Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp phát triển các DN vận tải ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp phát triển các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Giải pháp vĩ mô
3.1.1. Những đề xuất đối với nhà nước.
Thắt chặt những điều kiện kinh doanh một cách hợp lý.
Như đã nói, điều kiện kinh doanh hiện tại của nhà nước cho ngành logistics, trong đó có bộ phận giao nhận vận tải là rất thông thoáng .Tuy nhiên sự thông thoáng quá mức khiến sự bùng phát kinh doanh ngành dịch vụ này trở nên quá nóng, và điểm không có lợi cho toàn ngành nói chung, các doanh nghiệp vận tẩi giao nhận nhỏ và vừa nói riêng là sẽ có những thành phần có chất lượng kinh doanh kém, không đủ năng lực phát triển, quy mô quá bé, làm ăn quá nhỏ lẻ và mang tính chộp giựt . Những thành phần này theo thời gian tất lẽ sẽ bị đào thải theo những tính chất khắc nghiệt của cơ chế thị trường và yêu cầu của ngành giao nhận vận tải cũng như xu hướng logistics toàn cầu. Thế nhưng nếu để những thành phần như vậy tham gia vào thị trường vào lúc này sẽ gây ra sự lãng phí về nguồn lực và tiền của, làm mất đi hình ảnh của toàn ngành giao nhận vận tải. Vì vậy việc nhà nước cần phải có sự bổ sung trong luật về kinh doanh logistics những điều kiện sát hơn, cao hơn, cụ thể hơn: Khóa luận: Giải pháp phát triển các DN vận tải ở Việt Nam
- Vốn điều lệ cần cao hơn.
- Chi tiết hơn với từng mảng dịch vụ mà các doanh nghiệp muốn kinh doanh ban đầu và coi mảng kinh doanh đó là mảng chính khi bước chân vào thị trường logistics, giao nhận vận tải. Từ đó quy định các điều kiện về cơ sở vật chất ban đầu.
- Chất lượng nguồn nhân lực và đội ngũ quản lý cũng phải được yêu cầu ( nếu như ngành chứng khoán cần chứng chỉ cấp quốc gia mới được là đủ điều kiện chuyên môn hành nghề, thì giao nhận vận tải cũng nên làm như vậy)
Nếu nói những điều này sẽ gây khó các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có vốn ít khi họ muốn tham gia vào thị trường giao nhận vận tải thì là không sai. Nhưng việc gây khó này nhằm những mục tiêu hoàn toàn có lợi cho một chiến lược lâu dài cho ngành giao nhận vận tải của Việt Nam :
- Bắt buộc các doanh nghiệp phải chuẩn bị kỹ mọi mặt trước khi tham gia thị trường khắt khe này.
- Tạo áp lực bắt buộc các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang muốn tham gia thị trường nhưng chưa đủ điều kiện , đặc biệt là về vốn và cơ sở vật chất phải liên kết với nhau tạo thành một khối.
Tất nhiên đây cũng chỉ là những ý kiến đánh giá trực quan qua phân tích của người viết khoá luận. Việc nhà nước cần làm là phải thắt chặt một cách hợp lý. Điều này đòi hỏi phải có một quá trình nghiên cứu, lấy ý kiến chuyên môn một cách kỹ lưỡng và nghiêm túc.
Xây dựng một văn bản luật hoàn chỉnh và chi tiết về giao nhận vận tải và logistics.
Những văn bản luật của Việt Nam về giao nhận vận tải hay dịch vụ logistics hiện quá sơ sài. Nếu theo đúng xu hướng phát triển thì những dịch vụ giao nhận vận tải , cái mà ở Việt Nam người ta vẫn còn đánh đồng là logistics sẽ tiến lên thành logistics với rất nhiều và đa dạng các dịch vụ. Đến thời điểm đó thì một vài điều luật không thể hướng dẫn đầy đủ và là một căn cứ pháp lý vững mạnh để các doanh nghiệp có thể dựa vào đó tổ chức kinh doanh.
Logistics cần phải có một hệ thống luật đầy đủ hơn, chi tiết hơn, và tất nhiên vẫn phải đảm bảo tính thống nhất, dễ hiểu, không chồng chéo và đơn giản. Khóa luận: Giải pháp phát triển các DN vận tải ở Việt Nam
Tất nhiên để có một văn bản luật như vậy đòi hỏi nhà nước phải mất thời gian và công sức để xây dựng. Nhưng đây là việc hoàn toàn cần thiết và cấp bách. c. Những chính sách hỗ trợ.
Trong giai đoạn khó khăn hiện nay, việc có những chính sách chợ giúp những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành giao nhận vận tải từ phía chính phủ là cực kỳ cần thiết.
Thứ nhất là chính sách hỗ trợ về vốn , mà đặc biệt là vốn vay ngoại tệ.
- Hỗ trợ về lãi suất
- Ưu tiên về điều kiện cho vay
- Tăng thời hạn cho vay
Thứ hai là hỗ trợ về chính sách thuế : giảm thuế hoặc miễn thuế tuỳ từng tình trạng và thời điểm kinh doanh của các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ
Thứ ba là về công nghệ. Bản thân nhà nước chính là nhà điều hành logistics vĩ mô của toàn quốc gia. Viêc ứng dụng khoa học công nghệ vẫn đang được nhà nước chú trọng. Nhưng việc ứng dụng khoa học công nghệ trong giao nhận vận tải, logistics phải được nhà nước đi dầu và dẫn dắt :
- Các công ty lớn của Việt Nam hoạt động trong ngành vận tải và giao nhận vận tải là những môi trường tốt để nhà nước thí điểm những công nghệ mới và tiên tiến về logistics.
- Thường xuyên tổ chức các hội thảo cấp quốc gia, khu vực về ứng dụng khoa học công nghệ trong logistics.
- Cần cử các chuyên viên cao cấp, các nhà khoa học sang các quốc gia có ngành logistics phát triển , đặc biệt Việt là Singapore bởi đây là một nước trong khối ASEAN, có ngành giáo dục khoa học công nghệ mở và phát triển, có hệ thống logistics được áp dụng công nghệ cao và tiên tiến. Sau đó các chuyên viên và nhà khoa học này phải được tổ chức để nghiên cứu áp dụng với thực trạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước .
- Có chế độ khen thưởng, khuyến khích và hỗ trợ đăc biệt đối với các doanh nghiêp giao nhận vận tải, logistics vừa và nhỏ đi tiên phong và thành công trong việc ứng dụng khoa học công nghệ.
Thứ tư, có chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ quản lý
- Mở các khoá học đào tạo chuyên sâu dành cho đội ngũ quản lý, nhất là đội ngũ quản lý trẻ. Liên tục mở các diễn đàn và hội thảo dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành thảo luận và học hỏi.
- Mở những cơ quan tư vấn và hỗ trợ cấp quốc gia về dịch vụ giao nhận vận tải ,logistics.
- Có chính sách học bổng nhiều hơn dành cho đào tạo nhân lực cho ngành giao nhận vận tải ,logistics.
- Tích cực mời các đoàn chuyên gia tư vấn và đào tạo logistics sang Việt Nam giảng dạy và tư vấn.
- Thay đổi quá trình học và đào tạo về giao nhận vận tải và logistics. Cần phải biến giao nhận vận tải và logistics trở thành một môn học thực sự trong các trường đại học, cao đẳng. Nó phải là một chuyên ngành riêng, có tính tiếp xúc thực tế cao, đào tạo bài bản kỹ lưỡng và cập nhật liên tục. Thậm chí, cần mở một trường , một khoa riêng cho lĩnh vực này.
- Tổ chức thi cấp chứng chỉ cấp quốc gia hoặc tốt hơn nữa là chững chỉ cấp quốc tế về giao nhận vận tải, logistics như là một điều kiện hoạt động chuẩn của mỗi cá nhân muốn tham gia vào thị trường.
Xây dựng cơ sở hạ tầng:
- Cải tạo chất lượng các tuyến đường. Hiện nay dự án về xây dựng các tuyến đường cao tốc đang được nhà nước quan tâm đặc biệt và lên kế hoạch đầu tư. Nếu thành công thì đây là một thành công quan trọng đối với phát triển dịch vụ giao nhận vận tải và logistics.
- Mở rộng làn đường và tăng chất lượng đường bộ.
- Xây dựng các trạm dừng chân chuyển tiếp. Trạm dừng chân chuyển tiếp này sẽ là một điểm nối quan trọng trong vận tải đa phương thức.Các trạm dừng chân chuyển tiếp này nên được bố trí gần các khu vực ngoại ô, bến cảng, ga tàu xe và hàng không.
Về đường sắt
- Cần có một dự án về đường sắt cao tốc, tuyến đường sắt dành riêng cho chuyên chở hàng, đặc biệt là hàng container.
- Cần có kế hoạch thay đường ray theo khổ quốc tế là 1m4 (60% đường ray trên thế giới sử dụng cỡ đường ray này và đạt được kết quả tốt hơn nhiều so với khổ đường ray 1m mà Việt Nam đang áp dụng) để tăng tốc độ tàu và thuận lợi cho việc chuyên chở.
- Sau khi ngành đường sắt có khả năng chuyên chở hàng hoá nhiều hơn, thì một khu vực chuyên biệt dành cho logistics trong mỗi sân ga là cần thiết.
- Đầu tư nạo vét, thông luồng lạch để các cảng biển có khả năng tiếp đón các tàu có trọng tải lớn.
- Đầu tư các thiết bị nâng hạ, xếp dỡ ( cần cẩu dàn ) container tại các cảng chính cả về số lượng và chất lượng.
- Cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên tại cảng biển về trình độ sử dụng khoa học kỹ thuật, làm việc chuyên nghiệp để tốc độ làm việc tại cảng được tăng cao, thúc đẩy lượng hàng hóa qua cảng, tiết kiệm chi phí và thời gian.
Về cảng hàng không : xây dựng thêm các cảng hàng không quốc tế, đặc biệt là cảng hàng không có khả năng chuyên dụng chở hàng hoá.
Tất nhiên nếu nói về cải thiện cơ sở hạ tầng, là nói đến một nguồn vốn và kinh phí khổng lồ. Có thể nói những yêu cầu về kinh phí này là quá sức với một nước đang phát triển như Việt Nam, vậy nên điều cần làm đối với chính phủ là huy động nguồn nội lực một cách tối đa, trước khi khuyến khích các nguồn đầu tư nước ngoài. Sử dụng một cách hiệu quả và tiết kiệm những nguồn vốn viện trợ hay cho vay không hòan lại của nước ngoài trong việc cải thiện đường xá, bến ga…
Về an toàn giao thông, trình độ người điều khiển phương tiện và chất lượng phương tiện. Vấn đề an toàn giao thông của Việt Nam là một vấn đề gây ảnh hưởng nhiều tới dịch vụ giao nhận vận tải. Nó làm chậm quá trình lưu thông, bắt buộc dẫn đến hạn chế tốc độ, gây ra những thiệt hại không đáng có… Đặc biệt với ngành đường biển, đội tàu của Việt Nam bị xếp vào danh sách đen trên thế giới, và nó hạn chế cũng như ảnh hưởng rất nhiều đến những thương hiệu vận tải biển của Việt Nam.
Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng mất an toàn giao thông của Việt Nam là chất lượng phương tiện tham gia giao thông , ý thức cũng như trình độ của người tham gia giao thông. Về chất lượng phương tiện, hệ thống ô tô của Việt Nam rất cũ kỹ, nhiều xe tải được mua cũ để sử dụng lại. Đội tầu đa biển phần cũng là đội tàu với tuổi tàu cao, trang bị an toàn không đầy đủ theo tiêu chuẩn. Hệ thống đường sắt cũng rất cũ kỹ. Hệ thống các tàu, xà lan trên sông thì rất nhiều tàu tự chế. Đây là vấn đề đã phát sinh từ rất lâu và đến nay vẫn còn, cần có phương án giải quyết vấn đề chất lượng phương tiện, từ đó thúc đẩy lưu lượng vận tải, và đồng nghĩa với giao nhận vận tải sẽ thông suốt hơn. thức và trình độ của người điều khiển phương tiện cũng là điều cần nhắc tới trong các nguyên nhân gây mất an toàn giao thông và sự kém thông suốt cũng như chất lượng vận tải của Viêt Nam. Đa số các lái xe tải hiện nay đều khiến cho chiếc xe chở hàng của mình chở thành nguyên nhân gây tai nạn cao với ý thức lái xe kém. Các lái xe container thì hầu như đuợc đào tạo từ các khoá lái xe taỉ chứ chưa hề đào tạo ban đầu bằng lái đầu kéo. Đội ngũ thuyền viên Việt Nam thiếu kinh nghiệm và trình độ chuyên môn. Bộ luật giao thông cần phải có những điều quy định về điểu kiện , chế tài xử phạt nghiêm khắc để xử lý điểm yếu này. Khóa luận: Giải pháp phát triển các DN vận tải ở Việt Nam
Tại sao nói khắc phục vấn đề cơ sở hạ tầng và an toàn giao thông vận tải lại là có lợi cho các doanh nghiệp giao nhận vừa và nhỏ của Việt Nam. Dễ dàng nhận thấy với điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông vận tải yếu kém, các doanh nghiệp giao nhận vận tải nước ngoài với đội ngũ và cơ sở vật chất hiện đại chuyên nghiệp có khả năng triển khai thực hiện công việc của mình tốt hơn, dễ dàng hơn là các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam vốn đã có sẵn sự yếu kém về đội ngũ và cơ sở vật chất. Có thể nêu một ví dụ về phân phối một lô hàng từ cảng Hải Phòng về Hà Nội làm ví dụ. Các doanh nghiệp giao nhận vận tải nước ngòai có khả năng dỡ hàng chuyên nghiệp hơn, xe tải của họ có chất lượng tốt hơn nên chạy với thời gian nhanh hơn, ít bị hao mòn hơn dù đường có xấu. Đồng thời do ý thức và trình độ lái xe tốt nên tránh được thiệt hại từ tai nạn, tiền phạt và thời gian chậm chễ do bị phạt hay tai nạn trên đường gây ra. Đồng thời đội ngũ xe dày hơn và liên tục hơn khiến chi phí của họ giảm xuống, và đương nhiên giá dịch vụ cũng sẽ cạnh tranh hơn. Trong khi đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ của chúng ta khi bến cảng không có vật dụng chuyên nghiệp để xếp dỡ, đội ngũ thì thiếu chuyên nghiệp nên việc lấy hàng đã làm chậm hơn. Cộng thêm xe lưu thông trên đường không thể có tốc độ tốt vì xe cũ kỹ, thường hay bị phạt vì lý do xe cũ, ý thức kém…. , thậm chí gây tai nạn và dẫn đến thiệt hại cho lô hàng.
Do vậy,khi cải thiện được cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, quy định chặt chẽ về chất lượng phương tiện cũng như đội ngũ điều khiển phương tiện, thì sẽ đặt các công ty giao nhận vừa và nhỏ vào một vị thế tốt hơn trước. Họ được hoạt động trên một nền tảng tốt, phải có một đội ngũ và cơ sở vật chất chất lượng cao. Như vậy thì chí ít cũng hạn chế được một vài điểm yếu kém và mất cạnh tranh của họ
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
3.1.2. Đề xuất về củng cố vai trò của VIFFAS.
Thứ nhất, VIFFAS hiện nay gần như một tổ chức duy nhất của những nhà hoạt động giao nhận vận tải Việt Nam. Với vị thế này, VIFFAS cần phải năng động hơn thời điểm hiện tại, không chỉ là một hiệp hội của vài trăm doanh nghiệp như hiện tại mà phải là đại diện cho tiếng nói của toàn ngành giao nhận vận tải Việt Nam, đặc biệt của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn đang khó khăn, dù biết hiệp hội có tiêu chuẩn xét ra nhập của riêng mình.
Hiệp hội VIFFAS hiện nay gần như chỉ là một cơ quan ngôn luận của các công ty hoạt động vận tải giao nhận. Với vai trò của mình, VIFFAS cần làm nhiều hơn thế. VIFFAS cần là cầu nối để các doanh nghiệp học hỏi kinh nghiệm và tạo lập quan hệ hợp tác. Là cầu nối để các doanh nghiệp đi đầu và lớn mạnh giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Phải là người tìm hiểu các khó khăn của ngành đề xuất nhà nước phương án giải quyết. Hơn nũa, còn phải là trung tâm thông tin, chuyên môn để các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tìm đến nghiên cứu, tra cứu, và giải quyết những thắc mắc trong quá trình hoạt động của mình.
Với vai trò là cầu nối, VIFFAS không chỉ nên là cầu nối giữa các doanh nghiệp với các doanh nghiệp trong nghành, mà còn nên là cầu nối giữa các doanh nghiệp với các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng dịch vụ. VIFFAS cần phải là một nhà , giới thiệu,điều phối các doanh nghiệp thích hợp cho nhu cầu của người sử dụng dịch vụ. Hãy tưởng tượng rằng nếu một doanh nghiệp đang cần dịch vụ vận tải giao nhận, việc đầu tiên họ sẽ làm là nhờ VIFFAS cố vấn cho các doanh nghiệp phù hợp trước tiên, từ đó họ sẽ tự sàng lọc. Việc này khẳng định một điều là thương hiệu VIFFAS lúc đó đã rất vững mạnh trong thị trường giao nhận vận tải Việt Nam, và nó cũng sẽ là động cơ khiến các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành tích cực hoạt động, nâng cao chất lượng để được tham gia vào hiệp hội cũng như để được giới thiệu và đảm bảo với khách hàng từ phía hiệp hội.
Cuối cùng, hiệp hội giao nhận vận tải cần phải là người đi tiên phong trong xác định chiến lứợc lâu dài cho toàn ngành, mà ở đây là tiến lên cung cấp những dịch vụ logistics. Giống như hiệp hội giao nhận vận tải ở Singapore đã đổi tên thành hiệp hội các nhà cung cấp dịch vụ lógistics Singpapore, Viffas cũng nên làm như vậy và phải nỗ lực để đạt được cái tên như vậy trong thời gian thời, nhằm dẫn đường cho toàn ngành giao nhận vận tải phát triển.
3.2. Giải pháp vi mô Khóa luận: Giải pháp phát triển các DN vận tải ở Việt Nam
3.2.1. Xác định phương hướng kinh doanh phải là nhà cung cấp dịch vụ logistics
Ngày nay, với xu hướng tòan cầu hóa và sự phát triển vượt trội của công nghệ thông tin, những yêu cầu về dịch vụ vận tải giao nhận từ phía người thuê đang ngày càng rộng hơn, sâu hơn. Các doanh nghiệp rất mệt mỏi khi phải làm việc với quá nhiều các nhà cung cấp dịch vụ giao nhận vận tải cho cùng một công việc của mình, họ cần một nhà cung cấp dịch vụ với bất kỳ dịch vụ nào, bất kỳ ở đâu trên thế giới, vào bất kỳ thời điểm nào. Họ cần sự đơn giản trong giấy tờ, nhanh chóng trong thực hiện và chính xác ở kết quả. Nhũng điều này chỉ có một doanh nghiệp logistics thực thụ mới làm đựơc.
Như đã nếu, hầu hết các doanh nghiệp giao nhận vận tải hiện nay đều gắn cho mình cái tên logistics. Nhưng chưa một doanh nghiệp nào có khả năng thực thụ làm hoàn thiện một chuỗi các dịch vụ từ xưởng của nhà sản xuất đến tay của người tiêu dùng cho các doanh nghiệp đi thuê. Không chỉ thế chất lượng dịch vụ rất nghèo nàn, số lượng dịch vụ ít. Vì lý do này mà cho đến nay hầu như chưa doanh nghiệp giao nhận vận tải nào của Việt Nam có khả năng đảm đương một chuỗi các dịch vụ, hoặc cao hơn là quản lý tất cả các chuỗi dịch vụ cho người đi thuê.
Muốn phát triển, muốn theo kịp xu hướng phát triển của ngành, các doanh nghiệp logistics vừa và nhỏ cần phải nhận thức đúng đắn việc phát triển doanh nghiệp của mình về dài hạn sẽ trở thành một doanh nghiệp logistics, có khả năng cung ứng hoàn thiện một chuỗi các dịch vụ, hay cao hơn là thay mặt các doanh nghiệp đi thuê quản lý toàn bộ các chuỗi cung ứng của họ. Với tiềm lực hiện nay, của các doanh nghiệp vừa và nhỏ quả thực rất khó để trở thành một nhà cung cấp toàn diện dịch vụ logistics. Nhưng khi xác định đường hướng trở thành logistics, thì bản thân các doanh nghiệp sẽ có những nỗ lực dẫu trong phạm vi nhỏ bé để hoàn thiện doanh nghiệp của mình, tìm ra những giải pháp mà một trong số đó là liên kết.
3.2.2. Liên kết. Khóa luận: Giải pháp phát triển các DN vận tải ở Việt Nam
Vào khoảng cuối năm 2007, 30 công ty vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực logistics ở Thái Lan đã liên kết nhau lại thành một nhóm. Con số 30 quả thật là rất ấn tượng, và mô hình liên kết của họ cũng rất đơn giản. Bình thường mỗi công ty vẫn làm việc của riêng mình. Nhưng nếu một trong các thành viên của nhóm có được một khách hàng có yêu cầu cung cấp một dịch vụ logistics liên tục tức là mọi dịch vụ làm sao để hàng có thể từ tay nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng. Thì các công ty trong nhóm này sẽ họp nhau lại , tùy theo khả năng và thế mạnh trong nhóm của từng công ty để phân bổ công việc, và nhóm vẫn quản lý việc thực hiện nhiệm vụ của từng công ty.
Chưa cần biết mô hình này có kết quả ra sao, hay bản thân nó cũng còn nhiều những vấn đề và bất cập, nhưng đây là một ví dụ cho mô hình liên kết mà các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam cần học hỏi và áp dụng càng sớm càng tốt. Bởi khi liên kết, những nguồn lực manh mún nhỏ lẻ sẽ được tập hợp, những thế mạnh của những cá nhân đơn lẻ được phát huy, dịch vụ được mở rộng, nâng cao về chất lượng. Và đây chính là tiền đề để trờ thành nhà cung cấp dịch vụ logistics đúng nghĩa. Sau đây xin được nêu 3 mô hình liên kết mà khả năng áp dụng của nó hoàn tòan có khả năng áp dụng cho với các doanh nghiệp giao nhận vận tải nhỏ và vừa của Việt Nam:
Liên kết doanh nghiệp giao nhận vận tải – doanh nghiệp giao nhận vận tải:
Đây cũng chính là mô hình liên kết mà ví dụ trên trình bày. Các dịch vụ giao
nhận vận tải hiện nay vô cùng đa dạng và ở phạm vi rộng toàn cầu. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam thì nhỏ bé và manh mún. Vậy nên bài tóan liên kết dựa theo mảng dịch vụ cung cấp giữa các doanh nghiệp giao nhận vận tải với nhau là một bài tóan rất hay, điển hình ở đây là liên kết giữa doanh nghiệp môi giới giá vận tải quốc tế – doanh nghiệp làm vận tải nội địa , dịch vụ tại cảng nội địa Việt nam – doanh nghiệp cho thuê kho bãi ở Việt Nam. Khi liên kết này được hình thành , thì ít nhất là quá trình vận tải từ cảng đầu nước ngoài về đến kho người nhận tại Việt Nam hay từ kho người xuất tại Việt Nam đến cảng đến tại nước ngòai đã được kiểm soát và giản ước chi phí xuống thấp nhất.
Mô hình liên kết này tạo lợi thế cho các doanh nghiệp vận tải giao nhận trong khối , nhất là doanh nghiệp làm đại lý môi giới giá vận tải quốc tế thế mạnh trước khách hàng về khả năng cung ứng dịch vụ nội địa. Việc này không mang đến cho các doanh nghiệp làm đại lý môi giới giá vận tải quốc tế lợi ích nhiều từ việc có thêm lợi nhuận, thậm chí có thể làm cho lợi nhuận trên từng lô hàng của họ giảm đi chút ít nhằm chia sẻ với hai đối tác còn lại. Tuy nhiên nó giúp họ có thể phủ kín được nhu cầu của khách hàng trong nội địa Việt Nam, quản lý được hoạt động nội địa Việt Nam giúp khách hàng yên tâm hơn. Đồng thời một khi đã cùng nhau thành một khối, doanh nghiệp làm môi giới về giá vận tải quốc tế sẽ được sự hỗ trợ về giá, chất lượng dịch vụ nhiều hơn từ 2 đối tác còn lại nhằm tăng cạnh tranh cho cả khối. Một điểm mạnh nữa là khối liên kết này sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm khách hàng và giới thiệu khách hàng cho nhau.
Liên kết doanh nghiệp giao nhận vận tải- doanh nghiệp chuyên chở hàng hóa quốc tế của Việt Nam:
Thực tế cho thấy các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam đa phần đều là đại lý về giá vận tải hàng hóa quốc tế. Họ mua giá của những người chuyên chở và bán lại cho người có nhu cầu. Đa số những người làm đại lý về giá vận tải có được lợi thế về giá bởi hai lý do chính:
- Họ có lượng hàng thường xuyên cho các hãng vận tải quốc tế.
- Họ có quan hệ đặc biệt với hãng vận tải quốc tế.
Tạm gác lại vấn đề lượng hàng lớn, ổn định và thường xuyên cho các hãng vận tải quốc tế, ta sẽ đề cập đến quan hệ đặc biệt với hãng vận tải quốc tế. Ơ đây là quan hệ liên kết. Khi liên kết được với một hãng vận tải, thì đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đại lý môi giới giá vận tải sẽ có được giá tốt hơn những doanh nghiệp khác trên các tuyến và phương thức vận tải quốc tế mà hãng vận tải đó kinh doanh, lại càng có lợi thế hơn về dịch vụ tốt ở các tuyến đường mà hãng vận tải chuyên kinh doanh.
Nói về vấn đề liên kết với các hãng vận tải quốc tế của các doanh nghiệp giao nhận thì đó là một vấn đề khó khăn hơn rát nhiều so với liên kết với các doanh nghiệp làm dịch vụ nội địa và doanh nghiệp kho bãi.:
- Lý do thứ nhất, các doanh nghiệp vận tải quốc tế của Việt Nam yếu kém hơn hẳn so với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải quốc tế nước ngòai, ví dụ như MAERSK, APL, MOL, NYK… Và nếu so với các doanh nghiệp logistics của các ông lớn này, thì dẫu cho có liên kết, một thực tế rằng các doanh nghiệp giao nhận vận tải dù có lớn của Việt Nam cũng khó lòng cạnh tranh về việc làm đại lý giá vận tải quốc tế chứ chưa nói đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Thứ hai, việc liên kết giữa các doanh nghiệp giao nhận làm mảng môi giới giá vận tải quốc tế và hãng vận tải quốc tế sẽ dẫn đến những vướng mắc ban đầu về vấn đề va chạm thị trường, đặc biệt là thị trường hàng xuất khẩu từ Việt Nam. Hiện tại cho thấy khách hàng có nhu cầu mua giá vận tải xuất khẩu từ Việt Nam sẽ mua giá từ hai nguồn, mua trực tiếp từ các hãng tàu hay mua từ các doanh nghiệp môi giới giá. Câu hỏi đặt ra là khi liên kết, giải quyết vấn đề khách hàng đó ra sao mới là quan trọng.
- Thứ ba, là vấn đề về quy mô. Đã là hãng vận tải quốc tế thì gần như quy mô , cơ sở vật chất hay vốn đều lớn hơn nhiều so với các doanh nghiệp môi giới giá nhỏ và vừa. Vậy khi liên kết, mội doanh nghiệp môi giới giá nhỏ và vừa có được coi là một đối tác chính của hãng vận tải đó hay không.Điều kiện của một doanh nghiệp môi giới giá vận tải quốc tế nếu muốn liên kết với hãng vận tải đó ra sao.
Phương án giải quyết ở đây có thể là liên kết 1 hãng tàu với nhiều doanh nghiệp môi giới giá vận tải quốc tế vừa và nhỏ liên kết với nhau trước khi liên kết với một hãng vận tải. Sau đó, sẽ tùy tuyến đường của hãng vận tải đó mà chia nhau thị trường. Điều này đảm bảo các doanh nghiệp môi giới có giá tốt để cạnh tranh trên nhiều tuyến đường, lại đảm bảo cho các hãng vận tải quốc tế, đặc biệt là hãng vận tải quốc tế của Việt Nam có lượng khách hàng ổn định mà ít phải bỏ công vào vấn đề kinh doanh và phát triển thị trường hơn.
Liên kết doanh nghiệp dịch vụ kho bãi – doanh nghiệp dịch vụ và vận tải nội địa – doanh nghiệp môi giới giá vận tải quốc tế – doanh nghiệp vận tải hàng hóa quốc tế của Việt Nam:
Đây có thể coi là hình thức liên kết lớn mạnh nhất có thể thực hiện được trong tương lai gần đối với các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam. Nó là hình thái cao cấp hơn của hai liên kết nêu trên, và mang lại nhiều lợi thế hơn. Tuy nhiên đây sẽ là một liên kết phức tạp nhất trong ba liên kết, đặc biệt là trên phương diện quản lý, phân chia lợi nhuận và thị trường.
Nói về 3 hình thức liên kết trên đây, có một điều cần lưu ý chung khi thực hiện mà các doanh nghiệp khi tham gia liên kết phải chú ý, đó là vấn đề thương hiệu và quyền lợi của mình. Khi liên kết các doanh nghiệp có bị đặt trước nguy cơ phải hoạt động dưới một cái tên khác, của một thành viên mạnh nhất trong liên kết hay không. Người quản lý, người sáng lập doanh nghiệp có muốn đứa con tinh thần của mình sẽ phải chia sẻ việc quản lý cho những người khác hay không, thậm chí mất hoàn tòan quyền quản lý vào tay những người đứng đầu liên kết hay không. Hoặc nếu liên kết, các doanh nghiệp sẽ phải chia nhau thị trường, lợi nhuận như thế nào, sẽ phải cân nhắc những thiệt thòi để giúp đõ thành viên trong liên kết ra sao. Tất cả những điều này là khó khăn cần được giải quyết trong vấn đề liên kết các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng ngành. Khóa luận: Giải pháp phát triển các DN vận tải ở Việt Nam
Liên kết với các doanh nghiệp giao nhận vận tải và hãng vận tải nước ngoài:
Xét về lợi ích, khi doanh nghiệp giao nhận vận tải nhỏ và vừa của Việt Nam có thể liên kết một cách bình đẳng với các doanh nghiệp giao nhận vận tải và hãng tàu nước ngòai thì sẽ mang lại một thị trường rộng lớn và lợi thế hơn hẳn trong chuỗi những dịch vụ giao nhận vận tải toàn cầu. Tuy nhiên để có được liên kết này không đơn giản hay có thể nói là không có khả năng áp dụng trong thời gian trước mắt đối với các doanh nghiệp giao nhận vừa và nhỏ của Việt Nam. Đa phần các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam cho đến này chỉ hoạt động như một mắt xích nhỏ trong chuỗi dịch vụ toàn cầu của các doanh nghiệp logistics nước ngòai, và cũng chỉ là một đại lý làm thuê nhỏ của các hãng vận tải nước ngòai. Việc liên kết với hãng vận tải nước ngòai như một thành viên là một điều gần như không thể với một doanh nghiệp vận tải giao nhận vừa và nhỏ Việt Nam.
Về vấn đề liên kết các doanh nghiệp giao nhận vận tải nhỏ và vừa của Việt Nam với các doanh nghiệp tương tự trên mạng lưới toàn cầu, việc này chỉ giải quyết được vấn đề phạm vi dịch vụ, chứ chưa tạo ra sự khác biệt với việc làm đại lý cho các doanh nghiệp logistics nước ngoài hay được các doanh nghiệp logistics nước ngòai làm đại lý. Bởi nếu muốn có một liên kết thực sự thì phải có sự chia sẻ về lợi ích, rủi ro, thông tin rõ ràng hơn nữa, chưa kể đến những rào cản pháp luật khi liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài.
Hãy lấy một ví dụ về sự thiếu chia sẻ lợi ích, thông tin và rủi ro giữa hai doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa nhỏ của Việt Nam với một doanh nghiệp vừa và nhỏ của Đức khi làm đại lý của nhau. Trên hợp đồng bao giờ cũng đề cập đến vấn đề chia sẻ 50:50 lợi nhuận kiếm đựoc khi làm môi giới giá vận tải đường biển quốc tế. Thế nhưng thực tế cho một lô hàng nhập từ Đức về Việt Nam theo giá FOB. Phía Đức sẽ mua giá từ hãng vận chuyển và đưa cho doanh nghiệp Việt Nam với hình thức là giá “net” ( tức chưa có lợi nhuận của phía Đức) hoặc giá đã bao gồm lợi nhuận nhưng không nói rõ là bao nhiêu. Nếu là giá net thì khi bán giá cho khách nhập khẩu , phía Việt Nam cần phải cộng thêm lợi nhuận của cả 2 bên vào giá bán với luật 50:50. Nhưng nếu có cộng 100 USD vào giá thì phía Việt Nam cũng chỉ báo là 40 USD để chỉ phải chia 20 USD lợi nhuận cho phía Đức. Đây chính là ví dụ điển hình về tình trạng thiếu minh bạch về thông tin, thiếu chia sẻ về lợi ích khi các công ty giao nhận vận tải là đại lý quốc tế của nhau và ngay cả khi các công ty đã ra nhập một mạng lưới các công ty giao nhận vận tải tòan cầu nào đó. Chính vấn đề này đã đẩy các doanh nghiệp giao nhận vận tải nhỏ và vừa của Việt Nam vào việc thà làm đại lý không độc quyền còn hơn là tham gia vào một liên kết có nhiều ràng buộc mà không thay đổi được điều gì trong lợi thế cạnh tranh hay phát triển. e. Liên kết với khách hàng
Bản thân ngành dịch vụ giao nhận vận tải vốn xuất phát từ chỗ một doanh nghiệp giao nhận làm công cho một doanh nghiệp có nhu cầu. Lúc đó doanh nghiệp giao nhận vận tải chỉ cần 1 đến 2 người, có trang bị máy tính nối mạng, điện thoại, máy fax và máy in. Doanh nghiệp có nhu cầu coi doanh nghiệp làm giao nhận vận tải đó như một bộ phận trong công ty của mình, dẫu không nằm trong biên chế và không quản lý trực tiếp. (phục vụ cho việc thuê phương tiện vận tải và khai quan là chủ yếu).
Có thể nói giải pháp liên kết với khách hàng được nêu ở đây cũng dựa trên cơ sở được khách hàng coi như một phần của doanh nghiệp họ. xét lĩnh vực xuất nhập khẩu. Hiện rất nhiều những doanh nghiệp làm thương mại của Việt Nam có một nguồn đầu ra tiêu thụ dồi dào cho các dòng sản phẩm được nhập ngoại. Tuy nhiên do hạn chế về mặt trình độ, ít tiếp cận công nghệ mà họ không thể tìm được nguồn hàng ngoại nhập mà lại chỉ có thể là đầu mối bán buôn cho các doanh nghiệp nhập khẩu, dù cho họ có nguồn vốn dồi dào không kém. Cũng như vậy với các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam, chưa nói đến những doanh nghiệp sản xuất hàng chỉ đủ đáp ứng cho nhu cầu nội địa, có rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu rất khó khăn trong việc tìm đầu ra tại các thị trường thế giới. Đây chính là một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp giao nhận vận tải quốc tế của Việt Nam : đứng trung gian tìm nguồn hàng và đầu ra cho lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Lợi ích của việc làm trung gian thương mại quốc tế này mang lại lợi ích cho doanh nghiệp vận tải giao nhận ở chỗ :
- Doanh nghiệp giao nhận vận tải có được tiền hoa hồng môi giới, có thể cả từ bên bán hoặc bên mua hoặc cả hai.
- Khi làm được việc này, thì doanh nghiệp giao nhận vận tải sẽ kiếm được những khách hàng trung thành. Khách hàng coi doanh nghiệp giao nhận vận tải lúc này không chỉ đơn thuần là người phục vụ mình, mà coi các doanh nghiệp như một bộ phận đa năng trong doanh nghiệp của họ, họ có thể tin tưởng và ủy thác gần như mọi việc trong khả năng doanh nghiệp giao nhận vận tải có thể cung cấp dịch vụ cho họ.
Có thể kết luận rằng, với việc làm này, các doanh nghiệp vận tải có thể có được khách hàng, lượng hàng ổn định hơn bao giờ hết, thậm chí còn gia tăng lợi nhuận, không chỉ là lợi nhuận từ những dịch vụ như trước kia, mà còn là hoa hồng môi giới. Trong khi với tiềm lực nhỏ và vừa, việc làm trung gian thương mại như thế này hầu như không yêu cầu quá nhiều về vốn hay cơ sở vật chất ở các doanh nghiệp giao nhận vận tải , thậm chí có thể nói là hầu như không phải đầu tư vốn. Chỉ cần có thể nắm được mạng lưới thông tin tòan cầu, tích cực tra cứu, có kỹ năng trong đàm phán….Nói chung đòi hỏi chủ yếu là ở trình độ, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ , kinh tế , giao tiếp, quan hệ và công nghệ thông tin của nguồn nhân lực.
3.2.3. Giải pháp cho vấn đề thương hiệu ở các doanh nghiệp giao nhận nhỏ và vừa của Việt Nam Khóa luận: Giải pháp phát triển các DN vận tải ở Việt Nam
Bây lâu nay chiến lược xây dựng thương hiệu là điều lạ lẫm đối với ngành dịch vụ giao nhận vận tải, điều mà họ thường cho rằng thuộc về những công ty sản xuất, thương mại hơn là cho mình. Nhưng thực tế nay đã khác. Cũng đã có nhiều doanh nghiệp giao nhận vận tải Việt Nam mạnh dạn đầu tư cho quảng cáo, tiếp thị nhưng điều ấy mới chỉ mang tinh chiến thuật hơn là chiến lược dài hơi. Suy cho cùng ngành nào cũng thế, mỗi doanh nghiệp cũng cần định vị mình một cách rõ ràng trong tâm tưởng nhìn một cách sâu sắc hơn về hiệu. người mua, người sử dụng. Đã đến lúc chúng ta vẫn đề thương hiệu cũng như phát triển thương
Nhiều năm trở lại đây, ngành dịch vụ vận tải giao nhận đã phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam thể hiện qua sự bùng nổ con số các doanh nghiệp tham gia ngành này. Những sự thay đổi ấy đã dẫn tới nguy cơ “phổ thông hóa” dịch vụ giao nhận vận tải trong mắt người mua dịch vụ. Nếu thực sự điều ấy xảy ra, các khách hàng hiện hữu và tiềm năng sẽ ngày càng không phân biệt khi lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ giao nhận vận tải. Và điều này, ngược lại sẽ làm cho áp lực cạnh tranh về giá ngày càng khốc liệt điều đã không phải là hiếm trong ngành. Câu hỏi cốt lõi đặt ra ở đây là, các nhà điều hành của công ty giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam sẽ làm gì để ứng phó với vấn đề này. Tài liệu Marketing đã định nghĩa thương hiệu “cái tên, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hay thiết kế hoặc bao gồm tất cả những thứ trên giúp xác định sản phẩm/ dịch vụ của một người bán hay nhóm người bán để khác biệt họ với đối thủ của mình” (Kotler và Armstrong, 2007). Quảng bá thương hiệu cũng được dùng trong việc truyền tải thông tin về một loại dịch vụ nào đó, giải thích một xu hướng trong chiến lược kinh doanh, thể hiện một cam kết đến xã hội, gắn công ty với một danh tiếng, hoặc đơn giản chỉ là nhắc thị trường về một công ty đại diện cho nó và nó đang làm gì. Việc làm rõ thương hiệu là rất quan trọng. Nếu một công ty mơ hồ về thương hiệu của mình, thị trường chắc chắn cũng không hiểu gì về nó.
Hãy coi Bee Logistics như là một ví dụ. Cái tên Bee ( con ong ) như đã nói lên phương châm tận tụy , cần mẫn, cung cấp dịch vụ ở mọi nơi, tại mọi thời điểm của Bee logistics. Đây là một cái tên có khả năng đọng lại cao trong tâm trí người sử dụng dịch vụ, có sức truyền tải thông điệp cao hơn, và đặc biệt ngắn gọn dễ nhớ. hơn hẳn những cái tên dùng tên riêng khác , hay những cái tên hầu như vô nghĩa ví dụ như Việt Vương Minh Vương (VVMV) logisitcs, rồi Hoàng Hà logistics…. Không chỉ vậy trong phần giới thiệu về mình, Bee logistics không giới hạn khả năng của mình, cũng không nói quá về khả năng của mình khi đã nói là: “ Bee Logisitcs là một 3PL “. Họ không chỉ có khả năng cung cấp những dịch vụ nhiều hơn các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ đang làm, họ có rất nhiều dịch vụ khác đúng nghĩa với một 3PL. Còn một vấn đề nữa khiến Bee Logistics dễ đi vào tâm trí khách hàng hơn đó là hệ thống trang web và đồng phục nhân viên. toàn bộ đồng phục nhân viên và hình nền trang web đều lấy màu cam vàng, màu của con ong và mật ong làm màu chủ đạo. Website của Bee ngoại trừ việc không có song ngữ anh-việt mà chỉ toàn tiếng anh, thì có thể nói là một trong những trang web của các doanh nghiệp logistics vừa và nhỏ được xây dựng hoàn chỉnh nhất ,đa dạng nhất và có tính tương tác tốt nhất. Không giống như ở các doanh nghiệp mà website không khác gì một tờ rơi trên mạng quảng cáo về doanh nghiệp. Bee logisitcs thể hiện với khách hàng rằng họ đã đang và sẽ ứng dụng công nghệ trong công việc. Những dữ liệu điện tử, báo giá điện tử .. là một điều mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có thể làm, nhưng họ có làm hay không lại là cả một vấn đề. Mô hình của Bee Logistics chỉ là ví dụ về một trong rất nhiều điều mà các doanh nghiệp giao nhận vận tải có thể làm để cá biệt hóa thương hiệu của mình trong tâm trí của người sử dụng dịch vụ. Sau đây xin được nêu cách mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể áp dụng ngay để đọng lại thương hiệu của mình trong lòng khách hàng:
- Thiết kế cho thương hiệu một logo bắt mắt kèm theo một khẩu hiệu có thể bao hàm ý nghĩa tên của thương hiệu. Logo luôn phải xuất hiện ở càng nhiều nơi bằng càng nhiều cách và tất nhiên với chi phí càng thấp càng tốt. Ví dụ như trên áo đồng phục công ty, trên các văn phòng phẩm của nhân viên công ty thường dùng để đi tiếp xúc khách hàng, trên quà tặng cho khách hàng….
- Luôn khiến cho khách hàng của bạn thấy được quá trình vận tải giao nhận nằm trong tầm kiềm soát của bạn bằng những bản báo cáo hàng ngày , hàng tuần về tình hình và tình trạng hàng hóa của họ.
- Xóa đi khoảng cách giũa khách hàng và doanh nghiệp :
Luôn khiến cho khách hàng của bạn thấy được quá trình vận tải giao nhận nằm trong tầm kiềm soát của bạn bằng những bản báo cáo hàng ngày , hàng tuần về tình hình và tình trạng hàng hóa của họ.
Dù khách hàng là ai, họ cũng không thể chuyên nghiệp và hiểu biết tất cả những kiến thức chuyên môn mà chúng ta đang làm việc. Hãy là một người bạn, một người tư vẫn miễn phí mỗi khi khách hàng cần dịch. Không sớm thì muộn, bạn sẽ trở thành cái tên khách hàng nhớ tới khi có khúc mắc. Và cuối cùng sẽ là cái tên mà khách hàng lựa chọn. Khóa luận: Giải pháp phát triển các DN vận tải ở Việt Nam
Một điều cần chú ý trong vấn đề này đó là các doanh nghiệp phục vụ 2 đối tượng. Một là thực thể trừu tượng, tòan bộ doanh nghiệp thuê dịch vụ, hai là một thực thể sống, người đại diện cho doanh nghiệp thuê dịch vụ. Việc xóa đi khoảng cách với người này có thể đẩy lên tới mức bạn bè, hoặc thấp hơn là gắn kết với nhau theo hướng đôi bên cùng có lợi. Cái lợi ở đây chính là hoa hồng , đây là một thực tế vẫn đang diễn ra và nên được nhìn nhận ở Việt Nam. Các doanh nghiệp giao nhận vừa và nhỏ luôn sẵn sàng chi trả hoa hồng cho người đại diện khách hàng nếu họ chọn dịch vụ của mình.
Tạo qua các quy trình chuẩn . Vẫn biết vận tải , mà đặc biệt là vận tải đường biển rất khó có thể đưa ra đựoc thời gian chính xác. Nhưng khi các doanh nghiệp luôn cho khách hàng của bạn những con số như một chuẩn mực về thời gian dịch vụ, luôn ép mình vào những tiêu chuẩn bắt buộc để hoàn thành những dịch vụ như khai quan, xếp dỡ….cùng với đó là dòng chảy thông tin luôn luôn thông suốt, doanh nghiệp sẽ tạo nên một thương hiệu Just in time trong lòng khách hàng.
Những minh chứng cho dịch vụ tốt . Hiện tại có rất nhiều công ty sản xuất thương mại tầm cỡ hoạt động trên thị trường Việt Nam. Nếu một doanh nghiệp có thể cung cấp dịch vụ cho những doanh nghiệp đó trong một khoảng thời gian dài liên tục, thì đương nhiên một điều chắc chắn là doanh nghiệp đó có dịch vụ tốt. Việc các doanh nghiệp cần làm là làm sao để các khách hàng lớn và nổi tiếng này của mình lên tiếng công nhận khả năng và chất lượng dịch vụ của mình qua một email, một thư giới thiệu… Đây là một dấu ấn không thể tốt hơn cho bất cứ doanh nghiệp giao nhận vận tải nào trước những khách hàng mới.
Sử dụng yếu tố con người : con người gần như là một yếu tố quan trọng nhất mà các doanh nghiệp giao nhận vừa và nhỏ có thể sử dụng như một mấu chốt để tạo ấn tượng với khách hàng. Đội ngũ nhân viên là đội ngũ tiếp xúc với khách hàng nhiều nhất, thường xuyên nhất. Có tạo ấn tượng với khách hàng hay không, tạo ra ấn tượng xấu hay tốt, tạo ra nhiều hay ít ấn tượng, đa phần đều do đội ngũ con người của doanh nghiệp. Khách hàng mong chờ gì ở đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp giao nhận vận tải. Đó là tác phong chuyên nghiệp, am hiểu chuyên môn và tất nhiên, luôn luôn nhiệt tình. Đây cũng chính là chìa khoấ để các doanh nghiệp vừa và nhỏ gây dựng thương hiệu, đồng thời tăng kết quả kinh doanh dựa vào nguồn lực con người của mình. Chính vì vậy, vẫn đề lựa chọn và đào tạo nhân viên của bản thân doanh nghiệp cần phải kỹ càng, bài bản.
KẾT LUẬN
Thị trường vận tải giao nhận Việt Nam đang trở nên ngày một hấp dẫn và hứa hẹn sẽ là một nguồn lợi hàng tỷ đô la hiện tại và trong tương lai. Ngành giao nhận vận tải, cũng sẽ trở thành một ngành đống vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế chung của toàn đất nước. Nhưng trong hiện tại, những ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những áp lực khi Việt Nam ra nhập WTO đã và sẽ tiếp tục gây ra những khó khăn không nhỏ cho nền kinh tế Việt Nam, ngành giao nhận vận tải và các công ty giao nhanạ vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam. Bên cạnh đó, vẫn còn quá nhiều điểm tồn tại trong hoạt động của các côing ty giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam. Đã đến lúc, cần phải có những nghiên cứu, những bàn luận và những hành động cụ thể, nghiêm túc nhằm tìm ra những biện pháp phát triển các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của chúng ta. Có thể là những giải pháp vĩ mô của nhà nước, cũng có thể là những giải pháp vi mô đến từ bản thân các doanh nghiệp. Với nguồn tài liệu, kinh nghiệm cũng như thời gian hạn hẹp, nhưng hy vọng rằng đề tài này đã đống góp một phần nhỏ trong việc nghiên cứu và tìm ra giải pháp nhằm phát triển các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam. Mong rằng trong tương lai không xa, những doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam sẽ giải quyết được những nhược điểm và khó khăn để có thể đóng vai trò nòng cốt, giúp giao nhận vận tải Việt Nam thực sự lớn mạnh và phát triển, chiếm lĩnh thị trường nội địa cũng như vươn ra những thị trường nước ngòai. Khóa luận: Giải pháp phát triển các DN vận tải ở Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận Thực trạng về các doanh nghiệp vận tải Việt Nam