui khỏi ngành thì DN sẽ mất khoản chi phí khổng lồ ban đầu. Nguyên nhân thứ hai: phần lớn các DN này không chỉ kinh doanh mỗi dịch vụ Internet, mà có rất nhiều lĩnh vực kinh doanh khác ngoài Internet. Đó là các lĩnh vực về Viễn thông như điện thoại cố định và di động, về máy tính, điện…mà các lĩnh vực kinh doanh này có liên quan mật thiết với lĩnh vực Internet, chẳng hạn như dịch vụ Internet trên điện thoại di động. Hơn nữa, các đại lý, các mạng lưới phân phối rộng khắp của DN bao gồm cả dịch vụ về Viễn thông và Internet. Do vậy mà việc rút lui lĩnh vực Internet ra khỏi ngành sẽ có ảnh hưởng tới chiến lược tổng thể của DN, các dịch vụ Internet đi kèm Viễn thông, máy tính sẽ bị ảnh hưởng rất lớn nên việc rút lui khỏi ngành là không dễ dàng. Nguyên nhân thứ ba: về yếu tố tâm lý, hầu hết các DN như VNPT, Viettel hay FPT đều là các DN lớn, có tên tuổi trên thị thường Việt Nam. Do vậy để rút lui ra lĩnh vực Internet ra khỏi ngành sẽ làm giảm giá trị, uy tín của các nhà lãnh đạo trong nghiệp.
Tuy có nhiều đối thủ cùng tham gia cạnh tranh trong lĩnh vực Internet với Viettel, nhưng cho đến nay thì chỉ có VNPT và FPT là đối thủ chính. Các đối thủ như Netnam, EVN, SPT, hay HTC… cũng sẽ là đối thủ mà Viettel phải xem xét khi mà họ có đủ nguồn lực về tài chính, công nghệ và chất lượng dịch vụ. Trong bài phân tích này, tác giả sẽ phân tích hai đối thủ chính của Viettel trên thị trường hiện nay là VNPT và FPT.
VNPT
Sản phẩm, dịch vụ
Dịch vụ cung cấp: là nhà cung cấp có đầy đủ nhất các loại hình dịch vụ về truy nhập, GTGT, đấu nối Internet; đã chuẩn bị các dịch vụ ứng dụng (OSP), đặc biệt các ứng dụng về nội dung thông tin; một số dịch vụ mới chuẩn bị chính thức cung cấp: Internet không dây, VPN; chất lượng các dịch đang cung cấp không đồng đều, dịch vụ cùng loại kém FPT.
Thị trường cung cấp dịch vụ : 64 tỉnh thành, trong đó thị trường chính là Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.
Chính sách kinh doanh: phát triển diện rộng, chưa quan tâm nhiều đến hiệu quả (tài nguyên có sẵn, đầu tư ồ ạt…). Kinh doanh chưa định hướng khách hàng, chưa xây dựng được hình ảnh hoàn hảo trên thị trường. Chính sách giá chưa mềm dẻo, thường xảy ra xu hướng quá tải khi có tác động; hệ thống kênh phân phối chưa được quan tâm nên hoạt động kém hiệu quả: VNPT thực hiện chính sách phân phối thông qua hệ thống các tổng đại lý, đại lý và Bưu điện các tỉnh; tổng đại lý của các ISP chỉ chủ yếu là nhà phân phối thẻ và các đại lý chủ yếu phát triển các loại dịch vụ gia tăng cho VNPT; các chính sách đại lý của VNPT thường ít được điều chỉnh, do vậy không gây được thiện cảm từ phía các nhà trung gian. Đã quan tâm tới các chính sách marketing nhưng việc thực hiện chưa ráo riết và thiếu tính đồng bộ, hiện tại VNPT thực hiện quảng cáo trên báo chí là chính nhưng rất rời rạc, ngoài ra có kết hợp quảng cáo trên truyền hình, tuy nhiên tần suất quảng cáo chưa nhiều và chủ yếu là được kết hợp trong các chương trình quảng cáo trên kênh truyền hình VTV1, VTV3; các đầu báo chủ yếu VNPT phát hành: Báo Bưu điện Việt Nam, PC World, Thời báo kinh tế, Báo Hà nội mới, Sài gòn giải phóng, Echip, Tuổi trẻ, Thể thao văn hoá…Với tần suất không lớn nhưng được đăng khá thường xuyên các tháng. Quảng cáo thường gắn với việc thông báo khuyến mại, một số quảng cáo truyền hình nhằm giới thiệu dịch vụ mới. Các hình thức quảng cáo khác như quảng cáo ngoài trời qua pano, áp phích và tham gia các hoạt động tài trợ triển lãm đã bắt đầu được quan tâm, và với tiềm lực của VNPT gần đây họ đã tổ chức và tham gia khá nhiều sự kiện viễn thông.
Tổ chức, đào tạo đội ngũ: đội ngũ được đào tạo bài bản về kỹ thuật và kinh doanh, chính sách thải loại người yếu và tuyển dụng người giỏi chưa được chú trọng, cơ cấu tổ chức cồng kềnh, lòng say mê và nhiệt tình của đội không cao.
Hạ tầng: mạnh, rộng nhưng không đồng đều, thiếu đồng bộ, có khả năng triển khai hạ tầng mạnh trên diện rộng.
Quy mô và hướng đầu tư: đầu tư diện rộng, ồ ạt nhưng thiếu hiệu quả. Một số nơi dung lượng thiết bị đầu tư vượt nhiều nhu cầu hiện tại, được Tổng Cty hỗ trợ lớn trong quá trình đầu tư. Đầu tư với xu hướng thực hiện chính sách hơn là kinh doanh.
Công nghệ: đã triển khai xong Internet pha 4, các tỉnh đều có POP, ứng dụng các công nghệ hiện đại để thay thế dần hạ tầng cũ, định hướng phát triển mạnh Internet băng rộng và các dịch vụ gia tăng đa chức năng.
Đánh giá chung: hoạt động có tăng trưởng nhưng không nhanh chưa tương ứng với tiềm lực và đầu tư, được Tổng Cty hỗ trợ lớn về nhiều mặt. Với tiềm lực hiện nay VNPT là đối thủ số 1 của các DN mới mà Viettel cần tìm một cách đi riêng cho mình để tránh sức ép cạnh tranh.
Sản phẩm dịch vụ
Dịch vụ cung cấp: đầy đủ các loại hình dịch vụ về truy nhập, GTGT, đấu nối Internet. Bắt đầu cung cấp dịch vụ ứng dụng (OSP) đặc biệt các ứng dụng về nội dung thông tin. Chất lượng các dịch vụ đang được đánh giá là tốt nhất trên thị trường.
Thị trường cung cấp dịch vụ : Hà Nội, Hồ Chí Minh và đang bắt đầu triển khai kinh doanh tại Đà Nẵng
Chính sách kinh doanh: phát triển tập trung, chú trọng đến hiệu quả. Kinh doanh định hướng khách hàng, xây dựng được hình ảnh tốt trên thị trường. Chính sách marketing ráo riết. Đặc biệt quan tâm tới các hình thức khuyến mại cáo cho dịch vụ và các hình thức quảng cáo trên báo chí, khuếch trương cho hệ thống đại lý rộng rãi. Các đầu báo chủ yếu: Thời báo kinh tế Việt Nam, Thời báo kinh tế SàiGòn, Việt Nam New, Hà Nội mới, Tuổi trẻ, Văn hoá thể thao, Sài gòn Giải phóng, Đầu tư, Lao động, Thanh niên….Chính sách giá mềm dẻo, linh hoạt, có sự đổi mới và thường đưa ra những hình thức ưu đãi hấp dẫn cho khách hàng.
Hệ thống kênh phân phối được đặc biệt quan tâm nên họat động rất hiệu quả đặc biệt với chính sách đại lý hấp dẫn: FPT thực hiện việc phân phối thông qua hệ thống Tổng đại lý và đại lý để phát triển dịch vụ. Tuy nhiên các tổng đại lý, đại lý 37 của FPT chủ yếu là phát triển thẻ và các dịch vụ gia tăng. FPT được đánh giá là nhà cung cấp có số lượng lớn đại lý bán thẻ tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, với mục tiêu chủ yếu tập trung đại lý vào phát triển thẻ. Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Tổ chức, đào tạo đội ngũ: đội ngũ được đào tạo bài bản về kỹ thuật và kinh doanh. Phát huy tối đa trong kinh doanh để mang lại hiệu quả. Các nhân viên FPT có trình độ học thức cao: 3.2% trên đại học, 83.3% tốt nghiệp đại học và 13.5% tốt nghiệp phổ thông trung học. FPT là một trong những Cty có độ tuổi trung bình nhân viên trẻ ở Việt Nam 28,4. Chính sách thải loại người yếu (10%/năm) và tuyển dụng người giỏi rất được chú trọng. Bộ máy gọn nhẹ, tổ chức hoạt động hiệu quả. Sử dụng nhiều công cụ kích thích vật chất và tinh thần để tạo động lực trong lao động.
Hạ tầng: không có hạ tầng truyền dẫn, do vậy phải đi thuê của VNPT và Viettel. Hạ tầng cung cấp dịch vụ tốt, tập trung, không dàn trải. Luôn được nâng cấp và mở rộng. Đang tiếp tục mở rộng hạ tầng cung cấp dịch vụ tại các tỉnh thành phố tiềm năng.
Quy mô và hướng đầu tư: đầu tư tập trung vào các khu vực có hiệu quả, tiết kiệm, không mang màu sắc chính sách. Đầu tư nhanh các dịch vụ mang lại lợi nhuận cao, thu hồi vốn nhanh.
Công nghệ: tiếp cận nhanh với công nghệ, ứng dụng nhanh để thu lợi trong kinh doanh. Sử dụng các công nghệ với tính năng phù hợp, chi phí thấp.
Đánh giá chung: tăng trưởng nhanh, hoạt động hiệu quả trên các thị trường. Hoạt động kinh doanh linh hoạt, chấp nhận rủi ro, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Với tiềm lực hiện nay FPT là một đối thủ lớn nên Viettel cần học tập trên nhiều phương diện đặc biệt là về giải pháp công nghệ và kinh doanh tìm kiếm hình thức hợp tác để tăng sức cạnh tranh với VNPT.
FPT thực sự mạnh về tư duy kinh doanh, phong cách cũng như những hiểu biết sâu sắc trong kinh doanh dịch vụ Internet. Ứng dụng công nghệ mới để cũng như phong cách làm ăn mới để tạo lợi thế cạnh tranh. Đây là một đối thủ Viettel cần học tập và biến thành khách hàng lớn.
Các DN mới ra nhập thị trường
Hiện nay đang có nhiều DN họat động kinh doanh về Internet trong đó: EVNtelecom, SPT, HTC là các DN có định hướng lớn cho kinh doanh Internet. Riêng HTC đã cung cấp dịch vụ tuy nhiên đây mới được xem là giai đoạn khởi đầu, chưa có ảnh hưởng đến thị trường. Với SPT và EVN là nhà cung cấp dịch vụ có lợi thế rất lớn về hạ tầng và khả năng tài chính cũng như có những ý tưởng táo bạo trong kinh doanh là đối thủ đáng gờm của các nhà cung cấp dịch vụ.
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các DN có khả năng tham gia cạnh tranh trong ngành nếu họ gia nhập ngành. Để tìm hiểu và phân tích đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn tác giả sẽ phân tích rào cản gia nhập ngành, và khả năng phản ứng của các DN trong ngành.
Về rào cản gia nhập ngành bao gồm: rào cản về tài chính, rào cản thương mại, rào cản về thương hiệu. Rào cản về tài chính là rào cản khá cao bởi các DN mới muốn gia nhập ngành đòi hỏi phải bỏ một khoản tiền khổng lồ cho xây dựng hạ tầng mạng cơ bản. Trong khi các DN hiện tại trong ngành đã có được cơ sở hạ tầng khá vững mạnh và khải khắp 3 miền Bắc – Trung – Nam, do vậy đây thực sự là một rào cản đối với các DN chưa có hạ tầng mạng. Rào cản về thương mại là khả năng tiếp cận kênh phân phối đối với các DN mới muốn gia nhập ngành, họ sẽ phải bỏ ra khoản đầu tư ban đầu lớn mới có thể xây dựng được mạng lưới kênh phân phối đủ mạnh. Còn các DN trong ngành đã có mạng lưới kênh phân phối rộng khắp cả trong và ngoài nước, chính vì vậy mà khả năng tiếp cận với khách hàng là rất lớn. Do đó khả năng tiếp cận với khách hàng của các DN là rất khó nếu họ chưa xây dựng được mạng lưới kênh phân phối. Rào cản thứ ba là rào cản về mặt tên tuổi và thương hiệu, các DN như Viettel, VNPT, hay FPT là những DN có tiếng trên thị trường Việt Nam mà bất cứ người dân nào cũng biết thậm chí họ chưa sử dụng dịch vụ của các DN này. Vì vậy khách hàng sẽ ưu tiên lựa chọn các DN có tiếng và tên tuổi này chứ họ sẽ không lựa chọn một DN không có tên tuổi hay DN mà họ chưa từng nghe đến.
Về khả năng phản ứng của các DN trong ngành: các DN trong ngành có một số DN lớn chi phối toàn ngành đã bắt tay nhau để tiến tới thành lập Hiệp hội Internet Việt Nam được ký kết bởi 5 ISP gồm: EVN Telecom, Viettel Telecom, SPT, VNPT và Cty NetNam. Mục tiêu của sự kiện này là nhằm nâng cao chất lượng mạng, tạo môi trường thúc đẩy kinh doanh lĩnh vực này và các dịch vụ giá trị gia tăng trên nền Internet. Từ đó kích cầu các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu, gia nhập thị trường quốc tế, hoạt động công ích, phổ cập Internet cho các vùng sâu, đồng thời ngăn cản sự gia nhập của đối thủ tiềm ẩn. Họ bắt tay để xây dựng chất lượng dịch vụ Internet hàng đầu, phát triển nội dung và dịch vụ giá trị gia tăng trên nền Internet. Từ đó xây dựng rào cản về chất lượng và số lượng dịch vụ, nhằm ngăn cản sự gia nhập của các đối thủ mới.
Tuy nhiên các DN Internet trong ngành sẽ gặp phải khó khăn khi các Cty Truyền thông lấn sân sang Viễn thông và Internet: kế hoạch truy cập Internet qua mạng cáp truyền hình (với ưu thế về băng rộng). Với sự phát triển của công nghệ, các DN viễn thông – công nghệ thông tin và truyền thông của Việt Nam bắt đầu trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau. Việc truy cập Internet qua mạng cáp truyền hình có thể đạt tốc độ tải về tới 54 Mbps và tải lên 10 Mbps. Đồng thời, thông qua hệ thống đường truyền này, ngoài truyền hình và Internet, khách hàng còn có thể tiếp cận nhiều dịch vụ giải trí khác như chơi game online, xem ti vi trên máy vi tính, xem truyền hình và phim theo yêu cầu…
Ngoài ra thì các nhà đầu tư nước ngoài cũng rất háo hức tham gia vào thị trường Viễn thông – Internet Việt Nam, do thị thường Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng, và với tốc độ phát triển nhanh của ngành thì không có lý do gì các nhà đầu tư nước ngoài không để ý đến thị trường Việt Nam.
Áp lực từ khách hàng
Khách hàng là những DN hay người mua sản phẩm của DN. Để tìm ra được cơ hội và thách thức, tác giả sẽ phân tích áp lực của khách hàng đối với DN.
Trên thị trường Internet Việt Nam thì hiện nay có rất nhiều nhà cung cấp, vì vậy khách hàng dễ dàng lựa chọn nhà cung cấp phù hợp với nhu cầu của mình nhất. Do vậy mà DN không có bất kì sức ép nào lên khách hàng, khách hàng có nhiều lựa chọn DN cung cấp cho mình. Tuy nhiên, số lượng khách hàng lại rất lớn (với dân số triệu người mà mới có 3 triệu thuê bao Internet tương ứng với 22,9 triệu người 40 sử dụng) thì số lượng khách hàng chưa sử dụng dịch vụ là rất lớn. Vì vậy mà DN thường không lo sợ khi số lượng khách hàng còn rất lớn. Hơn nữa, khách hàng cũng khó có cơ hội hội nhập dọc về phía sau là do chi phí đầu tư cho hạ tầng mạng là rất lớn, thêm vào đó họ phải tìm nhà cung cấp để lắp đặt, đồng thời phải bỏ ra cả chi phí đào tạo nếu họ muốn sử dụng. Trừ khi họ muốn gia nhập vào ngành Internet, còn không thì khách hàng đe dọa hội nhập dọc về phía sau là không có. Tuy nhiên tên tuổi của DN trên thị trường cũng tạo nên ảnh hưởng đối với khách hàng, họ tin tưởng vào DN có tiếng trên thị trường, có tiềm lực về tài chính và có chất lượng dịch vụ tốt. Tuy Viettel là một DN mạnh, có tiếng trên thị trường nhưng khách hàng chủ yếu biết đó là một DN mạnh về mảng Viễn thông với: số lượng thuê bao di động lớn nhất, có vùng phủ sóng rộng nhất, có giá cước cạnh tranh nhất, có những gói cước hấp dẫn, và có chính sách khách hàng tốt. Còn về lĩnh vực Internet thì lại rất ít khách hàng biết đến và sử dụng.
Sau đây tác giả sẽ đi phân tích cụ thể từng gói cước Internet dành cho khách hàng:
Khách hàng truy nhập băng rộng (Leased Line, WI FI và ADSL)
Trước đây các khách hàng sử dụng băng thông rộng chủ yếu là các tổ chức: DN, cơ quan, Trường học. Loại hình dịch vụ này chưa phù hợp với người dùng cá nhân, do chi phí lớn.
Kể từ năm 2004 số người sử dụng Internet băng thông rộng (ADSL) bao gồm cả các cá nhân các hộ gia đình chứ không cứ các DN hay các cơ quan, trường học, chi phí cho dịch vụ Internet tốc độ cao ADSL đã giảm đáng kể giảm khoảng 60 đến 80% trên 1 Mb/s
Các khách hàng sử dụng dịch vụ này chủ yếu quan tâm đến chất lượng dịch vụ, họ chỉ rời nhà cung cấp khi chất lượng không đảm bảo hoặc giá quá cao Khách hàng sử dụng dịch vụ đấu nối Internet (IXP)
Hiện nay các khách hàng là các ISP mới, ISP dùng riêng với dung lượng sử dụng hiện nhỏ. Tuy nhiên trong tương lai dung lượng này sẽ tiếp tục tăng.
Khách hàng sử dụng dịch vụ ứng dụng (các dịch vụ gia tăng)
Hiện nay các khách hàng sử dụng các dịch vụ cơ bản như quảng cáo, thuê Webhosting, Mail, chỗ đặt máy chủ, phần lớn là các DN và các tổ chức. Các dịch vụ khác như thuê ứng dụng, thương mại điện tử, dịch vụ thoại… chưa được nhiều người sử dụng nên doanh thu còn thấp. Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Theo thống kê của Tổng cục Thống Kê năm 2008 số DN có Web chiếm khoảng 20% – 25% trong số trên 70000 DN Việt Nam, tuy nhiên chỉ có 5,4% đến 6% DN sử dụng thương mại điện tử và tính đến hết tháng 9 số tên miền đăng ký tại VNNIC đạt được là 4653 tên miền. Trong thời gian tới sẽ có nhiều dịch vụ được ứng dụng rộng rãi như: PC to Phone, bán hàng trên mạng… sẽ thúc đẩy sự phát triển chung của Internet và loại hình dịch vụ ứng dụng, sẽ kích thích nhu cầu tạo đà cho gia tăng số lượng khách hàng.
Nhà cung cấp
Dịch vụ internet có liên quan mật thiết chủ yếu đến các nhà cung cấp Thiết bị và cho thuê kênh quốc tế.
Nhà cung cấp thiết bị
Viettel chủ động trong việc tìm kiếm đối tác cung cấp thiết bị dựa trên một số quan điểm: tốt, rẻ và làm việc trực tiếp với các hãng lớn, đàm phán kỹ, gây áp lực có lợi cho mình với bất cứ nhà cung cấp nào. Chính vì vậy sức ép của các nhà cung cấp thiết bị đối với Viettel hầu như không có.
Nhà cung cấp kênh thuê quốc tế
Với đối tác nước ngoài Viettel hoàn toàn chủ động và tìm kiếm được các đối tác cung cấp dịch vụ hợp lý nhất. Tuy nhiên trong nước thì đối tác liên quan đến dịch vụ đấu nối chuyển tiếp (VTI) thì gặp rất nhiều khó khăn gây chậm trễ cho các cơ hội kinh doanh của Viettel.
Hiện nay Viettel đang sử dụng dịch vụ của 3 nhà cung cấp: Singtel, Dacom, Reach với các kênh lẻ. Trong thời gian tới Viettel sẽ định hướng vào một nhà cung cấp có chất lượng tốt để mua dung lượng lớn, giảm chi phí, đơn giản trong đấu nối mạng.
Với giấy phép cửa ngõ Quốc tế của mình và sự giảm giá thuê đường quốc tế, chắc chắn Viettel sẽ tháo gỡ được khó khăn trên trong một thời gian ngắn sắp tới. 42
Sản phẩm thay thế
Trong tương lai, dịch vụ truy nhập băng rộng sẽ thay thế dịch vụ băng hẹp tại các thành phố lớn. Dịch vụ băng hẹp sẽ trở thành dịch vụ bổ trợ.
Các dịch vụ gia tăng sẽ phát triển đa dạng tạo cơ hội cho người sử dụng có được nhiều dịch vụ với nhiều cấp độ khác nhau ví dụ Video conference sẽ thay thế Voice, điện thoại qua Internet thay thế cho điện thoại thông thường…
2.2.3. Đánh giá cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài
Bảng 8: Tổng hợp cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài
3. Phân tích môi trường bên trong của lĩnh vực Internet tại Tổng Cty Viễn thông Viettel Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Mục đích: Việc phân tích nội bộ bên trong của lĩnh vực Internet của Viettel là phân tích các yếu tố và hệ thống bên trong Cty, việc phân tích này nhằm tìm ra các điểm mạnh và điểm yếu của lĩnh vực Internet của Viettel, qua đó xác định năng lực riêng biệt và lợi thế cạnh tranh của Cty trong ngành. Đây là cơ sở để đưa ra chiến lược kinh doanh phù hợp.
Để phù hợp với nội dung và lĩnh vực kinh doanh dịch vụ Internet của Viettel, vì vậy tác giả sẽ phân tích những đặc điểm đặc thù của ngành dịch vụ Internet để tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của lĩnh vực Internet trong DN Viettel. Sau đây là những khía cạnh chính tác giả sẽ phân tích trong bài khóa luận này: phân tích nguồn lực bao gồm nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình; năng lực của DN là khả năng phối hợp các nguồn lực của DN để đạt mục tiêu mong muốn; năng lực riêng biệt; phân tích chuỗi giá trị của M. Porter; phân tích tài chính, văn hóa, lãnh đạo… Trước khi đi phân tích tác giả sẽ nói qua về tình hình kinh doanh trong lĩnh vực Internet của Viettel.
3.1. Tình hình kinh doanh Internet của Viettel trong thời gian qua
Viettel chính thức khai trương cung cấp dịch vụ Internet vào ngày 9/10/2002 tức là sau 5 năm kể từ khi Internet xuất hiện tại Việt Nam và Cty cung cấp dịch vụ này được lấy tên là Cty Internet Viettel, sau đó Cty Internet Viettel đã sát nhập với Cty viễn thông Viettel tạo thành Tổng Cty Viễn thông Viettel.
Là một Cty tham gia thị trường sau so với các nhà cung cấp khác. Việc triển khai mạng trên cơ sở có sẵn của mạng thông tin quân đội trước đây và tiếp thu, ứng dụng những công nghệ tiên tiến, hiện đại nhất hiện nay, nên sau 7 năm hoạt động Internet Viettel đã có những thành tựu quan trọng và trở thành nhà cung cấp Internet đứng thứ 2 tại thị trường Việt Nam sau VNPT.
Đến năm 2009, số thuê bao Internet quy đổi của Internet Viettel là 507307 và chiếm 11.64% thị trường Việt Nam. Doanh thu thực hiện năm 2009 đạt 62000 tỷ đồng (nguồn bảng báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009). Với thị trường cung cấp chính tại Hà nội, TP. HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, và Viettel là nhà cung cấp thứ 2 sau VNPT được cấp đầy đủ các giấy phép cho phép Viettel có thể cung cấp dịch vụ viễn thông trong nước và quốc tế.
3.2. Phân tích nguồn lực, năng lực và năng lực riêng biệt của Viettel Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Nguồn lực về thương hiệu: Viettel là một DN Viễn thông hàng đầu tại Việt Nam, với tên tuổi và thương hiệu đã có chỗ đứng trên thị trường. Theo danh sách mà tổ chức Superbrands (tổ chức ra đời năm 1994, tại London – Anh, hiện là tổ chức độc lập chuyên đánh giá và tiếp thị thương hiệu hàng đầu thế giới) mới công bố thì Viettel được đánh giá là một trong 10 thương hiệu dẫn đầu Việt Nam, Viettel đứng thứ 4 trong danh sách sau Samsung, Sony và Vinamilk. Hơn nữa trong danh sách đó không có một DN Viễn thông nào ngoài Viettel, do đó có thể thấy rằng tên tuổi Viettel rất mạnh tại thị trường trong nước. Không chỉ có vậy, theo tổ chức Informa plc – một tổ chức chuyên cung cấp thông tin thống kê về khoa học, xã hội và kinh tế cho các viện hàn lâm, khoa học, các tổ chức chuyên ngành, DN…vừa tổng kết, xếp hạng Tổng Cty Viễn thông quân đội (Viettel) đứng thứ 83 trên 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới. Được xác định giá trị thương hiệu khoảng 536 triệu USD, Viettel trở thành Cty duy nhất của Việt Nam lọt vào danh sách 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới, vượt trên cả thương hiệu nổi tiếng SingTel của Singapore. Tuy nhiên phần lớn người dân Việt Nam biết Viettel là một thương hiệu về Viễn thông di động số 1 của Việt Nam, mà ít người biết đến dịch vụ Internet mà Viettel cung cấp. Lợi thế của việc kinh doanh Internet là thương hiệu Viettel. Đây chính là nguồn lực và lợi thế của Viettel trong việc phát triển dịch vụ Internet, khi mà DN tận dụng được thương hiệu của mình.
Nguồn lực về công nghệ: với triết lý kinh doanh là “luôn đột phá, đi đầu, tiên phong” trong lĩnh vực công nghệ, tức là công nghệ luôn tục cải tiến với công nghệ hiện đại, Viettel đã lấy “công nghệ vì con người” làm chủ đề xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển Cty. Sau hơn 7 năm phát triển, Cty đã xây dựng được đường trục cáp quang truyền Bắc – Nam, trên đường điện 500KV với dung lượng 5Gb/s, đường trục dọc theo đường sắt với chiều dài 3500km, có dung lượng 10Gb/s. Hệ thống cung cấp dịch vụ trên nền tảng mạng thế hệ mới (NGN) mạng lưới truyền dẫn quang trên 30 tỉnh thành trên cả nước và đang tiếp tục được mở rộng. Định hướng công nghệ mới và hiện đại nhằm cung cấp đa dịch vụ chất lượng cao, chú trọng công nghệ băng thông rộng. Quan điểm xác định công nghệ là vấn đề then 45 chốt, sáng suốt và tiết kiệm trong lựa chọn công nghệ, quyết tâm lựa chọn công nghệ tối ưu. Vừa qua Viettel cùng với VNPT và FPT là 3 ISP được Bộ BCVT cấp giấy phép thử nghiệm mạng vô tuyến cố định mặt đất sử dụng công nghệ Wimax theo tiêu chuẩn 802.16-2004 Rev trong dải băng tần vô tuyến điện tử 3,3 GHz-3,4GHz trên phạm vi 6 tỉnh là Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, Bình Dương, Bắc Ninh, Lào Cai. Công nghệ này có khả năng kết nối không dây tốc độ cao với chi phí thấp hơn khoảng 4 lần so với dịch vụ ADSL và sẽ tạo ra các gói cước rẻ nên sẽ có sự bùng nổ mạnh mẽ. Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Nguồn lực về văn hóa: Internet là lĩnh vực kinh doanh của Tổng Cty Viễn thông Quân đội dưới sự chủ quản của Bộ Quốc Phòng. Do vậy, văn hóa của Viettel nói chung và Internet Viettel nói riêng được kế thừa nét truyền thống quân đội đó là kỷ luật, đoàn kết, không ngại khó khăn. Một trong những khác biệt tạo nên sức mạnh của Viettel là truyền thống và cách làm quân đội. Trong công tác thì quyết đoán, nhanh chóng và bất ngờ khi ra quyết định. Qua 15 năm phát triển, nét văn hoá riêng của Viettel đã mang đậm tính chất doanh nhân, được thể hiện một cách linh hoạt qua cách ứng xử với thị trường, sẵn sàng giúp đỡ, thấu hiểu và chịu trách nhiệm cao thông qua việc đưa ra các giải pháp, các sản phẩm, dịch vụ hoàn hảo nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, đem lại sự lựa chọn tối ưu nhất của mọi khách hàng.
Nét văn hoá của Viettel từng bước được xây dựng mang đậm tính chuyên nghiệp, thể hiện của một Cty có tầm cỡ quốc tế. Viettel luôn coi con người là chủ thể để phát triển, do vậy mà nét văn hoá tổ chức được xây dựng có tính hướng ngoại với quan điểm cá thể con người với con người (Viettel với khách hàng) nên khách hàng là đối tượng được trân trọng, sẵn sàng phục vụ, đáp ứng các dịch vụ tốt nhất. Mặt khác, luôn coi trọng nhân viên Cty với tình cảm chân thành, tạo điều kiện, khuyến khích, hỗ trợ phát huy khả năng, năng lực, quan tâm đến chính sách đào tạo và trọng dụng nhân tài, đề cao vai trò của từng cá nhân, con người trong sự phát triển của Cty và chăm lo đến đời sống tinh thần, vật chất cho cán bộ công nhân viên của mình, điều này xác định tính hướng nội của nét văn hoá và cũng là chính sách nhân sự của Viettel.
Năng lực, nguồn lực về nguồn vốn và tài chính : nguồn vốn là nguồn lực vô cùng quan trọng đối với mỗi DN. Vốn được chia làm hai loại : vốn cố định và vốn lưu động. Trong quá trình hoạt động, bất cứ một DN nào cũng có nhiệm vụ bảo toàn và phát triển nguồn vốn. Nhìn vào bảng 9: bảng cơ cấu nguồn vốn của Tổng Cty Viễn thông Viettel thấy rằng tổng nguồn vốn của Viettel tăng đều qua các năm, trong đó nguồn vốn của chủ sở hữu luôn chiếm đa số. Điều này chứng tỏ Viettel hoàn toàn chủ động về nguồn vốn và có khả năng thanh toán các khoản nợ trong cả ngắn hạn và dài hạn. Là DN kinh doanh dịch vụ Viễn thông và Internet nên trong cơ cấu vốn thì vốn cố định luôn chiếm tỷ trọng nhiều hơn vốn lưu động: trong 3 năm 2007, 2008, 2009 thì tỷ lệ vốn lưu động trên vốn cố định luôn xấp xỉ 45%. Với khả năng tự chủ về nguồn vốn, Viettel hoàn toàn có khả năng thúc đẩy mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng cường chất lượng dịch vụ, và tăng cường khả năng tài chính.
Về tình hình tài chính, kinh doanh của Viettel: theo báo cáo tài chính , lợi nhuận hợp nhất trước thuế của viettel trong năm 2009 là 1436 tỷ đồng, đạt 31,2% mức kế hoạch năm 2009; lợi nhuận sau thuế đạt 1077 tỷ đồng; thu nhập trên mỗi cổ phiếu của riêng năm 2009 đạt 1.751 đồng. Về tình hình tài chính : tổng số nợ vay trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất củ a Viettel tại ngày 30 tháng 12 năm 2009 là 2.893 tỷ đồng, giảm 204 tỷ đồng so với số dư tại ngày 31 tháng 12 năm 2008, chiếm 32% trên tổng tài sản hợp nhất toàn T ổng Cty là 10.021 tỷ đồng. Về tình hình lưu chuyển tiền tệ: dòng tiền thuần thu từ hoạt động kinh doanh là 2440 tỷ đồng, tiền chi cho hoạt động đầu tư là 522 tỷ đồng và chi trả nợ vay thuần là 204 tỷ đồng . Theo báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009 doanh thu của Tổng Cty Viễn thông Quân đội (Viettel) tăng 78% so với cùng kỳ năm 2008, thực hiện 62.000 tỷ đồng đạt 54% kế hoạch năm. Do vậy có thể nói hoạt động kinh doanh rất hiệu quả. Trong đó lĩnh vực Internet có doanh thu là 15.795 tỷ đồng, tăng 120% so với năm 2008. Tỷ suất lợi nhuận của Internet đạt 24% doanh thu, tương ứng 3.790,8 tỷ đồng, bằng 59% kế hoạch năm. Theo phân tích của Viettel, cạnh tranh giữa các DN cung cấp dịch vụ Internet vẫn sẽ tiếp tục gay gắt, quyết liệt hơn trên mọi phương diện như giá cước, chất lượng dịch vụ, chăm sóc khách hàng… Mục tiêu cả năm mà Viettel đã hướng đến lắp đặt mới 7.000 – 8.000 trạm BTS (trong đó, 3G là 6.000 trạm) nâng 47 tổng số trạm BTS tại Việt Nam lên hơn 25.000; tại Lào và Campuchia lắp đặt từ 2.000 trạm và trở thành mạng có hạ tầng lớn nhất. Đồng thời mở rộng cáp quang ra tỉnh thành phố, cung cấp thêm nhiều dịch vụ và giá trị gia tăng cho nhu cầu Internet. Ngoài ra, Viettel cũng sẽ nâng tổng số trạm phát sóng tại Campuchia lên 000 trạm và đã khai trương mạng di động và Internet tại Lào vào tháng 8/2009.
Bảng 9: Nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn
Nguồn lực, năng lực về nguồn nhân lực: xuất phát từ đặc thù về tổ chức mạng lưới sản xuất kinh doanh dịch vụ trải rộng khắp 64/64 tỉnh thành trong cả nước, Viettel đã thu hút một lực lượng lao động khá lớn với trên 11000 nhân viên và có xu hướng ngày càng tăng trong tương lai. Bảng 10 sẽ nói chi tiết cơ cấu nhân sự của Viettel. Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Với vai trò kinh doanh dịch vụ Viễn thông và Internet cùng các hệ thống trang thiết bị máy móc hiện đại, đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của con người nên lực lượng lao động ngoài đội ngũ lao động đóng vai trò quản lý, điều hành mọi hoạt động của Cty thì còn có một đội ngũ lao động đông đảo đó là lao động công nghệ có nhiệm vụ vận hành hệ thống kỹ thuật toàn ngành, đảm bảo cung cấp dịch vụ một cách tốt nhất. Lực lượng lao động công nghệ này chiếm trên 50% toàn ngành, lực lượng này có kiến thức chuyên môn cả về Viễn thông và Internet 48 nên có thể linh hoạt trong mọi yêu cầu của Cty hay của khách hàng. Lực lượng quản lý chiếm trên 30%; còn lao động phục vụ chiếm trên 15% toàn ngành. Đồng thời, Viettel đang tích cực trẻ hóa lực lượng lao động. Những lao động này được đào tạo trong thời kì mới, có kiến thức sâu rộng về Viễn thông, có khả năng tiếp cận nhanh nhạy với môi trường công nghệ và tiếp thu được nhiều thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại. Họ là nhân tố tạo sức bật cho Viettel trong những năm tới, có khả năng đưa Viettel vươn ra tầm xa thế giới. Bên cạnh lực lượng lao động trẻ là đội ngũ quân nhân chuyên nghiệp, có thâm niên, có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao. Hai lực lượng này kết hợp với nhau sẽ khắc phục được những hạn chế, đồng thời phát huy được khả năng trong công việc từ đó sẽ đẩy nhanh hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo khả năng cạnh tranh về “trí tuệ” cho Viettel. Tuy nhiên thì đội ngũ lao động trẻ này vẫn còn thiếu kinh nghiệp thực tế trong công tác, thiếu nhân viên kỹ thuật cao và nhân viên marketing trong lĩnh vực Internet.
Bảng 10: Thống kê số lượng lao động theo cơ cấu
Nguồn lực, năng lực về mạng lưới kênh phân phối: hệ thống kênh phân phối là cầu nối giữa DN và khách hàng, hệ thống kênh phân phối không chỉ thực hiện chức năng chuyển tải dịch vụ Viễn thông và Internet tới khách hàng mà còn là một công cụ tốt để DN thực hiện các chương trình marketing một cách hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN. Trên cơ sở hiểu sâu sắc tầm quan trọng của hệ thống phân phối, Viettel có nhiệm vụ củng cố và phát triển hệ thống kênh phân phối là nhiệm vụ cần được thực hiện thường xuyên trong thời gian dài. Hiện Viettel đang sở hữu một hệ thống kênh phân phối đa dạng và linh hoạt, mở rộng trên phạm vi toàn quốc như: hệ thống các cửa hàng giao dịch trực tiếp, đại lý ủy quyền…Trong đó sự chú ý đang tập trung vào củng cố và mở rộng hệ thống các cửa hàng đa dịch vụ thực hiện các chức năng cung cấp tất cả các dịch vụ Viễn thông của Viettel như dịch vụ truy cập Internet…Hệ thống những cửa hàng đa dịch vụ này sẽ giúp Viettel thực hiện tốt chức năng cung cấp dịch vụ tới khách hàng, hơn nữa lại tạo ấn tượng với khách hàng về một Viettel với phong cách làm việc “nhanh – chuyên nghiệp – hiệu quả”. Viettel xây dựng và thực hiện hợp lý những chính sách hỗ trợ các cửa hàng đại lý thực chất nhằm mục tiêu quảng bá hình ảnh, thông tin dịch vụ tới khách hàng. Ngay từ đầu, những cửa hàng đại lý của Viettel đã được lựa chọn kỹ lưỡng về diện tích mặt tiền, chiều sâu, được trang trí biển hiệu, logo, poster, băng rôn…để thu hút khách hàng. Tất cả những hoạt động này đều nhằm xây dựng một mạng lưới cửa hàng đa dịch vụ chuyên nghiệp với đội ngũ nhân viên được lựa chọn, đào tạo và kiểm tra nghiệp vụ kỹ lưỡng, sẵn sàng lắng nghe, thấu hiểu và cung cấp dịch vụ tới khách hàng một cách nhanh nhất, chuyên nghiệp nhất, hiệu quả nhất. Hệ thống những cửa hàng đa dịch vụ này sẽ là cầu nối vững chắc đưa Viettel tới gần nhu cầu của khách hàng hơn. Tuy nhiên, mạng lưới phân phối này vẫn chủ yếu là đáp ứng tốt nhất nhu cầu về Viễn thông, trong khi đó dịch vụ Internet vẫn chưa thực sự được quảng bá rộng rãi, và chưa được sự quan tâm đặc biệt của Viettel do vậy mà chưa nhận được nhiều khách hàng để ý tới.
3.3. Phân tích chuối giá trị của M. Porter
Phân tích chuỗi giá trị là phân tích tổng thể các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực Internet của Viettel nhằm đem lại giá trị cho khách hàng. Từ đó sẽ rút ra được Điểm mạnh, Điểm yếu của việc kinh doanh Internet của Viettel. Sơ đồ chuỗi giá trị đã được tác giả vẽ trong chương I nên tác giả sẽ không vẽ lại ở đây. Để phân tích chuỗi giá trị, tác giả sẽ phân tích: các hoạt động chính (các hoạt động cung ứng đầu vào, sản xuất, các hoạt động cung ứng đầu ra, marketing và bán hàng, dịch vụ); các hoạt động bổ trợ (cơ sở hạ tầng của DN, quản trị nguồn nhân lực, phát triển công nghệ, mua sắm). Tuy nhiên, những khía cạnh nào đã được tác giả phân tích ở trên thì tác giả sẽ không nhắc lại ở đây. Đồng thời tác giả cũng chỉ phân tích những hoạt động phù hợp nhất với DN cung cấp dịch vụ.
3.3.1. Sản phẩm Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Dịch vụ của Viettel Internet mang lại cho khách hàng những lợi thế: công nghệ tiên tiến; tốc độ truy nhập cao, ổn định; tiết kiệm chi phí; thủ tục đăng ký nhanh và thuận tiện; hỗ trợ kỹ thuật 24/24 8
Các dịch vụ của Internet Viettel rất đa dạng bao gồm: dịch vụ truy nhập (ISP): ADSL, ADSL 2+, Leased line; dịch vụ đấu nối Internet (IXP): đấu nối quốc tế, đấu nối trong nước (kênh IP và kênh trắng); dịch vụ ứng dụng: dịch vụ GTGT thường, dịch vụ PC to Phone, dịch vụ phần mềm; dịch vụ mới; các dịch vụ ứng dụng mới: Video on demand, Video conference, Game, IPTV…
3.3.2. Phân tích marketing
Về khuyến mại
Internet Viettel đưa ra nhiều chương trình khuyến mại rầm rộ có tính hấp dẫn cao. Nội dung các chương trình chủ yếu tập trung xoay quanh việc giảm cước dịch vụ, miễn phí chi phí lắp đặt hoặc tặng tiền vào trong tài khoản.
Năm 2009, rải rác trong các tháng Internet Viettel luôn đưa ra các chương trình khuyến mại lớn với chi phí lên tới trên 3 tỷ đồng. Các chương trình khuyến mại như :
Chương trình dùng ADSL đón lộc đầu xuân với nội dung là miễn phí lắp đặt ban đầu, tặng 50.000đ mỗi tháng cho 3 khách hàng đầu tiên vào tài khoản, thời gian khuyến mại từ 10/1-05/02/2009 Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Từ ngày 01/01-28/02/2009 và 10/5-31/7/2009 khuyến mại dịch vụ Internet card với nội dung là tặng ngay 100% mệnh giá vào tài khoản + 5h truy nhập miễn phí mỗi ngày hay mua 1 được 3
Khuyến mại lớn đối với 3 dịch vụ là Leased line, IXP và ADSL
Với dịch vụ ADSL (từ ngày11/4-10/5/2009): giảm 50% phí lắp đặt ban đầu cho tất cả các gói dịch vụ ADSL, ADSL Home C, cafe. Như vậy cước lắp đặt đối với khách hàng kéo dây mới là: 715.000đ mức phí này còn rẻ hơn đối với khách hàng sử dụng trên điện thoại cố định Viettel là: 375.500đ
Với dịch vụ leased line, và IXP ( 10/4 – 31/05/2009): miễn phí lắp đặt hoà mạng cho khách hàng đăng ký mới (kênh nội hạt + cài đặt cổng), miễn phí cài đặt nâng băng thông, giảm 30% cước phí sử dụng 3 tháng đầu tiên (áp dụng cho khách hàng đăng ký tốc độ từ 128K trở lên và khách hàng nâng băng thông).
Chính sách giá
Quan điểm khi xây dựng chính sách giá của Internet Viettel là thực hiện chiến lược định giá vừa phải tương quan với các đối thủ cạnh tranh là VNPT và FPT, nhưng cũng phải linh hoạt theo tình hình thực tế của thị trường, định giá nhưng vẫn đảm bảo chất lượng của dịch vụ. Nhưng cũng như các nhà cung cấp khác việc định giá của Viettel vẫn phụ thuộc vào chính sách giá mà Bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra đây là một hạn chế rất lớn đối với các ISP Việt Nam
Công tác truyền thông phân phối
Cũng như VNPT, Viettel cũng sử dụng các kênh phân phối trung gian, qua các đại lý phát triển dịch vụ, các bưu điện của các tỉnh.
Về quảng cáo khuếch trương thương hiệu, việc truyền thông của Viettel vẫn còn rất hạn chế chủ yếu chỉ diễn ra thông qua các báo viết, báo điện tử, các băng rôn, postel. Năm 2008 chi phí cho công tác truyền thông khoảng 6,392 tỷ đồng, hình thức chủ yếu thông qua các loại báo như Hà Nội Mới, Tuổi Trẻ, PC World, Thể Thao Văn Hóa, Thời Báo Kinh Tế, Tin Học Đời Sống,…trên các trang web điện tử như www.vnexpress, www. tuoitre.com.vn, dantri.com.vn, thanhnien.com.vn, trên trang web của tổng Cty Viễn thông Quân đội khoảng 1% trong tổng chi phí quảng cáo khuyến mại, hình thức kém phong phú nên hình ảnh dịch vụ Internet của Viettel chưa được phổ biến.
Kế hoạch năm 2009 Viettel đã mở thêm các kênh truyền thông mới như quảng cáo trên truyền hình như trên kênh VTV1, VTV3 của Đài truyền hình Việt Nam, các đài truyền hình ở các thành phố lớn.
Về nghiên cứu thị trường
Công tác nghiên cứu thị trường của Internet Viettel không được thực hiện thường xuyên, thường chỉ diễn ra tập trung theo đợt, chi phí dành cho nghiên cứu thị trường cũng khá khiêm tốn, năm 2007 khoản chi phí này dự kiến khoảng 320 triệu đồng.
3.3.3. Phân tích dịch vụ Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
Do nhu cầu sử dụng Internet đang ngày càng cao, không chỉ có vậy hiện nay các dịch vụ giá trị gia tăng của Internet cũng ngày càng phát triển và sự giao tiếp quốc tế cũng tăng lên nhanh chóng. Vì vậy mà kết nối Internet băng rộng, ADSL là lựa chọn phổ biến nhất hiện nay không chỉ trên thế giới mà còn ở Việt Nam. Trong đó, chất lượng và sự ổn định, vùng phủ của dịch vụ Internet, ADSL tại Việt Nam được cung cấp bởi các ISP là tương đối khác nhau. Tuy nhiên, Viettel là một trong hai DN của Việt Nam có thể cung cấp được 64/64 tỉnh thành trên toàn quốc. Về mặt chất lượng, theo kết quả của đợt kiểm tra đột xuất chất lượng dịch vụ ADSL ngày 28/7/2007 của Cục quản lý chất lượng – Bộ Thông tin và Truyền thông, Viettel là đơn vị duy nhất có các chỉ tiêu chất lượng là phù hợp với các quy định về tiêu chuẩn chất lượng ngành TCN 68 – 227 : 2008. Trước đây, đa số khách hàng của Viettel thường phàn nàn về việc giải quyết các sự cố đứt cáp khá chậm, có khi đến hàng tuần, thậm chí có những khách hàng bực quá cắt luôn hợp đồng. Nhưng đến nay, một số khách hàng đang sử dụng dịch vụ Internet của Viettel đã nhận thấy sự thay đổi của DN, như: chất lượng dịch vụ ổn định, thời gian xử lý sự cố rút ngắn hơn.
Tuy nhiên, bộ phận phần đông khách hàng đã không hài lòng với chất lượng dịch vụ, cũng như công tác chăm sóc khách hàng. Tình trạng phản hồi và thời gian khắc phục khiếu nại của Viettel là không thỏa đáng. Khi khách hàng phản ánh chất lượng dịch vụ với Cty, điều mà khách hàng nhận được là những câu cảm ơn lịch sự, 53 những cuộc gọi liên hồi luân chuyển qua các cấp, các bộ phận, và rồi là những lời hứa hẹn suông. Do vậy, cho dù khách hàng đã được tiếp nhận khiếu nại vẫn phải chờ cả tuần để may ra, sẽ được khắc phục sự cố. Sự cố chất lượng mạng chập chờn, đứt đoạn, hay không thể truy cập vào các trang nước ngoài đến nay đã được cải thiện nhưng vẫn không đáng kể, đặc biệt vào những ngày thời tiết xấu. Khi có sự cố, khách hàng hỏi điện hỏi tổng đài chở giải quyết thì thủ tục rất phiền hà, hoặc nhân viên hỗ trợ giải đáp chưa thỏa đáng, và không có sự đồng nhất về câu trả lời. Tuy chất lượng dịch vụ, thời gian khắc phục sự cố, khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đáng kể. Do đó có thể thấy đây chính là một điểm yếu của Viettel trong việc khắc phục sự cố chất lượng dịch vụ cho khách hàng. Khóa luận: Khái quát phân tích SWOT tại Công ty Viettel
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng mô hình Swot tại tổng công ty Viettel

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Mô hình phân tích Swot tại tổng Công ty Viettel