Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Xây dựng mạng lưới phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. Tổng quan về thị trường may mặc Hàn Quốc

1.1. Sự phát triển của thị trường dệt may Hàn Quốc

Vào những năm 1970, ngành công nghiệp dệt may là một ngành công nghiệp trọng điểm trong quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc. Trong giai đoạn này, hàng dệt may Hàn Quốc có tính cạnh tranh cao chủ yếu nhờ tập trung vào nhân công giá rẻ. Tuy nhiên, cho đến những năm 1980, cùng với sự tăng trưởng GNP và sự tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động, hàng dệt may của Hàn Quốc đã bắt đầu chú trọng đến nhu cầu của thị trường về thiết kế, mẫu mã thời trang. Đến đầu những năm thập niên 90, thị trường dệt may Hàn Quốc đã phát triển nở rộ và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Với tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 15% và lên tới đỉnh điểm vào giữa những năm 90, với doanh thu đạt mức 15 tỷ USD vào năm 1996. Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Cuộc khủng hoàng tài chính Châu Á năm 1997-1998 đã có những tác động tiêu cực tới nền kinh tế Hàn Quốc, làm cho thị trường trường may mặc giảm sút đáng kể. Cụ thể là doanh thu hàng may mặc Hàn Quốc năm 1998 đã giảm 27,1% so với năm 1997, từ 17.7 tỷ USD xuống 12,9 tỷ USD. Nguyên nhân là do người tiêu dùng đã cắt giảm chi tiêu mạnh mẽ cho hàng may mặc và hàng loạt các công ty trong ngành phải đóng cửa. Trong giai đoạn khó khăn này, các công ty may mặc Hàn Quốc quay lại tập trung những nỗ lực marketing của mình vào phân đoạn thị trường giá rẻ.

Tuy vậy, từ năm 2000 thị trường dệt may Hàn Quốc đã bắt đầu phục hồi trở lại, tăng trưởng 24% so với năm 1999 và doanh thu đạt 16,6 tỷ. Biểu đồ dưới đây cho biết quy mô và tốc độ tăng trưởng của thị trường may mặc Hàn Quốc từ sau khủng hoảng.

Hình 2.1: Quy mô và tốc độ tăng trƣởng của thị trƣờng dệt may Hàn Quốc từ năm 1998-2008.

Nguồn: Textile Times, Korea Fashion Association. Từ biểu đồ cho thấy từ năm 2003 cho đến nay, tốc độ tăng trưởng của thị trường dệt may Hàn Quốc đã ổn định trở lại, tuy rằng diễn ra chậm chạp so với thời kỳ trước khủng hoàng. Tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 5%. Nhưng cùng với sự phục hồi và phát triển của nền kinh tế, thị trường dệt may Hàn Quốc giai đoạn này đã có sự thay đổi sâu sắc, đặc biệt về cơ cấu hàng may mặc và mạng lưới phân phối. 16

Chính sách mở cửa thị trường cùng với thị hiếu của người tiêu dùng đã tạo điều kiện cho làn sóng thâm nhập vào thị trường nội địa của các hãng thời trang nước ngoài ngày càng dâng cao, trong đó chủ yếu là từ Châu Âu và Hoa Kỳ. Sự cạnh tranh diễn ra gay gắt đã khiến các hãng nội địa không ngừng cải tiến tiến công nghệ thích ứng với xu hướng thị trường và chú trọng hơn vào mẫu mã thiết kế. Điều này cũng góp phần đưa thị trường vượt mức trước khủng hoảng vào năm 2005 với doanh thu đạt 18,3 tỷ USD. Và năm 2008 tổng doanh thu của toàn bộ thị trường may mặc Hàn Quốc đạt mức 20,9 tỷ USD.

Thêm vào đó, ở giai đoạn này hàng dệt may giá rẻ cũng được nhập khẩu tại các nước trong khu vực như các nước Đông Nam Á, Trung Quốc và Ấn Độ. Điều đó đã làm cho ngành dệt may Hàn Quốc nhanh chóng mất đi lợi thế cạnh tranh trước đây của mình. Nguyên nhân này đã hướng sự tập trung của các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc vào xây dựng mạng lưới phân phối, tăng thêm các dịch vụ khách hàng cũng như đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế

1.2. Đặc điểm của thị trường dệt may Hàn Quốc Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

1.2.1. Những đặc điểm chung

Hàng dệt may Hàn Quốc hiện nay có hai thị trường cơ bản, một là hàng hóa giá rẻ sản xuất trong nước và đồ hiệu nhập khẩu của các hãng thời trang quốc tế. Những năm của thập kỷ 90, khi thời trang hàng hiệu mới bắt đầu xâm nhập thì thị trường dệt may Hàn Quốc vẫn còn phụ thuộc chủ yếu vào nhà sản xuất nội địa. Do có lợi thế về lao động, nên hàng dệt may nội địa có lợi thế về giá rẻ. Nhưng gần đây một số nước Châu Á đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ nổi lên trên thế giới về giá nhân công rẻ mạt, thì thị trường dệt may giá rẻ của Hàn Quốc đã chịu sức ép cạnh tranh của những sản phẩm nhập khẩu từ các thị trường này. Chính vì vậy các nhà nội địa đã bắt đầu chuyển hướng sản xuất và tập trung hơn vào mẫu mã, thiết kế, chất lượng. Bện cạnh đó, sự cạnh tranh với các thương hiệu nước ngoài cũng đã làm cho các hãng nội địa bắt đầu chú trọng tới việc xây dựng thương hiệu. Ví dụ như Cheil Industries đã phát triển thương hiệu Bean Pole từ đầu những năm 90, Lotte một trong những chuỗi cửa hàng bách hóa lớn nhất Hàn Quốc đã đưa thương hiệu Avenuel ra thị trường năm 2005. Gần đây nhất là vào năm 2009, thương hiệu SPAO đã được đưa ra thị trường bởi E-Land Group, một trong những nhà bán lẻ hàng may mặc lớn nhất Hàn Quốc.18

Trong những năm gần đây thị trường hàng hiệu tại Hàn Quốc đã bùng nổ một cách nhanh chóng trong đó chủ yếu là các hãng hàng hiệu cao cấp từ Mỹ và một số nước Châu Âu. Sự gia tăng mạnh mẽ của thời trang hàng hiệu thể hiện trên cả quy mô và số lượng. Biểu đồ dưới đây mô tả sự gia tăng của thị trường hàng hiệu tại Hàn Quốc.

Hình 2.2: Doanh thu của thị trƣờng thời trang hàng hiệu tại Hàn Quốc

Nguồn: MPI Consulting report “Luxury Market in Korea”, 2008. Từ biểu đồ cho thấy doanh thu của thời trang hàng hiệu tăng một cách nhanh chóng với tốc độ trung bình hàng năm 120%. Năm 2008, doanh thu của thị trường thời trang cao cấp tại Hàn Quốc đã đạt 4,18 tỷ USD. Trong đó các thương hiệu thời trang cao cấp lớn nhất ở Hàn Quốc gồm có Louis Vuiton, Hermes của Pháp và Ferragamo, Prada của Italia. Doanh thu của các hãng này Hàn Quốc trong những năm vửa qua tăng trưởng liên tục với tỷ lệ cao 22.8%.19

Hình 2.3: Số lƣợng thƣơng hiệu thời trang cao cấp Hàn Quốc

Nguồn: MPI Consulting report “Luxury Market in Korea”, 2008 Từ biểu đồ cho thấy đầu những năm 2000 số lượng các thương hiệu thời trang cao cấp mới chỉ dừng lại ở con số 20, nhưng đến năm 2009 con số này đã tăng lên hơn 300 thương hiệu. 20

Sự cạnh tranh gay gắt giữa các thương hiệu nước ngoài và các hãng nội địa đã góp phần làm xuất hiện thêm các hình thức phân phối mới.

1.2.2. Thị hiếu của người tiêu dùng hàng may mặc Hàn Quốc Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Những nghiên cứu thị trường của Hàn Quốc những năm gần đây đã chỉ ra rằng, khi người tiêu dùng chi tiêu cho hàng may mặc, họ chú ý đầu tiên đến nhãn hiệu và giá cả. Hầu hết những người tiêu dùng thường cho rằng chất lượng cao đồng nghĩa với giá cả cao và gắn liền với những thương hiệu nổi tiếng. Khi xem xét và lựa chọn sản phẩm hàng may mặc, người tiêu dùng Hàn Quốc đặc biệt quan tâm tới xuất xứ của hàng hóa. Cụ thể hơn là những ngườ i tiêu dùng này thường xuyên ưa thích các sản phẩm may mặc nhập khẩu từ Châu Âu và Hoa Kỳ hơn là những sản phẩm có nguồn gốc Châu Á, như

Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Sự ưa chuộng hàng hiệu của Hàn Quốc xuất phát từ yếu tố tâm lý muốn khẳng định sự giàu có và địa vị trong xã hội, hoặc chỉ đơn thuần là phong cách cá nhân. Đối với người tiêu dùng Hàn Quốc vẻ bề ngoài là cực kỳ quan trọng. Theo quan điểm của người tiêu dùng hàng hiệu, họ cho rằng: “Đối với người Hàn Quốc ăn uống đạm bạc thì được, nhưng mà phải ăn mặc đẹp. Các nước khác có thể không quan tâm đến vẻ bề ngoài nhiều, nhưng với người Hàn, ngoại hình đẹp là rất quan trọng.”21

Bên cạnh đó, thị hiếu người tiêu dùng cũng đã thay đổi theo chiều hướng ngày càng đa dạng hóa hơn. Một số bộ phận người tiêu dùng Hàn Quốc lại đặt sự quan tâm hàng đầu đến mẫu mã thời trang, đi kèm với giá cả phải chăng. Chính nhu cầu này đã làm cho thị trường thời trang Hàn Quốc ngày càng phong phú và sôi động hơn bao giờ hết.

1.2.3. Các nhóm người tiêu dùng chính

Sự bùng nổ dân số của Hàn Quốc vào cuối thế kỷ 19 cùng với quá trình công nghiệp hóa diễn ra một cách nhanh chóng đã khiến các thành phố lớn và các khu dân cư đông đúc mọc lên ngày càng nhiều. Sự phân bố dân cư đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới mạng lưới phân phối vì nó quyết định tới thị trường mục tiêu, tới các chính sách marketing. Chính vì vậy ở các thành phố, khu công nghiệp tập trung đông dân cư đã xuất hiện các trung tâm hay các khu phố mua sắm. Ví dụ như các khu phố mua sắm lớn đã nổi lên ở các khu vực kinh tế phát triển như Kangnam, Myong-dong và khu Ilsan hay Bungdang ở gần Seoul.

Nhóm người tiêu dùng hàng may mặc chính ở Hàn Quốc là nhóm người tiêu dùng có độ tuổi từ 30-49. Bởi vì đây là thế hệ sống trong thời kỳ nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu tăng trưởng mạnh có thu nhập bình quân cao, lại chịu ảnh hưởng của nền văn hóa và lối sống hiện đại. Hành vi mua sắm của họ cũng khác hẳn so với thế hệ trước. Trong khi nhóm người tiêu dùng lớn tuổi vốn đặt nặng tính lâu bền hơn là thiết kế thì nhóm người tiêu dùng này mua sắm thường xuyên nhằm bắt kịp các xu hướng thời trang, và để thể hiện đẳng cấp.

Nhóm tiêu dùng lớn thứ hai là nhóm người tiêu dùng có độ tuổi từ 18 đến 29. Được biết đến như là thế hệ “cái gì cũng muốn”, với lối sống thay đổi nên khiến cho họ đặt nặng thời trang cho các hoạt động vui chơi, giải trí hơn. Chính điều này đã làm cho thị trường hàng may mặc thông thường phát triển một cách nhanh chóng.

Trẻ em cũng là một đối tượng tiêu dùng quan trọng trong thị trường dệt may Hàn Quốc. Không chỉ dừng lại ở các loại quần áo trẻ em theo mùa thông thường mà các dòng thời trang trẻ em cao cấp cũng tăng mạnh. Nguyên nhân là do sự xuất hiện của các gia đình một con và các gia đình mà bố và mẹ đều đi làm. Nhóm người này sẵn sàng chi tiêu một số tiền lớn cho con em của họ như là một cách quan tâm, bù đắp. Tâm lý này cũng góp phần tạo điều kiện thúc đẩy thị trường thời trang trẻ em cao cấp phát triển.

1.3. Phân đoạn thị trường dệt may cơ bản của Hàn Quốc Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Những phân đoạn thị trường hàng dệt may chính của Hàn Quốc bao gồm thị trường thời trang nam giới (man’s wear), thời trang nữ giới (woman’s wear), thị trường thời trang thông thường (casual wear), thời trang trẻ em (children’s wear), quần áo thể thao (sport wear) và thời trang đồ lót (underwear). Tỷ trọng của các phân đoạn thị trường này đang có xu hướng thay đổi qua các năm. Trong những năm gần đây, thị trường dệt may Hàn Quốc đang có sự mở rộng của chủng loại quần áo thể thao và quần áo thông thường. Trong khi đó tỷ trọng của thị trường thời trang nữ giới lại giảm mạnh. Còn đối với phân đoạn thị trường thời trang dành cho nam giới, thời trang trẻ em và đồ lót ít biến động hơn.

Biểu đồ dưới đây mô tả sự thay đổi tỷ trọng của các phân đoạn thị trường dệt may Hàn Quốc qua các năm:

Hình 2.4: Sự thay đổi tỷ trọng của các phân đoạn thị trƣờng dệt may cơ bản của Hàn Quốc từ năm 2001 đến 2008

Nguồn: Korea Federation of Textile Industries Từ biểu đồ cho thấy rằng tỷ trọng quần áo thông thường gia tăng qua các năm và luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong toàn bộ ngành may mặc từ năm 2002 đến nay, và năm 2008 chiểm tỷ lệ là 36%. Tỷ trọng trang phục thể thao trong năm 2002 là 9,6% nhưng đến năm 2008 là 13,2%. Ngược lại tỷ trọng trang phục nữ giới lại giảm mạnh từ 29,1%  vào năm 2001 xuống đến 18,9% vào năm 2008. Tỷ trọng trang phục nam giới cũng có xu hướng giảm nhẹ từ năm

1.3.1. Thị trường thời trang thông thường

Phân đoạn thị trường này phát triển mạnh, vì nhóm người tiêu dùng hàng may mặc Hàn Quốc có xu hướng trẻ hóa. Lối sống xã hội thay đổi, ngành công nghiệp giải trí của Hàn Quốc nỏ rộ đã khiến người tiêu dùng quan tâm tới thời trang cho các hoạt động vui chơi giải tri hơn. Có thể nói đây là phân đoạn thị trường thời trang sôi động nhất, phong phú nhất về chủng loại mẫu mã. Đặc biệt ở phân đoạn thị trường này, các hãng thời trang nội địa của Hàn Quốc đã phát huy được lợi thế cạnh tranh của mình thông qua thiết kế, xu hướng thời trang độc đáo và giá cả phải chăng. Sisley là hãng thời trang thông thường lớn nhất của Hàn Quốc và có mức doanh thu tăng trưởng bền vững qua các năm. Năm 2000, doanh thu của hãng này mới có 22,7 triệu USD, nhưng đến năm 2009 đã tăng lên 78,3 triệu USD.23

1.3.2. Thị trường thời trang nam giới

Thị trường này không có biến động lớn và mang tính ổn định hơn so với các phân đoạn thị trường khác. Nhưng thời gian gần đây, sự quan tâm tới xu hướng thời trang của nam giới ngày càng tăng và trở thành một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hành vi mua sắm quần áo của họ. Lối sống xã hội thay đổi, sự coi trọng vật chất và sự ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng đã khiến đàn ông Hàn Quốc ngày càng quan tâm tới vẻ bề ngoài. Trong đó, trang phục được xem như là cách để khẳng định cái tôi cá nhân, tiền tài và địa vị trong xã hội. Các thương hiệu thời trang nước ngoài vẫn là sự lựa chọn số một của nhóm người tiêu dùng này. Một số thương hiệu thời trang nam giới nổi tiềng gồm Polo, Lacoste, Henry Cotton và Lyle & Scott đặc biệt được ưa chuộng bởi người tiêu dùng nam giới trong độ tuổi từ 20-35. Các hãng thời trang cao cấp nước ngoài chiếm khoảng 40% thị phần trên thị trường may mặc nam giới Hàn Quốc năm 2007.

Thị trường thời trang nam giới cũng có sự phân hóa khó rõ, mạng lưới các kênh phân phối mới cũng đang có xu hướng gia tăng do nhu cầu về hàng may mặc đối với nam giới ở Hàn Quốc ngày càng cao và đa dạng và sự mở rộng của chủng loại thời trang thông thường “character casual” dành cho nam giới.

1.3.3. Thị trường thời trang nữ giới Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Trong những năm trở lại đây, thời trang dành cho nữ giới ở Hàn Quốc đã có những biến chuyển mới, do thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi. Đặc biệt là thời trang công sở đang có những xu hướng thoải mái và ít trang trọng hơn, thậm chí xuất cả những trang phục “unisex”. Thị trường thời trang vet của nữ giới đã có sự sụt giảm đáng kể. Cụ thể năm 2000, trang phục vét của nữ giới chiếm khoảng 29% trong tổng số hàng may mặc Hàn Quốc, nhưng đến năm 2007 con số này đã giảm xuống chỉ còn 18,9%. Chính xu thế mới này đã khiến cho một loạt các công ty thời trang của Hàn Quốc đẩy mạnh chiến lược marketing tới thị trường thời trang thông dụng của nữ giới với những sản phẩm sang trọng, cao cấp hơn. Điển hình như các công ty Cheil Industries, công ty con của Samsung, LG Fashion hay như trường hợp của FnC Kolon, công ty con của Kolon Group đã tung dòng sản phẩm Marc Jacobs ra thị trường năm 2006.24

1.3.4. Thị trường quần áo thể thao

Thị trường quần áo thể thao nhất là đối với các mặt hàng dành cho các loại hình thể thao như trượt tuyết, bơi lội, chạy và golf đã tăng trưởng mạnh. Trong đó nhu cầu về quần áo dành cho chơi Golf là tăng mạnh nhất nhờ vào quá trình “đại chúng hóa của Golf”. Golf là môn thể thao càng ngày càng được ưa thích và đặc biệt là môn thể thao không thể thiếu cho các doanh nhân. Chính vì vậy mà thị trường này đã đạt được mức tăng trưởng bình quân là 30% hàng năm, và năm 2009 đạt mức doanh thu 1,08 tỷ USD. 25

Thị trường quần áo Golf bao gồm hơn 40 hãng, với các thương hiệu nước ngoài chiếm 70%. Các thương hiệu nước ngoài lớn gồm có Daks, Jack Nicklaus, Renoma, và Wolsey, trong khi các hãng nội địa bao gồm Superior, Elord và Fantom. Hầu hết những người chơi golf có độ tuổi cao ưa thích những dòng sản phẩm truyền thống như Daks, Arnold Palmer, Superior, Polo, Jack Nicklaus, trong khi những người trẻ tuổi lại thích các dòng sản phẩm trẻ trung hơn như Elord, Renoma, Nautica và Henry Cotton.

1.3.5. Thị trường hàng may mặc trẻ em Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Thời trang dành cho trẻ em cũng là một phân đoạn thị trường được chú trọng. Ở Hàn Quốc đã xuất hiện nhiều cửa hàng tiêu thụ quần áo trẻ em lớn theo mô hình cửa hàng trọn gói “one stop shoping”. Các cửa hàng tiêu biểu “Mom’s Mom” và “Our Kids Mall”. “Mom’s Mom” cung cấp một lượng lớn các loại sản phẩm khác nhau dành cho trẻ em từ sách, quần áo và đồ ăn. Trong khi đó “Our Kids Mall” thậm chí còn có hẳn sân chơi dành cho thiếu nhi, trung tâm giáo dục, trung tâm văn hóa và phòng khám nhi khoa.

Thời trang hàng hiệu dành cho trẻ em cũng ngày càng thu hút được nhiều khách hàng. Ví dụ như các thương hiệu nổi tiếng có Gianfranco Ferre, Petit Bateau, Simonetta, Rooksfield, Pom Dapi, Baby Botte, và nhiều hãng khác đã xây dựng mạng lưới cửa hàng tiêu thụ quy mô lớn của mình ở Seoul và các vùng lân cận. Những cửa hàng này bán những dòng sản phẩm “sang trọng và sành điệu” nhắm tới khách hàng mục tiêu là các bậc phụ huynh có thu nhập cao. Hầu hết những bộ quần áo này có giá là từ 165 tới 300 USD.25

Đối với thị trường quần áo giá thấp và vừa dành cho trẻ em được phân phối qua nhiều kênh mới bao gồm các cửa hàng chiết khấu, TV Home shopping và các cửa hàng online. Thống trị thị trường này gồm có các công ty của Hàn Quốc bao gồm Intercrew Kids, Panic, Michiko London Kids, Snoopy, TwinKids.

1.3.6. Thị trường thời trang đồ lót

Thị trường thời trang đồ lót tương đối ổn định. Các kênh phân phối thời trang đồ lót ở Hàn Quốc chủ yếu là ở hệ thống cửa hàng chuyên doanh, siêu thị và cửa hàng bách hóa. Ở thị trường đồ lót cũng chịu sự cạnh tranh với các hãng thời trang đã có tên tuổi ở nước ngoài như Jockey của Mỹ và Gunze của Nhật, Triumph, Forever 21. Bên cạnh đó Hàn Quốc cũng đã xây dựng được thương hiệu của mình tiêu biểu như Viko Glowin, BYC.

2. Xây dựng mạng lƣới phân phối hàng dêt may tại Hàn Quốc Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

2.1. Sự hình thành mạng lưới phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

2.1.1. Thời kỳ từ năm 1970 đến những năm cuối 1990

Như đã phân tích ở trên, từ giữa những năm 1970, thị trường dệt may của Hàn Quốc bắt đầu bước vào thời kỳ tăng trưởng, và gắn liền với nó là sự phát triển của mạng lưới phân phối. Trong đó nhiều kênh phân phối mới được xây dựng bao gồm các kênh phân phối một cấp và hai cấp:

  • Nhà sản xuất – Cửa hàng kinh doanh trực tiếp – Người tiêu dùng
  • Nhà sản xuất – Đại lý ủy quyền theo hợp đồng – Người tiêu dùng
  • Nhà sản xuất – Nhà bán buôn – Nhà bán lẻ – Người tiêu dùng

Thời kỳ này, những sản phẩm may sẵn như trang phục phụ nữ, quần áo thể thao, quần áo trẻ em đã rất phổ biến. Các công ty dệt may đã bắt đầu nhận thức được lợi nhuận đem lại thông qua việc sản xuất đại trà, và bắt đầu hệ thống hóa mạng lưới phân phối, với việc mở rộng các kênh phân phối bán buôn (kênh bán hàng hai cấp). Lý do để các doanh nghiệp theo đuổi kênh phân phối này là nhằm bán hàng với số lượng lớn, và hàng hóa do đó được sản xuất nhiều hơn.

Bên cạnh đó các sản phẩm may mặc cao cấp thâm nhập vào thị trường nội địa bắt đầu gia tăng và được phân phối chủ yếu qua kênh thứ nhất và thứ hai. Những sản phẩm này được thiết kế dành cho số ít người tiêu dùng ở tầng lớp thượng lưu và trung lưu do đó kênh phân phối trực tiếp và kênh phân phối một cấp, chỉ qua các cửa hàng kinh doanh được ưa chuộng hơn. Còn đối với các sản phẩm may mặc sản xuất đại trà, có số lượng người tiêu dùng rộng thì các doanh nghiệp sản xuất lựa chọn các kênh phân phối dài hơn. Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Đặc điểm của mạng lưới phân phối hàng dệt may thời kỳ này có thể tóm gọm như sau:

Thứ nhất, đây là thời kỳ xuất hiện các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc đại trà. Ban đầu các doanh nghiệp này lựa chọn chiến lược lợi nhuận thấp, phương pháp bán hàng xem trọng số lượng thông qua các đại lý. Chiến lược này có thể giúp các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm với chất lượng tốt và mức giá cạnh tranh.

Thứ hai, hệ thống bán lẻ trên thị trường may mặc vẫn là các hình thức kinh doanh nhỏ lẻ. Giữa sản xuất và phân phối chưa có sự tách biệt rõ ràng. Các nhà sản xuất và các trung gian bán lẻ chưa có sự liên kết chặt chẽ mà được kết nối với nhau một cách lỏng lẻo. Do vậy các doanh nghiệp bán lẻ vẫn chưa phát huy đầy đủ chức năng là cầu nối hiệu quả giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp sản xuất. Vì vậy các kênh phân phối vẫn còn manh mún và chưa thông suốt. Kết quả, chi phí phân phối rất cao và được phản ánh trên giá cả sản phẩm bán cho người tiêu dùng.

Thứ ba, sự xuất hiện các cửa hàng bách hóa, năm 1979 mới có 9 cái nhưng đến nửa sau 1980 đã tăng lên đến 52 cái, và đến những năm 1990 đã bắt đầu thời kỳ tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên vào cuối những năm 1990 một vài cửa hàng bách hóa quy mô lớn mà trọng tâm là khu vực Seoul đã áp dụng chính sách trao quyền kinh doanh. Do vậy các cửa hàng bách hóa vừa và nhỏ phải hợp nhất hoặc giải thể, và bắt đầu xuất hiện các cửa hàng bách hóa với quy mô lớn.

2.1.2. Từ đầu những năm 2000 cho đến nay

Mạng lưới phân phối hàng dệt may của Hàn Quốc trong thời kỳ này đã thay đổi vô cùng nhanh chóng. Đây là thời kỳ tăng trưởng và đa dạng hóa các kênh phân phối ở tất cả các cấp. Các kênh phân phối ba cấp đã bắt đầu phát triển. Các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc đã thông qua các đại lý bán hàng, các nhà bán buôn để cung cấp hàng hóa với số lượng lớn. Điểm khác biệt của các đại lý bán hàng ở thời kỳ này so với thời kỳ trước là quy mô lớn hơn, chuyên nghiệp hơn.

Sự đa dạng hóa mạng lưới phân phối không chỉ thể hiện ở chiều dài, mà còn thể hiện ở chiều rộng với sự xuất hiện của các hình thức phân phối mới. Các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc có thể lựa chọn phân phối sản phẩm của mình theo nhiều loại kênh phân phối và hình thức phân phối khác nhau. Ví dụ như các doanh nghiệp dệt may của Hàn Quốc có thể sử dụng hệ thống cửa hàng tiêu thụ (outlet) để bán hàng hóa trực tiếp tới tay người tiêu dùng. Hoặc các doanh nghiệp có thể sử dụng đại lý bán hàng với quy mô lớn để bán với số lượng lớn cho các nhà bán buôn, các nhà bán lẻ chuyên nghiệp hoặc những cửa hàng độc lập. Hơn nữa, các doanh nghiệp này cũng có thể liên kết với nhau để mở các trung tâm tiêu thụ bán hàng của nhiều hãng. Ngoài ra một hình thức nữa đang trở lên phổ biến là kênh phân phối qua Internet và các phương tiện truyền thông. Thông thường các hãng thời trang Hàn Quốc thường sử dụng song song hai hay nhiều kênh phân phối khác nhau. Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Xem xét trường hợp cụ thể của E-Land Group, một tập đoàn gồm nhiều công ty lớn (chaebol) của Hàn Quốc, có trụ sở tại Seoul. Tập đoàn này đi lên từ một shop quần áo rộng 6 m2 ở Sinchon vào năm 1980, nhưng hiện nay được biết đến như là một trong những nhà bán lẻ hàng may mặc lớn nhất Hàn Quốc. Mô hình mạng lưới phân phối của tập đoàn này là mô hình liên kết dọc là chủ yếu, sở hữu hơn 60 nhãn hiệu thời trang Hàn Quốc và hệ thống phân phối rộng khắp. Với quy mô của mình, E-Land Group đã góp phần to lớn trong việc chuyển đổi cơ bản mạng lưới phân phối hàng dệt may Hàn Quốc. Kênh phân phối đầu tiên là hình thức nhượng quyền (franchise) với hệ thống hơn 5000 cửa hàng trên cả nước. E-Land cũng sở hữu một lượng lớn các loại hình cửa hàng tiêu thụ khác nhau bao gồm 2 cửa hàng bách hóa NC Department Store, 25 cửa hàng tiêu thụ (outlet), trong đó nổi bật là 2001 Outlet và NewCore Outlet và 32 cửa hàng chiết khấu. Ngoài ra E-Land Group đã tiến hàng các hoạt động liên kết với các hãng bán lẻ khác nhằm xây dựng phân phối sản phẩm qua hệ thống siêu thị. Chính mạng lưới phân phối giúp E-Land Group trở thành nhà bán lẻ thứ hai Hàn Quốc về số lượng cửa hàng.26

Điều đáng chú ý nhất trong giai đoạn này là sự bùng nổ, đa dạng hóa của mạng lưới kênh phân phối bán lẻ hàng dệt may tại Hàn Quốc. Sự đa dạng trong cơ cấu hàng may mặc Hàn Quốc và sự thay đổi thói quen tiêu dùng đã làm xuất hiện các hình thức bán lẻ mới. Mạng lưới phân phối truyền thống và các đại lý tiêu thụ với quy mô nhỏ của các doanh nghiệp sản xuất có xu hướng giảm mạnh. Thay vào đó là hệ thống các cửa hàng bách hóa, cửa hàng chiết khấu và outlet ngày càng tăng nhanh. Quy mô của các cửa hàng được mở rộng và đa dạng hơn về chủng loại sản phẩm. Ngoài ra cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin là nền tảng cho sự ra đời của các hình thức phân phối không qua cửa hàng, bao gồm TV Home shopping và các cửa hàng thương mại điện tử.

Đồ thị dưới đây mô tả sự thay đổi tỷ trọng bán hàng của các kênh phân phối mới.

Hình 2.5: Sự thay đổi tỷ trọng của các kênh phân phối bán lẻ

Từ sau năm 2005 cho đến năm 2008 nếu nhìn vào tỉ trọng của từng kênh phân phối thì thị trường truyền thống và cửa hàng bách hóa có chiều hướng đi xuống, đã giảm 4.6% và 4.7% tương ứng. Ngược lại thì các cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tiêu thụ của công ty (outlet), cửa hàng chiết khấu lại có chiều hướng tăng nhanh. Tỷ trọng của cửa hàng chuyên doanh năm 2008 đã tăng 3,8% so với năm 2005, còn tỷ trọng của cửa hàng chiết khấu và cửa hàng tiêu thụ của công ty tăng tương ứng là 2.7%, 2.4%. Đối với hình thức bán hàng không qua cửa hàng bao gồm cả TV Home shopping, Internet shopping đã tăng 0.9%.27

2.2. Các hình thức liên kết trong mạng lưới phân phối hàng dệt may Hàn Quốc Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Giai đoạn trước năm 1990, thị trường dệt may Hàn Quốc chủ yếu tồn tại loại kênh phân phối truyền thống. Kênh phân phối này bao gồm các nhà sản xuất, các nhà bán buôn, các cửa hàng bán lẻ độc lập với nhau. Sự liên kết lỏng lẻo, rời rạc và các thành viên chủ yếu là tối đa hóa lợi ích của mình. Chính vì vậy mà hiệu quả phân phối không cao. Nhưng hiện nay, trong toàn bộ mạng lưới phân phối hàng dệt may, kênh phân phối truyền thống chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, mà chủ yếu đã hình thành mạng lưới liên kết dọc và ngang. Đó là mạng lưới được thiết lập và quản lý như một hệ thống chuyên nghiệp và thống nhất. Do vậy các chức năng phân phối, tiêu thụ hàng hóa trong hệ thống được thực hiện và phối hợp hiệu quả hơn. Các hình thức liên kết dọc trong mạng lưới bao gồm hình thức phân phối liên kết dọc tập đoàn, hình thức phân phối liên kết dọc hợp đồng và hình thức phân phối liên kết dọc có quản lý.

Hình 2.6: Các hình thức liên kết chủ yếu trong mạng lƣới phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

2.2.1. Hình thức liên kết dọc tập đoàn (Corporation VMS).

Đây là hình thức liên kết tương đối phổ biến trong mạng lưới phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc khi mà trong ngành này tồn tại các tập đoàn dệt may với quy mô lớn. Các tập đoàn này bao gồm rất nhiều công ty con trong đó bao gồm các công ty sản xuất và cả các trung gian phân phối. Ví dụ như mô hình E-Land Group đã được phân tích ở trên. Một lượng lớn các sản phẩm phân phối tại các cửa hàng của nhà bán lẻ này do các nhà sản xuất thuộc quyền sở hữu của nó cung ứng.

Ngoài ra còn có các tập đoàn khác như LG Fashion, một trong những nhà sản xuất và phân phối hàng dệt may lớn nhất Hàn quốc có trụ sở tại Seoul. Tập đoàn này sở hữu nhiều các công ty sản xuất với đa dạng các chủng loại sản phẩm, nhãn hiệu. Ví dụ như đối với dòng sản phẩm thời trang dành cho nam giới bao gồm các nhãn hiệu Maestro, Daks, T&T, Hazzys; đối với thời trang dành cho nữ giới thì có Blumarine, Leonard, Isabel Marant, Joseph, Vanessarbruno, Mogg, Jillstruart. Còn các nhãn hiệu thời trang thông thường (casual wear) và quần áo thể thao của LG Fashion thì gồm Hazzys, Lafuma và Daks. LG Fashion đã phân phối sản phẩm bởi hệ thống các cửa hàng outlet, cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng bách hóa mà do tập đoàn này kiểm soát. Năm 2008 LG Fashion đã mở thêm 177 của hàng chủ yếu là phân phối hai dòng sản phẩm Lafuma và Hazzys, nâng tổng số lượng cửa hàng nằm trong hệ thống phân phối của hãng này lên 988.28

Còn đối với các hãng thời trang nước ngoài, khi thâm nhập vào thị trường may mặc Hàn Quốc, một số hãng cũng đã xây dựng cho mình các cửa hàng phân phối riêng.Một trường hợp gần đây nhất là H&M, hãng thời trang cao cấp lớn đến từ Thụy Điển, đã bắt đầu bước chân vào thị trường may mặc đầy sôi động của Hàn Quốc. Hãng này đã ký hợp đồng xây dựng cửa hàng phân phối đầu tiên tại Hàn Quốc vào năm 2008. Cửa hàng này có quy mô rất lớn và được xây dựng trên một khu đất rộng 3000m2, nằm ở khu Myeongdong, một trong những trung tâm mua sắm sầm uất ở Seoul. Cửa hàng dự kiến sẽ được khai trương vào giữa năm 2010.29

Đặc biệt hiện nay ở thị trường dệt may Hàn Quốc đã du nhập mô hình phân phối độc quyền SPA (Speciality store retailer of Private label Apparel). SPA là mô hình doanh nghiệp mà thực hiện tất cả quá trình từ sản xuất cho tới tiêu thụ hàng hóa. Trong đó, bao gồm tất cả các khâu từ thu mua nguyên vật liệu, thiết kế, sản xuất, phân phối thậm chí cả quản trị hàng tồn kho, và hàng bán không trả lại. Mô hình phân phối này có ưu điểm là giảm được thời gian lưu thông và giảm giá thành sản phẩm. Mô hình này được áp dụng đối với những sản phẩm có thương hiệu trong đó có Zara của Tây Ban Nha, UNIQLO của Nhật Bản, và GAP của Mỹ. Các doanh nghiệp đầu tiên ở Hàn Quốc đi theo mô hình này là Giordano, Basichousetm. Gần đây nhất E-Land Group, cũng đã tập trung nguồn lực xây dựng thương hiệu SPAO theo mô hình SPA. Cửa hàng độc quyền đầu tiên với diện tích 33000 m2 đã được xây dựng ở khu Myeongdong năm 2009 với doanh thu năm này là 12 triệu USD. Mục tiêu đặt ra của nhà bán lẻ này vào năm 2012 sẽ xây dựng được 100 cửa hàng với doanh thu lên tới gần 1 tỷ USD.30

2.2.2. Hình thức liên kết dọc hợp đồng (Contractual VMS) Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Nhiều mức độ khác nhau, các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc cả doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương mại đã thực hiện tổ chức hệ thống phân phối liên kết dọc thông qua việc lựa chọn bạn hàng, ký kết hợp đồng kinh doanh. Đặc biệt là hình thức đại lý đặc quyền hoặc nhượng quyền thương mại (franchise) được xem là phương thức đem lại nhiều lợi ích nhất của một số doanh nghiệp. Lý do là phương thức này làm giảm chi phí xây dựng cơ sở vật chất khi mới thâm nhập thị trường hoặc giúp xây dựng, quảng bá thương hiệu một cách rộng rãi hơn. Sự lớn mạnh của E-land Group cũng bắt đầu từ chuỗi cửa hàng franchise và cho tới nay tập đoàn này đã mở rộng với hơn 5000 cửa hàng theo phương thức này.

Các hãng thời trang cao cấp khi muốn vào thị trường dệt may Hàn Quốc cũng thường sử dụng phương thức ký kết hợp đồng liên doanh (joint ventrure agreement) với nhà bán lẻ nội địa hoặc thông qua hợp đồng nhượng quyền thương mại (franchise). Các hợp đồng liên doanh thường được ký kết chủ yếu với các nhà bán lẻ sở hữu các chuỗi cửa hàng quy mô lớn, trong đó 3 chuỗi cửa hàng bách hóa lớn nhất gồm Lotte, Shinsegae, Hyundai. Các hãng thời trang nước ngoài đã thực hiện ký kết hợp đồng liên doanh tiêu biểu như Zara của Tây Ban Nha và UNIQLO của Nhật Bản. Đối với hình thức này, các nhà bán lẻ nội địa không trực tiếp kiểm soát hoạt động kinh doanh, mà thu nhập chỉ dựa trên khoản hoa hồng từ hợp đồng giao kết.

Đối với các hợp đồng nhượng quyền thương mại thì gồm có hai dạng. Thứ nhất là bên nhận quyền (franchisee) hoạt động như một chi nhánh của bên nhượng quyền (franchisor) tại Hàn Quốc. Tất cả các công việc kinh doanh hay các dịch vụ của đại lý nhận quyền phải được tổ chức hoàn toàn theo phương thức do bên nhượng quyền quy định và được gắn với thương hiệu, các bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu, quảng cáo của bên nhượng quyền. Tiêu biểu cho trường hợp này là trường hợp của Gap, hãng thời trang lớn của Mỹ sở hữu đồng thời hai thương hiệu thời trang nồi tiếng Gap và Banana Republic. Hãng thời trang này đã vươn ra thị trường thế giới chủ yếu theo phương thức trên, với hệ thống cửa hàng nhượng quyền kinh doanh ở Pháp, Nhật Bản, Canada, và một số nước Châu Á. Ở Hàn Quốc, đến nay đã có 6 cửa hàng nhượng quyền với quy mô lớn mang thương hiệu Gap, và 5 cừa hàng mang thương hiệu Banana Republic. Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Hình thức nhượng quyền thương mại thứ hai là hình thức ký kết hợp đồng giữa các hãng thời trang nước ngoài với các đối tác nội địa, có thể là nhà bán lẻ hoặc nhà sản xuất, để thành lập công ty liên doanh cung cấp sản phẩm mang thương hiệu của các hãng này. Theo phương thức này, các hãng thời trang nước ngoài có mục đích khác là tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng nội địa. Ví dụ tham gia vào thị trường nội địa, các hãng nước ngoài bao giờ cũng muốn thỏa mãn tối đa thị hiếu của người tiêu dùng về thiết kế mẫu mã, và phù hợp với vóc dáng của họ. Để thực hiện được điều này, các hãng này thường liên kết với các công ty sản suất nội địa để tranh thủ sự am hiểu của các công ty này về người tiêu dùng trong nước. Do đó sản phẩm sản xuất ra sẽ phù hợp hơn và cũng nhằm tăng lợi thế cạnh tranh. Còn ngược lại các công ty nội địa thì có thể sử dụng uy tín, thương hiệu và các bí quyết, phong cách thiết kế của các hãng thời trang lớn. Cụ thể như trường hợp của Kolon Fashion, một trong những công ty thời trang lớn Hàn Quốc đã ký hợp đồng nhượng quyền thương mại với hãng thời trang nước ngoài Christian Lacroix, một thương hiệu của Louis Vuitton. Theo đó công ty này sẽ được sử dụng thương hiệu và phong cách thiết kế của Christian Lacroix đối với dòng sản phẩm complet nam giới của mình. Sản phẩm này đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng nam giới Hàn Quốc về mẫu mã và vóc dáng, chính vì vậy rất được ưa chuộng trên thị trường nội địa.

2.2.3. Hình thức liên kết dọc có quản lý (Administered VMS)

Đây là hình thức liên kết dọc chủ yếu trong mạng lưới phân phối hàng dệt may của Hàn Quốc. Trong hình thức này các nhà phân phối không có sở hữu với các nhà sản xuất mà sự liên kết và thống nhất trong mạng lưới phân phối được hình thành bởi quy mô và khả năng chi phối của một thành viên tới các thành viên khác. Đối với mạng lưới phân phối hàng dệt may của Hàn Quốc thì vai trò lãnh đạo chủ yếu thuộc về các nhà bán lẻ. Như đã phân tích thị trường may mặc Hàn Quốc nói chung bị thống trị bởi số ít các nhà bán lẻ lớn như Lotte, Shinsegae, Cheil Industries, LG corp. Với quy mô và tiềm lực khổng lồ, các nhà bán lẻ này có khả năng chi phối tới hoạt động của các nhà sản xuất nhỏ. Ví dụ như trường hợp của Lotte, mặc dù nhà bán lẻ này không sở hữu hay điều hành bất kỳ công ty sản xuất dệt may nào. Thay vào đó, nó đã có mối quan hệ làm ăn với gần 200 nhà sản xuất trong nước và các hãng thời trang nước ngoài. Hệ thống các cửa hàng bách hóa của nhà bán lẻ này đã cung cấp hơn 120 nhãn hiệu thời trang. Trong đó có các nhãn hiệu thời trang nổi tiếng từ nước ngoài như Channel thương hiệu thời trang cao cấp của Pháp, Ferragamo, Fendi đến từ Ý hay gần đây nhất là thương hiệu Zara của Tây Ban Nha.32

2.2.4. Hình thức liên kết ngang (Horizontal Marketing System) Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Để tăng lợi thế cạnh tranh hoặc nâng cao hiệu quả hoạt động nhiều công ty may mặc của Hàn Quốc đã sát nhập với nhau tạo nên những nhóm công ty các khâu sản xuất, thiết kế và đặc biệt ở khâu phân phối. Ví dụ như hệ thống phân phối bán lẻ của tập E-land Group còn bao gồm nhiều nhà bán lẻ sát nhập với nhau như Homever, Kims Club, NC Department Store, NewCore Outlet and 2001 Outlet. Ngoài ra các nhà bán lẻ trong nước cũng đã tiến hành liên kết với các nhà bán lẻ nước ngoài theo hình thức này. Đối với các hãng nội địa lợi ích của việc liên kết là nhằm tranh thủ quy mô, và phương thức tổ chức chuyên nghiệp. Còn ngược lại các hãng trong nước có ưu thế là am hiểu và thông thạo thị trường nội địa, là cơ sở tốt cho hãng nước ngoài có thực hiện tốt hơn các mục tiêu marketing và đáp ứng đúng nhu cầu thị trường nội địa. Ngoài ra, các hãng bán lẻ cũng liên kết với nhau nhằm mục đích mở rộng quy mô và chiếm lĩnh thị trường. Như việc liên kết giữa E-Land Group và Carrefour để xây dựng một chuỗi cửa hàng chiết khấu với quy mô lớn gồm 32 cửa hàng trên toàn quốc. Sự hợp tác này đã làm cho E-Land Group từ vị trí thứ sáu trở thành nhà bán lẻ lớn thứ hai Hàn Quốc về số lượng cửa hàng. Carrefour là nhà bán lẻ Pháp và là một trong những nhà bán lẻ lớn nhất trên thế giới. Kinh nghiệm và uy tín của Carrefour cùng với tiềm lực của E-land Group ở thị trường nội địa đã giúp hai hãng này đạt được những thành công đáng kể.

Đó cũng là sự thành công của Tesco-Sumsung, một trong 5 nhà bán lẻ lớn nhất Hàn Quốc về doanh thu. Tesco- Sumsung là kết quả của sự liên doanh giữa Samsung, tập đoàn kinh tế (Chaebols) lớn nhất Hàn Quốc và Tesco, hãng bán lẻ lớn nhất của Anh. Tesco-Samsung hiện tại cũng sở hữu một trong những chuỗi cửa hàng chiết khấu kinh doanh hàng may mặc lớn nhất. Sự thành công của Tesco có được là do đã có những chiến lược marketing đúng đắn, đặc biệt là chiến lược “địa phương hóa”, thay vì sử dụng mô hình cửa hàng giống với các nước Châu Âu, Tesco đã xây dựng phong cách phù hợp với thói quen tiêu dùng của người Hàn Quốc.

2.3. Hệ thống bán buôn Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

2.3.1. Các nhà bán buôn đồng thời là những nhà bán lẻ lớn

Mặc dù mạng lưới phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc đã có sự hay đổi sâu sắc trong những năm qua, nhưng cấu trúc mạng lưới phân phối hàng dệt may ở Hàn Quốc vai trò chủ đạo vẫn thuộc về các nhà bán lẻ là chủ yếu và một số ít nhà sản xuất. Các kênh phân phối có sử dụng các nhà bán buôn phần lớn đối là ở phân đoạn thị trường hàng may mặc giá thấp và vừa. Không giống như ở Mỹ hay Nhật Bản, nhà bán buôn có vai trò trung tâm trong mạng lưới phân phối, trong khi ở thị trường Hàn Quốc có rất ít các nhà bán buôn chuyên nghiệp. Rất nhiều nhà bán lẻ lớn của Hàn Quốc cũng thực hiện chức năng như một nhà bán buôn, tiêu biểu như E-land Group, LG Fashion hay Cheil Industries của Samsung. Các nhà bán lẻ này xây dựng các cơ sở dự trữ hàng hóa và tổ chức hệ thống logistic cho riêng mình. Do đó, hàng hóa được yêu cầu từ các nhà sản xuất theo một tiêu chuẩn nhất định đối với từng chủng loại sản phẩm và được tập hợp với số lượng lớn về kho dự trữ của các nhà bán lẻ này. Sau đó những lô hàng này sẽ được phân phối với khối lượng nhỏ hơn hoặc phân loại theo chủng loại, nhãn hiệu về các cửa hàng bán lẻ mà nó điều hành hoặc là các cửa hàng của những đối tác khác.

Bên cạnh đó, một số nhà bán lẻ này đồng thời cũng là đại lý cho một số hãng thời trang cao cấp nước ngoài. Trong trường hợp này, họ không trực tiếp sở hữu hàng hóa mà chỉ đứng ra tổ chức, điều hành phân phối các sản phẩm này qua chuỗi các cửa hàng độc lập chuyên bán các sản phẩm của thương hiệu đó. Thu nhập của của họ trong trường hợp này là các khoản hoa hồng dựa trên doanh thu bán hàng. Như trường hợp của Shinsegae, là công ty thành viên của Samsung. Hiện nay Sinsegae được biết đến như một nhà bán lẻ với chuỗi cửa hàng bách hóa lớn ở khu vực quanh Seoul, và chuỗi cửa hàng chiết khấu lớn nhất Hàn Quốc 112 E-Mart. Nhưng bên cạnh đó, Shinsegae cũng làm đại lý cho các hãng thời trang cao cấp bao gồm Armani, Coach, Dolce & Gabbana, Escada và St. Jonh. Shinsegae đã phân phối sản phẩm của các hãng này qua hệ thống hơn 250 cửa hàng trên cả nước, và đều thuộc quyền kiểm soát của nó. 33

2.3.2. Các nhà nhập khẩu

Các nhà bán buôn hàng may mặc ở Hàn Quốc còn bao gồm các nhà nhập khẩu hàng may mặc từ Hoa Kỳ, các nước Châu Âu và Châu Á. Các nhà nhập khẩu sẽ phân phối sản phẩm nhập khẩu đến các nhà bán lẻ và các trung tâ m mua sắm. Các sản phẩm nhập khẩu từ Hoa Kỳ và một số nước Châu Âu, phần lớn là Pháp và Italia, chủ yếu là những dòng sản phẩm ở phân đoạn thị trường thời trang cao cấp. Do vậy các sản phẩm này sẽ được phân phối chủ yếu tại các cửa hàng bách hóa hoặc các cửa chuyên doanh hàng hiệu.

Đối với những sản phẩm từ Châu Á, mà chủ yếu là Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, chủ yếu là thuộc phân đoạn thị trường giá rẻ và vừa. Những sản phẩm này thường được phân phối tại các khu chợ và các gian hàng truyền thống. Những sản phẩm nhập khẩu từ các nước này cũng có xu hướng tăng tạo sức ép cạnh tranh đối với thị trường sản phẩm giá rẻ và vừa nội địa. Điều này làm cho thị trường may mặc Hàn Quốc càng trở nên sôi động, phong phú trong cuộc chạy đua về mẫu mã và giá cả.

2.3.3. Các khu chợ bán buôn Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Hệ thống bán buôn hàng may mặc của Hàn Quốc theo hình thức này tương đối tập trung. Ở các khu chợ, hay các khu mua sắm lớn là nơi tập trung nhiều nhà bán buôn nhỏ lẻ. Trong đó nổi tiếng nhất là khu chợ Dongdaemun, với số lượng bán buôn chiếm tới 80%. Tuy vậy, khu chợ này lại được biết đến là khu chợ bán lẻ quần áo lớn nhất Hàn Quốc và cả trên thế giới. Dongdaemooon là một quần thể bao gồm nhiều các khu chợ nhỏ và trung tâm mua sắm có quy mô vô cùng lớn với hơn 27700 cửa hàng và các gian hàng nhỏ. Hàng ngày, khu chợ này thu hút hơn 300 000 lượt khách, với doanh thu hàng năm gần 9 tỷ USD. Dongdaemun được chia thành 3 khu vực chính. Trong đó, các nhà bán buôn tập trung phần lớn tại khu chợ truyền thống bao gồm 19 chợ bán buôn với hơn 15200 cửa hàng riêng rẽ. Còn hai khu khác thì chủ yếu dành cho hệ thống các cửa hàng bán lẻ và sản phẩm xuất khẩu. Nằm trong khu chợ truyền thống, Gwangjang Market và Pyunghwa Market được biết đến là hai chợ bán buôn hàng dệt may lớn nhất Hàn Quốc. Các chủng loại sản phẩm bán buôn ở khu chợ này rất đa dạng, phong phú từ nguyên liệu dệt may cho đến các loại quần áo dành cho nam giới nữ giới. Một số cửa hàng chuyên bán hàng tồn kho từ các nhà sản xuất trong nước hoặc từ các gian hàng khác trong trung tâm. Một số thậm chí cung cấp các loại hàng nhái hàng hiệu mà chủ yếu xuất xứ từ Trung Quốc. Phần lớn các nhà bán lẻ nhỏ ưa thích lấy hàng từ khu chợ này vì đa dạng các chủng loại, mẫu mã phong phú, và giá rẻ hơn so với các nơi khác.

Hệ thống logistic và kho bãi của Dongdaemun được thiết kế đặc biệt đề phù hợp với cấu trúc của khu chợ và tập quán buôn bán. Phương tiện chuyên chở hàng hóa từ nơi sản xuất đến khu vực này để tiêu thụ chủ yếu là bằng các xe mô-tô. Các đội xe mô-tô chuyên chở với số lượng lớn thường hoạt động tầm 9h tối trở lại. Hàng hóa được chuyên chở thành từng lô hàng đến nơi tập kết rồi sau đó được phân phối vào từng gian hàng bằng khu khuân vác.

Đặc điểm lớn nhất của các nhà bán buôn ở Dongdaemun là các nhà bán buôn với quy mô nhỏ nhưng các chủng loại sản phẩm được phân phối rất đa dạng. Các nhà bán buôn này sẽ tập kết các lô hàng hóa được thu gom từ các gian hàng khác nhau vào kho dự trữ hàng hóa ở mỗi khu liên hợp mua sắm. Hàng hóa được tập kết sẽ được phân phối tới tay các nhà bán lẻ nhỏ ở các địa phương khác. Một số các nhà bán lẻ này lập ra một hợp tác xã bán lẻ và sử dụng đội xe tải của hợp tác xã này để chuyên chở hàng từ Dongdaemun. Chi phí sau đó sẽ được chia cho các thành viên.

Hệ thống logistic ở Dongdaemun được quản lý một cách quy củ, nghiêm ngặt, và hàng hóa được bảo tồn nguyên vẹn. Các khâu được phối hợp nhịp nhàng và đơn giản. Đó là một trong những lý do khiến khu chợ này ngày càng thu hút được nhiều nhà bán buôn hàng may mặc trên khắp cả nước.

2.3.4. Hệ thống các cửa hàng bán buôn online Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc 

Bên cạnh đó, hệ thống các cửa hàng bán buôn hàng may mặc qua Internet ở Hàn Quốc ngày càng gia tăng. Lợi ích từ việc bán buôn qua internet có thể thấy được là việc gia tăng giá trị khách hàng. Khách hàng chỉ cần đặt hàng trên trang web là hàng hóa sẽ được chuyên chở đến tận nơi. Ngoài ra khi mua với số lượng lớn qua Internet các khách hàng cũng được hưởng mức giá ưu đãi. Và một lợi ích nữa là các cửa hàng online thường đưa ra những mẫu mã với xu hướng thời trang đang thịnh hành nhất. Chính vì vậy bán buôn qua Internet đã trở thành phương thức hiệu quả được nhiều doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc áp dụng, kể cả đối với các sản phẩm xuất khẩu. Các cửa hàng bán buôn nổi tiếng trên Internet của Hàn Quốc gồm có: EC21.com, Naver.com hay Feelway.com.

Nhìn chung, hệ thống bán buôn hàng dệt may của Hàn Quốc ngày càng đối mặt với những thách thức to lớn. Các nhà bán lẻ và người tiêu dùng hàng may mặc đặt nặng vấn đề thương hiệu, giá cả, mẫu mã. Các nhà sản xuất hay các nhà bán lẻ sẽ không muốn mua qua nhà bán buôn nếu họ không tạo thêm được những giá trị gia tăng có ý nghĩa. Bởi vậy, về lâu về dài, để tồn tại các nhà bán buôn phải không ngừng cải thiện dịch vụ và giảm chi phí họat động, đồng thời phải tạo thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm bằng cách tăng năng suất và hiệu quả hoạt động của cả hệ thống phân phối.

2.4. Hệ thống phân phối bán lẻ Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Hệ thống phân phối bán lẻ hàng dệt may Hàn Quốc đã phát bùng nổ một cách nhanh chóng, các doanh nghiệp bán lẻ đã giữ vai trò chủ đạo trong mạng lưới phân phối. Các hình thức bán lẻ rất đa dạng, nhưng chủ yếu là gồm một số hình thức chính sau đây:

Hình 2.8: Các hình thức phân phối bán lẻ dệt may ở Hàn Quốc

2.4.1. Cửa hàng bách hóa (Department stores)

Đây là một kênh phân phối hàng dệt may quan trọng của Hàn Quốc, và chủ yếu nhắm đến thị trường thời trang cao cấp. Các cửa hàng bách hóa ở Hàn Quốc có quy mô rất lớn và được xây dựng ở các khu đông dân cư. Các cửa hàng này bao gồm nhiều gian hàng riêng biệt của những hãng thời trang hàng hiệu khác nhau. Người sở hữu cửa hàng bách hóa không trực tiếp tham gia quá trình mua và tiêu thụ hàng hóa, mà nhận tiền hoa hồng từ việc cho thuê các gian hàng với mức từ 15% đến 35% tổng doanh thu bán hàng. Mặc dù cửa hàng bách hóa có xu hướng giảm, nhưng doanh thu của nó vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại hình bán lẻ hàng may mặc. Năm 2008, doanh thu bán lẻ của các sản phẩm may mặc thông qua cửa hàng bách hóa chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các hình thức bán lẻ khác là 34,5% (hình 2.5).

Trong những năm gần đây cửa hàng bách đang chịu sự cạnh tranh gay gắt của các loại hình bán lẻ khác như cửa hàng chiết khấu hay các kênh phân phối không qua cửa hàng. Để tăng lợi thế cạnh tranh, các cửa hàng bách hóa đã chú trọng vào cung cấp các sản phẩm của những thương hiệu lớn như Chanel, Du Pont, Ferragamo, Fendi, Tiffany, Prada, and Loui Vuiton, Buberry. Không gian mua sắm tại các cửa hàng bách hóa này thì được bố trí bắt mắt và sang trọng. Ngoài ra, dịch vụ khách hàng và các tiện ích khác cũng là điều tạo ra lợi thế cạnh tranh cho loại hình bán lẻ này. Cụ thể như tại các cửa hàng bách hóa của Lotte Department Store, còn có xây dựng thêm các không gian giải trí khác dành cho khách hàng. Ví dụ như trung tâm văn hóa, phòng triển lãm, không gian chơi của trẻ em, phòng dụng cụ dành cho người tàn tật, thẩm mỹ viện và bãi đậu xe lớn đáp ứng được nhu cầu khác nhau của khách hàng.

Hình 2.9: Thị phần của các chuỗi cửa hàng bách hóa theo doanh thu năm 2008

Nguồn: Statistics Korea, Ministry of Knowledge and Economy Năm 2008, hệ thống các cửa hàng bách hóa trên toàn quốc của Hàn Quốc đạt số lượng là 78. Trong đó hệ thống các cửa hàng bách hóa lớn chủ yếu thuộc về các tập đoàn (Chaebols) như Lotte Department Stores, Huyndai thuộc Huyndai Group và Shinsegae thuộc Sam Sung và Galleria của Hanhwa với số lượng lần lượt là 25, 11,8,5. Nhìn vào biểu đồ thị phần của Lotte cũng lớn nhất chiếm 43%. Theo sau là Huyndai với 21% và Shinsegae là 16%. Tỷ trọng của sản phẩm may mặc và các phụ kiện trong cửa hàng bách hóa là 62,2%.35

2.4.2. Cửa hàng chuyên doanh (speciality stores) Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Đây là hình thức bán lẻ hàng dệt may phổ biến thứ hai sau cửa hàng bách hóa, chiếm 57% toàn ngành bán lẻ Hàn Quốc nói chung và 29% trong ngành may mặc về doanh thu năm 2009. Hình thức này đang có xu hướng gia tăng tỷ trọng. Nhiều nhà sản xuất và nhà phân phối Hàn Quốc đã nhận thấy rằng đây là hình thức hữu hiệu trong việc mở rộng thương hiệu và mở rộng kinh doanh hơn là đại lý và cửa hàng bách hóa. Đặc biệt đối với quần áo thể thao như hệ thống cửa hàng kinh doanh của hãng Nike trên toàn quốc. Một số hãng thời trang hàng hiệu cũng rất ưa chuộng phương thức này bởi vì nó giúp quảng bá thương hiệu tốt hơn, như hãng thời trang của Thụy Điển H&M, hay hãng thời trang Forever 21 của Hoa Kỳ.

2.4.3. Cửa hàng chiết khấu (discount stores)

Cửa hàng chiết khấu cũng đang có xu hướng tăng mạnh. Doanh thu của các cửa hàng này năm 2009 chiếm 12% trong tổng doanh thu toàn ngành bán lẻ của Hàn Quốc. Hiện tại hàn Quốc có tổng toàn bộ 409 cửa hàng loại này với diện tích lớn hơn 3000 m2. Đặc điểm lớn nhất của các cửa hàng chiết khấu là theo đuổi chiến lược giá thấp nhằm bán được nhiều sản phẩm hơn. Bên cạnh đó, sản phẩm đa dạng về chủng loại và nhãn hiệu. Do vậy cửa hàng chiết khấu thu hút ngày càng nhiều khách hàng vì cung cấp sản phẩm với chất lượng tương đối tốt, giá cả phải chăng và các dịch vụ khách hàng kèm theo. Những mặt hàng chủ yếu của loại hình bán lẻ này là đồ lót, áo sơ mi, quần áo thể thao và quần áo thông thường. Hệ thống các cửa hàng này cũng được vận hành bởi các tập đoàn lớn (Chaebols) như E-Mart, thuộc quyền sở hữu của Shinsegae Group, Lotte Mart, Kim’s Club, Carrefour, Homeplus của Samsung Tesco, Homeplus, Wal-Mart và Costco.

Hình 2.10: Thị phần của các cửa hàng chiết khấu tính theo doanh thu

Nguồn: Statistics Korea, Retail Magazine Từ biểu đồ có thể thấy hệ thống cửa hàng chiết khấu E-Mart có số lượng cửa hàng lớn nhất với 124 cửa hàng và chiếm tỷ lệ 30% so với tổng doanh thu hệ thống cửa hàng chiết khấu trên toàn quốc. 36

2.4.4. Cửa hàng tiêu thụ của công ty (Outlet) Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Đây là các cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu của nhà sản xuất hoặc các nhà bán lẻ lớn, chuyên bán các sản phẩm mang nhãn hiệu thuộc của các nhà sản xuất hay các nhà bán lẻ này. Đây cũng là cơ sở mà từ đó nhiều doanh nghiệp thiết lập mạng lưới phân phối của họ. Nhìn vào biểu đồ hình, mặc dù loại cửa hàng bán lẻ này hiện vẫn còn chiếm tỷ lệ thấp so với các hình thức bán lẻ khác, nhưng mà có xu hướng ngày càng tăng. Các hệ thống cửa hàng outlet lớn của Hàn Quốc phải kể đến NewCore Outlet thuộc E-Land Group với 16 cửa hàng trên toàn quốc, 2001 Outlet với số lượng 11 cửa hàng. Bên cạnh hệ thống cửa hàng bách hóa, cửa hàng chiết khấu các tập đoàn lớn của Hàn Quốc cũng điều hành một lượng lớn các của hàng outlet, như Lotte cũng đã xây dựng hệ thống gồm 8 cửa hàng.37

2.4.5. Các cửa hàng nhỏ lẻ tại khu mua sắm (shopping districts)

Mặc dù trong những năm gần đây, tỉ lệ phân phối bán lẻ theo các cửa hàng nhỏ lẻ ở khu chợ truyền thống hay trên các con phố mua sắm giảm so với các hình thức khác, nhưng đây vẫn là kênh phân phối hàng may mặc sôi động của Hàn Quốc. Các nhà bán lẻ này chủ yếu là những hộ gia đình kinh doanh nhỏ, với đa dạng chủng loại sản phẩm. Hình thức phân phối lẻ này ở Hàn Quốc tương đối tập trung. Myeongdong và Gangnam Station là hai khu phố mua sắm được biết đến nhiều nhất ở Hàn Quốc. Hàng ngày hai khu phố này thu hút gần 250000 và 300000 lượt khách trong đó khách hàng là du khách nước ngoài chiếm một phần đáng kể. Năm 2008, 75% trong tổng số 1,6 triệu du khách đến từ Nhật Bản xem Myeongdong là một điểm du lịch hấp dẫn tại Seoul. Ngoài ra, còn có các khu phố mua sắm khác cũng được biết đến nhiều bao gồm khu Apgujeong, Shinchon và Hongjik University, Ewha Woman’s University. Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Các khu chợ truyền thống cũng là nơi tập trung nhiều gian hàng kinh doanh nhỏ lẻ. Ví dụ như khu chợ Dongdaemun, chợ chợ Namdaemun, hay chợ Hwangkhak-dong. Những khu vực mua sắm như vậy đặc biệt thu hút thu hút người tiêu dùng ưa thích các sản phẩm có xuất xứ châu Á và cả du khách nước ngoài. Đây là kênh phân phối chủ yếu dành cho thị trường may mặc giá thấp và vừa được sản xuất bởi các công ty nội địa, hoặc nhập khẩu từ các nước, phần lớn là từ Châu Á, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Bên cạnh đó, ở các khu chợ này cũng bao gồm những gian hàng chuyên bán đồ giảm giá, lỗi mốt từ các thương hiệu trong nước hay của các thương hiệu nước ngoài nổi tiếng như Gucci, Channel, Ferragamoo với giá rẻ khoảng 30%-40% so với giá gốc ở các cửa hàng bách hóa. Sản phẩm được buôn bán ở các khu chợ này thì vô cùng phong phú về kiểu dáng, và cả chất lượng. Thậm chí, ở đây người tiêu dùng có thể tìm thấy các sản phẩm nhái hàng hiệu đủ các loại mẫu mã, chất lượng mà chủ yếu xuất xứ từ Trung Quốc. Kênh phân phối này đã đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng tìm kiếm những sản phẩm may mặc vừa thời trang với mức giá phải chăng. 39

Các trung tâm mua sắm của Hàn Quốc đang nổi lên như là một trong các địa điểm du lịch hấp dẫn. Đặc biệt là khu chợ Dongdaemun được biết đến với cái tên “thung lũng thời trang” sẽ là điểm nhấn cho thời trang Hàn Quốc trong những năm tới.

2.4.6. Hình thức bán hàng không qua cửa hàng

Hình thức bán hàng không qua cửa hàng bao gồm hình thức TV home shopping, bán hàng on-line, và bán hàng qua catalogue. Kênh phân phối trực tiếp này đang hình thành với tỷ lệ tăng trưởng cao khoảng trên 29,5% bình quân hàng năm. Năm 2009, doanh thu của hình thức bán hàng không qua cửa hàng chiếm 11% trên thị trường bán lẻ toàn quốc. Doanh thu từ việc bán sản phẩm may mặc thông qua internet cũng tăng cao, tổng doanh thu năm 2004 của sản phẩm may mặc qua Internet là 1,4 tỷ USD và đến năm 2009 con số này đã tăng lên là 3 tỷ USD .

Hình 2.11: Doanh thu bán lẻ hàng may mặc qua Internet

Nhìn vào tỉ lệ tăng trưởng như thế thì cho thấy triển sẽ còn tiếp tục tăng cao hơn nữa trong những năm sắp tới. Hình thức bán hàng này càng nở rộ khi mà các nhà cung cấp hàng may mặc nhận thấy rằng, không phải gánh chịu chi phí lớn và là một hình thức rất hiệu quả trong việc tăng giá trị cho khách hàng.

2.5. Các kênh phân phối hàng dệt may tồn kho Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Nhìn chung trên thị trường dệt may Hàn Quốc, tỷ lệ tiêu thụ hàng may mặc mới sản xuất là 60%, và lượng hàng tồn kho còn lại là 40%. Lượng hàng tồn kho này sẽ được phân phối vào hệ thống các cửa hàng giảm giá vào những năm sau đó, với giá cả thấp hơn. Đối với doanh nghiệp phải chịu chi phí lưu kho cao, như chi phí kho bãi, chi phí vận chuyển thì việc đầu tiên là muốn thu hồi vốn. Chính vì vậy các doanh nhiệp này sẽ chấp nhận bán hàng tại mức giá thấp thế nào chăng nữa. Các kênh phân phối hàng may mặc tồn kho ở Hàn Quốc cũng ngày càng được đa dạng hóa và có tính cạnh tranh cao.

Những doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc sau khi đưa ra thị trường sản phẩm mới và phân phối tại các cửa hàng với mức giá thành ban đầu. Vì sản phẩm may mặc có tính thời vụ, nên nếu từ hai đến ba tháng sau khi hàng xuất kho sẽ được phân phối với mức giá giảm tới khoảng 30% so với mức giá thông thường.

Sản phẩm sau khi được bán ra từ các kênh phân phối như vậy mà còn tồn đọng sẽ được phân thành hàng tồn kho. Trong tường hợp này thì những sản phẩm tồn kho từ ba đến hai năm sẽ được bán với giá giảm chỉ bằng 50 đến 70% so với mức giá thành thông thường. Các mặt hàng này sẽ được phân phối thông qua kênh phân phối là outlet và cửa hàng giảm giá. Việc bán những sản phẩm này chỉ có thể nắm giữ khoảng 70% trong toàn bộ doanh thu.

Sản phẩm tồn kho trên 2 năm sẽ được bán với mức giá giảm từ 70% đến 90% so với mức giá thông thường từ các chương trình khuyến mãi đặc biệt.

Phần lớn các sản phẩm tồn kho hầu như đều xuất phát từ giai đoan này.

Những tường hợp hàng tồn kho còn lại mà vẫn không bán được sẽ được xử lý bằng cách tiêu hủy hoặc xuất sang các nước thuộc khu vực Đông Nam Á. 41

Cơ cấu phân phối hàng tồn kho của thị trường may mặc Hàn Quốc đang phản ánh thực tế là việc xử lý hàng tồn kho đã được đổi từ trọng tâm là nhà sản xuất sang các nhà kinh doanh. Hàng may mặc được bán theo từng giai đoạn thông qua các kênh phân phối đa dạng. Các kênh phân phối này có thể bao gồm hình thức phân phối qua cửa hàng hoặc không qua cửa hàng.

Hình 2.12 Các kênh phân phối hàng dệt may tồn kho

Các kênh phân phối này gồm có các cửa hàng giảm giá lớn như hệ thống cửa hàng của E-Mart, Wall Mart, hay hệ thống cửa hàng của công ty (outlet), các quầy hàng chuyên bán đồ giảm giá ở các khu mua sắm, các cửa hàng khuyến mãi đặc biệt, một số cửa hàng bách hóa cũng thiết lập các góc kinh doanh hàng giảm giá, bán hàng qua Internet.

3. Đánh giá thực trạng xây dựng mạng lƣới phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

3.1. Những thành tựu đạt được

Thứ nhất, mạng lưới hàng dệt may của Hàn Quốc đã hình thành các kênh phân phối chuyên nghiệp. Vai trò thống trị trong mạng lưới phân phối hiện đại của Hàn Quốc chủ yếu là thuộc về các nhà bán lẻ lớn. Với sức mạnh và quy mô các nhà bán lẻ này có ảnh hưởng to lớn tới nhà sản xuất. Không chỉ thực hiện tốt chức năng đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng, các nhà bán lẻ này còn tổ chức được hệ thống logistic cũng như xây dựng được hệ thống kho bãi quy mô lớn đảm bảo cho hàng hóa được lưu thông thông suốt. Ngoài ra các nhà bán lẻ này còn thực hiện chức năng xây dựng, quảng bá thương hiệu và chăm sóc khách hàng. Chính vì vậy nó có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thu hút và duy trì số lượng người tiêu dùng lớn. Còn ngược lại, các nhà bán lẻ cũng chính là người thu thập, nắm bắt thông tin thị trường như thị hiếu khách hàng, xu hướng thời trang. Từ đó các trung gian này truyền lại thông tin cho nhà sản xuất để sản xuất ra những sản phẩm thích ứng với thị trường trong điều kiện nhanh nhất. Các nhà phân phối chuyên nghiệp đã giúp hàng may mặc Hàn Quốc trở nên tiêu chuẩn hóa, thống nhất và đạt hiệu quả theo quy mô.

Thứ hai, mạng lưới phân phối hàng dệt may của Hàn Quốc vô cùng đa dạng về các hình thức phân phối. Đặc biệt là khâu bán lẻ, các hình thức phân phối hàng dệt may ở Hàn Quốc vô cùng phong phú, hầu như đầy các loại cửa hàng trên thế giới. Hình thức phân phối từ các cửa hàng quy mô lớn như cửa hàng bách hóa, cửa hàng chiết khấu, siêu thị đến các cửa hàng quy mô nhỏ hơn như cửa hàng tiêu thụ (outlet), cửa hàng chuyên doanh và các cửa hàng nhỏ độc lập hay các gian hàng ở chợ truyền thống. Các hình thức bán hàng không qua cửa hàng đã tương đối phổ biến và trở thành kênh phân phối quan trọng. Có thể nói thị trường bán lẻ hàng dệt may Hàn Quốc đang bùng nổ cả về số lượng và quy mô các cửa hàng phân phối.

Thứ ba, thị trường dệt may của Hàn Quốc có sự hài hòa giữa các kênh phân phối hiện đại và truyền thống.

Nhìn chung, các kênh phân phối hiện đại ở thị trường Hàn Quốc hiện nay đã chiếm đa số, nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại các kênh phân phối truyền thống. Nhưng hai loại kênh phân phối này đã hỗ trợ cho nhau rất tốt cùng tạo nên những khu mua sắm tập trung. Ví dụ như quần thể chợ Dongdaemoon đã trở thành khu mua sắm hàng dệt may lớn nhất thế giới. Việc đa dạng và cân đối giữa các hình thức bán lẻ không những đã đáp ứng được nhu cầu mua sắm của từng phân đoạn thị trường mà nó đã phát triển thành văn hóa mua sắm, tạo nên những điểm du lịch hấp dẫn tại Hàn Quốc. Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Thứ tư, thời trang Hàn Quốc đã bùng nổ về mẫu mã và chất lượng. Các thương hiệu thời trang Hàn Quốc hiện nay đã đáp ứng được nhu cầu về kiểu dáng, mẫu mã và đặc biệt là đang dần chiếm thế chủ động trong việc tạo ra những xu hướng thời trang mới, độc đáo. Sản phẩm trong nước ngày càng được tiêu dùng rộng rãi đã kích thích trở lại cho sự mở rộng mạng lưới phân phối.

Nhìn chung, mạng lưới phân phối của Hàn Quốc trong thập kỷ qua đã phát triển một cách mạnh mẽ, thể hiện ở sự thay đổi cơ bản cấu trúc mạng lưới cả về các cấp độ phân phối và bề rộng của các kênh phân phối. Từ những mạng lưới truyền thống, liên kết các trung gian phân phối một cách rời rạc, lỏng lẻo đã hình thành nên những kênh phân phối chặt chẽ, thống nhất và đạt hiệu quả cao. Mạng lưới phân phối ngày càng hiện đại hóa, và đa dạng hóa hơn ở tất cả các cấp phân phối và các hình thức liên kết.

Các nhân tố thúc đẩy sự phát triển của mạng lưới phân phối dệt may tại Hàn Quốc

Thứ nhất, nhân tố góp phần vào sự phát triển của mạng lưới dệt may Hàn Quốc phải kể đến sự gia tăng nhập khẩu của các hãng thời trang cao cấp nước ngoài đến từ Mỹ và Châu Âu, cũng như các sản phẩm giá rẻ nhập từ các nước Châu Á. Sự gia tăng dòng sản phẩm thời trang cao cấp đã thúc đẩy sự hình thành và mở rộng của hệ thống cửa hàng bách hóa. Sản phẩm giá vừa của các hãng sản xuất trong nước, hay sản phẩm giá rẻ nhập khẩu từ Châu Á đã hình thành nên chuỗi các cửa hàng chiết khấu với quy mô lớn và ngày càng chuẩn hóa. Cuộc chạy đua về mẫu mã, giá cả giữa các hãng thời trang đã hình thành nên thị trường dệt may đa dạng, phong phú về chủng loại. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh gay gắt giữa các hãng nước ngoài cũng như các hãng nội địa để giành giật thị trường trong nước đã làm các cửa hàng bán lẻ dưới mọi hình thức thi nhau mọc lên, tạo thành các trung tâm mua sắm lớn. Sự phân hóa thị trường thành sản phẩm giá cao, sản phẩm giá rẻ và vừa đã tạo nên sự đa dạng trong mạng lưới phân phối.

Thứ hai phải kể đến sự thống trị của các tập đoàn kinh tế lớn (Chaebol) trong nền kinh tế Hàn Quốc nói chung và công nghiệp dệt may của Hàn Quốc nói riêng. Các tập đoàn này ngày càng trở nên lớn mạnh nhờ quy mô và sự sáp nhập thêm các trung gian khác. Chính những tập đoàn này đã có vai trò chuyển đổi cơ bản cấu trúc mạng lưới phân phối hàng dệt may của Hàn Quốc.

Thứ ba, là nhân tố thị hiếu của người tiêu dùng hàng dệt may Hàn Quốc. Nhìn chung người tiêu dùng hàng dệt may tại Hàn Quốc coi trọng đến vẻ bề ngoài và để ý đến nhãn hiệu cũng như xu hướng thời trang hơn cả. Sự đa dạng về cầu cũng là một yếu tố thúc đẩy sự mở rộng của mạng lưới phân phối.

Thứ tư, sự phát triển của khoa học công nghệ và sự phổ cập của Internet và các phương tiện truyền thông đã tạo điều kiện cho các hình thức phân phối mới ra đời. Ví dụ như hệ thống cửa hàng thương mại điện tử, TV home shopping…

3.2. Những hạn chế Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Bên cạnh những thành tựu đạt được, mạng lưới phân phối hàng dệt may của Hàn Quốc cũng tồn tại một số điểm hạn chế sau đây.

Thứ nhất, việc phân phối tập trung vào một số ít các nhà bán lẻ đã làm cho các hệ thống phân phối hiện đại hóa, chuyên môn hóa chủ yếu tập trung vào phân đoạn thời trang hàng hiệu nhập khẩu từ nước ngoài. Việc phân phối thông qua các cửa hàng đại lý của nhà sản xuất nội địa hay nhà bán buôn hàng dệt may chuyên nghiệp đang giảm đi. Trong khi hiệu quả phân phối và lưu thông của hoạt động phân phối lẻ hàng dệt may sản xuất trong nước chưa cao. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho thị trường thời trang hàng hiệu nội địa chưa cạnh tranh được với các thương hiệu nước ngoài.

Thứ hai, mặc dù hình thức bán lẻ hàng may mặc rất phong phú, nhưng các cửa hàng bán lẻ quy mô lớn chỉ chuyên về hàng may mặc chưa nhiều. Chính vì vậy việc tích lũy kỹ thuật và hệ thống hóa từng chuỗi cửa hàng và mở rộng phân phối còn gặp nhiều khó khăn.

Thứ ba, ở quy mô nhỏ các cửa hàng nhỏ lẻ ở các địa phương còn phụ thuộc rất lớn vào các doanh nghiệp sản xuất vì phương thức bán hàng ủy quyền, phải hoàn trả lại cho người sản xuất hàng tồn không bán được. Nên việc xây dựng khả năng bán lẻ ở các địa phương nhỏ mang tính chất chuyên nghiệp là rất khó.

Thứ tư, Theo KOFOTI, hiệp hội ngành công nghiệp dệt may Hàn Quốc, hiệu quả của việc phân phối và lưu thông và hàng dệt may tuy nhiên mới chỉ đạt 80%. Chi phí phân phối vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tồng doanh thu. Chính vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của các doanh nghiệp.

Hình 2.13: Cơ cấu chi phí của các sản phẩm may mặc

Nếu xét theo chi phí thì chi phí liên quan đến việc phân phối hàng hóa trong giá bán của các sản phẩm may mặc Hàn Quốc chiếm tỷ trong lớn nhất so với doanh thu từ việc bán hàng, khoảng từ 30% đến 40%.42

Tóm lại ở chương 2, thực trạng xây dựng mạng lưới phân phối hàng dệt may đã được phân tích dưới các khía cạnh về đặc điểm thị trường, quá trình hình thành, các kênh phân phối ở cấp độ bán buôn và bán lẻ, cũng như các hình thức liên kết trong mạng lưới. Từ thực trạng này, người viết đã đưa ra đánh giá về những thành công và một số điểm tồn tại và đây cũng sẽ là cơ sở rút ra bài học cho Việt Nam được nghiên cứu ở chương 3. Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển hàng dệt may tại Hàn Quốc

One thought on “Khóa luận: Thực trạng phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

  1. Pingback: Khóa luận: Mạng lưới phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464