Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn của LPBank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2.1. Hình thức huy động vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng
Huy động vốn là một trong những nhiệm vụ tạo vốn hàng đầu của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng thông qua các nghiệp vụ chủ yếu như: huy động tiền gửi, nghiệp vụ ngoại bảng của ngân hàng và các nghiệp vụ trung gian khác. Thời gian đầu khi mới đi vào hoạt động, ngân hàng bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ, hiệu quả kinh doanh nhiều mặt bị hạn chế, kể cả mảng huy động vốn. Nhưng cùng với sự nỗ lực của bản thân ngân hàng, sự ủng hộ từ nhiều phía, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, ngân hàng đã quen dần, đạt được những thành quả nhất định trong kinh doanh. Chỉ xét riêng về mảng huy động vốn của ngân hàng, cả quy mô và chất lượng đều được phát triển. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng ngày càng đa dạng, đáp ứng được nhu cầu đổi mới trong chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới. Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn của LPBank
Nắm bắt được tình hình nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của nền kinh tế, ngân hàng luôn tìm cho mình những hướng đi, những giải pháp phù hợp với sự phát triển kinh tế của thành phố, đẩy mạnh công tác huy động vốn và từng bước đã đạt được những kết quả nhất định, phản ánh qua tình hình tăng trưởng nguồn vốn huy động và cơ cấu nguồn vốn huy động. Các hình thức huy động vốn chủ yếu được áp dụng trong thời gian qua tại Ngân hàng gồm:
Nhận tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiền gửi ký quỹ, tiền gửi cho mục đích đặc biệt.
- Tiền gửi của các tổ chức kinh tế.
- Vay của các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng.
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
2.2.2. Tổ chức huy động vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng
Nguồn vốn huy động tại chỗ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn, có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Nguồn này đảm bảo cho ngân hàng chủ động trong hoạt động, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của toàn xã hội thông qua việc tập trung các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vào ngân hàng để đầu tư vào nền kinh tế, giảm thời gian, chi phí bảo quản và tạo thu nhập cho người gửi tiền. Trong thời gian qua, ngân hàng đẩy mạnh huy động nguồn vốn tại chỗ thông qua việc mở rộng mạng lưới huy động vốn trên địa bàn thành phố và các khu vực lân cận nhằm khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi. Tạo mạng lưới kinh doanh ở các khu vực thương mại-dịch vụ và khu vực đông dân cư là một phương tiện hữu hiệu tăng khả năng huy động cũng như thực hiện các dịch vụ ngân hàng của chi nhánh. Để thực hiện được, trong thời gian tới ngân hàng có kế hoạch mở thêm số phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm trên địa bàn thành phố và các khu vực ngoại thành nhằm huy động tối đa nguồn vốn trong dân cư.
2.2.3. Quy mô, cơ cấu vốn huy động của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn của LPBank
Trong thời gian qua Ngân hàng phát huy được thế mạnh của mình trong công tác huy động vốn do đã tận dụng được khả năng, vị thế của mình và đưa ra được những chiến lược khả thi trong dài hạn. Mặt khác, chính sách lãi suất rất nhạy bén, phương thức trả lãi linh hoạt như: trả trước, trả sau, trả lãi định kì, trả lãi bậc thang. . . nên ngân hàng có thể huy động vốn khi cần thiết rất đầy đủ và kịp thời.
Không những thế, công tác tiếp thị được đẩy mạnh, Ngân hàng tiếp cận nhiều doanh nghiệp, có chính sách khuyến khích đối với khách hàng nên không những đã giữ được khách hàng truyền thống mà ngân hàng còn mở rộng tìm kiếm khách hàng có tiềm năng về vốn để nhận tiền vay, tiền gửi. Để đạt được những kết quả như trên, ngân hàng đã triển khai nhiều biện pháp nghiệp vụ trong kinh doanh như: Tăng cường đào tạo cho đội ngũ cán bộ những kiến thức mới về tin hoc, thị trường, nghiệp vụ ngân hàng, tiếp cận trực tiếp tới khách hàng có nhu cầu gửi tiền nắm bắt nguyện vọng nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng,…Để thấy được điều này, ta xét biến động nguồn vốn của ngân hàng trong thời gian qua:
Qua bảng 5 ta thấy, năm 2011 tổng nguồn vốn huy động là 217.282,539 triệu đồng tăng 11,49% so với năm 2010. Về quy mô thì nguồn tiền gửi của các TCKT-XH chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng tốc độ tăng trưởng không ổn định năm 2011 tiền gửi của các TCKT-XH chiếm tỷ trọng 65,29%, giảm so với 78,33% của năm 2010. Nguồn tiền gửi của các tổ chức KT-XH có xu hướng giảm về cả quy mô và cơ cấu (năm 2011 giảm 7,05 % so với năm 2010). Có điều này xảy ra cũng là hợp lý bởi hiện nay nhìn chung các tổ chức kinh tế cũng như doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng khó khăn, thiếu vốn là chủ yếu bởi vậy dẫn tới tình trạng nguồn vốn này có xu hướng năm sau giảm so với năm trước.
Bảng 5 : Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động tại ngân hàng
Nguồn tiền gửi của dân cư có xu hướng tăng lên về quy mô và cơ cấu. Năm 2011 tiền gửi của dân cư là 48.289,464 triệu đồng chiếm tỷ trọng 22,23% nguồn vốn huy động, tăng 14,35% so với năm 2010.
Năm 2011, Ngân hàng tiến hành phát hành giấy tờ có giá, nhằm huy động nguồn vốn trung, dài hạn giúp ngân hàng chủ động hơn trong hoạt động đầu tư và cho vay. Lượng giấy tờ có giá phát hành chiếm 12,48% tổng nguồn vốn huy động.
Nhìn chung, công tác huy động nguồn vốn năm 2011 có rất nhiều khó khăn. Do giá cả biến động liên tục, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu làm ảnh hưởng đến tâm lý của người gửi tiền, mặt khác thực hiện chủ trương chỉ đạo của chính phủ thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát làm cho lượng tiền trong lưu thông giảm, người có tiền gửi có xu hướng chuyển sang tích lũy.
2.2.3.1. Phân tích hoạt động huy động vốn theo loại tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Viêt – Chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn của LPBank
Huy động vốn nội tệ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng
Cũng giống như các NHTM khác, hình thức huy động vốn bằng nội tệ chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với huy động vốn ngoại tệ. Việc huy động vốn bằng nội tệ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng được thể hiện qua bảng 6:
Bảng 6: Huy động vốn nội tệ của Ngân hàng năm 2010-2011
Theo số liệu từ bảng 6 thì nguồn vốn từ nội tệ của ngân hàng liên tục tăng qua các năm, diễn biến của nguồn vốn huy động này cụ thể như sau:
Huy động vốn từ tiền gửi của các TCKT-XH
Nguồn tiền này có quy mô, cơ cấu lớn nhất trong tổng nguồn vốn nội tệ huy động, tỷ trọng trung bình dao động trên 37% tổng vốn nội tệ huy động. Tuy vậy, tiền gửi của các tổ chức kinh tế năm 2011 so với năm 2010 có xu hướng giảm về cơ cấu, năm 2010 chiếm 38,55%,năm 2011 chiếm 35,72% giảm 2,83%. Giảm về quy mô, nhưng tốc độ tăng trưởng năm 2011 so với năm 2010 vẫn tăng 11,32%.
Thực trạng này cho thấy, lượng vốn lớn với chi phí hợp lí từ các công ty, doanh nghiệp gửi tại ngân hàng đang có chều hướng giảm đi. Nguyên nhân là vì tiền gửi nội tệ của các TCKT-XH tại ngân hàng là từ các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh, với chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tiền gửi này thường là tiền gửi giao dịch hoặc có kì hạn ngắn, hưởng lãi suất thấp vì các doanh nghiệp có tốc độ quay vòng vốn khá nhanh. Hơn nữa, trong năm qua tình hình kinh tế khó khăn ảnh hưởng không ít tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn của LPBank
Nguồn vốn từ các TCKT-XH giảm sẽ không có lợi đối với ngân hàng vì nếu ngân hàng huy động được nhiều để cho vay và đầu tư thì không những kéo dài được chênh lệch lãi suất hai đầu mà còn giảm được chi phí vốn bình quân, tăng lợi nhuận.
Huy động vốn từ tiền gửi của dân cư
Đây là nguồn tiền có cơ cấu và quy mô ổn định qua 2 năm. Năm 2011 đạt 102.632,749 triệu đồng, chiếm 64,28% tổng nguồn vốn nội tệ huy động, tăng 25,73% so với năm 2010.
Nhược điểm của loại tiền gửi này là có lãi suất huy động bình quân cao, kỳ hạn tiền gửi danh nghĩa của người dân thường ngắn (phổ biến kì hạn nhỏ hơn 12 tháng) nhưng kỳ hạn thực tế trung bình lại dài, tính ổn định cao, là nguồn chính để ngân hàng cho vay trung và dài hạn và tăng hệ số sử dụng vốn. Điều này làm tăng khả năng sử dụng vốn, khả năng dịch chuyển kì hạn dư nợ, kết quả kinh doanh và sức cạnh tranh của ngân hàng.
Huy động vốn ngoại tệ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng
Trên đây là nguồn vốn được huy động bằng nội tệ VNĐ. Trong vốn huy động của ngân hàng thì ngoài đồng VNĐ, ngân hàng còn huy động vốn ngoại tệ( chủ yếu là đồng USD ). So với nguồn vốn nội tệ thì nguồn ngoại tệ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhiều. Thực trạng huy động ngoại tệ của ngân hàng được thể hiện qua bảng 7 như sau:
Bảng 7: Huy động vốn ngoại tệ
Tiền gửi bằng ngoại tệ của các tổ chức kinh tế- xã hội
Cũng giống như tiền gửi bằng nội tệ thì tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCKT-XH cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất trên 70% lượng tiền gửi bằng ngoại tệ. Nhưng đang có xu hướng giảm xuống năm 2011 đạt 42.692,372 triệu đồng tương đương 74,07%, giảm 5,43% trong tỷ trọng lượng tiền gửi bằng ngoại tệ.
Tiền gửi bằng ngoại tệ của dân cư
Lượng tiền gửi của dân cư năm 2010 là 12.721,381 triệu đồng chiếm tỷ trọng 20,5%, tới năm 2011 tăng lên 2.221,597 triệu đồng tương đương với 17,46%. Tiền gửi ngoại tệ của dân cư tăng lên là do tâm lí lo sợ của người dân trước tình hình lạm phát làm cho đồng tiền nội tệ mất giá, chuyển sang mua và gửi vào ngân hàng các loại ngoại tệ, đặc biệt là USD đồng tiền được xem là mạnh và ổn định nhất. Như vậy, cơ cấu huy động vốn qua loại tiền của ngân hàng là tương đối phù hợp. Ngân hàng có thể chủ động phần nào trong việc cho vay đối với từng loại tiền, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
2.2.3.2. Phân tích huy động vốn theo kỳ hạn và đối tượng Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn của LPBank
Đối với phân tích huy động vốn theo loại tiền cho ta thấy biến động của nguồn nội tệ cũng như ngoại tệ để ngân hàng đề ra các chiến lược thúc đẩy huy động nội tệ hoặc ngoại tệ tùy theo tình hình biến động của thị trường cũng như chính sách tiền tệ của NHNN thì phân tích huy động vốn theo kì hạn và đối tượng cho ngân hàng thấy được nguồn nào, đối tượng nào ngân hàng có thể huy động có hiệu quả nhất.
Bảng 8: Huy động vốn theo kì hạn và đối tượng
Tiền gửi không kì hạn
Tiền gửi này được huy động chủ yếu từ các TCKT-XH, các doanh nghiệp, dân cư huy động nhỏ, có tỷ trọng trung bình 35,03% có xu hướng giảm dần và có phần hơi chững lại về cuối năm. Điều này là một vấn đề cần quan tâm bởi số lượng khách hàng gửi vào tài khoản tiền gửi giao dịch lớn sẽ là lợi thế của ngân hàng, những người gửi tiền hiện tại sẽ có thể trở thành những người vay vốn tiềm năng vì tính không khớp nhau giữa chu kì sản xuất kinh doanh và nhu cầu vốn cho đầu tư, dự trữ vật tư, mở rộng sản xuất. Đồng thời, ngân hàng có được cơ sở về tình hình tài chính của ngân hàng thông qua số dư tiền gửi thường xuyên trên tài khoản của khách hàng tạo điều kiện tốt để ngân hàng nâng cao được chất lượng tín dụng. Với mục tiêu mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt giảm bớt lượng tiền trong lưu thông kiềm chế lạm phát, mở rộng thanh toán bù trừ nên chất lượng thanh toán ngày được nâng cao, rút ngắn thời gian chu chuyển vốn của khách hàng. Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn của LPBank
Tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng
Khác với tiền gửi không có kì hạn thì loại tiền gửi này chủ yếu được huy động từ dân cư. Loại tiền gửi này có tỷ trọng và xu hướng giảm. Lượng tiền gửi có kì hạn của các TCKT-XH có xu hướng giảm bởi một số doanh nghiệp đang gặp khó khăn về vấn đề vốn. Dân cư lại có xu hướng tích lũy nhiều hơn tiêu dùng do đó lượng tiền gửi có kì hạn ngắn đang tỏ ra được ưa chuộng. Về tỷ trọng năm 2011 lượng tiền huy động giảm 6,01% so với năm 2010 và nhìn chung về tổng thể thì năm 2011 huy động từ loại tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng đã giảm 1,1% so với năm 2010. Đây là loại tiền nhạy cảm nhất đối với lãi suất, khách hàng gửi vào chủ yếu với mục đích hưởng lãi tiền gửi do đó sự thay đổi, chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng ảnh hưởng rất nhiều tới lượng tiền gửi này. Tuy kì hạn ngắn nhưng lại là loại tiền gửi quan trọng với ngân hàng, cần được chú trọng. Để nâng cao lượng tiền gửi này, ngân hàng tập trung vào thực hiện đa dạng hóa kì hạn gửi tiền và các hình thức trả lãi phong phú tạo điều kiện thuận tiện nhất cho khách hàng.
Tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng
Tại ngân hàng đây là loại tiền gửi có quy mô cũng như cơ cấu nhỏ nhất và đang có xu hướng giảm về cơ cấu ( Năm 2010 chiếm 9,57%, năm 2011 chiếm 7,45%). Loại tiền gửi này chủ yếu được huy động từ dân cư. Tuy ngân hàng đã có cố gắng trong việc nâng cao các hình thức huy động nhưng lượng tiền gửi này vẫn còn rất khiêm tốn.
Tiền vay
Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá là hình thức huy động linh hoạt giải quyết nhu cầu vốn tức thời. Năm 2011 chi nhánh NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt- Hải Phòng tiến hành phát hành đợt giấy tờ có giá đầu tiên nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn. Vốn huy động từ kỳ phiếu và trái phiếu đạt 27.110,378 triệu đồng, tuy nhiên đây vẫn là nguồn huy động nhỏ nhất chiếm tỷ trọng 12,47% tổng nguồn vốn huy động năm 2011 của ngân hàng. Đợt phát hành này đã mang lại cho chi nhánh một lượng vốn đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn trong thời gian tới.
Nhìn chung vốn huy động của chi nhánh tăng trong hai năm qua, nhưng chủ yếu là do đợt phát hành giấy tờ có giá, tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng đang có xu hướng giảm nhẹ, nguồn dài hạn còn rất nhỏ bé. Gây khó khăn cho ngân hàng trong việc hoạch định nguồn vốn gây ra ứ đọng vốn nếu cho vay không hết nhưng nếu cho vay quá nhiều chi nhánh sẽ bị động trong việc thanh toán. Vốn dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ khiến cho ngân hàng khó có khả năng chuyển dịch cơ cấu dư nợ theo thời hạn.
Qua phân tích trên ta rút ra một số kết luận sau:
- Nguồn huy động không kỳ hạn chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng nguồn vốn huy động nhưng lại chiều hướng giảm nhất là đối với đối tượng khách hàng là các TCKT-XH.
- Nguồn huy động có kỳ hạn chưa ổn định:
- Lượng tiền gửi của các tổ chức tín dụng có quy mô không cao và lại đang có xu hướng giảm. Thời gian qua, do tình hình kinh tế khó khăn khiến cho lượng các TCKT-XH và các công ty gửi tiền tại chi nhánh đang giảm xuống cả về số lượng khách hàng thì cũng như số dư tiền gửi tại chi nhánh.
- Nguồn tiền gửi của dân cư có mức tăng trưởng và tương đối ổn định(đây là nguồn chủ yếu ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cho vay và đầu tư).
- Nguồn tiền đi vay từ việc phát hành giấy tờ có giá cũng đáp ứng được phần nào yêu cầu sử dụng của chi nhánh.
2.2.4. Đánh giá hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt- Chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn của LPBank
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng cũng giống như các ngân hàng khác luôn chịu sự tác động của môi trường kinh doanh, chính sách pháp luật của nhà nước và các yếu tố khác có liên quan tới bản thân ngân hàng. Từ thực trạng huy động vốn của ngân hàng, tác giả rút ra được một số nhận xét như sau:
2.2.4.1. Kết quả đạt được
Trong những năm qua ngân hàng đã chủ động xác định rõ chiến lược, phương châm hoạt động kinh doanh trong từng thời kì. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích kỹ những khó khăn và thuận lợi, những thời cơ thách thức của hoàn cảnh cụ thể cũng như dự đoán những vấn đề mới nảy sinh. Vì vậy trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng đều đạt được những thành tựu đáng kể. Sau đây là một số thành tựu ngân hàng đạt được trong công tác huy động vốn:
Về quy mô huy động vốn từ bên ngoài: Với mục tiêu và chiến lược kinh doanh nhằm không ngừng mở rộng quy mô, nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh, ngân hàng đặt ra phương châm tập trung khai thác nguồn nhàn rỗi của các thành phần kinh tế một cách có hiệu quả.
Trong các năm trở lại đây vốn huy động từ bên ngoài của ngân hàng tăng dần qua các năm tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ đầu tư và cho vay của mình. Hơn nữa, với tỷ trọng nguồn tiền gửi lớn hơn rất nhiều so với nguồn tiền vay đã phần nào giúp ngân hàng giảm chi phí, tăng lợi nhuận.
Trong tiền gửi thì tiền gửi không kì hạn luôn chiếm tỷ trọng đáng kể một mặt tạo điều kiện tăng số dư, giảm chi phí đầu vào( tiền gửi không kì hạn có mức lãi suất thấp nhất, hầu như không đáng kể) mặt khác giúp ngân hàng mở rộng các dịch vụ liên quan tới huy động vốn như phát hành thẻ,…Tiền gửi của tầng lớp dân cư chiếm tỷ trọng cao và ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình.
- Về cơ cấu nguồn vốn huy động: Cũng như các NHTM Cổ phần khác nguồn huy động chủ yếu của ngân hàng là nguồn vốn ngắn hạn.
- Ngân hàng đã đa dạng hóa các phương thức huy động vốn kết hợp với sử dụng linh hoạt công cụ lãi suất để thu hút nguồn tiền gửi từ các tầng lớp dân cư, doanh nghiệp đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho nền kinh tế tạo sự ổn định cho nguồn vốn kinh doanh.
- Cơ sở vật chất, công nghệ ngân hàng phục vụ hoạt động nghiệp vụ huy động vốn đã và đang được đổi mới nâng cấp.
- Thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình biến động của lãi suất nhằm đưa ra những dự báo về biến động nguồn vốn trên thị trường sao cho phù hợp
- Trình độ cán bộ ngày càng được nâng cao, có khả năng xử lý tốt mọi tình huống nảy sinh trong công tác huy động vốn.
- Tiếp tục phát triển mối quan hệ chặt chẽ với các khách hàng truyền thống, những đơn vị có nguồn vốn lớn thông qua thực hiện công tác thanh toán sao cho thuận lợi, nhanh chóng. Đồng thời mở rộng quan hệ khách hàng mới nhằm huy động vốn từ các tổ chức.
- Tích cự khai thác, huy động vốn tại chỗ, đồng thời chi nhánh đã tranh thủ được sự hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả của nguồn vốn trong nội bộ Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt, đáp ứng thỏa mãn nhu cầu về vốn của khách hàng.
2.2.4.2. Tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn của LPBank
Những tồn tại
Trong quá trình thực hiện chính sách huy động vốn của mình, ngân hàng cũng đã gặp phải những trở ngại chủ quan cũng như khách quan như:
Tiền gửi từ các tổ chức kinh tế giảm so với năm trước đã làm tăng lãi suất đầu vào đáng kể của chi nhánh, vì vậy cần phải tiếp tục quan tâm hơn nữa đến doanh nghiệp có tiền gửi lớn, tạo điều kiện ưu đãi để họ tiếp tục tin tưởng và giữ vững quan hệ lâu dài với ngân hàng.
Công tác huy động vốn chưa thực sự gắn liền, đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn. Huy động vốn của ngân hàng bị mất cân đối về kỳ hạn. Trong khi nguồn vốn ngắn hạn tạm thời đáp ứng mục tiêu kế hoạch của ngân hàng thì nguồn vốn trung và dài hạn vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh trung, dài hạn của ngân hàng. Việc chuyển hóa nguồn để đầu tư cho vay trung, dài hạn còn hạn chế vì để làm điều này ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản. Tốc độ tăng trưởng của vốn huy động tại chỗ hiện thời còn thấp hơn nhu cầu sử dụng vốn. Do vậy ngân hàng vẫn phải nhận một lượng vốn điều hòa hàng năm. Tạo ra sự phụ thuộc của chi nhánh đối với hội sở chính ngày càng tăng.
Chính sách khách hàng, công tác tuyên truyền quảng cáo chưa thực sự được đầu tư đúng mức do đó tạo ra nhiều hạn chế cho công tác huy động vốn cũng như các hoạt động nghiệp vụ khác trong ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn của LPBank
Kênh huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu chưa thực sự thu hút được khách hàng, phát huy hiệu quả của nó trong việc huy động nguồn vốn trung và dài hạn cho ngân hàng. Bên cạnh đó hình thức huy động vốn trung và dài hạn chưa thực sự đa dạng, tạo sự thu hút khách hàng.
Cơ chế lãi suất chưa thực sự tạo được sự hấp dẫn với khách hàng, trong đó các hình thức dịch vụ cũng chưa được phát triển nhiều.
Nguyên nhân của những tồn tại:
Sở dĩ còn tồn tại trong công tác huy động vốn tại NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng là do một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Trong thời gian qua nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng đang lâm vào khủng hoảng, các ngân hàng cũng không tránh khỏi lao đao trong việc huy động vốn. Mặt khác, nền kinh tế trong giai đoạn này chứa đựng những yếu tố biến động khó dự đoán về lạm phát, tỷ giá, lãi suất, phá sản,…Vì vậy, việc gửi các khoản tiền tiết kiệm có kì hạn ngắn thường được khách hàng lựa chọn để họ dễ dàng chuyển đổi mục đích sử dụng vốn sang mua vàng, ngoại tệ, … hơn là gửi tiết kiệm.
- Tâm lí ưa dùng tiền mặt của dân chúng cũng ảnh hưởng rất nhiều tới công tác huy động vốn của chi nhánh.
- Trong huy động vốn VNĐ có nhiều kênh huy động với lãi suất hấp dẫn lại đảm bảo tính thanh khoản cao như trái phiếu chính phủ, kì phiếu của công ty dầu khí,…nên công tác huy động vốn của NHTM nói chung và NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt- Hải Phòng nói riêng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong huy động vốn trung và dài hạn.
- Các quy định chung liên quan tới hoạt động của ngân hàng cũng ảnh hưởng tới công tác huy động vốn. Như việc NHNN quy định trần lãi suất tạo khó khăn cho ngân hàng trong việc cạnh tranh thu hút nguồn vốn.
- Ngân hàng chưa có chiến lược huy động vốn thực rõ ràng, phù hợp. Bộ phận marketing của ngân hàng phần nhiều chú trọng tới khách hàng vay vốn và khách hàng sử dụng các dịch vụ về tài chính, chưa quan tâm đúng mức tới đối tượng khách hàng gửi tiền, nhất là khách hàng cá nhân. Các sản phẩm huy động vốn của ngân hàng chưa thật sự đa dạng, tính tiện ích chưa cao dù ngân hàng đã có những bước cải tiến, chú ý nhất định.
- Địa bàn thành phố có cảng biển thuận lợi phát triển giao thương vận tải đường thủy, tạo điều kiện cho ngân hàng trong việc mở rộng các hoạt động của mình song cùng với đó ngân hàng phải chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt từ nhiều ngân hàng, chi nhánh, phòng giao dịch trên địa bàn thành phố.
- Những tồn tại trong hoạt động tín dụng: Mặc dù dư nợ cho vay nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng 20,46% song nhìn về cơ cấu cho vay trung và dài hạn còn thấp nên tổng mức dư nợ tại chi nhánh thường có biến động lớn do tỷ trọng vốn vay ngắn hạn cao. Qúa trình sử lí tài sản đảm bả còn chậm. Hạn chế trong hoạt động tín dụng phần nào ảnh hưởng đến năng lực cũng như uy tín của ngân hàng từ đó góp phần cản trở hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
- Về cơ sở vật chất hạ tầng, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng măc dù trong những năm qua đã có sự đầu tư đáng kể song vẫn có những hạn chế nhất định. Trong thời gian tới ngân hàng vẫn tiến hành dần từng bước thực hiện chương trình hiện đại hóa Ngân hàng trên mọi phương diện như: Đổi mới cơ sở vật chất, mạng lưới trang thiết bị, nâng cao chất lượng các dịch vụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng,…
- Trong thời gian qua tuy chi nhánh có quan tâm bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công nhân viên ngân hàng , tuy nhiên đội ngũ này còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn còn hạn chế.
Từ thực trạng nguốn vốn và công tác huy động vốn của NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng vấn đề đặt ra cần phải có các giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn đáp ứng yêu cầu không ngừng mở rộng, nâng cao kết quả kinh doanh của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn của LPBank
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại LPBank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát về huy động vốn tại Ngân hàng LPBank