Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023 hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023 và ảnh hưởng tới vấn đề an ninh tiền tệ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với các vận hội lớn để phát triển đất nước thì chúng ta cũng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro. Một trong những nguy cơ đó là vấn đề an ninh tiền tệ. An ninh tiền tệ có mối liên hệ chặt chẽ tới an ninh quốc gia. Một quốc gia hùng mạnh nhất thiết phải là một quốc gia có một thị trường tài chính tiền tệ lành mạnh. Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Có nhiều yếu tố quyết định vấn đề an ninh tiền tệ của một quốc gia trong đó không thể không kể đến vai trò của thị trường vàng. Là một kim loại quý, vàng là một loại tài sản tích lũy thông dụng. Cùng với giá trị tiền tệ, vàng ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế – chính trị – văn hóa của mỗi quốc gia. Việt Nam lại là một quốc gia có nền văn hóa gắn chặt với vàng, cầu về vàng của người dân không ngừng tăng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế.

Nước ta cũng có một số mỏ quặng vàng và mỏ vàng nhưng trữ lượng không lớn, chỉ đáp ứng được khoảng 5% nhu cầu của thị trường, 95% còn lại phải nhập khẩu. Quy mô và số lượng vàng nhập khẩu liên tục tăng trong những năm gần đây. Là một loại hàng hóa có giá trị cao, giá trị nhập khẩu vàng do đó cũng chiếm một phần không nhỏ trong giá trị nhập siêu của quốc gia.

Câu hỏi đặt ra ở đây là nhập khẩu vàng có liên quan như thế nào tới vấn đề an ninh tiền tệ của một quốc gia mà cụ thể là tình hình an ninh tiền tệ của Việt Nam? Đây là một vấn đề còn khá mới mẻ và chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống. Với đề tài khóa luận: “Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023 và ảnh hưởng tới vấn đề an ninh tiền tệ”, tôi mong có thể phần nào lý giải được mối quan hệ này và nêu ra một số khuyến nghị để nhập khẩu vàng nói riêng và thị trường vàng nói chung đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả, góp phần ổn định an ninh tiền tệ quốc gia.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Bài khóa luận nghiên cứu thực trạng nhập khẩu vàng của Việt Nam trong năm 2023 và ảnh hưởng của nó tới vấn đề an ninh tiền tệ quốc gia. Số liệu trong bài được trích dẫn từ các báo cáo tổng kết theo quý của Hiệp hội Vàng thế giới, NHNN Việt Nam và một số báo tạp chí trong và ngoài nước.

3. Mục đích nghiên cứu

Trong phạm vi bài khóa luận này, tôi xin phép không đi sâu vào đánh giá hiệu quả của việc nhập khẩu hay kinh doanh vàng mà nội dung bài khóa luận nghiêng về phân tích và đánh giá hiệu quả của các chính sách của nhà nước trong công tác quản lý việc nhập khẩu vàng và ảnh hưởng vĩ mô của nó tới nền kinh tế cụ thể là tới vấn đề an ninh tiền tệ. Từ đó rút ra một số khuyến nghị trong công tác quản lý nhập khẩu vàng và công tác điều hành thị trường vàng để vàng trở thành một kênh đầu tư an toàn, hiệu quả cao.

4. Tình hình nghiên cứu

Nhập khẩu vàng và ảnh hưởng của nó tới vấn đề an ninh tiền tệ là một vấn đề còn khá mới và những nghiên cứu có tính khoa học về vấn đề này còn khá hạn chế. Trên thực tế đã có những khóa luận, luận án thạc sỹ kinh tế, luận án tiến sỹ kinh tế về các vấn đề kinh doanh vàng hay vấn đề quản lý ngoại hối tại Việt Nam trong đó nhập khẩu vàng cũng là một nội dung được đề cập đến tuy còn khá sơ sài. Còn về vấn đề an ninh tiền tệ thì chủ yếu chỉ là những bài nghiên cứu nhỏ, chưa thành hệ thống. Tuy vậy, những công trình bài nghiên cứu đó rất hữu ích cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài : “Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023 và ảnh hưởng tới vấn đề an ninh tiền tệ”.

5. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Ngoài những phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học kinh tế chính trị, khóa luận còn sử dụng các phương pháp xử lý số liệu, phân tích đối chiếu, so sánh, kết hợp lý luận với thực tiễn … nhằn rút ra những vấn đề có tính khái quát và phổ biến.

6. Kết cấu đề tài

Ngoài lời nói đầu và kết luận, khóa luận có kết cấu ba chương:

Chương 1: Tổng quan về thị trường vàng và lý luận chung về vấn đề an ninh tiền tệ

Chương 2. Tình hình nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023 và ảnh hưởng tới vấn đề an ninh tiền tệ

Chương 3. Đề xuất các giải pháp xử lý mối quan hệ giữa nhập khẩu vàng và vấn đề an ninh tiền tệ

Đề tài là một vấn đề mới, phức tạp đặc biệt với một sinh viên như tôi vì trình độ hiểu biết còn hạn chế, kinh nghiệm của bản thân chưa có, việc thu thập và xử lí thông tin gấp và gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy nội dung bài viết còn nhiều vấn đề chưa được đề cập đầy đủ và còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, chỉ bảo của thầy cô và bạn bè về nội dung cũng như cách trình bày.

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, thạc sỹ Nguyễn Quang Hiệp đã giành thời gian đóng góp nhiều ý kiến quý báu, bổ sung cũng như chỉnh lí nội dung và hình thức giúp tôi hoàn thành khoá luận này.

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ VÀNG, THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ AN NINH TIỀN TỆ

1.1. Giới thiệu chung về vàng và thị trường vàng Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

1.1.1. Đặc điểm và giá trị của vàng

Từ xa xưa, kim loại đã phục vụ con người một cách tận tụy và trung thành. Kim loại có vai trò quan trọng trong cuộc sống cũng như góp phần tạo nên động lực phát triển cho con người. Vì vậy mà George Agrieola, nhà tư tưởng người Đức thế kỉ XVI, tác giả của nhiều công trình luyện kim đã khẳng định: “Con người sẽ không làm được gì nếu không có kim loại”.

Thế giới kim loại thật đa dạng, phong phú, hấp dẫn và chắc chắn trong tương lai, kim loại vẫn giữ vị trí hàng đầu như vẫn luôn là cơ sở của nền văn hóa vật chất của nhân loại.

Trong các kim loại thì vàng từ xa xưa đã được con người tôn vinh là: “Vua của các kim loại”, “Kim loại của các vua”. Lịch sử của vàng gắn liền với lịch sử nhiều nền văn minh nhân loại. Qua quá trình phát triển, con người đã đưa vàng từ vị trí một loại vật chất quý hiếm lên ngôi báu vật, có sức mạnh huyền bí. Vàng được coi là thước đo giá trị cho tất cả các loại hàng hóa khác.

Vậy vàng là gì? Sức mạnh của nó ở đâu? Để hiểu rõ về vàng, trước hết chúng ta cần nghiên cứu về nó dưới dạng một loại vật chất thuần túy.

1.1.1.1. Vàng là một kim loại quý Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Xét trên phương diện khoa học, vàng là một nguyên tố hoá học có kí hiệu Au (tên Latinh là Aurum), được xếp thứ 79 trong bảng tuần hoàn Mendeleep. Vàng là kim loại chuyển tiếp (hoá trị 3 và 1) mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàng không phản ứng với hầu hết các hoá chất. Kim loại này có ở dạng quặng hoặc hạt trong đá và trong các mỏ bồi tích.

Trong đời sống, từ xa xưa, vàng đã là một kim loại cao giá, được nhiều người hâm mộ, ước mơ. Nguyên nhân chủ yếu, có lẽ do vàng là một kim loại khan hiếm, lại có nhiều thuộc tính lý hóa và ngày càng có nhiều công dụng mới được phát hiện. Ai cũng biết rằng từ xa xưa, vàng đã được sử dụng để chế tạo các loại vật dụng, đồ trang sức, trang trí sang trọng. Màu vàng tượng trưng cho sự phồn thịnh, cao sang. Các nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ và cả Việt Nam, vàng lại càng được ưa chuộng hơn.

1.1.1.2. Vàng là một kim loại không có quá nhiều nhưng cũng không quá hiếm

Loài người biết đến vàng và khai thác nó từ bao giờ chưa ai biết đích xác, nhưng hầu hết mọi dân tộc đều biết đến vàng vì sự có mặt của nó trên khắp thế giới. Cho tới nay, quốc gia nào cũng cố gắng thăm dò, tìm kiế m và khai thác thứ tài nguyên kim loại quý này. Những tài liệu thống kê của Tạp chí vàng thế giới năm 2000 cho thấy hầu như lục địa nào cũng có vàng, tuy mức độ tập trung phân tán có khác nhau, trữ lượng cũng có sự cách biệt rất lớn.

Trong thiên nhiên, vàng tồn tại như một thành phần của vỏ trái đất, được phân bổ khắp nơi, trên mặt đất, trong lòng đất và cả trong nước biển. Do vậy việc tìm ra một mỏ vàng với một nhà địa chất giàu kinh nghiệm là không khó, nhưng sẽ là rất khó để tìm ra một mỏ vàng có trữ lượng lớn trên 100 tấn vàng. Các nhà kinh tế Mỹ đã tính rằng, cứ 1000 mỏ vàng được tìm thấy thì mới có một mỏ vàng có trữ lượng lớn. Nói tìm vàng vừa dễ lại vừa khó là như vậy.

Hiện nay, mỏ vàng có quy mô khai thác, trữ lượng, hàm lượng vàng lớn nhất là mỏ Eezsteling của Nam Phi, trữ lượng ước tính khoảng 3,3 triệu tấn, hàm lượng vàng 5,7gr/tấn quặng. Còn vàng đang được khai thác ở độ sâu nhất trong lòng đất là ở mỏ vàng Gold Strike, nằm ở bang Nevada, miền tây Hoa Kỳ. Người ta gọi đó là mạch vàng của thế kỷ, chứa 900 tấn vàng, nằm sâu 400m dưới lòng đất.

Trong nước biển, các nhà địa chất cho biết cũng chứa vàng, nhưng hàm lượng vàng rất ít, 1m3 nước biển chứa khoảng 0,05mgr vàng. Trữ lượng vàng trong đại dương ước tính khoảng 3 tỷ tấn nhưng công nghệ hiện nay chưa đáp ứng được việc khai thác, hơn nữa chi phí “đãi nước tìm vàng” như thế này rõ ràng là quá cao.

Trong lịch sử nhân loại, ước tính khoảng 116,746 tấn vàng đã được khai thác. Các khu vực khai thác chính là Nam Phi 43.989 tấn, Liên bang Nga khoảng 16.679 tấn, Mỹ khoảng 5.570 tấn, Australia 7.169 tấn, Brazil 2482 tấn và Colombia 2.086 tấn.2

1.1.1.3. Giá trị của vàng Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Từ những thuộc tính vốn có, vàng đã sớm có ích cho con người về nhiều mặt. Nó đã lần lượt thỏa mãn những nhu cầu từ đơn giản đến phức tạp trong đời sống con người với tư cách là vật phẩm tiêu dùng, tư liệu sinh hoạt hoặc là vật biểu thị cho một ước lệ chung: tiền tệ.

Đầu tiên, cùng với sự phát hiện ra vàng, con người đã thông qua lao động làm cho vàng trở thành hữu ích dưới dạng các trang sức cho bản thân. Ngoài ra, vàng còn được sử dụng rộng rãi làm các đồ tế tự, đúc các bức tượng thần linh. Dần dần, nghề thủ công mỹ nghệ kim hoàn đã hình thành và phát triển, phục vụ cho nhu cầu làm đẹp, tôn giáo và biểu thị quyền lực của con người như đồ dùng hàng ngày, đồ trang sức, các công trình mỹ thuật, điêu khắc, kiến trúc.

Dùng vàng làm đồ trang sức, trang trí là một trong những mục đích sử dụng đầu tiên trong sử dụng vàng của con người. Đồng tiền vàng đầu tiên ra đời vào thế kỷ thứ IX trước công nguyên dưới triều đại vua Gyges ở Lydie (Ai Cập). Cung điện Babylon nổi tiếng trong lịch sử cũng được trang hoàng rực rỡ: lối đi lát cẩm thạch, cánh cửa dát vàng, bọc đồng và nạm kim cương. Chùa Vàng nổi tiếng ở gần Bangkok (Thái Lan) cũng có một bức tượng đúc bằng vàng khối, nặng 5,5 tấn.

Bên cạnh các giá trị truyền thống, ngày càng có nhiều công dụng mới của vàng được phát hiện và ứng dụng trong các ngành công nghiệp mới. Vàng nguyên chất quá mềm không thể dùng cho việc thông thường nên chúng thường được làm cứng bằng cách tạo hợp kim với bạc, đồng và các kim loại khác. Vàng và hợp kim của nó thường được dùng nhiều nhất trong ngành trang sức, tiền kim loại và là một chuẩn cho trao đổi tiền tệ ở nhiều nước. Vì tính dẫn điện tuyệt vời, tính kháng ăn mòn và các kết hợp lí tính và hóa tính mong muốn khác, vàng trở nên nổi bật từ cuối thế kỉ 20 như là một kim loại công nghiệp thiết yếu. Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Một số ứng dụng mới của vàng:

  • Vàng có thể được làm thành sợi và dùng trong ngành thêu.
  • Vàng thực hiện các chức năng quan trọng trong máy tính, thiết bị thông tin liên lạc, đầu máy máy bay phản lực, tàu không gian và nhiều sản phẩm khác.
  • Tính dẫn điện cao và đề kháng với ôxi hoá của vàng khiến nó được sử dụng rộng rãi để mạ bề mặt các đầu nối điện, bảo đảm tiếp xúc tốt và trở kháng thấp.
  • Vàng được dùng trong nha khoa phục hồi, đặc biệt trong phục hồi răng như thân răng và cầu răng giả.
  • Vàng keo (hạt nano vàng) là dung dịch đậm màu hiện đang được nghiên cứu trong nhiều phòng thí nghiệm y học, sinh học…. Nó cũng là dạng được dùng làm nước sơn vàng lên đồ gốm trước khi nung.
  • Axít clorauric được dùng trong chụp ảnh để xử lí ảnh bạc.
  • Aurothiomalat dinatri dùng để điều trị viêm khớp dạng thấp.
  • Đồng vị vàng Au, (chu kỳ bán rã: 2,7 ngày) được dùng điều trị một số dạng ung thư và một số bệnh khác.
  • Vàng được dùng để tạo lớp áo phủ, giúp cho các vật chất sinh học có thể xem được dưới kính hiển vi điện tử quét.

Ngoài giá trị sử dụng kể trên, với tính chất quý hiếm của mình, vàng còn có giá trị tiền tệ. Trước khi trở thành tiền tệ, vàng cũng chỉ là một loại hàng hóa quý hiếm. Vàng chỉ thật sự có vai trò quan trọng trong đời sống con người khi vàng mang hình thái tiền tệ. Vì lúc đó, vàng có thể trực tiếp chuyển đổi thành bất cứ hàng hóa nào. Đây mới là động lực thúc đẩy con người không ngừng tìm kiếm, khai thác, chế tác và tích trữ vàng nhằm sử dụng vàng trên khía cạnh tiền tệ nhiều hơn là trên khía cạnh giá trị sử dụng.

Vàng được sử dụng như một loại tài sản tài chính, mức độ sử dụng của nó đạt kỷ lục vào thế kỉ thứ 19. Khi đó các khoản thanh toán quốc tế trên cơ sở vàng đã được thực hiện mà hầu như không gặp bất kì trở ngại nào. Nhưng Đại chiến thế giới lần thứ Nhất, rồi Đại chiến thế giới Hai và tình hình thế giới mới đã làm thay đổi căn bản tình hình này. Khả năng chuyển đổi bên trong của vàng đã bị hủy bỏ. Mọi nỗ lực quay lại sự ổn định trước đây đều thất bại. Ngày nay, vàng không còn giá trị tiền tệ trực tiếp, nhưng vẫn là một vật đảm bảo giá trị số một trên thế giới, là “vịnh tránh bão” trong điều kiện lạm phát, khủng hoảng hay suy thoái kinh tế. Thị trường vàng cùng với thị trường dầu mỏ, thị trường chứng khoán và thị trường ngoại hối là những thị trường quan trọng góp phần ổn định các vấn đề an ninh, tài chính, tiền tệ của một quốc gia.

1.1.2. Sơ lược về thị trường vàng thế giới

Trong nền kinh tế, vàng là một loại hàng hóa đặc biệt nên thị trường vàng cũng là một thị trường đặc biệt. Nó mang sắc thái riêng biệt, chịu nhiều nhân tố tác động và ngược lại, nó cũng tác động sâu rộng tới nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế khác. Giá vàng thế giới cũng như giá vàng trong nước thường được xem như một loại phong vũ biểu kinh tế. Những vấn đề phức tạp xung quanh giá vàng luôn luôn là một ẩn số đối với những người đã từng bận tâm về nó. Vì thế, một nhận thức đúng đắn về vàng là cần thiết khi thực hiện bất kỳ một hành vi kinh tế nào.

1.1.2.1. Sự hình thành thị trường vàng thế giới Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Bản vị vàng

Nói đến sự hình thành của thị trường vàng chúng ta có thể bắt đầu từ chế độ bản vị vàng. Chế độ bản vị vàng là chế độ tiền tệ ổn định nhất của TBCN, dùng kim loại vàng làm cơ sở vật ngang giá, xuất hiện năm 1870 ở Anh và nhanh chóng lan ra các nước phương Tây.

Một quốc gia theo chế độ bản vị vàng sẽ

  • Tuyên bố đơn vị tiền tệ của nước mình tương đương với một trọng lượng vàng được quy định nào đó.
  • Sẵn sàng nhận mua và bán vàng tự do, không hạn chế với bất cứ ai theo giá đã công bố, không có chênh lệch giữa giá mua và giá bán (tức nhà nước chấp nhận tự do chuyển đổi giữa tiền giấy và vàng).
  • Không hạn chế việc nhập khẩu và xuất khẩu vàng.

Khi hai quốc gia cùng theo chế độ bản vị vàng thì lúc đó chế độ này sẽ định ra một “đồng giá vàng” hoặc một hối suất cố định giữa hai nước. Người ta gọi đó là Hối suất cố định dưới chế độ bản vị vàng (Gold standard).

Ví dụ: Vào một thời điểm nào đó, 1 đôla Mỹ tương đương 1/35 ounce vàng, 1 bảng Anh tương đương 3/35 ounce vàng. Lúc đó, một bảng Anh “nặng” gấp ba lần một đôla Mỹ. Hối suất quy đổi là 3 USD đổi 1 GBP.

Thế ổn định này được giữ tương đối vững cho đến năm 1914 khi chiến tranh thế giới thứ Nhất bùng nổ. Trong thời kỳ chiến tranh các nước tham chiến đã mất khá nhiều vàng dự trữ để trang trải các chi phí. Tình thế đó buộc các chính phủ các nước phải ban hành lệnh cưỡng bách ban hành tiền giấy, tức là không cho đổi tiền giấy ra vàng nữa.

Kể từ sau khi chế độ bản vị vàng sụp đổ, thế giới bắt đầu bước sang giai đoạn mới: đồng tiền không mang giá trị thực chất của vật liệu làm ra nó nữa.

Bản vị vàng thoi hay Bản vị vàng hối đoái (Gold Bar Standard)

Còn gọi là chế độ Bản vị Sterling lấy đồng Bảng Anh làm tiêu chuẩn. Không cho đổi trực tiếp tiền giấy sang vàng nên người ta gọi đây là hình thức Bản vị vàng gián tiếp. Chỉ có đồng Bảng Anh và đồng Dollar Mỹ mới có thể đổi trực tiếp sang vàng và phải đổi với số lượng lớn.

Theo các nhà nghiên cứu thì đây là bước lùi của hệ thống tiền tệ TBCN: sự liên kết giữa vàng và tiền giấy đã trở nên lỏng lẻo, trong chế độ bản vị vàng gián tiếp người ta thấy sự xuất hiện của hiện tượng lạm phát.

Năm 1931 chế độ bản vị vàng thoi sụp đổ do đồng Bảng Anh bị phá giá. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 làm cho hệ thống bản vị vàng dưới mọi hình thức ở Châu Âu và Mỹ sụp đổ.

Bản vị Dollar Mỹ (Dollar Standard)

Được thiết lập sau Chiến tranh thế giới lần thứ II ở Bretton Wood. Tại hội nghị Bretton Wood diễn ra vào tháng 7/1944 với 44 nước tham dự (có cả Liên Xô cũ) đã thống nhất thông qua hệ thống tiền tệ Bretton Wood dùng đồng Dollar Mỹ làm tiêu chuẩn tiền tệ của thế giới. Cũng tại hội nghị này tổ chức IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) và WB (Ngân hàng thế giới) được thành lập. Kể từ đó đồng USD được coi là cầu nối giữa vàng và toàn bộ hệ thống tiền tệ thế giới.

Bản vị Dollar Mỹ thực chất cũng là bản vị vàng gián tiếp: chỉ có các NHTW của các nước mới có quyền đổi trực tiếp từ tiền giấy sang vàng, và chỉ cho phép đổi tiền thuộc lĩnh vực ngoại thương.

Vì là bản vị vàng gián tiếp nên có hiện tượng lạm phát, để giữ giá vàng ổn định Mỹ đã nỗ lực rất hiều nhưng cuối cùng đành phải phá giá Dollar vào tháng 8 năm 1971 và ngừng không cho đổi trực tiếp tiền sang vàng nữa. Do đó hệ thống tiền tệ Bretton Wood đã sụp đổ. Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Bản vị SDR hay Bản vị tiền vàng (SDR Standard)

Là sáng kiến của tổ chức IMF vào năm 1970 gọi là quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Right – SDR). SDR giúp các nước hội viên của IMF có thêm một phương tiện thanh toán quốc tế mà không cần dùng đến dự trữ vàng hay ngoại hối.

SDR không phải là tiền mặt mà thực chất là sổ kế toán ghi các khoản nợ có của mỗi hội viên. 1 lượng SDR = 0.8888671 g vàng nhưng chỉ tồn tại trên sổ sách nên gọi là bản vị tiền vàng. Cứ 5 năm IMF họp một lần để quyết định phần trăm đóng góp quỹ của các nước hội viên. Việt Nam đã là thành viên của IMF từ ngày 21 tháng 9 năm 1956.

Nguyên tắc hoạt động của “sổ” SDR: Quốc gia A thâm hụt cán cân ngoại thương với quốc gia B, nếu A và B đều là thành viên của IMF thì A không phải trả tiền trực tiếp cho B mà tài khoản SDR của A sẽ bị trừ đi khoản thâm hụt đó (ghi bên có) và sẽ chuyển sang sổ SDR của B (ghi bên nợ) tại IMF.

Các nước hội viên thanh toán nợ nần trong ngoại thương và cũng chỉ trong lĩnh vực ngoại thương mới được phép dùng sổ SDR để thanh toán thông qua SDR trên sổ sách của IMF. IMF ngoài vai trò trung tâm thanh toán quốc tế còn đóng vai trò trung tâm tín dụng quốc tế bằng cách làm chủ nợ của những nước thiếu hụt và làm con nợ của những nước dư thừa trong cán cân thanh toán.

Bản vị tiền giấy (Currency Standard)

Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều dùng chế độ bản vị tiền giấy (trong đó có Việt Nam), đây là chế độ phát hành và lưu thông tiền giấy theo Pháp luật của mỗi nước (tiền giấy ở đây bao hàm tiền làm bằng kim loại và tiền làm bằng giấy).

Trong chế độ bản vị tiền giấy, tiền không đổi trực tiếp sang vàng được nên có thể nói tiến giấy và vàng không có mối quan hệ gì, tiền tệ không còn là dấu hiệu của vàng nữa. Vàng chỉ là một loại hàng hóa đắt tiền mà thôi. Tiền giấy là phương tiện lưu thông bắt buộc do tín nhiệm Chính Phủ mà công dân lấy tiền giấy làm phương tiện thanh toán, cất trữ…

Như vậy, theo thời gian vàng đã tách khỏi thế giới tiền tệ. Nhưng 35.500 tấn vàng không mất đi đâu. Nó chỉ thay đổi trật tự phân bổ về phương diện dự trữ với chức năng là một loại “tài sản có” quan trọng nhất biểu thị phần nào trật tự kinh tế mới giữa các nước. Hiện nay, vàng tồn tại dưới hai hình thức: vàng khối tự do được mua bán tự do trên thị trường và theo giá thị trường. Những người nắm giữ vàng theo dạng này có thể là người dân, người kinh doanh, nhà đầu cơ chuyên nghiệp, doanh nghiệp kim hoàn hay các nhà công nghiệp nắm giữ vàng với vai trò là một loại nguyên liệu thuần túy … Với mức độ khác nhau các chủ thể trên đều có thể tham gia tác động vào giá vàng trên thị trường tự do và cũng bị tác động trở lại theo những chiều hướng khác nhau. Nghiên cứu về động thái (behaviour) và phương thức hoạt động của họ sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn một số nguyên nhân là giá vàng biến động.

Dạng tồn tại thứ hai của vàng trong xã hội hiện đại chính là dước dạng các thỏi vàng dự trữ. Chủ nhân của những khối vàng này chỉ gồm một số ít đối tượng đặc biệt. Đó là các NHTW và các cơ quan tiền tệ, tổ chức tài chính quốc tế ví như IMF. Những nơi này vẫn tiếp tục giữ vàng – tiền tệ như là một phần dự trữ của các “liên minh” bao gồm các đồng tiền trong và ngoài nước và các chứng từ có giá khác. Đôi khi, vì sức ép giải quyết mất cân đối trong thanh toán quốc tế, hoặc chỉ đơn giản để thay đổi cơ cấu dự trữ quốc gia theo từng thời kỳ mà các nước phải bán, cầm cố hoặc mua vào một phần quỹ dự trữ của mình. Các NHTW thường có khuynh hướng tăng thêm quỹ vàng dự trữ thông qua thị trường tự do hoặc thông qua các thỏa thuận song phương giữa các NHTW. Ngược lại, các tổ chức tiền tệ, tài chính quốc tế phải giữ một thái độ thụ động vì điều lệ các cơ quan đó chỉ cho phép hoạt động hạn chế với vàng, bất kỳ quyết định bán ra hay mua vàng vào đều cần sự nhất trí của đại đa số các thành viên.

1.1.2.1. Các nhân tố ảnh hưởng tới giá vàng thế giới Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Cung vàng trên thế giới

Có hai nguồn cung vàng chủ yếu cho thị trường vàng thế giới.

Thứ nhất, nguồn cung vàng chủ yếu cho thị trường là từ nguồn khai thác.

Bảng 1.1. Nguồn cung vàng quý 3 năm 2023

Nguồn cung vàng do khai thác liên tục giảm trong các năm vừa qua. Theo báo cáo của Hiệp hội vàng thế giới, sản lượng vàng khai thác của toàn thế giới trong những năm vừa qua liên tục giảm nhưng mức độ giảm sản lượng đang ngày càng nhỏ hơn. Nếu so sánh sản lượng khai thác quý 3 năm 2023 với sản lượng của quý 4 năm 2007 thì sản lượng vàng khai thác được đã giảm 1%, khoảng 368 tấn. Sản lượng khai thác tại một số quốc gia khai thác vàng lớn trên thế giới liên tục giảm tiêu biểu nhất là Nam Phi. Sản lượng khai thác tại Indonesia, Australia và Mỹ cũng sụt giảm. Bù đắp cho sự sụt giảm này là sự gia tăng sản lượng tại các quốc gia như Trung Quốc, các nước châu Mỹ Latinh đặc biệt là Peru.

Hình 1.1. Sự suy giảm sản lượng vàng khai thác qua các quý, từ quý 1 năm 2006 đến quý 3 năm 2023.

Năm 2023, Trung Quốc đã vượt qua Nam Phi trở thành nước sản xuất vàng lớn nhất thế giới. Trong hơn 120 năm qua, Nam Phi luôn đứng đầu thế giới về sản lượng khai thác vàng nhưng trong 10 năm qua tốc độ đã giảm nhiều, từ chỗ chiếm 70% sản lượng thế giới năm 1970 xuống còn 20% năm 1997 và 11,8% năm 2006. Không những vượt qua về sản lượng khai thác, Trung Quốc còn mới phát hiện thêm 5 mỏ vàng có trữ lượng đáng kể. Hiện trữ lượng vàng của Trung Quốc khoảng 15.000 đến 20.000 tấn. Năm 2023, Trung Quốc có khả năng sản xuất được 300 tấn vàng, bốn tháng đầu năm sản lượng đã đạt 84,039 tấn. Với sản lượng vàng ngày càng tăng dần và công nghệ ngày càng tốt hơn, Trung Quốc sẽ vượt qua Nam Phi để trở thành quốc gia sản xuất vàng lớn nhất trên thế giới. Sản lượng vàng của Trung Quốc đã tăng 34,84% trong 5 năm qua.

Năm 2007, sản lượng tiêu thụ ở Trung Quốc cũng tăng 23%, biến Trung Quốc thành thị trường tiêu thụ vàng thứ hai thế giới sau Ấn Độ. Sản lượng vàng tiêu thụ ở Ấn Độ giảm 50% trong khi Trung Quốc tăng 15% (112,1 tấn), Ai Cập là 15%, Nga 9% và đặc biệt tại Việt Nam với 71% (35 tấn)3. Giới khai thác và kinh doanh vàng hy vọng khi có thêm nguồn sản xuất sẽ làm giá vàng hạ và kéo nhu cầu tiêu thụ tăng trở lại. Ấn Độ là nước tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới, khoảng 722 tấn/năm tăng 7% trong năm 2007, Mỹ đứng thứ 3 với 278 tấn (giảm 18%), thị trường Italia và Anh cũng sụt giảm, năm 2007 theo WGC cho thấy doanh số bán vàng trang sức của Trung Quốc đạt mức cao kỷ lục tăng 34% lên 302,2 tấn trở thành nước tiêu thụ đứng thứ 2 thế giới.

Ngoài số vàng khai thác mới, một nguồn cung nữa cho thị trường vàng thế giới chính là vàng trong dự trữ ngoại hối của của các NHTW và các định chế tài chính trên thế giới.

Cho đến đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, dự trữ vàng của các NHTW và các định chế tài chính trên thế giới hầu như không có sự thay đổi lớn nào. Song, với sự thay đổi của hệ thống tiền tệ thế giới, cơ cấu dự trữ của các NHTW cũng bắt đầu có sự thay đổi. Việc hình thành Liên minh tiền tệ và đồng tiền chung châu Âu (Euro) vào ngày 01/01/1999 là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới dự trữ vàng của các NHTW. Tổng dự trữ ngoại hối của các nước thành viên khu vực đồng Euro đã vượt quá nhu cầu cần thiết, bởi vì trước đây, vàng được sử dụng để duy trì tỷ giá đồng tiền quốc gia theo khuôn khổ cơ chế tỷ giá (ERM), nhưng lúc này, sự can thiệp như vậy là không cần thiết nữa. Các NHTW của châu Âu đã bắt đầu “chia tay” với các khoản dự trữ vàng của mình và điều đó có tác động trực tiếp tới thị trường vàng.

Vàng là một trong những tài sản trong danh mục dự trữ ngoại hối của quốc gia. Thông thường, các nước dự trữ bằng USD, trong trường hợp USD có xu hướng mất giá, thì các NHTW sẽ có động thái xem xét khả năng nâng dự trữ vàng bằng cách bán USD để chuyển sang vàng. Điều này tác động đến cầu vàng, khiến giá vàng thế giới tăng cao. Trong trường hợp ngược lại, các NHTW sẽ xem xét khả năng bán vàng và tăng dự trữ USD. Điều này sẽ tác động tăng cung vàng, khiến giá vàng có xu hướng giảm.

Theo tính toán của các chuyên gia, trong quỹ dự trữ ngoại hối của NHTW các nước công nghiệp phát triển hiện có khoảng 30.000 tấn vàng được cất trữ từ khi vàng còn được sử dụng để đảm bảo giá trị cho đồng tiền đang lưu hành. Chỉ riêng 3.443 tấn vàng dự trữ của Đức (theo Hiệp hội vàng thế giới – Tháng 12-2023) cũng đã lớn hơn sản lượng vàng hàng năm của toàn thế giới. Nguồn dự trữ vàng của các quốc gia lớn như vậy đã giúp cân bằng giá vàng trên thị trường. Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Việc dự trữ vàng của các NHTW trên thế giới hiện nay vẫn có sự phân chia theo khu vực. Các NHTW châu Á tiếp tục giữ rất ít hoặc không giữ vàng trong cơ cấu dự trữ quốc gia. Trong khi đó, các NHTW châu Âu, hiện vẫn đang nắm giữ một khối lượng lớn dự trữ quốc gia bằng vàng, đang tiếp tục có xu hướng giảm tỷ trọng vàng trong cơ cấu dự trữ quốc gia. Họ là những người bán vàng trong cơ cấu dự trữ quốc gia lớn nhất. Theo thỏa thuận về vàng lần 2 – Central Bank Gold Agreement 2 – CBGA2 của 15 NHTW lớn nhất trên thế giới, sản lượng vàng tối đa các NHTW này bán ra thị trường mỗi năm là không quá 500 tấn. Thỏa thuận này kéo dài 5 năm. Trong năm thứ 4 của thỏa thuận, tính tới ngày 27/09/2023 các NHTW tham gia kí thỏa thuận mới chỉ bán 358 tấn trong số 500 tấn của năm. Đây là con số bán ra thấp nhất kể từ khi CBGA được kí kết lần đầu tiên năm 1999. Tính đến cuối năm 2023 (số lượng được thông báo ngày 09/01/2009) các NHTW đã bán thêm 48 tấn vàng, tổng số vàng được các NHTW lớn bán ra trong năm 2023 là khoảng 406 tấn. Những NHTW bán nhiều vàng nhất trong năm là NHTW Pháp (20 tấn), NHTW Hà Lan (8 tấn).

Hình 1.2. Sản lượng vàng bán ra của các NHTW theo CBGA2 qua các năm từ 2004 đến 2023.

Cầu vàng trên thế giới

Chúng ta cần phân biệt vàng nguyên liệu dùng để chế biến ra sản phâm hàng hóa và vàng – tiền tệ dùng như một phương tiện đầu cơ tích trữ. Ngoài ra, có một số lớn vàng vừa là nguyên liệu vừa mang tính chất dự trữ (như vàng trong công nghiệp kim hoàn). Dạng vàng này thường tập trung ở các nước Trung Đông, Đông Nam Á và Ấn Độ. Mặt khác, các khu vực công nghiệp có nhu cầu sử dụng vàng nguyên liệu có thể cung ứng lại theo hình thức tái chế. Đối với vàng – tiền tệ, mức cầu thuần túy đáp ứng dự trữ vàng cũng rất khó xác định, vì nó bị chi phối bới mức tăng giảm dự trữ tùy theo sự biến đổi của giá vàng tính bằng bản tệ và tình hình hối đoái.

Nhu cầu của khu vực kim hoàn

Khu vực kim hoàn là nguồn tiêu thụ chủ yếu trên thị trường vàng, hàng năm tiêu thụ từ ½ đến ¾ sản lượng khai thác của các hầm mỏ. Mức cầu hàng năm của khu vực này đã tăng dần trong những năm gần đây. Mức cầu thuần tùy của khu vực kim hoàn cũng biến động tùy thuộc giá vàng tính theo đồng bản tệ của nước tiêu thụ. Trong những năm vàng tăng giá, nhu cầu đeo vàng nữ trang cũng thường tăng lên, nhất là tại các nước đang phát triển. Ngược lại, việc sản xuất vàng nữ trang tại các nước phát triển là khá ổn định. Từ đó cho thấy việc mua sắm nữ trang với mỗi nước lại có một ý nghĩa khác nhau.

Hình 1.3. Nhu cầu vàng của ngành kim hoàn theo các nước (tấn, quý 3 năm 2023 so với quý 3 năm 2007, % thay đổi)

Mức cầu của các ngành công nghiệp có sử dụng vàng

Nhu cầu về vàng trong các ngành công nghiệp không có nhiều biến động lớn và đang có xu hướng giảm đi, tuy rất nhỏ. Hai ngành công nghiệp sử dụng nhiều vàng nhất hiện nay là công nghiệp điện – điện tử và ngành nha khoa. Nhu cầu vàng trong ngành điện – điện tử tập trung chủ yếu tại các nước phát triển, trong đó nước có số cầu lớn nhất là Nhật Bản. Nhưng nếu so sánh với nhu cầu năm 2023, thì số cầu về vàng của Nhật đã giảm 15% do sự sụt giảm sản lượng các các nhà máy do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Nhu cầu về vàng trong ngành nha khoa cũng liên tục giảm trong các năm vừa qua do sự thay đổi sở thích của người tiêu dùng và việc khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, con người ngày càng tìm ra nhiều các nguyên liệu mới đáp ứng được những yêu cầu của cả ngành nha khoa và của người tiêu dùng. Số cầu về vàng của ngành nha khoa năm 2023 ước tính đã giảm 11% so với năm 2007.

Hình 1.4. Nhu cầu vàng trong các ngành công nghiệp (tấn) (ngành điện – điện tử, ngành khác và nha khoa) (tính từ quý 1 năm 2006 đến quý 3 năm 2023)

Mức cầu của các NHTW

Các nước công nghiệp mới, các nước có nền kinh tế cất cánh, có thặng dư ngoại tệ như Đài Loan, Ấn Độ thường cất trữ vàng. Trong những năm gần đây, Liên bang Nga cũng liên tục mua thêm vàng dự trữ. Trung Quốc cũng tuyên bố sẽ nâng mức dự trữ vàng của mình lên khoảng 2000 tấn so với con số 600 tấn hiện nay.

Mức cầu về đầu cơ và đầu tư

Bảng 1.2. Cầu về vàng (quý 3 năm 2023 so với quý 4 năm 2007)

Nhìn vào bảng trên ta thấy, nhu cầu về vàng cho đầu tư chính là khu vực có mức độ tăng trưởng cao nhất (20%), so với khu vực kim hoàn (2%) và các ngành công nghiệp và nha khoa (giảm 3%).

Có thể nhận thấy nhu cầu vàng cho đầu tư của Mỹ và các nước châu Âu đã tăng mạnh trong quý 3 năm 2023. Trong đó, đầu tư vàng theo hình thức ETFs có mức độ tăng trưởng mạnh nhất. Gold Exchange Traded Fund (ETFs), một hình thức đầu tư vàng – chứng khoán được đảm bảo 100% bằng vàng vật chất phát triển mạnh. Đỉnh cao của hình thức đầu tư này là vào nửa sau của tháng 9/2023 do Ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ và lo ngại về hiệu ứng Domino đối với ngành ngân hàng thế giới.

Hình 1.5. Nhu cầu vàng cho đầu tư của Mỹ và châu Âu và diễn biến giá vàng từ quý 1 năm 2005 đến quý 3 năm 2023

1.1.2.3. Một số yếu tố tác động đến giá vàng Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Các yếu tố có thể kể ra ở đây như giá dollar Mỹ, giá dầu, giá chứng khoán, giá các hàng hóa khác hay là các chính sách tài chính tiền tệ của nhà nước. Chúng có tác động qua lại tới giá vàng. Chúng không làm thay đổi cơ bản mức giá vàng đã xác lập theo các yếu tố nội tại của thị trường vàng (cung và cầu), nhưng lại có thể là nguyên nhân làm giá vàng biến động, tăng lên giảm xuống trong một biên độ nào đó. Ngược lại, các yếu tố này cũng chịu tác động của giá vàng khi nó biến động. Trong điều kiện có hạn, tôi chỉ xin được đi sâu vào hai yếu tố là dollar Mỹ và các chính sách của chính phủ là hai yếu tố có tác động trực tiếp và sâu sắc nhất đến giá vàng.

Quan hệ giữa giá vàng và dollar (đôla) Mỹ

Thông thường, việc dollar Mỹ lên giá so với các đồng tiền mạnh khác sẽ đi đôi với hiện tượng giảm giá vàng.

Từ lâu, vàng với vai trò đặc biệt trong hệ thống tiền tệ quốc tế, được xem là một phương tiện chủ yếu trong việc đầu cơ và chống lại đồng dollar. Từ đó mà tạo ra một thông lệ trong giới đầu tư: sự tăng giá ở thị trường này (vàng hay dollar) sẽ tự động tạo áp lực giảm giá ở thị trường kia.

Ngay cả khi vai trò tiền tệ của vàng đã suy giảm thì thực tế là vàng vẫn là một giá trị trú ẩn khi tài sản là dollar có nguy cơ bị mất giá. Trong một chừng mực nào đó, người ta vẫn dùng hối suất thả nổi giữa dollar với các đồng tiền mạnh khác như một tỷ số kinh tế để ra quyết định đầu tư hay đầu cơ vàng.

Mọi giao dịch trên thị trường mua bán vàng đều dùng đơn vị USD/ounce để tính giá vàng. Như vậy, tỷ giá hối đoái giữa USD và đồng bản tệ sẽ xác định trực tiếp giá vàng tính theo bản tệ của nước đó. Do đó, tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng đến các quyết định mua và bán vàng của các các nhà đầu tư, đầu cơ trong nước.

Tuy nhiên, không phải lúc nào giá vàng và đô la Mỹ cũng biến động theo thông lệ. Ngoài ra, trong sự biến đổi ngược chiều hoặc cùng chiều,sự biến động tăng giảm giá vàng không cùng thời điểm và không cùng tỷ lệ biến động của đô la Mỹ. Bởi lẽ tự thân giá vàng hay giá đô la Mỹ còn chịu sự tác động đồng thời của nhiều yếu tố khác.

Quan hệ giữa giá vàng với các chính sách của nhà nước

Ngoài các chủ trương, chính sách của Nhà nước về kinh tế, chính trị có thể ảnh hưởng gián tiếp tới giá vàng, người ta còn ghi nhận những thay đổi trong chủ trương của nhà nước về quyền cất trữ vàng, kinh doanh vàng và các chính sách thuế với vàng là các nhân tố tác động trực tiếp tới giá vàng.

Thứ nhất, phương diện pháp lý của việc cất trữ và kinh doanh vàng

Bảng 1.3. Các quy định về cất giữ và kinh doanh vàng

Bảng trên cho thấy, mọi biện pháp quản lý từ thả lỏng hay thắt chặt đối với vàng đều đang được các nước áp dụng, từ những quy định tương đối thoáng, chỉ ở mức độ kiểm soát hoạt động xuất – nhập khẩu vàng vào lãnh thổ cho đến các biện pháp gắt gao như cấm tư nhân cất trữ vàng dưới bất kỳ hình thức nào khác ngoài nữ trang và đồ mỹ nghệ, nhà nước nắm độc quyền trong ngoại thương về vàng.

Hậu quả của các chính sách thắt chặt đều giống nhau ở khắp mọi nơi: mức cung không đủ cho mức cầu về vàng của khu vực tư nhân, mức chênh lệch giữa giá vàng nội địa và giá vàng thế giới tất yếu dẫn đến các hoạt động buôn lậu vàng phát triển.

Vì thế hiện nay, các nước tuy không còn sử dụng các biện pháp cứng rắn nhưng cũng đều đặt vàng trong tầm kiểm soát của nhà nước với những mức độ quản lý khác nhau phù hợp với điều kiện kinh tế và quan điểm chính trị của chính phủ. Nhìn chung, các nước đều lựa chọn giải pháp cho tư nhân tự do cất trữ và kinh doanh vàng nhưng không được xuất khẩu, nhập khẩu vàng một cách tự do, đồng thời tăng cường các biện pháp thắt chặt quản lý hối đoái.

Thứ hai, chế độ thuế khóa đối với các giao dịch về vàng

Một khi vàng đã trở về vị trí là một loại hàng hóa, việc kinh doanh vàng đương nhiên phải chịu thuế như kinh doanh các hàng hóa khác. Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Bảng 1.4. So sánh các mức thuế về giao dịch vàng

Chính sách thuế ở một số nước cho thấy thuế suất trên giao dịch vàng tại các nước cũng khác nhau. Có những nước không dành cho vàng bất ký ưu đãi nào như ở Italia (35%), Tây Ba Nha (30%). Lại có nước không đánh thuế trên các giao dịch về vàng như ở Singapore (0%), do đó, tại những nước này, những người kinh doanh vàng có được khoản lãi đáng kể.

Tất nhiên, mọi khoản thuế có liên quan đến hoạt động kinh doanh vàng đều được cộng vào giá vàng và cuối cùng là giá bán các sản phẩm của vàng. Vì vậy, khi áp dụng các chính sách thuế khác nhau cũng sẽ làm cho giá vàng khác nhau.

Tóm lại, qua nghiên cứu tổng quát về vàng và thị trường vàng thế giới, chúng ta có thể rút ra những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn sau:

  • Vàng mang tính truyền thống và tính quy luật. Do có chức năng thanh toán quốc tế, vàng luôn có một sức mạnh tiềm ẩn.
  • Thị trường vàng là một thị trường đặc biệt, mang sắc thái riêng biệt, chịu tác động của nhiều nhân tố; và ngược lại nó cũng tác động sâu rộng tới nhiều lĩnh vực khác. Do đó, cần có một nhận thức đúng đắn về vàng trong các hoạt động kinh tế.
  • Mọi biện pháp kiềm tỏa, cứng rắn về vàng đã áp dụng nhiều nơi, đều có chung một hậu quả là thất bại.
  • Vàng luôn luôn có giá trị tiềm ẩn khiến cho người ta thường xuyên có xu hướng quay trở lại với vàng khi bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội mất ổn định.
  • NHTW luôn luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong những vấn đề liên quan đến vàng. Thị trường tư và vai trò của các doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng ngày càng trở nên quan trọng.

1.2. Tổng quan về vấn đề an ninh tiền tệ

1.2.1. Khái niệm an ninh tiền tệ

Khi nhắc tới an ninh người ta thường nghĩ ngay tới an ninh chính trị, quân sự và xã hội. Những năm gần đây, khái niệm an ninh đã được mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau từ an ninh tài chính, an ninh năng lượng, đến an ninh lương thực, cùng nhiều nội dung xung quanh hoặc có liên quan đến các vấn đề an ninh trên.

Đây là những vấn đề lớn liên quan đến nền kinh tế khi chuyển đổi, mở cửa hội nhập ngày một sâu rộng, không những có ý nghĩa trong quá trình phát triển của đất nước, mà còn có ý nghĩa ổn định bên trong để ứng phó với biến động ở bên ngoài. Trong phạm vi bài khóa luận này, xin được nói về an ninh tiền tệ, một nội dung quan trọng với ý nghĩa đối với việc kiềm chế lạm phát, đề phòng thiểu phát, không chỉ không bị cuốn hút vào vòng xoáy mà còn có ý nghĩa chủ động hạn chế tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, đồng thời bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.

Trong từ điển tiếng Việt, an ninh được định nghĩa là “yên ổn, không lộn xộn, không nguy hiểm”, dùng để chỉ một trạng thái an toàn, không có rủi ro, là tình trạng an toàn, yên ổn, có bảo đảm. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm “an ninh tiền tệ là để chỉ một tình trạng tiền tệ ổn định, an toàn và vững mạnh”. An ninh tiền tệ trong quá trình hội nhập là điều kiện thiết yếu để ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, thị trường hàng hóa, đảm bảo an ninh kinh tế và phát triển bền vững.

Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta phải phân tích sự ổn định và dấu hiệu của sự ổn định tiền tệ.

1.2.2. Ổn định và dấu hiệu của sự ổn định tiền tệ Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

“An ninh tiền tệ” làm cho người ta nghĩ ngay đến việc chống nạn tiền giả, nạn rửa tiền, cướp tiền, phá hoại đồng tiền quốc gia… Đó là những ý nghĩa quan trọng, nhưng chủ yếu được xét theo ý nghĩa hẹp. “An ninh tiền tệ” còn được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là lòng tin đối với đồng tiền quốc gia, được thể hiện ở các nội dung sau đây.

Một, giá trị của đồng nội tệ được bảo đảm, trên cơ sở ổn định giá cả hàng hóa, dịch vụ. Đồng tiền giống như cái thước để đo giá của nhiều loại hàng hóa, dịch vụ. Cái thước không thể đối với lúc này, đối với loại hàng hóa, dịch vụ này thì ngắn lại, đối với lúc khác, đối với loại hàng hóa, dịch vụ khác thì dài ra. Theo lý thuyết thì giá cả (biểu hiện bằng tiền của giá trị) có thể cao hoặc thấp hơn giá trị, nhưng tổng giá cả phải bằng tổng giá trị. Khi tổng giá cả lớn hơn tổng giá trị thì lạm phát, đồng tiền sẽ bị mất giá. Khi tổng giá cả thấp hơn tổng giá trị thì thiểu phát, đồng tiền sẽ lên giá.

Hai, tình trạng đô la hóa ở mức vừa phải. Đô la hóa là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và thị trường tự do lớn tạo nên các cơn sốt USD; làm cho việc ra/vào ngoại tệ khó kiểm soát. Theo khuyến cáo của IMF, mức độ đô la hóa có thể chấp nhận ở một quốc gia là dưới 30%.5

Ba, sự lành mạnh và ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại. Sự lành mạnh, ổn định thể hiện ở nhiều mặt, trong đó nổi bật nhất là bảo đảm tính thanh khoản, trình độ quản trị rủi ro, công khai minh bạch thông tin…

Bốn, cán cân thanh toán quốc tế tương đối cân bằng. Dự trữ ngoại hối quốc gia đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản nợ đáo hạn và đảm bảo nhu cầu ngoại tệ tài trợ cho nhập khẩu. Theo khuyến cáo của WB, lượng dự trữ ngoại hối an toàn càn đảm bảo 12 tuần (3 tháng) nhập khẩu.

1.2.3. Các tiêu chuẩn đánh giá vấn đề an ninh tiền tệ Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

Thị trường tiền tệ có vai trò quan trọng để đảm bảo cho sự thành công của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Hội nhập vào thị trường tiền tệ thế giới có thể làm tăng tính bất ổn theo hai cách:

Mở cửa nền kinh tế của các nước đang phát triển làm cho nền kinh tế nước đó tiếp cận trực diện với những nguồn gốc mới của những cú sốc trong kinh tế quốc tế.

Khuếch đại và làm trầm trọng thêm những cú sốc trong nước.

Tự do hóa tiền tệ chứa đựng những nguy cơ bất ổn như tự do hóa có thể kéo theo thu hút vốn, nếu như lãi suất quốc gia cao hơn lãi suất quốc tế, nhưng thu hút vốn cũng đặt ra nhiều vấn đề như thất thoát vốn. Chúng sẽ tăng cường tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng và hỗ trợ mở rộng tín dụng. Chúng cũng đặt ra nhiều khó khăn về chính sách kinh tế bởi vì các cơ quan quản lý buộc phải lựa chọn giữa việc tăng tỷ giá hối đoái – bất lợi cho khu vực xuất khẩu – với việc tăng tổng lượng tiền mặt một cách thái quá…

Sau cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Nam Á, và ngay trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, người ta ngày càng coi trọng vấn đề rủi ro tiền tệ, và vấn đề an ninh tiền tệ trong chiến lược an ninh quốc gia, đồng thời đã đưa ra hàng loạt các biện pháp chính sách và cơ chế nhằm phòng ngừa rủi ro tiền tệ. An ninh tiền tệ cũng là nền tảng quan trọng trong hệ thống an ninh kinh tế quốc gia, do đó trong chiến lược an ninh kinh tế quốc gia cần coi trọng và phòng tránh rủi ro tiền tệ. Một số tiêu chuẩn đánh giá vấn đề an ninh tiền tệ:

Một, bảo đảm giá trị của đồng tiền, trên cơ sở ổn định giá cả hàng hóa, dịch vụ. Ổn định tiền tệ giúp cho giá cả ổn định. Vấn đề cần xem xét ở đây là có thể chấp nhận một mức lạm phát được chấp nhận nào đó. Lạm phát nếu ở mức độ vừa phải sẽ giống như một chất kích thích tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên khi lạm phát vượt quá một mức độ nhất định nào đó thì phải có những tác động nhất định đưa nó trở về trạng thái ổn định.

Hai, cần theo dõi sát biến động của ngoại tệ để có cách thức điều hành tỷ giá linh hoạt, kịp thời và thích hợp.

Ba, giảm thiểu và khắc phục tình trạng đô la hóa ở nước ta. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và thị trường tự do lớn tạo nên các cơn sốt USD; làm cho việc ra/vào ngoại tệ khó kiểm soát.

Bốn, tập trung tiền tệ vào hệ thống ngân hàng để NHNN điều hành tập trung chính sách tiền tệ, tránh có sự phân tán ra các đơn vị khác ngoài hệ thống ngân hàng (tổ chức phi ngân hàng như các tập đoàn, tổng công ty…).

Năm, đặc biệt quan tâm đến sự lành mạnh và ổn định của hệ thống NHTM. Sự lành mạnh, ổn định này được thể hiện ở nhiều mặt, trong đó nổi bật nhất là bảo đảm tính thanh khoản, trình độ quản trị rủi ro, công khai minh bạch thông tin…

Sáu, NHNN tăng cường thanh tra, giám sát hệ thống NHTM; điều hành thông qua các công cụ như lãi suất cơ bản, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, chiết khấu và lãi suất tái chiết khấu,… trong đó lãi suất cơ bản là công cụ chính.

Bảy, trong điều kiện khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, cần rà soát các khoản cho vay đầu tư, đặc biệt đầu tư bất động sản; rà soát các khoản tiền gửi và đầu tư tại các NHTM, tổ chức nước ngoài, không để xảy ra thiệt hại; đánh giá hoạt động đầu tư, kinh doanh của các ngân hàng nước ngoài. Các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu cần rà soát khả năng thanh toán của khách hàng…

Tám, giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán tổng thể, tăng dự trữ ngoại hối để tăng sức mạnh của đất nước, tăng tính thanh khoản của quốc gia, giảm nợ của nước ngoài. Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tổng quan về nhập khẩu vàng ở Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2023

  1. Pingback: Khóa luận: Biện pháp xử lý nhập khẩu hàng ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464