Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng phát triển hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
1. Các loại hình dịch vụ logistics tại Nhật
1.1. Khái quát thực trạng dịch vụ logistics tại Nhật Bản
Năm 1955 Nhật Bản là thành viên chính thức của Hiệp hội chung về thuế quan và mậu dịch (GATT). Với việc lấy chính sách phát triển ngoại thương là tiềnM đề cho sự phát triển, nền kinh tế Nhật đã nhanh chóng phục hồi trong các năm 1945-1954, tăng trưởng cao từ năm 1955-1973, từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại song Nhật Bản vẫn là cường quốc kinh tế đứng thứ 2 trên thế giới. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành công nghiệp logistics- ngành phụ trợ rất nhiều cho các hoạt động ngoại thương của Nhật cũng phát triển tương xứng và đạt trình độ cao trên thế giới. Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Nhật Bản luôn là nước có kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa hàng đầu trên thế giới.
Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Nhật qua các năm
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tăng qua các năm 2018- 2023, riêng năm 2009 nền kinh tế Nhật chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới nên đã sụt giảm tới 1/3 tổng kim ngạch xuất nhập so với năm 2023. Hoạt động ngoại thương phát triển thì khối lượng hàng hóa vận chuyển cũng gia tăng tương xứng.
Theo bảng thống kê các chỉ số phát triển khối lượng hàng hóa phân theo ngành vận tải của Nhật từ năm 1980-2023, thì tổng khối lượng hàng hóa nhìn chung tăng đều qua các năm. Trước năm 2000 tổng khối lượng hàng hóa <100%, sau năm 2000 tổng khối lượng hàng hóa tăng >100%.
Bảng 3: Chỉ số phát triển khối lượng hàng hóa phân theo ngành vận tải của Nhật Bản
Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong nước tăng mạnh qua các năm, nhưng đổi lại khối lượng hàng hóa vận chuyển quốc tế có xu hướng giảm mạnh. Vận chuyển hàng hóa trong nước bằng ôtô và hàng không tăng mạnh, trong khi đó vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt và đường thủy nội địa lại đang có xu hướng giảm xuống. Vận chuyển hàng hóa bằng xe tải là chủ yếu đối với vận chuyển hàng hóa trong nội địa của Nhật (chiếm tới 90% khối lượng hàng hóa vận chuyển trong nước do xe tải có thể len loi vào tất cả các vùng địa hình của Nhật). Vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển và đường hàng không có xu hướng tăng, trong đó đường hàng không có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, vận chuyển hành khách quốc tế có xu hướng giảm mạnh trong những năm gần đây. Đối với vận chuyển hàng hóa quốc tế thì vận chuyển bằng đường biển chiếm tỷ trọng cao hơn rất nhiều so với vận tải hàng không (chiếm tới 70% lượng hàng hóa vận chuyển).(tham khảo phụ lục 1).
Theo công bố của MLIT (2009) thì khối lượng hàng hóa được vận chuyển bằng đường bộ và đường biển chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Nhật Bản: Vận tải đường bộ chiếm 57,1 % và vận tải đường biển chiếm 34,7 % trong tổng khối lượng hàng hóa được vận chuyển hàng năm.
Với chính sách phát triển ngành ngoại thương đúng đắn, tích cực áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới, là những tiền đề thuận lợi cho ngành logistics Nhật Bản phát triển và có nhiều khởi sắc. Nhật Bản là một trong những quốc gia đầu tiên đưa ra khái niệm logistics, quá trình phát triển logistics Nhật Bản gắn liền với quá trình phát triển của logistics trên thế giới. Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, chính sách đầu tư cho cơ sở hạ tầng từ những thập niên 50-60, Nhật Bản đã xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đại vào loại hạng nhất trên thế giới. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics Nhật Bản không chỉ đáp ứng được nhu cầu vận chuyển phân phối hàng hóa trong nước mà còn đang mở rộng hoạt động kinh doanh trên toàn thế giới, đó là các công ty nổi tiếng như: Nippon Express, NYK, MOL….Thị trường kinh doanh dịch vụ logistics Nhật Bản phát triển mạnh mẽ trong những năm vừa qua với hơn 60.000 doanh nghiệp tham gia chuyên môn hóa từng khâu của quá trình cung ứng. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Một số ít công ty có tiềm lực tài chính phát triển mạng lưới kinh doanh trên toàn cầu, ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao, với trang thiết bị phương tiện vận chuyển hiện đại cùng với hệ thống kho bãi và mạng lưới các chi nhánh, đại lý trên toàn thế giới, có khả năng cung ứng chuỗi logistics trên toàn thế giới.
Đặc điểm chung của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics tại Nhật đã được chuyên môn hóa, ứng dụng công nghệ, trang thiết bị hiện đại cơ giới hóa, cung cấp những dịch vụ chuyên nghiệp, uy tín cho khách hàng.
Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX khi mà Bộ Thương mại Nhật Bản-MITI chính thức thực hiện chính sách mở cửa thị trường vận tải, đã có một số doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập thị trường thành công: Schenker, UPS, FexEx DHL … Các nhà cung cấp này đang đánh bại các công ty Nhật trên một số lĩnh vực như là hệ thống kho bãi, phân phối và vận tải đa phương thức.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế
1.2. Các loại hình dịch vụ logistics tại Nhật Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Logistics tại Nhật đã đạt trình độ phát triển cao và hoàn thiện. Các công ty logistics của Nhật với phương châm “khách hàng là thượng đế” đã đa dạng hóa, chuyên nghiệp hóa các loại hình dịch vụ cung cấp, nhằm làm thỏa mãn tất cả các nhu cầu dù là nhỏ nhất của khách hàng. Dưới đây là một số dịch vụ logistics chính mà người viết tham khảo trên một số trang web của các công ty logistics nổi tiếng trên thị trường Nhật: Nippon Express, Sagawa Express, Fujibutsuryu, Kawasaki Kisen…
Mua sắm nguyên vật liệu: cung cấp đầy đủ dịch vụ đầu vào cho hoạt động sản xuất sản phẩm:
Cung cấp các tài liệu đấu thầu cho các nhà máy sản xuất, -Cung cấp bộ phận phụ tùng cho dây chuyền sản xuất,
Cung cấp các nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất….
Dịch vụ khách hàng
Hỗ trợ các nhà sản xuất gia tăng doanh số bán hàng để phân phối hàng hóa bằng cách áp dụng logistics bên thứ ba (3PL) liên kết với một loạt các phương thức vận tải bao gồm hệ thống giao hàng bưu kiện, hệ thống quản lý kho, bao khâu toàn bộ khâu phân phối cho nhà sản xuất.
Tăng cường khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng bằng hợp đồng cung cấp các bộ phận dịch vụ, sửa chữa thiết bị ban đầu, và cung cấp một loạt các chiến dịch bán hàng và cả sau bán bao gồm cả khâu thu hồi sản phẩm.
Hỗ trợ toàn bộ quá trình di chuyển, xin thị thực, giới thiệu chỗ ở, và đào tạo ngôn ngữ cho nhân viên đi công tác ở nước ngoài của các công ty khách hàng. Cung cấp cho người lao động ở nước ngoài tất cả các thông tin về các chương trình phúc lợi, điều kiện sống tại nước ngoài.
Xử lý các văn bản hóa đơn chứng từ cho các doanh nghiệp một cách kịp thời, hiệu quả, và an toàn.
Quản lý hoạt động dự trữ: Cung cấp các dịch vụ quản lý hàng hóa cho các doanh nghiệp từ khi nhận sản phẩm từ công ty khách hàng đến chọn vị trí kho hàng; thiết kế và lắp đặt các thiết bị kho hàng để bảo quản hàng hóa đặc biệt; tổ chức việc xuất nhập, lưu kho, bảo quản hàng hóa; thực hiện các công việc sổ sách, thống kê liên quan đến nghiệp vụ kho hàng… tái đóng gói. Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Dịch vụ vận tải
- Dịch vụ gửi quà, hàng mẫu từ Nhật bản tới 200 quốc gia trên thế giới.
- Dịch vụ chuyển nhà trọn gói.
- Dịch vụ chuyển phát nhanh giao hàng tận nhà: dịch vụ này sẽ cung cấp hàng hóa trong ngày hôm sau tới bất kỳ nơi nào trên nước Nhật. Khách hàng có thể lựa chọn cả khung thời gian mà hàng hóa vận chuyển đến nơi đến.
- Dịch vụ vận chuyển những hàng hóa đặc biệt: hàng đông lạnh được giữ ở nhiệt độ -180C và – 30C, chuyển phát dụng cụ chơi golf và hành lý đi du lịch, chuyển phát hành lý nặng, quá khổ tới sân bay cho khách hàng, vận chuyển các sản phẩm y tế (thuốc, nội tạng lắp ghép…), vận chuyến các tác phẩm nghệ thuật, vận chuyến đồ uống …
Hoạt động kho bãi, đóng gói
Cung cấp các vật liệu và kỹ thuật đóng gói dành cho các sản phẩm đặc biệt cụ thể danh cho các nhà sản xuất và phân phối.
Cho thuê kho bãi…
Các loại dịch vụ này được phân chia theo nội dung của hoạt động logistics. Các công ty logistics nhỏ trên thị trường Nhật Bản có thể là cung cấp một vài dịch vụ, nhưng các doanh nghiệp logistics lớn có thể bao trọn gói tất cả các dịch vụ, tạo thành một chuỗi cung cấp cho khách hàng.
Phương thức giao dịch: Tất cả các dịch vụ cũng như quy trình đóng gói, giá thành, lộ trình vận chuyển hàng hóa đều được cung cấp một cách đầy đủ, minh bạch trên trang web của công ty logistics. Các giao dịch cũng như yêu cầu của khách hàng, đều được thực hiện thông qua Internet: Khách hàng chỉ cần viết email hay gọi điện thoại yêu cầu cung cấp dịch vụ, hợp đồng vận chuyển hàng hóa sẽ được thực hiện thông qua Internet, thanh toán được chuyển khoản…
Về lộ trình vận chuyển hàng hóa trên toàn thế giới sẽ được thực hiện theo các bước sau. Đây là lộ trình mà hấu hết các công ty logistics toàn cầu đang cung ứng.
Hình 2: Lộ trình vận chuyển hàng hóa trên toàn thế giới của công ty Sagawa Express- Nhật Bản
Lộ trình: Hàng hóa sẽ được nhân viên công ty đến tận nhà thu lượm, chuyển đến các trung tâm đại lý, kho bãi của công ty, tại đây hàng hóa được tái đóng gói, bảo quản, làm thủ tục thông quan, sử dụng phương tiện vận tải tối ưu nhất (máy bay, tàu biển…) theo yêu cầu của khách hàng để vận chuyển đến đích. Tại đó, hàng hóa được vận chuyển vào kho, đại lý của công ty, và được phân phối đến các địa điểm theo yêu cầu của khách hàng.
Dòng luân chuyển của hàng hóa trong các công ty logistics: Nhìn vào vòng luân chuyển chúng ta có thể thấy hàng hóa sẽ được bao trọn tất cả các khâu dịch vụ, công đoạn được liên kết chặt chẽ hài hòa với nhau, được theo dõi thông qua hệ thống máy tính, quản trị tất cả luồng hàng hóa, để quá trình diễn ra một cách hài hòa và không bị gián đoạn.
Hình 3: Dòng luân chuyển hàng hóa trong công ty logistics Nhật Bản
Tóm lại, các công ty logistics Nhật Bản đã và đang cung cấp đa dạng hóa tất cả dịch vụ nhắm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, từ những dịch vụ trong đời sống thường ngày của người dân như vận chuyển hành lý cho người đi du lịch, chuyển phát nhanh giao hàng tận nhà vào đúng thời gian địa điểm yêu cầu … đến bao trọn các dịch vụ vận chuyển, tư vấn, cung ứng, tham gia cùng vào quá trình sản xuất của các công ty khách hàng.
2. Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động logistics Nhật Bản
Sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản bắt đầu vào quá trình xây dựng nền kinh tế. Hệ thống luật của Nhật Bản được ban hành trong những thập niên 50- 60 của thế kỷ XX. Nền chính trị của Nhật đi theo định hướng tư bản chủ nghĩa, chính phủ Nhật đã tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật cũng như hệ thống luật tiên tiến của thế giới, để hoàn thiện hệ thống luật nước mình, nhằm tạo cơ sở pháp lý tốt nhất cho các nhà tư bản trong nước có điều kiện phát triển. Hệ thống luật của Nhật đi theo hệ thống Civil law – mỗi lĩnh vực của đời sống, kinh tế xã hội có các luật riêng quy định một cách cụ thể và chi tiết. Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Hoạt động logistics có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, nên cũng chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật: luật Thương mại đối với các hoạt động thương mại, quy định về hình thức của công ty, luật Giao thông vận tải, luật Môi trường…
Riêng trong lĩnh vực giao thông vận tải Nhật Bản đã có 25 nguồn luật điều chỉnh. Các định nghĩa cũng như các nghiên cứu khoa học về logistics của Nhật Bản do Viện hệ thống Logistics Nhật Bản (Japan Institute of Logistics System – JILS) cung cấp. Hệ thống các văn bản điều chỉnh hoạt động logistics do Bộ Kinh tế Thương mại Công nghiệp Nhật Bản (Ministry of Economy, Trade, and Industry – METI), kết hợp với JILS, Bộ Đất đai Cơ sở hạ tầng Giao thông và Du lịch Nhật Bản (Ministry of Land, Infrastructure, Transport and Tourism- MLIT) phối hợp ban hành.
Chính phủ Nhật Bản có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành logistics. Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển, quy hoạch và cung cấp vốn cho việc xây dựng các trung tâm kho băi, cảng biển, cơ sở hạ tầng cho sự phát triển ngành logistics.
Năm 1997: Chính phủ đưa ra “Chương trình chính sách logistics tổng thể – Comprehensive Program of Logistics Policies”, hỗ trợ cung cấp vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng logistics chính, bao gồm đường sắt, đường bộ, sân bay, bến cảng, và các trung tâm kho vận.
Năm 2001: Chính phủ ban hành kế hoạch Logistics mới (New Logistics Plan) nhằm đáp ứng được 3 xu hướng và mục tiêu cơ bản phát triển logistics, bao gồm: 1) xây dựng cơ chế ngành logistics hiệu quả, tiên tiến; 2) xây dựng cơ chế logistics phù hợp với nhu cầu của xã hội; 3) xây dựng cơ chế ngành logistics có thể đảm bảo duy trì được cuộc sống người dân.
Năm 2020: Ban hành “Tổng quan về đề cương chính sách phân phối toàn diện- Overview of the Comprehensive Physical Distribution Policy Outline ” phát triển logistics nhằm thỏa mãn 2 mục tiêu: xây dựng thị trường logistics tiêu chuẩn có đủ khả năng cạnh tranh trên toàn thế giới và xây dựng hệ thống logistics thân thiện với môi trường- “green logistics”.
3. Hệ thống cơ sở hạ tầng Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Cơ sở hạ tầng là yếu tố cực kỳ quan trọng cho sự phát triển của các ngành kinh tế trên thế giới. Cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại là tiền đề cho phát triển kinh tế.
Cơ sở hạ tầng cho sự phát triển logistics gồm có cơ sở hạ tầng giao thông và cơ sở hạ tầng thông tin.
3.1. Hạ tầng giao thông
Giao thông vận tải là một bộ phận không thể thiếu đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics. Với tổng số 79 triệu xe ôtô (số liệu năm 12/2009 của Tổng cục thống kê Nhật Bản- Japan Statistics), cùng hệ thống tàu biển, hệ thống tàu cao tốc, công nghệ sản xuất ôtô phát triển, Nhật Bản là quốc gia có hệ thống cơ sơ hạ tầng hiện đại vào loại bậc nhất trên thế giới.
Hình 4: Bản đồ phân bố các cảng biển, sân bay chính và hệ thống đường cao tốc, đường sắt tại Nhật Bản
Từ bản đồ phân bố các cảng biển, sân bay chính và hệ thống đường cao tốc, đường sắt tại Nhật Bản chúng ta có thể nhận thấy rằng: Hệ thống cảng biển, sân bay được phân bố đều trên toàn thể lãnh thổ Nhật. Hệ thống đường cao tốc và đường sắt đã kết nối với cảng biển, sân bay, len lỏi tới tất cả các vùng, miền trong cả nước Nhật, đảm bảo hệ thống vận tải phân phối được thuận lợi và đều khắp.
3.1.1. Hệ thống cảng biển Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Theo số liệu của MLIT (2009), Nhật Bản có 128 cảng biển lớn và trung bình cùng hàng nghìn cảng nhỏ, trong đó có 23 cảng quốc tế cỡ lớn và 105 cảng cỡ trung. Các cảng được phân bố đều khắp nước Nhật. Vịnh Tokyo, vịnh Osaka và vịnh Ise là 3 vịnh chính của Nhật, mỗi năm xử lý khoảng 35% lượng hàng hóa cập cảng. Hệ thống trang thiết bị tại cảng hiện đại, những cần cẩu hạng lớn…
Hình 5: Cảng Tokyo- Nhật Bản
Cảng Tokyo: Chiều dài cảng nước là 5.292 ha, diện tích cảng 1.033 ha, đê chắn sóng dài: 8.581 m, cầu cảng dài 22.744 m gồm 140 bến tàu. Cảng Tokyo là cảng có giá trị hàng hóa thông quan xuất nhập khẩu lớn nhất Nhật Bản đạt 7668 tỷ Yên Nhật (năm 2022). Gồm 24 bến cảng và 110 cầu cảng.
3.1.2. Hệ thống cảng hàng không
Nhật Bản có 173 sân bay lớn nhỏ, phân bố tại hầu khắp các vùng trong cả nước. Ba sân bay quốc tế lớn nhất Nhật Bản là: Sân bay quốc tế Narita, sân bay quốc tế Kansai và sân bay quốc tế Chubu.
Sân bay quốc tế Narita có diện tích là 1.125ha, vận chuyến khoảng 30 triệu hành khách mỗi năm, là sân bay xếp thứ 8 trên thế giới về số lượng hành khách vận chuyển (chiếm 60% lượng hành khách của toàn nước Nhật), đứng thứ 2 trên thế giới về khối lượng hàng hóa vận chuyển. Có đường bay với 95 thành phố của 36 quốc gia và 2 vùng lãnh thổ trên thế giới.
Tổng cộng Nhật Bản có 314 đường bay tới các vùng lãnh thổ trên thế giới, 17 hãng hàng không, trong đó 2 hàng All Nippon Airways (ANA) và Japan Airlines (JAL) đã chiếm tới 90% doanh thu của thị trường hàng không hàng năm.
Hệ thống sân bay lớn đã xây dựng hệ thống kho bãi để có thể chứa và lưu trữ lượng hàng hóa được vận chuyển.
Nhật Bản đã xây dựng được các sân bay nhân tạo trên biển với các trang thiết bị hiện đại: Sân bay quốc tế Chubu, sân bay quốc tế Haneda, sân bay quốc tế Kansai, sân bay vịnh Tokyo, sân bay Kobe, sân bay New Kitakyushu.
3.1.3. Hệ thống đường sông Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Nhật Bản có 31 con sông. Với đặc điểm là sông ngắn và dòng chảy rất xiết, bắt nguồn từ hệ thống núi nằm chính giữa quần đảo. Đường thủy nội địa có vai trò quan trọng trong vận chuyển hàng hóa, vận chuyển hàng hóa từ các cảng biển vào sâu trong đất liền bằng tàu thủy nội địa với trọng tải nhỏ.
3.1.4. Hệ thống đường bộ
Nhật Bản có khoảng 1.177.278 km đường bộ được hiện đại hóa, nối liền tất cả các vùng miền. Với 23.577 km đường sắt được điều khiển bởi Japan Railways, hệ thống đường sắt đã được hoàn thiện, gồm một hệ thống đường ray duy nhất dành cho các loại tàu: tàu siêu cao tốc (Tokkyu), tàu cao tốc (Shinkansen), tàu thường (Futsui), tàu chậm. Hệ thống đường cao tốc đã bao trùm bốn hòn đảo ở Nhật Bản. Đặc điểm của hệ thống tàu điện của Nhật Bản đó là tính chính xác, đúng giờ. Các phương tiện giao thông công cộng không bao giờ xuất phát chậm thậm chí chỉ là 1 giây so với quy định. Tất cả các hải đảo được kết nối bởi cây cầu xuyên đại dương và tuyến đường hầm biển.
3.1.4. Hệ thống kho bãi
Do Nhật Bản là quốc đảo, để đảm bảo an ning quốc gia, Chính phủ Nhật đã đầu tư xây dựng hệ thống kho bãi từ rất sớm. Năm 1965 chính phủ Nhật Bản xây dựng 4 trung tâm kho vận hậu cần ở Kansai (phía Đông Tokyo), Hoping Island (phía Nam Tokyo), Oshima (phía Tây Tokyo) và Adachi (phía Bắc Tokyo). Hiện nay Nhật Bản đã xây dựng hơn 22 bãi kho vận hậu cần quy mô lớn tại 20 thành phố. Trung tâm của bãi kho vận là vùng tam giác Tokyo, Nagoya, Osaka thuộc đảo Honshu.
Đặc điểm của hệ thống kho bãi Nhật Bản là được tập trung xây dựng gần các thành phố lớn và các tuyến đường giao thông huyết mạch, được cơ giới hóa, trang thiết bị hiện đại. Hàng hóa trong hệ thống kho được quản lý toàn bộ bằng hệ thống máy tính.
3.2 Hạ tầng thông tin Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những quốc gia có trình độ công nghệ thông tin phát triển hàng đầu thế giới. Mạng lưới hạ tầng công nghệ phát triển, thương mại điện tử phát triển góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh logistics phát triển.
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỷ lệ phổ cập Internet và có mạng băng rộng, cáp quang tới tận nhà, truyền hình cáp mạnh nhất thế giới. Bằng việc sử dụng điện thoại 3G người Nhật có thể truy cập Internet một cách dễ dàng ở mọi lúc, mọi nơi.
Hệ thống bản đồ điện tử gắn vào các xe ôtô được tích hợp hệ thống thông tin địa lý giúp ích rất nhiều cho các lái xe. Với bản đồ điện tử có thể dễ dàng định hướng và tìm đường một cách nhanh nhất, tạo điều kiện cho các phương tiện giao thông vận tải phát triển nhanh.
Hệ thống định vị toàn cầu GPS được tích hợp vào trong máy điện thoại di động tại Nhật, trong xe ôtô, cho phép biết được địa điểm chính xác người hay chiếc xe hiện tại đang ở đâu. Đây được cho là hệ thống rất thích hợp dành cho các công ty giao nhận vận tải để theo dõi tình hình vận chuyển hàng hóa từ trung tâm điều khiển.
Hệ thống mã vạch được sử dụng phổ biến trong các hệ thống thẻ: thẻ ngân hàng, thẻ tàu điện, tàu cao tốc, thẻ điện thoại… cũng như trên các sản phẩm của hàng hóa, tạo điều kiện cho thương mại điện tử phát triển nhanh chóng tại Nhật. Hầu hết các giao dịch thanh toán tại Nhật đều được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng.
Hiện nay, METI đang khuyến khích các doanh nghiệp logistics áp dụng thẻ đọc thông minh (RFID-Radio Frequency Identification) trong hoạt động vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu. Thẻ điện tử sẽ được gắn liền với container hàng hải và các tài liệu vận tải khác, sẽ giúp công ty xác minh lộ trình của hàng hóa từ các thông tin được đọc và lưu trữ trong cơ sở dữ liệu được thực hiện tự động. Hệ thống RFID giúp phát triển hệ thống logistics linh hoạt có thể thích ứng với những thay đổi trong cung và cầu, tạo ra cách thức thông quan mới trong tương lai.
Trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, quá trình thông quan điện tử đã diễn ra tại hầu hết các cảng biển của Nhật Bản, thông qua hệ thống máy tính, máy theo dõi, máy soi chụp container…. Thủ tục thông quan đối với hàng hóa được cung cấp trên trang web của tổng cục Hải quan Nhật Bản (Japan Customs). Tất cả quá trình thông quan hàng hóa đều được diễn ra thông qua sự kiểm soát của hệ thống máy tính, nhanh và gọn, minh bạch và đặc biệt là không có tiêu cực (Yamada Tatsuya- Tổng giám đốc công ty Logitem 2, 2010).
Chính bởi hạ tầng thông tin hiện đại, tạo điều kiện cho thương mại điện tử đã phát triển mạnh tại Nhật (có 83% người dân Nhật mua hàng trực tuyến trên mạng). Cùng với quá trình thông quan điện tử được diễn ra hoàn toàn, … đã tạo điều kiện để quá trình thông quan xuất nhập khẩu diễn ra nhanh, giảm thiểu thời gian cung ứng hàng hóa.
Từ những tiền đề cơ sở hạ tầng phát triển và hiện đại, tạo điều kiện cho ngành logistics của Nhật ngày càng phát triển mạnh và có đủ năng lực mở rộng phạm vi cung ứng dịch vụ trên toàn thế giới.
4. Người cung cấp và sử dụng dịch vụ logistics Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
4.1. Khái quát tình hình phát triển của các ngành vận tải Nhật Bản trong những năm gần đây
Từ bốn biểu đồ phía dưới đã cho thấy, doanh thu và lợi nhuận của các ngành vận tải của Nhật tăng đều qua các năm nhưng đều có sụt giảm mạnh trong năm tài chính 2023 (1/4/2023 – 31/3/2009), nguyên nhân của tình trạng này là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt đầu từ mùa thu năm 2023.
Hình 5: Quy mô các ngành vận tải giao nhận chính tại Nhật
Vận tải ôtô trong nước
Ngành vận tải ôtô của Nhật hiện nay có khoảng 62.567 doanh nghiệp tham gia kinh doanh (Hiệp hội vận tải Nhật Bản-JTA, 2023). Hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp vận tải trong nước Nhật diễn ra ngày càng gay gắt, do sự thâm nhập mới của nhiều doanh nghiệp trong khi nhu cầu vận chuyển trong nước lại giảm, chi phí vận chuyển tăng cao do ảnh hưởng của giá dầu thế giới. Năm 2023 chứng kiến sự sụt giảm cả về khối lượng hàng hóa vận chuyển và doanh thu của các công ty kinh doanh nổi tiếng trong ngành. Theo MLIT trong năm tài khóa 2023 tổng lượng hàng hóa vận chuyển trong nước Nhật là 5 tỷ 328 triệu tấn, giảm 6,7% so với năm 2022. Số lượng hàng hóa vận chuyển bằng xe tải là 2 tỷ 755 triệu tấn giảm 5,9% so với năm trước. Ngành chuyển phát nhanh của Nhật có sự tăng trưởng liên tục từ năm 1984 đến nay, thì năm nay cũng chứng kiến sự giảm sút. Doanh thu của các đại gia trong ngành cũng sụt giảm: Nippon Express giảm là 3,8%, Seinohorudingusu giảm 4,0%, Sankyu giảm 3,3%, Kintetsu World Express giảm10,9% và Công ty TNHH vận tải Fukuyama giảm 4,3% và Nisshin giảm 13,1%, Công ty Vận tải giao nhận Nhật bản giảm 8,1% so với năm 2022.
Trong ngành vận tải nội địa đang diễn ra hoạt động chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ để thích nghi với tình hình kinh doanh mới. Công ty Dịch vụ bưu chính Nhật Bản được tư nhân hóa tháng 10/2023 và thành lập nên Nippon Express- tham gia vào lĩnh vực giao hàng tận nhà và tranh giành thị phần với 2 công ty mạnh nhất của Nhật là Yamato và Sagawa Express. Seinohorudingusu West mua lại Công ty vận tải Nishibu ngày 09/4/2009; Công ty TNHH vận tải Fukuyama thành lập công ty mẹ con với Prince trong tháng 10/2009; công ty cổ phần Vận tải Tonami chuyển công ty cổ phầnTonamihorudingusu tháng 10/2009 và tháng 3/2010 công bố một quan hệ đối tác với MOL Logistics sẽ làm cho cơ cấu ngành vận tải nội địa chắc chắn sẽ có nhiều thay đổi.
Ngành vận tải biển
Hiện nay, Nhật Bản dựa vào vận tải biển để vận chuyển phần lớn các mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày của người dân. Khoảng 99,7% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu đều thông qua các cảng biển; khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển chiếm 38,7% tất cả các hàng hóa phân phối trong nước (MLIT, 2021).
Theo số liệu của MLIT thì khối lượng hàng hóa vận chuyển qua 5 cảng chính của Nhật Bản hầu như không thay đổi trong 5 năm (1997- 2018) khoảng 10 500 TEU. Trong khi đó số lượng các container xử lý tại các cảng địa phương ngày càng tăng (MLIT, 2021). Điều này cho thấy sự chuyển dịch trong việc vận chuyển hàng hóa tại các cảng của Nhật Bản, nhằm tránh tình trạng quá tải thông qua các hệ thống cảng chính. Dự đoán đến năm 2015 khối lượng container được xử lý thông qua các cảng biển Nhật Bản sẽ vào khoảng từ 20 – 23 triệu TEU. Từ năm 2018 trở lại đây, các cảng của Nhật Bản ngày càng tụt dần vị trí trong bảng xếp hạng các cảng có khối lượng bốc dỡ container lớn trên thế giới.
Bảng 4: Vị trí xếp hạng các cảng container Nhật Bản trên thế giới
Nguyên nhân của tình trạng trên là do các cảng biển của Nhật đã được đầu tư xây dựng kiên cố hoàn chỉnh từ năm 1987, không đón được tàu có trọng tải nặng so với các cảng có công suất lớn mới được xây dựng tại Trung Quốc và Hàn Quốc. Năm 2023 công suất bốc dỡ của cảng Tokyo (cảng lớn nhất Nhật Bản) là 4 271 000 TEU đứng thứ 24 trên thế giới, năm 2020 đứng thứ 22, năm 2017 đứng thứ 20 trên thế giới. Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Ngành vận tải biển của Nhật chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ nên có sự sụt giảm doanh số trong năm 2023. Ba công ty có doanh thu hàng đầu Nhật Bản năm 2022 là NYK, Mitsui OSK Lines, Kawasaki Kisen Kaisha, Ltd cũng có doanh thu giảm mạnh trong năm 2023.
Thị trường hàng hải Nhật Bản đang trông chờ vào nhu cầu vận chuyển hàng rời của các nước có nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc và Ân Độ. Dự kiến ngành hàng hải Nhật sẽ dư thừa tàu vào năm 2010.
Ngành hàng không
Ngành hàng không của Nhật đang chứng kiến sự sụt giảm về số lượng khách du lịch cũng như hàng hóa vận chuyển, ngành công nghiệp hàng không Nhật Bản đang trong tình trạng khủng hoảng: Japan Airlines thua lỗ 63 100 triệu yên, All Nippon Airways thua lỗ 4 200 triệu yên, có 6 hãng hàng không bị thua lỗ trong năm 2023.
JAL là hãng hàng không lớn nhất của khu vực châu Á (tính theo doanh số) và được thành lập vào năm 1951, JAL vận chuyển ít nhất 45 triệu hành khách trong năm 2009. Trong nửa đầu của năm tài khóa 2009, JAL đã thua lỗ 131 tỷ Yên (khoảng 1,5 tỷ USD) vì ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu. Tháng 1/2010 Chính phủ Nhật Bản đã phải ban hành một đạo luật đặc biệt để tránh việc phá sản của JAL.
Trong điều kiện kinh doanh khó khăn, các công ty hàng không đã thực hiện giảm giá trong mùa cao điểm, cắt giảm lương nhân viên và thực hiện các biện pháp khác nhau nhằm đối phó với khủng hoảng. Các doanh nghiệp đang trông chờ năm 2010 khi một số đường bay tại sân bay Narita và Haneda được mở rộng cộng với giá nhiên liệu giảm, đồng yên lên giá thì sẽ làm cho lượng khách du lịch nước ngoài tăng lên.
Đường sắt
Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, mặc dù ngành đường sắt đã giảm giá vé nhưng nhu cầu đi lại của người dân Nhật vẫn không cải thiện. Năm 2001 các công ty đường sắt bắt đầu cung cấp dịch vụ sử dụng thẻ IC và tiền điện tử. Mức độ tiện lợi đã được tăng lên nhiều. Do dân số ngày càng giảm, các doanh nghiệp đường sắt phải giảm nhân viên, việc áp dụng thẻ và tiền điện tử sẽ ngày một tăng trên nước Nhật.
Tóm lại các ngành dịch vụ vận tải của Nhật phát triển rực rỡ trong quá khứ, thì những năm gần đây đang chứng kiến một sự sụt giảm về doanh thu và đang gặp khó khăn. Nguyên nhân là do nền kinh tế Nhật ngày càng sa sút, sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và vấn đề dân số già. Trước tình hình đó các công ty logistics Nhật Bản đang cố gắng mở rộng hoạt động kinh doanh ra phạm vi trên toàn thế giới.
4.2. Người cung cấp và sử dụng dịch vụ logistics tại Nhật Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
4.2.1. Người cung cấp dịch vụ logistics
Như đã trình bày ở trước thì ngành logistics Nhật Bản đã phát triển mạnh và đạt trình độ cao của thế giới. Các doanh nghiệp logistics đã chiếm lĩnh được thị trường trong nước và đang mở rộng hoạt động trên toàn thế giới. Hầu hết các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiến hành một số khâu của chuỗi cung ứng và đạt trình độ chuyên môn hóa cao. Một số doanh nghiệp Nhật phát triển mạnh mạng lưới cung cấp chuỗi cung ứng trên toàn thế giới và trở thành những công ty nổi tiếng như: JAL, Nippon Express, Sagawa Express, NYK, MOL, Kawasaki Kisen….
Theo các thông tin trên trang web http://www.nipponexpress.com/ truy cập ngày 5/5/2010 thì tính đến cuối năm 2009, Nippon Express có 45 chi nhánh và 17 trung tâm phân phối trên toàn nước Nhật, 386 chi nhánh tại 36 quốc gia trên thế giới với 15.495 nhân viên hỗ trợ quy trình kinh doanh hàng ngày của khách hàng. Thông qua hệ thống trao đổi dữ liệu EDI, công ty đã có khả năng thiết lập hệ thống trao đổi thông tin toàn cầu cho phép quản lý thương mại qua biên giới, trao đổi hóa đơn dữ liệu và kiểm soát hàng tồn kho. Hệ thống thủ tục hải quan thông quan tự động của công ty sẽ xử lý hóa đơn dữ liệu cho phép công ty tối đa hóa hiệu quả nhập khẩu. Nippon Express thể hiện là công ty nổi tiếng toàn cầu: tham gia vào hiệp hội Hiệp hội Bảo vệ tài sản và Công nghệ (Technology Asset Protection Association) áp dụng các tiêu chuẩn cao nhất về an ninh và thực hành an toàn trong hoạt động kinh doanh, đạt tiêu chuẩn ISO 9001 về chất lượng phục vụ, đạt tiêu chuẩn ISO 14001 về môi trường. Ngày 1/7/2009 chi nhánh của công ty tại Châu Âu được cấp giấy phép AEO được phép tiếp cận hợp lý các thủ tục hải quan tại lục địa này.
Về quy mô các doanh nghiệp:
Đa số các công ty vận chuyển hàng hóa ở Nhật Bản đều là các công ty vừa và nhỏ (SMEs). Thông thường 99,9% các chủ tàu chở hàng hóa là các công ty có qui mô vừa và nhỏ với tổng vốn 100 triệu yên hoặc ít hơn và 300 công nhân. Tổng số các SMEs này chiếm khoảng hơn 50 000 công ty. Các công ty vận tải biển cũng không lớn (Phạm Gia Túc -Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VCCI, 2009). Số lượng tàu hoạt động trong nước 6.056 tàu trong đó tàu dưới 200 tấn chiếm 53 %, tàu trên 1000 tấn chỉ chiếm 10%.
Trong lĩnh vực cung ứng hàng hóa bằng xe tải 62.567công ty. Nhưng hầu hết đều là những công ty có quy mô nhỏ. Số lượng các công ty có >200 xe chỉ chiếm 0,3% số các công ty kinh doanh trong lĩnh vực này. (JTA, 2023)
Hình 6: Tỷ lệ quy mô các doanh nghiệp vận tải đường bộ của Nhật Bản
Về cấp độ của các công ty logistics Nhật Bản: Bất kỳ thị trường logistics nào trên thế giới đều tồn tại doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics tại các cấp độ khác nhau. Tại thị trường Nhật Bản các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ 3PL ngày càng phát triển nhanh và có những doanh nghiệp đã đạt trình độ cung cấp dịch vụ 4PL.
3PL ở Nhật Bản được bắt đầu từ năm 1997, khi Bộ Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản – MITI ban hành “Chương trình bao quát chính sách logistics”. Thị trường 3PL đã thực sự thu hút được sự chú ý của các doanh nhân Nhật Bản. Tăng trưởng của thị trường 3PL của Nhật Bản rất nhanh và đóng góp tới 40% trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương năm 2021. Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Yano (Yano Research Institute) Nhật Bản, thị trường 3PL của Nhật Bản tăng rất nhanh, từ mức 1 nghìn tỉ yên năm 2018 dự đoán lên mức 1.8 nghìn tỉ yên năm 2013.
Hình 7:Dự đoán thị trường 3PL của Nhật đến năm 2013
Cũng theo cuộc điều tra của viện Yano khi tiến hành phỏng vấn 87 công ty logistics Nhật Bản, thì 72 công ty trả lời có khả năng thực hiện thành thạo các nghiệp vụ chuyên môn để nâng cao tính hiệu quả và giảm mức chi phí logistics, 52 công ty trả lời có khả năng hoàn thiện các công việc Quản lý chuỗi cung cấp (SCM Supply Chain Management) và 13 công ty có khả năng tư vấn những vấn đề quản lý chung ngoài phạm vi lĩnh vực logistics.
Các doanh nghiệp logistics nước ngoài tại Nhật Bản
Nhật Bản thực sự là một thị trường khó tính cho các doanh nghiệp nước ngoài muốn thâm nhập. Không chỉ bởi các cơ chế chính sách của Chính phủ nhà nước nhằm bảo hộ nền kinh tế, mà do chính sách nghiệp đoàn, việc mối uy tín làm ăn, e dè khi sử dụng những sản phẩm dịch vụ mới của người dân Nhật đã tạo ra những cản trở cho các doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia vào thị trường. Yêu cầu của người dân Nhật về chất lượng hàng hóa cũng như dịch vụ là “khá khắt khe”. Thậm chí hàng hóa đã bị trả lại do một sự chậm trễ chỉ một phút hoặc do các thái độ không tốt của người lái xe (Akira Hamada, Giám đốc kinh doanh công ty MHD Diageo Moet Hennessy K.K.’s, 2020).
Không giống như thị trường Mỹ hàng hóa nói chung được phân phối với số lượng lớn, chứa trong thùng chứa hoặc pallet lớn và chuẩn, thì ở Nhật hàng hóa thường xuyên giao bằng lô nhỏ, nhưng chắc chắn là phải bảo đảm just-in-time, pallet không chuẩn được sử dụng rất nhiều.(Kan -Tổng giám đốc công ty Funai Logistics, 2020).
Các công ty logistics Nhật Bản tại Việt Nam
Cùng với làn sóng đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản từ thập niên 90 của thế kỷ XX, các doanh nghiệp logistics Nhật Bản cũng thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Đây được coi là thị trường tiềm năng của các doanh nghiệp Nhật, khi mà ngành dịch vụ logistics của Việt Nam vẫn chưa thực sự được phát triển. Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Cho đến năm 2021 khi mà Nghị định 140/2022/NĐ-CP chưa ra đời, đã có một số doanh nghiệp logistics nổi tiếng trên thế giới thành lập công ty 100% vốn nước ngoài kinh doanh dich vụ logistics tại thị trường Việt Nam, trong đó có 5 công ty của Nhật Bản: NYK (Nippon Yusen Kaisha), Nippon Express, Yamato, Nissin và Logitem Việt Nam (Yamada Tatsuya- Logitem Vietnam, 2010).
Các công ty này chủ yếu đang cung cấp dịch vụ giao nhận vận tải cho khối doanh nghiệp Nhật tại nước ta. Cùng với các công ty logistics nổi tiếng trên thế giới, các công ty logistics của Nhật đang phục vụ 75% thị trường logistics tại nước ta (Các công ty vận tải giao nhận Việt Nam mới chỉ cung cấp 25% nhu cầu thị trường trong nước (Cục Hàng hải Việt Nam, 2023)).
Tóm lại: Với trình độ phát triển cao về công nghệ và kỹ thuật, các công ty logistics Nhật Bản đã đạt trình độ cao của thế giới, cung cấp những dịch vụ toàn diện của chuỗi logistics trên toàn cầu. Các công ty logistics Nhật Bản đã chiếm lĩnh được thị trường logistics trong nước mình và đang vươn cánh tay dài ra thị trường logistics, mở rộng phạm vi hoạt động trên toàn thế giới.
4.2.2. Người sử dụng dịch vụ logistics
Nhật Bản là nền kinh tế lớn trên thế giới, thương mại điện tử phát triển, là quốc gia có ngành dịch vụ chiếm tới 70% cơ cấu nền kinh tế. Các dịch vụ giao hàng tận nhà, dịch vụ tiện ích, chuyển nhà, vận chuyển hàng hóa… là không thể thiếu trong đời sống thường ngày của người dân Nhật. Càng ngày, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tiện ích ngày càng tăng.
Các doanh nghiệp Nhật Bản cũng nhận ra những lợi ích khi đi thuê ngoài dịch vụ logistics. Ví dụ như trường hợp của công ty Moet Hennessy MHD Diageo K.K, một liên doanh giữa Moet Hennessy Louis Vuitton của Pháp và Diageo của Anh, nhập khẩu đồ uống như rượu whisky, rượu vang, brandy và rượu sâm banh. Mặc dù công ty đã có lực lượng nhân viên để quản lý 12 kho bãi chứa hàng và cung cấp hàng hóa, nhưng để giảm 20% chi phí phân phối và giảm bớt số lượng nhân viên, công ty đã thuê công ty kho vận Sumitomo để bao trọn bộ khâu phân phối hàng hóa tại Nhật.
Ngay cả những công ty nổi tiếng, có đủ tiềm năng kinh tế, nổi tiếng trên thế giới về khả năng quản lý chuỗi cung ứng một cách nhịp nhàng, thậm chí chuỗi cung ứng đã hoàn hảo khi sản phẩm sản xuất ra không cần lưu kho như là Toyota, Canon cũng tham gia thuê ngoài một số dịch vụ logistics: thuê kho ngoại quan, vận chuyển bộ phận linh kiện…đảm bảo just-in-time.
Toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, quá trình chuyên môn hóa ngày càng được mở rộng, nhu cầu thuê ngoài dịch vụ logistics sẽ ngày càng tăng không chỉ ở thị trường Nhật Bản mà còn ở tất cả các quốc gia trên thế giới.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI NHẬT BẢN Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
1. Những thuận lợi khó khăn trong hoạt động logistics tại Nhật Bản
1.1. Những thuận lợi cho việc phát triển logistics tại Nhật Bản
Thực tế cho thấy những quốc gia nào có ngành logistics phát triển thì có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế và ngược lại. Phát triển ngành logistics Nhật Bản cũng có những điều kiện thuận lợi sau:
Nhật Bản là một quốc đảo có nhiều cảng biển hiện đại tạo điều kiện cho ngành vận tải đường biển phát triển.
Cơ sở hạ tầng hiện đại: Hệ thống sân bay, hạ tầng kỹ thuật tại các cảng hiện đại, hệ thống tàu siêu tốc nổi tiếng thế giới.
Nhật Bản là quốc gia có lượng dự trữ ngoại tệ lớn thứ II trên thế giới, có tiềm lực về kinh tế trên thế giới.
Khoa học kỹ thuật phát triển: tự động hóa, chế tạo máy phát triển, công nghệ đóng tàu hàng đầu thế giới.
Thương mại điện tử và công nghệ thông tin phát triển, người dân có hiểu biết về logistics, cũng như thói quen sử dụng các dịch vụ tiện ích.
1.2. Khó khăn
Điều kiện tự nhiên: Nhật bản có hơn 5.000 hòn đảo, 75% địa hình của Nhật bản là núi. Đất dành cho xây dựng thì có giới hạn, và rất đắt. Chi phí kho bãi nhà xưởng để phát triển logistics là lớn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia hay bị thiên tai, động đất, núi lửa gây rất nhiều thiệt hại cho nền kinh tế cũng như cản trở hoạt động logistics. Trận động đất năm 2020 đã phá hủy 23 cầu cảng cũng như trang thiết bị hạ tầng tại cảng tại Kobe của Nhật.
Không có nguồn tài nguyên quý hiếm, các nguồn năng lượng chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài. Chi phí cho ngành logistics Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất nhiều của giá dầu trên thế giới. Các nguyên vật liệu cho ngành công nghiệp phụ trợ cho logistics đều phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Nguồn nhân lực làm việc trong các công ty ngày càng giảm: Nền kinh tế Nhật Bản đang phải đối mặt với tình trạng dân số già: số người sinh ra ít hơn số người chết đi.
Hình 8: Bản đồ thể hiện số người sinh ra và mất đi của Nhật Bản qua các năm
Số người trong độ tuổi lao động ngày càng giảm, số lượng người già ngày càng tăng gây ra tình trạng thiếu nguồn nhân lực trầm trọng, vấn đề tiền trợ cấp cho người già, người về hưu đang là gánh nặng cho các doanh nghiệp logistics Nhật.
Thị trường kinh doanh dịch vụ logistics ngày càng có nhiều khó khăn, do số doanh nghiệp cung ứng dịch vụ ngày càng nhiều mà nhu cầu của thị trường trong nước ngày càng co hẹp. Rất nhiều doanh nghiệp nhỏ của Nhật Bản không trụ vững được, các doanh nghiệp lớn hơn đang cố gắng mở rộng thị trường trên phạm vi toàn thế giới.
Quy định ngày càng khắt khe của chính phủ Nhật đối với việc phát triển logistics: logistics phải đảm bảo an ninh xã hội, giữ gìn môi trường (logistics xanh).
2. Những thành tựu ngành logistics Nhật Bản đã đạt được Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Trải qua quá trình phát triển và trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới, chất lượng hàng hóa dịch vụ của Nhật Bản đã được khẳng định. Ngành sản xuất của Nhật nổi tiếng với việc cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao, tiện dụng, với chi phí hợp lý nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Các công ty logistics Nhật Bản từng bước khẳng định vị thế trên trường thế giới, cung cấp những dịch vụ có uy tín đảm bảo cho khách hàng.
Ngành logistics của Nhật Bản đã đạt được những thành công đáng kể sau:
Nếu xét theo tiêu chí bao gồm thủ tục hải quan, chi phí logistics, chất lượng hạ tầng cơ sở, vận chuyển hàng hóa quốc tế, Nhật Bản luôn xếp thứ hạng cao về chỉ số phát triển dịch vụ logistics (Logistics Performance Index LPI) trên thế giới. Năm 2009 Nhật Bản xếp vị trí sau các nước như: Đức, Singapore, Thụy Điển, Phần Lan, Lucxembua, Thụy Sỹ và đứng trên Mỹ, Hồng Kông, Trung Quốc, Pháp, Anh, Hàn Quốc….
Bảng 5: Bảng xếp hạng chỉ số LPI của Nhật Bản qua các năm
Chi phí logistics so với GDP của Nhật Bản ngày càng thấp, thấp hơn chi phí logistics so với GDP của Mỹ. Đây là thành tựu rất lớn đối với nền kinh tế Nhật Bản.
Theo thống kê của Viện hệ thống logistics Nhật Bản công bố vào tháng 3/2009 chi phí logistics so với GDP của Nhật ngày càng giảm: từ 10,5% GDP vào năm 1991 và đến năm 2020 con số chỉ là 8,4%, năm 2021 là 8,7%. Trong đó chi phí quản lý logistics hầu như không thay đổi bằng 0,4% GDP. Chi phí bảo quản và vận chuyển hàng hóa ngày càng có xu hướng giảm xuống. GDP của Nhật hầu như không thay đổi. Điều này chứng tỏ rằng chi phí logistics ngày càng giảm.
Qua hai biểu đồ có thể thấy chi phí logistics của Nhật Bản qua các năm đều thấp hơn chi phí logistics của Mỹ.
Hình 9: Chi phí logistics so với GDP qua các năm của Nhật Bản
Tổng chi phí logistics so với GDP ▲ Chi phí bảo quản so với GDP
Chi phí vận chuyển so với GDP ● Chi phí quản lý logistics so với GDP
Hình 10: Chi phí logistics so với GDP của Mỹ qua các năm
Mặc dù những năm gần đây Nhật Bản đang tụt dần thứ hạng trên về khối lượng container được xử lý trên thế giới, nhưng Nhật Bản là nước đứng thứ 4 trên thế giới về khối lượng container được xử lý chiếm 4,3% trên toàn thế giới (năm 2018).
Bảng 6: Biểu đồ xếp hạng các nước vận tải container lớn nhất thế giới
Theo MLIT (2022), có 3 công ty của Nhật lọt vào top 20 công ty có tàu container lớn nhất thế giới đó là (MLIT, 2022): NYK / Tokyo Senpaku Kaisha, Ltd (106 tàu 309 988 TEU) , MOL (90 tàu, 280 055 TEU), Kawasaki Kisen Kaisha, Ltd (80 tàu- 260 560 TEU).
Có 4 cảng container của Nhật Bản lọt vào top 50 cảng container lớn nhất thế giới (thống kê ở phần trên).
Nhật Bản là một trong những quốc gia có công nghệ đóng tàu hàng đầu thế giới, số lượng tàu đóng ra trung bình hàng năm chiếm khoảng 1/3 lượng tàu được đóng trên toàn thế giới.
Các công ty của Nhật Bản đã áp dụng logistics thành công, và trở thành những thương hiệu nổi tiếng trên thế giới như quy trình sản xuất, cung ứng hàng hóa kịp thời của hãng Toyota.
3. Nguyên nhân cho sự phát triển logisics của Nhật bản Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
3.1. Sự quan tâm, định hướng phát triển của Chính phủ Nhật.
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có quy hoạch
Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra chính sách phát triển đúng đắn cho nền kinh tế. Ngay từ những năm 50-60 của thế kỷ XX, cùng với chính sách khuyến khích ngoại thương, cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, chính phủ Nhật đã tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng, khuyến khích ngành công nghiệp đóng tàu phát triển. Bộ Thương mại Nhật Bản đã nhận ra rằng để phát triển ngành công nghiệp nặng phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế, thì phải cắt giảm tối đa những chi phí dư thừa mà tiêu biểu là chi phí vận chuyển. Việc cắt giảm này được thực hiện thông qua việc hiện đại hóa các cảng bốc dỡ, phát triển vận chuyển bằng tàu với khối lượng lớn. Trong những năm đó, chính phủ Nhật đã tiến hành một kế hoạch đồ sộ nhằm “nạo vét các cảng, xây dựng các cảng mới, xây dựng các nhà máy tại các trung tâm bốc dỡ”.
Để có được hệ thống cảng, sân bay cũng như các trung tâm kho vận hiện đại, được bố trí một cách phù hợp cho sự phát triển, thì công việc quy hoạch, lập kế hoạch của các bộ ngành kết hợp với chính quyền địa phương một thành tựu rất đáng nể của chính phủ cũng như chính quyền địa phương Nhật Bản. Khi có một kế hoạch mới đưa ra, các bộ ngành, và các địa phương sẽ bàn bạc, thảo luận nhằm đưa ra những biện pháp tối ưu, quan tâm tới sự phát triển tổng thể của toàn bộ nền kinh tế và chỉ khi có sự đồng ý chấp thuận của tất cả mọi người thì quá trình xây dựng sẽ được diễn ra. Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Muốn có cơ sở hạ tầng giao thông hiện đại, phù hợp, cần có một sự quy hoạch dài hạn tổng thể, cung như là sự đầu tư vốn rất lớn của nhà nước. Đối với những công trình trọng điểm của quốc gia, chính phủ Nhật chỉ đạo cho các nhà đầu tư xây dựng được thầu với giá rẻ, yêu cầu các ngân hàng cung cấp vốn vay với lãi xuất thấp, thậm chí là không lấy lãi, thêm vào đó là nguồn vốn của các địa phương để góp phần vào việc xây dựng. Ví dụ: để xây dựng trung tâm logistics Hoping Island-lớn nhất và toàn diện nhất hiện nay – đã dùng đến 57,2 tỷ Yên Nhật cho việc xây dựng. Trong đó, 70% số vốn là từ nguồn tài chính của trung ương, 20% là của địa phương Tokyo, và 10% là của doanh nghiệp.
Mở cửa thị trường logistics một cách hợp lý
Một trong những thành công của ngành logistics của Nhật Bản chính là do chính sách điều tiết của Chính phủ. Mặc dù sau khi gia nhập GATT vào năm 1954 nhưng 30 năm sau chính phủ Nhật Bản mới có những động thái chính thức mở cửa cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics nước ngoài tham gia vào thị trường. Bằng việc đánh giá năng lực của từng ngành sản xuất trong nước MITI đã xây dựng đề án mở cửa nền kinh tế từng phần, xác định rõ ngành kinh tế nào mà các doanh nghiệp trong nước có thể phát triển chiếm lĩnh thị trường, tạo điều kiện cho ngành kinh tế ấy phát triển, chỉ đến khi ngành sản xuất trong nước có khả năng chiếm lĩnh thị trường và không bị đối thủ nước ngoài đè bẹp thì chính phủ mới mở cửa ngành đó. Chính phủ Nhật có chính sách bảo hộ cho các doanh nghiệp lớn trước nguy cơ phá sản…, khuyến khích các doanh nghiệp thành lập các cartel để có thể phát triển vững mạnh, cạnh tranh với công ty nước ngoài. (Bùi Xuân Lưu, Trần Quang Minh, 2001, Chính sách Ngoại thương Nhật Bản thời kỳ tăng trưởng cao và toàn cầu hóa kinh tế, Nhà xuất bản Giáo dục, 110 trang).
Hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, chỉ đạo định hướng phát triển trong từng giai đoạn cụ thể.
Chính phủ Nhật đã hoàn chỉnh hệ thống luật từ rất sớm, đồng thời nhanh chóng sửa đổi ban hành luật cho phù hợp quy tắc của thế giới. Để đáp ứng với tình hình kinh tế thay đổi, dân số ngày càng già, chính phủ Nhật Bản đã ban hành, cải cách một loạt hệ thống luật để phù hợp với tình hình đất nước và trên thế giới. Luật Hải quan được sửa đổi năm 2022 cho phù hợp với những quy định AEO của Châu Âu, quy định giảm tuổi thọ của các phương tiện giao thông vận tải, …
Chính phủ cũng lên kế hoạch chỉ đạo cụ thể định hướng phát triển ngành logistics trong từng giai đoạn cụ thể. Như đưa ra các yêu cầu phát triển ngành logistics trong giai đoạn 2020-2010.(như đã phân tích ở phần I.4)
Đối với từng chính sách của ngành logistics, chính phủ Nhật thường đưa ra mục tiêu phát triển, lên kế hoạch bằng sự tham gia của các cấp ngành liên quan, chỉ đạo nội dung thực hiện, trong quá trình thực hiện sẽ theo dõi sát sao, đánh giá hiệu quả. Những nội dung nào chưa làm được sẽ phải làm lại đến khi đạt được mục tiêu thì thôi. (Phụ lục 3: Tổng quan về đề cương chính sách phân phối toàn diện).
3.2. Về phía các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics Nhật Bản Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Các doanh nghiệp kinh doanh của Nhật Bản nổi tiếng trên thế giới về cách thức làm ăn chuyên nghiệp và giữ vững uy tín. Đây là đặc điểm cốt lõi dân đến thành công của nền kinh tế Nhật. Các doanh nghiệp logistics Nhật Bản có những điều kiện thuận lợi để phát triển:
- Có nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, trung thành với công ty, trình độ cao, có khả năng ứng dụng công nghệ vào quá trình sản xuất.
- Đoàn kết giữa các doanh nghiệp trong cung ứng dịch vụ trong cùng nghiệp đoàn, liên kết hợp tác cùng nhau phát triển.
- Có nguồn lực tài chính lớn để đầu tư công nghệ thông tin, trang thiết bị hiện đại vào hoạt động cung ứng.
- Tuân thủ theo sự chỉ đạo chặt chẽ của chính phủ, các hiệp hội liên quan. Tăng cường nghiên cứu, sáng tạo cải thiện chất lượng dịch vụ, giảm chi phí, giá thành nhằm cung cấp những dịch vụ tốt nhất, thỏa mãn mọi nhu cầu dù là nhỏ nhất của khách hàng.
3.3. Sự hướng dẫn chỉ đạo của các hiệp hội, các cơ quan liên quan.
Các công ty logistics Nhật Bản được sự chỉ đạo cụ thể của các hiệp hội ngành nghề liên quan, trong việc: Tổ chức các khóa học đào tạo về logistics, tổ chức các hoạt động nghiên cứu, đưa ra các giải pháp phát triển logistics, cung cấp thông tin kịp thời, cụ thể cho các doanh nghiệp, đưa ra các giải pháp nghiên cứu cụ thể chi tiết nhằm cải thiện hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tìm ra những giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh nhưng vẫn bảo vệ môi trường…Đó là các tổ chức như: Viện hệ thống logistics Nhật Bản- Japan Institute of Logistics System-JILS, Hiệp hội Vận tải Nhật Bản (JTA), Hiệp hội logistics xanh (green logistics)…
Các hiệp hội đã đưa ra các hướng dẫn cho các doanh nghiệp nhằm cải thiện hoạt động kinh doanh. Ví dụ như: để cải thiện lộ trình vận chuyển hàng hóa JILS đã đưa ra các chỉ dẫn cụ thể: Để tiết kiệm số lượng xe vận chuyển thì có thể thay đổi lộ trình thu lượm hàng hóa bằng một xe có tải trọng lớn (như tranh 1, 2 dưới đây), tiết kiệm khoảng trống trong các kệ hàng bằng cách thay đổi khung kệ (tranh 3)cải thiện xe đẩy hàng trong kho để tiết kiệm khoảng trống và giảm số lượng xe đẩy (tranh 4) hay đơn giản như thay đổi lộ trình qua các kệ hàng trong kho để giảm số lần di chuyển (tranh 5).
Qua tìm hiểu sự phát triển cũng như những nguyên nhân cho những thành tựu mà ngành logistics Nhật Bản đã đạt được trên đây, từ đó chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm để phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam.
IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ SỰ PHÁT TRIỂN LOGISTICS CỦA NHẬT BẢN Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
1. Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ hiện đại
Kể từ cuối thập niên 60, Nhật Bản đã bắt đầu lên kế hoạch để phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, cảng biển, trung tâm logistics.
- Đầu tư có trọng tâm hiện đại, quy hoạch rõ ràng
- Thành lập các cơ quan quản lý, trùng tu các cơ sở hạ tầng quan trọng.
- Tập trung nguồn vốn của chính phủ, cho tư nhân đấu thầu xây dựng.
- Theo dõi sát sao, đề ra các biện pháp nâng cao năng lực của các cảng biển, cảng hàng không.
Người viết xin đưa ra cách thức quản lý hoàn thiện hệ thống cảng biển Nhật Bản.
Đầu tư có trọng tâm vào các cảng biển bằng cách phân chia cảng biển thành: cảng trọng điểm quốc gia, cảng quan trọng và cảng địa phương. Theo đó chính phủ có những chính sách phát triển thích hợp cho từng nhóm cảng biển.
Chính phủ cũng áp dụng mô hình khai thác cảng một cách tiên tiến: mô hình chủ cảng. Chính phủ Nhật đã thành lập các công ty phát triển tại các khu vực cảng trọng điểm để đáp ứng sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và của vận tải container trên thế giới. Chính phủ thành lập công ty có trách nhiệm xây dựng các cầu cảng thương mại theo quy hoạch phát triển cảng do Bộ giao thông vận tải phê duyệt, sau đó cho các công ty vận tải biển hoặc các công ty dịch vụ khai thác xếp dỡ thuê khai thác. Nguồn vốn cấp cho các dự án phát triển cảng theo cơ cấu: 20% vốn do chính phủ cấp, 40% vay tín dụng kho bạc và 40% còn lại huy động từ khu vực tư nhân. Các cầu cảng do các công ty phát triển cảng xây dựng xong được cho thuê thông qua đấu thầu công khai và công bằng; mức cho thuê được quyết định trên cơ sở các chi phí thực tế của từng công trình. Năm 1982 khi phần lớn các cầu tàu phục vụ cho mục đích ngoại thương đã được hoàn tất, các công ty phát triển cảng được tăng cường trách nhiệm, tái cơ cấu lại thành cơ quan quản lý cảng biển (PBM- Port Management Body). Theo đó các cảng biển được đặt dưới sự quản lý của PMB. Cơ quan này hoạt động vì mục đích phi lợi nhuận. Nhiệm vụ của PMB là đầu tư, cải tạo và nâng cấp các công trình cảng biển đồng thời đưa vào các biện pháp quản lý và khai thác tiên tiến nhằm nâng cao năng lực của hệ thống cảng biển, đáp ứng nhu cầu phát triển của logistics
Theo dõi sát sao đưa ra các biện pháp nâng cao năng lực của các cảng.
Trước tình hình cảng biển của Nhật ngày càng tụt xuống trong bảng xếp hạng các cảng có năng lực bốc dỡ container trên thế giới, METI đã đưa ra dự án “Thúc đẩy siêu cảng trung tâm- promoting the super hub port project”.
Mục tiêu của dự án là: vượt qua các cảng lớn ở Châu Á về mặt chi phí và dịch vụ trong khoảng 3 ~ 5 năm.
- Giảm chi phí cảng ít hơn 30% so với chi phí tại cảng Pusan và Gaoxiong
- Rút ngắn thời gian dỡ hàng từ 3 ~ 4 ngày còn ít hơn một ngày.
Hình 11:Dự án thúc đẩy siêu cảng trung tâm của Nhật Bản
2. Ban hành kịp thời các chính sách điều chỉnh hoạt động kinh doanh, hỗ trợ các doanh nghiệp logistics trong nước phát triển. Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Chính phủ Nhật đã hoàn chỉnh hệ thống luật pháp tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp logistics phát triển, chỉ đạo đưa ra các yêu cầu phù hợp cho sự phát triển của ngành logistics trong từng giai đoạn cụ thể:
Ngay từ thập niên 50-60 của thế kỷ XX chính phủ Nhật đã chú trọng vào phát triển cảng biển và hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động phát triển ngoại thương. Việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng như đã trình bày ở trên nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế, bắt nhịp với sự phát triển của ngành vận tải container trên thế giới.
Đến những năm 70 của thế kỷ XX mặc dù Nhật Bản chịu rất nhiều chỉ trích từ các quốc gia khác, nhưng MITI đã có những chính sách rất phù hợp cụ thể để bảo hộ nền kinh tế trong nước. Chỉ đến khi MITI nhận thấy rằng ngành dịch vụ vận tải trong nước đã phát triển thì lúc đó chính phủ Nhật mới đưa ra chính sách phát mở cửa cho ngành này. Đối với tất cả các ngành, chính phủ đã đưa ra một lộ trình mở cửa các ngành một cách phù hợp để các doanh nghiệp trong nước có thể chiếm lĩnh thị trường.
Chính phủ Nhật Bản luôn đưa ra những chính sách phù hợp để hướng dẫn điều chỉnh hoạt động kinh doanh của ngành logistics.
Năm 1997: Khi ngành logistics phát triển nở rộ trên thế giới, các cơ sở lý luận về logistics dần hình thành, Chính phủ Nhật đã đưa ra “Chương trình chính sách logistics tổng thể” nhằm hỗ trợ cung cấp vốn để xây dựng các cơ sở hạ tầng logistics chính, bao gồm đường sắt, đường bộ, sân bay, bến cảng, và các căn cứ trung tâm. Năm 2001: Chính phủ ban hành kế hoạch Logistics mới nhằm đáp ứng được 3 xu hướng và mục tiêu cơ bản, bao gồm: 1) xây dựng cơ chế hậu cần hiệu quả, tiên tiến; 2) xây dựng logistics phù hợp với nhu cầu của xã hội; 3) xây dựng logistics có thể đảm bảo duy trì được cuộc sống người dân. Năm 2020: Ban hành “Tổng quan về đề cương chính sách phân phối toàn diện phát triển logistics nhằm thỏa mãn hai mục tiêu: xây dựng thị trường tiêu chuẩn có đủ năng lực cạnh tranh trên toàn cầu và xây dựng hệ thống logistics thân thiện với môi trường.
Chính phủ cũng tổ chức, xúc tiến thành lập các hiệp hội, nhóm ngành nhằm tổ chức các hoạt động nghiên cứu góp phần giúp đỡ sự phát triển của ngành logistics: đưa ra các biện pháp cải thiện hoạt động kinh doanh.
3. Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, giữ uy tín thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Có lẽ chính bởi đặc điểm của thị trường người tiêu dùng Nhật Bản là khó tính, so với các thị trường khác trên thế giới nên các doanh nghiệp Nhật muốn tồn tại thì phải cung cấp ra thị trường những dịch vụ và sản phẩm tốt nhất. Không những thế, với cơ cấu ngành dịch vụ chiếm hơn 70% trong nền kinh tế Nhật, số lượng các công ty cung ứng dịch vụ vận tải ngày càng nhiều, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, càng thúc đẩy các doanh nghiệp logistics Nhật Bản phải làm ăn có uy tín và phục vu nhu cầu của khách hàng. Chính bởi đặc điểm làm làm ăn kinh doanh có uy tín, phục vụ chất lượng tốt nhất cho khách hàng mà các công ty logistics Nhật Bản luôn được các doanh nghiệp Nhật Bản trên toàn thế giới trung thành lựa chọn để cung ứng dịch vụ.
4. Cạnh tranh lành mạnh, hợp tác cùng phát triển. Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
Tại Nhật có hơn 60.000 doanh nghiệp kinh doanh cung cấp các hoạt động trong chuỗi logistics như là: giao hàng tận nhà, vận chuyển, vận tải, cung cấp trọn gói chuỗi logistics…Hầu hết các doanh nghiệp đều là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, hoạt động cạnh tranh diễn ra rất gay gắt. Nhưng với hệ thống luật hoàn chỉnh, các doanh nghiệp logistics Nhật muốn tồn tại chỉ có cách làm ăn lành mạnh, sáng tạo, cung cấp những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng. Mức độ cạnh tranh cao, tình hình kinh doanh khó khăn, các doanh nghiệp sẵn sàng hợp tác, sát nhập lại với nhau cùng tạo nên sức mạnh chung để phát triển. Trong tình hình kinh doanh khó khăn ở Nhật đã chứng kiến rất nhiều đợt sát nhập của các doanh nghiệp lớn tiêu biểu như là: Seinohorudingusu West mua lại Công ty vận tải Nishibu ngày 09/4/2009; Công ty TNHH vận tải Fukuyama thành lập công ty mẹ con với Prince trong tháng 10/2009; công ty cổ phần Vận tải Tonami chuyển công ty cổ phầnTonamihorudingusu tháng 10/2009 và tháng 3/2010 công bố một quan hệ đối tác với MOL Logistics sẽ làm cho cơ cấu ngành vận tải nội địa chắc chắn sẽ có nhiều thay đổi.
5. Đào tạo nguồn nhân lực có kinh nghiệm, nghiệp vụ
Do chế độ làm việc cả đời như đã phân tích ở trên, nên các công ty Nhật Bản có điều kiện thuận lợi là nguồn nhân lực gắn bó với công ty, làm việc lâu năm, và có chuyên môn, nghiệp vụ. Nhân viên trong công ty cũng được đào tạo thông qua hệ thống trường đại học, cao đẳng của Nhật. Ngoài ra, các hiệp hội JILS cũng thường xuyên tổ chức các khoa học ngắn hạn, cập nhật thông tin, cung cấp kĩ năng quản lý cho nhân viên hoạt động trên phạm vi toàn cầu. Lực lượng công nhân làm việc trong các kho bãi được huấn luyện sử dụng các thiết bị hiện đại. Khóa luận: Thực trạng hoạt động logistics của Nhật Bản
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển ngành logistics của Nhật Bản

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát sự hình thành ngành logistics Nhật Bản