Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan về cạnh tranh thị trường của VPBANK hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh VPBank trong hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VPBANK
Sau những năm đổi mới ở Việt Nam, nền kinh tế thị trường đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng đóng vai trò quan trọng. Chính vì vậy, nhu cầu về vốn đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh tử khu vực này cũng vượt qua khả năng đáp ứng của hệ thống ngân hàng quốc doanh. Nắm bắt được nhu cầu ấy, Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã ra đời đáp ứng thêm nhu cầu về vốn của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng như hỗ trợ toàn bộ nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Vietnam joint-stock commercial bank for private enterprises) viết tắt là VPBank được thành lập theo giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm 1993 với thời gian hoạt động là năm. Ngân hàng bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 04 tháng 9 năm 1993 theo giấy phép thành lập số 1535/QĐ-UB ngày 04 tháng 9 năm 1993.
1. Quá trình hình thành và phát triển Khóa luận: Tổng quan về cạnh tranh thị trường của VPBANK
Sau khi Pháp lệnh ngân hàng có hiệu lực từ tháng 5 năm 1990, các NHTM ngoài quốc doanh ở Việt Nam lần lượt ra đời. VPBank thành lập năm 1993 được xem như một trong những NHTMCP có kinh nghiệm hoạt động lâu nhất. Sau 13 năm hoạt động, VPBank đã trải qua những giai đoạn thịnh vượng và khó khăn, và được chia thành ba giai đoạn chính.
Thứ nhất, thời kỳ thành lập 1993-1996
Thời kỳ này kéo dài từ 1993 đến 1996, trong giai đoạn đầu này VPBank đã có những bước tiến đáng kể trong kế hoạch xây dựng một NHTMCP mạnh. Tên gọi của VPBank – “Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh” đã cho thấy mục tiêu hoạt động chủ yếu của ngân hàng trong thời kỳ đầu là hướng về các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Trên thực tế mục đích chủ yếu của các cổ đông sáng lập là thông qua VPBank huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của chính họ. Những bất cập trong chính sách của VPBank đặc biệt là mục tiêu kinh doanh, đã dẫn đến giai đoạn khủng hoảng trong thời kỳ tiếp theo.
Tuy mục tiêu kinh doanh của VPBank thời kỳ đầu nhỏ hẹp và phiến diện, nhưng ngân hàng vẫn đạt được những kết quả đáng kể. Lợi nhuận trong 3 năm đầu thành lập liên tục gia tăng. Năm 1995, thu nhập của VPBank đạt 29,6 tỷ Việt Nam đồng tăng so với năm 1994. Năm 1996 được coi như đỉnh cao của giai đoạn bắt đầu thành lập với lợi nhuận đạt 75,9 tỷ đồng. Khóa luận: Tổng quan về cạnh tranh thị trường của VPBANK
Thứ hai, thời kỳ khủng hoảng 1996-2000
Năm 1996 được xem như một năm thành công trên sổ sách của VPBank với thu nhập trên sổ đạt 75,9 tỷ. Tuy nhiên trên thực tế VPBank đang đứng trước nguy cơ lớn mà ban quản trị lúc đó đã không lường hết. Tất cả đều xuất phát từ phương châm kinh doanh phiến diện “phục vụ cho bản thân các doanh nghiệp riêng của các cổ đông sáng lập”. Các khoản cho vay trong thời kỳ đó chủ yếu cho các cổ đông và thực hiện dưới dạng tín chấp, hay nếu thế chấp thì chính bằng cổ phiếu của VPBank. Bên cạnh đó VPBank dành nhiều đặc quyền cho các khách hàng là cổ đông như giảm lãi suất cho vay, cho vay mở L/C trả chậm quá thời hạn cho phép.
Mức lợi nhuận 75,9 tỷ đồng được công khai năm trong 1996 chỉ nói lên phần nổi của sổ sách kết toán, phần chìm của tảng băng dần bộc lộ trong năm hoạt động tiếp theo. Đầu năm 1997, VPBank đứng trước nguy cơ phá sản, nợ quá hạn cao kỷ lục 71% trên tổng dư nợ và đảm bảo thanh toán hàng ngày cũng cần có sự hỗ trợ của ngân hàng Nhà nước. Nợ L/C trả chậm cũng lên tới 40 triệu USD do VPBank thường xuyên bảo lãnh cho cổ đông mở L/C trả chậm vượt quá quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Năm 1997 cũng là một năm khó khăn trên thị trường tài chính, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á diễn ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế các quốc gia trong khu vực. Nền kinh tế Việt Nam chịu tác động của cuộc khủng hoảng này do vậy gián tiếp ảnh hưởng đến tình hình tài chính của VPBank. Đến cuối năm 1997 tình hình tài chính của VPBank đã khả quan hơn nhờ có sự trợ giúp của Ngân hàng Nhà nước, nỗ lực củng cố bộ máy của HĐQT và ban điều hành. Dù vậy VPBank vẫn đối diện với nguy cơ phá sản rất cao, hậu quả của các chính sách hoạt động thời kỳ đầu vẫn còn có ảnh hưởng nặng nề đến tình hình hoạt động kinh doanh của VPBank. Trong thời kỳ này hoạt động tín dụng của VPBank có quy mô rất nhỏ, và phải chấp nhận thái độ dè dặt thận trọng của khách hàng. VPBank chịu sự kiểm soát đặc biệt của NHNN về mọi mặt. Tất cả các khoản vay trên 3 tỷ đồng đều phải báo cáo lên NHNN, mức huy động vốn cũng bị giới hạn.
Giai đoạn 1997-2000 là giai đoạn VPBank vật lộn với nỗ lực thoát ra khỏi khủng hoảng. Để khắc phục tình trạng nợ quá hạn cao, HĐQT mới nhiệm kỳ 1998-2020 của VPBank kiên trì giữ vững quyết tâm và không ngần ngại áp dụng các biện pháp cứng rắn.
- Phòng thu hồi nợ được thành lập trong giai đoạn này với mục tiêu thu hồi các khoản nợ xấu vốn chiếm tới hơn hai phần ba tổng dư nợ.
- Bộ máy tổ chức nhiều lần được cơ cấu lại hướng tới cơ cấu tối ưu.
- Các quy trình nghiệp vụ được lập ra và tuân thủ chặt chẽ.
Thứ ba, thời kỳ phục hồi 2000-2006
Ban đề án triển khai cải tổ VPBank được thành lập ngày 11/12/2000, với nhiệm vụ đưa ra phương án cải tổ có tính khả thi cao. Phương án được trình lên NHNN, sau một năm chuẩn bị và được sự thông qua của NHNN. HĐQT của VPBank bước đầu thực hiện phương án cải tổ hướng tới mục tiêu xây dựng VPBank thành “Ngân hàng bán lẻ năng động, có chất lượng dịch vụ cao”. Khóa luận: Tổng quan về cạnh tranh thị trường của VPBANK
Liên tục trong ba năm từ 2000-2022, VPBank liên tục kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy với cơ chế hoạt động hiệu quả hơn. Trong thời kỳ này VPBank vẫn chịu sự ràng buộc chặt chẽ của NHNN, không được thực hiện tất cả các hợp đồng cho vay có quy mô lớn trên 3 tỷ đồng và huy động vốn bị giới hạn về quy mô. Chiến lược phát triển ngân hàng theo hướng ngân hàng bán lẻ là hoàn toàn hợp lý. Khách hàng tiềm năng của VPBank là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, hộ kinh doanh cá thể, khách hàng cá nhân có thu nhập cao. Trong thời kỳ này VPBank đặc biệt chú trọng đến tín dụng tiêu dùng và cung cấp dịch vụ chuyển tiền (VPBank là ngân hàng đại lý thứ ba cho Western Union tại Việt Nam) và thanh toán quốc tế.
Hoạt động thành công trong thu hồi nợ của VPBank là căn cứ quan trọng chứng tỏ khả năng tái gia nhập thị trường một cách bình đẳng. Năm 2022, VPBank đã thu hồi 75 tỷ đồng nợ quá hạn, giúp giảm tỷ lệ nợ quá hạn từ 31% xuống còn 13%. So sánh với 71% trong năm 1997 thì đây là bước tiến đáng kể trong lành mạnh hoá tín dụng của VPBank. Đến năm 2005, VPBank đưa tỷ lệ này chỉ còn 5%, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn của NHNN là dưới 8%.
Trong giai đoạn 2023-2005, VPBank dần khẳng định uy tín thương hiệu của một NHTMCP hoạt động hiệu quả và năng động. VPBank bước đầu duy trì được tỷ lệ nợ quá hạn ở mức dưới tiêu chuẩn của NHNN, cùng lúc đó quy mô vốn chủ cũng như tổng tài sản tăng lên nhanh chóng, lợi nhuận trước thuế gia tăng đều đặn. Đội ngũ cán bộ nhân viên được trẻ hóa đóng góp lớn vào hình ảnh ngân hàng mới năng động của VPBank. Năm 2005 VPBank liên tục mở rộng thị trường thông qua các chi nhánh mới tại các khu vực kinh tế tiềm năng.
Những nỗ lực của VPBank đã được đền đáp xứng đáng khi NHNN quyết định bãi bỏ tình trạng kiểm soát đặc biệt sau gần 10 năm áp dụng. Từ giữa năm 2005, VPBank chính thức thoát khỏi khủng hoảng, và có được quyền cạnh tranh bình đẳng với các NHTM và tổ chức tín dụng khác trên thị trường.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Các hoạt động kinh doanh cơ bản của VPBank
VPBank được NHNN cho phép hoạt động kinh doanh các trong các lĩnh vực cơ bản sau:
- Huy động nguồn vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của các tổ chức và cá nhân, thực hiện cho vay và quản lý các khoản vay này.
- Tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước.
- Vay vốn của NHNN và của các tổ chức tín dụng.
- Góp vốn liên doanh, liên doanh và mua cổ phần.
- Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng.
- Thực hiện việc quản lý các nghiệp vụ bảo lãnh, thanh toán quốc tế.
- Thực hiện việc quản lý các nghiệp vụ mua bán và chiết khấu các thương phiếu, trái phiếu và chứng từ có giá khác.
- Thực hiện và quản lý nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, chi trả kiều hối, chuyển tiền nhanh Western Union, cung cấp dịch vụ thẻ thanh toán, thẻ tín dụng.
3. Tình hình hoạt động kinh doanh của VPBank Khóa luận: Tổng quan về cạnh tranh thị trường của VPBANK
3.1. Tài sản và lợi nhuận của VPBank
Năm 2022 tổng tài sản đạt 2491,867 tỷ đồng tăng 111% so với thực hiện năm 2020. Năm 2023 là năm đánh dấu sự gia tăng mạnh mẽ của VPBank trong huy động vốn nâng tổng tài sản của VPBank lên 4.149.288 gần gấp hai lần tổng tài sản năm trước đó. Theo ước tính tổng tài sản năm 2005 của VPBank vượt ngưỡng 5000 tỷ đồng bắt đầu đứng vào hàng ngũ các NHTMCP có quy mô tổng tài sản lớn.
Lợi nhuận trước thuế và dự phòng rủi ro cũng tăng trưởng mạnh mẽ và đều đặn qua các năm. Năm 2020 là năm VPBank bước đầu thoát khỏi khủng hoảng, lợi nhuận chỉ đạt 1,914 tỷ, một con số nhỏ nhưng có được nhờ nỗ lực lớn của tập thể cán bộ và ban lãnh đạo ngân hàng. Chỉ sau một năm lợi nhuận của VPBank tăng gấp 10,74 lần, đạt 20,564 tỷ đồng thể hiện sự phục hồi nhanh chóng của VPBank. Năm 2022 lại là một năm thành công tiếp theo của VPBank khi duy trì mức tăng trưởng lãi cao 110%, đạt 42,8 tỷ đồng vượt xa so với con số 24 tỷ đồng trong kế hoạch của HĐQT.
Giai đoạn 2022-2005 là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đối diện trước nguy cơ lạm phát cao cùng những bất ổn trên thị trường thế giới, tuy nhiên VPBank vẫn giữ được nhịp độ phát triển ổn định với lợi nhuận luôn tăng trưởng đều đặn. Năm 2023 lợi nhuận trước thuế và dự phòng đạt 60 tỷ đồng tăng 40% so với năm 2022 trong khi đó con số mà ACB đạt được lên đến 278 tỷ đồng, tăng 48%. Theo kết quả khảo sát của NHNN, mức chia cổ tức năm 2023 của các NHTMCP là rất cao, đã làm cổ phiếu ngân hàng có sức hấp dẫn rất lớn trên thị trường, tới 30%, đa số đều chi bằng tiền mặt (số liệu do Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính VN (VAFI) cung cấp). Tỷ lệ cổ tức cao nhất trong hệ thống các NHTMCP thuộc về ACB với 36,7%, tăng 11,2% so với năm trước; NHTMCP Kỹ Thương (Techcombank) cổ tức trên 20%; NHTMCP Quân đội cổ tức 17%, cao gần gấp 3 lãi suất ngân hàng. Con số này ở VPBank trong những năm gần đây đều đạt mức trên 20%. Tương quan với các ngân hàng khác cho thấy VPBank cũng đã đạt được những kết quả tốt, khẳng định vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường.
Theo số liệu mới nhất, tính đến hết tháng 9/2006, tổng nguồn vốn huy động của VP Bank đạt 4.750 tỷ đồng, tăng 60% so với cuối năm 2005 và đạt 97% kế hoạch cả năm. Cũng tính đến hết tháng 9/2006, VPBank đạt lợi nhuận trước thuế là 110,2 tỷ đồng, bằng 100% kế hoặch cả năm, dự kiến đến hết năm 2006 đạt 160 tỷ đồng và vốn điều lệ tăng lên 1.000 tỷ đồng. Bảng dưới đây cho thấy mặc dù lợi nhuận trước thuế của VPBank không thể so sánh được với các NHTMCP lớn nhưng đã đạt được tốc độ tăng trưởng đáng kể, chỉ đứng sau VIBank.
Bảng 1: So sánh lợi nhuận trước thuế của một số NHTMCP Việt Nam.
3.2. Hoạt động huy động vốn Khóa luận: Tổng quan về cạnh tranh thị trường của VPBANK
Thời gian qua, hiện tượng suy thoái kinh tế trên thế giới và nền kinh tế Mỹ, cũng như tác động tiêu cực của sự kiện 11/09/2020 kéo theo việc Cục dự trữ Liên bang Mỹ liên tục cắt giảm lãi suất (USD) tới 11 lần – từ mức 6,5% xuống chỉ còn 1,75% trong vòng 1 năm qua đã tác động không nhỏ tới hoạt động huy động vốn, đặc biệt là vốn ngoại tệ. Để thực hiện chính sách chống “Đô la hoá nền kinh tế”, Ngân hàng Nhà nước quy định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở mức cao (lên đến 15% vào tháng 5 năm 2020). Việc làm này góp phần thu hẹp thêm chênh lệch giá vốn giữa đầu vào (lãi suất huy động vốn ngoại tệ trong nước) và đầu ra (lãi suất tiền gửi ngoại tệ tại nước ngoài), tăng sức ép cho nhu cầu và hoạt động huy động vốn của các NHTM có thế mạnh về vốn ngoại tệ. Mặt khác, do thị trường vàng và bất động sản có những biến động bất thường dẫn đến việc dân cư ồ ạt đến các ngân hàng rút ngoại tệ để đầu tư vào nhà đất, mua vàng hoặc chuyển sang nội tệ đã ảnh hưởng tới cơ cấu và tỷ trọng huy động vốn ngoại tệ trung và dài hạn của các NHTM.
Huy động vốn là hoạt động luôn được VPBank chú trọng, đặc biệt sau khi bước đầu thoát khỏi khủng hoảng. Trong giai đoạn đầu của quá trình phục hồi VPBank tập trung vào cung cấp các dịch vụ ngân hàng truyền thống như tiết kiệm sau khi các dịch vụ như thanh toán quốc tế đã mất đi thế mạnh và khách hàng. Trong giai đoạn này dù thị trường liên tục bị chia sẻ bởi các tổ chức tài chính phi ngân hàng, nhưng với những chính sách đúng đắn của HĐQT và Ban điều hành tổng nguồn vốn VPBank huy động vẫn tăng trưởng đều qua các năm.
Năm 2021, tổng nguồn vốn huy động đạt 1.211 tỷ đồng tăng 31% so với năm 2020, trong đó tổng vốn huy động trên thị trường I đạt 931,8 tỷ đồng. Bước vào năm 2022, VPBank tích cực triển khai cung cấp các sản phẩm huy động mới như tiền gửi siêu lãi suất, tiết kiệm an sinh,… lập tức dẫn đến huy động vốn tăng mạnh đạt 2.213 tỷ đồng, tăng 24% so với kế hoạch đề ra đầu năm, và 83% so với số thực tế năm 2021. Giai đoạn 2023-2005 là giai đoạn VPBank chính thức thoát khỏi khủng hoảng, lượng khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng tăng mạnh, nhờ vậy tổng nguồn vốn huy động tăng trưởng ổn định. Năm 2023 tổng nguồn vốn huy động của VPBank đạt 3.872,8 tỷ đồng vượt kế hoạch của HĐQT và tăng 75% so với năm 2022. Kết quả đó có được do trong năm, VPBank liên tục đưa ra 3 đợt bốc thăm trúng thưởng thu hút được lượng lớn khách hàng cá nhân. Riêng tiền tiết kiệm huy động tăng 49% đạt 1541 tỷ đồng. Bên cạnh dịch vụ nhận gửi truyền thống, VPBank còn đi tiên phong trong cung cấp dịch vụ tiết kiệm Việt Nam đồng có bù đắp trượt giá USD. Đây là bước đi rất táo bạo trong điều kiện thị trường ngoại hối luôn tiềm ẩn rủi ro và trong nước lạm phát tăng cao, đồng tiền Việt Nam liên tục mất giá. Có thể nói VPBank đã lách qua cánh cửa hẹp nhờ quyết định sáng suốt và táo bạo trong cung cấp dịch vụ mới của ban quản trị. Khóa luận: Tổng quan về cạnh tranh thị trường của VPBANK
Nguồn: Báo cáo thường niên của VPBank 2021, 2022, 2023. Tiếp tục xu hướng gia tăng quy mô huy động vốn, trong năm 2005 VPBank chủ trương mở rộng thị trường thông qua việc mở hàng loạt các chi nhánh và các phòng giao dịch. Nhờ vậy tổng nguồn vốn huy động tăng 45,8% so với năm 2023 và ước đạt 5645 tỷ đồng. Trong ba năm 2021 đến 2023, quy mô các nguồn huy động của VPBank đều tăng làm tổng quy mô nguồn vốn huy động tăng ổn định. Trong đó, mức tăng của quy mô tiền gửi tiết kiệm là thấp nhất từ 797,118 tỷ đồng trong năm 2021 lên 1541,3 tỷ đồng trong năm 2023. Quy mô huy động tiền gửi thanh toán có tốc độ tăng cao đến 156% đạt 210,4 tỷ đồng trong năm 2022, và đạt 283,2 tỷ đồng trong năm 2023.
Huy động trên thị trường liên ngân hàng có mức tăng trưởng cao nhất và trở thành nguồn huy động vốn lớn nhất của VPBank trong thời kỳ này. Trên khu vực huy động liên ngân hàng, trong năm 2022 VPBank vẫn duy trì quan hệ tốt trong kinh doanh tiền tệ và huy động được nguồn vốn lớn trên thị trường này đạt 970,1 tỷ đồng tăng 246% so với năm 2021. Tiếp tục đà tăng trưởng năm 2022, huy động trên thị trường liên ngân hàng trong năm 2023 đạt 2048 tỷ đồng tăng 112% so với cùng kỳ năm trước.
Ngoài tăng trưởng về quy mô nguồn vốn, chất lượng nguồn vốn cũng có sự thay đổi đáng kể. Trong tổng vốn huy động năm 2021, tỷ trọng huy động vốn trên thị trường I chiếm tới 77%, trong đó huy động thông qua dịch vụ tiết kiệm chiếm tới 66%. Vai trò của thị trường I giảm dần, từ 77% năm 2021 xuống còn 56% năm 2022 và chỉ còn chưa tới 40% trong năm 2023. Tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm trong tổng nguồn vốn cũng thay đổi, từ chiếm tới 66% năm 2021 xuống còn dưới 40% năm 2023. Bên cạnh đó dù quy mô tiền gửi thanh toán trên thị trường I tăng, song tỷ trọng tiền gửi thanh toán trong tổng vốn huy động giảm nhanh chóng từ 11% xuống còn 7,3%.
Uy tín của VPBank trên thị trường liên tục gia tăng dẫn đến quy mô tương đối và tuyệt đối của thị trường II dần tăng lên nhanh chóng trong năm 2022 và 2023. Quy mô thị trường II tăng lên hơn 100% trong năm 2023 một phần lớn do ảnh hưởng từ việc gia tăng hiệu quả kinh doanh của VPBank trên thị trường liên ngân hàng. Chỉ trong vòng 3 năm từ 2021 đến 2023, tỷ trọng huy động trên thị trường II tăng từ 23% lên 52,8% và trở thành nguồn huy động vốn chủ yếu của ngân hàng. Nhờ đó VPBank tiếp cận được nhiều hơn với nguồn vốn có chi phí bình quân thấp của thị trường II, giúp giảm chi phí đầu vào cho hoạt động kinh doanh ngân hàng.
3.3. Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng là một trong các hoạt động cơ bản đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng. Tín dụng được hiểu là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng. Nằm trong chiến lược phát triển VPBank theo hướng ngân hàng bán lẻ, VPBank tập trung chủ yếu vào thị trường các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Chính sách này đã đem lại hiệu quả rõ ràng sau năm năm thực hiện.
Được áp dụng từ năm 2020, chính sách ưu tiên cho vay tiêu dùng, trả góp và cầm cố chứng từ có giá đã phát huy tác dụng thúc đẩy hoạt động cho vay của VPBank. Chỉ trong một năm doanh số cho vay năm 2021 vượt qua 1000 tỷ đồng tăng 18%. Năm 2022 tiếp tục chiến lược hướng vào khách hàng cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, số lượng khách hàng của VPBank tăng nhanh chóng đạt trên 4000 khách hàng tăng hơn 26% so với năm 2021. Nhờ vậy doanh số cho vay trong năm cũng tăng 51% so với thực hiện năm 2021.
Năm 2023 VPBank bắt đầu mở rộng mạng lưới các phòng giao dịch tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, từ đó khả năng tiếp cận khách hàng với các dịch vụ ngân hàng của VPBank tăng lên. Công tác quản trị thương hiệu cũng được thực hiện tốt khiến cho mức tăng trưởng tín dụng trong hai năm 2023 và 2005 là rất khả quan. Năm 2023 tăng trưởng tín dụng đạt 23% ở mức 2155 tỷ đồng. Năm 2005 được đánh giá là năm có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất của VPBank từ khi thành lập, với tổng doanh số cho vay toàn hệ thống là 3922 tỷ đồng tăng 83% so với năm 2023, vượt 10% kế hoạch. Khóa luận: Tổng quan về cạnh tranh thị trường của VPBANK
Bên cạnh đó cơ cấu dư nợ của hoạt động tín dụng cũng có thay đổi đáng kể cả về thời gian và loại tiền vay. Năm 2021, những cải tổ bước đầu đã đem lại hiệu quả, cơ cấu dư nợ của VPBank đã có thay đổi theo chiều hướng tích cực, tỷ lệ dư nợ trung và dài hạn giảm 4% từ 69% xuống còn 65%. Xu hướng này được tiếp tục trong các năm tiếp theo một cách đều đặn 5% năm 2022 và 6% năm 2023. Trong những năm đầu của thời kỳ phục hồi, VPBank rất thận trọng khi xem xét các khoản tín dụng trung và dài hạn. Các khoản tín dụng này luôn mang đến cho ngân hàng nhiều thu nhập đi kèm với mức rủi ro lớn. Trong những năm từ 2020 đến 2022, VPBank không duy trì khe hở lãi suất để tránh phải đối mặt với nguy cơ rủi ro, đa số vốn VPBank huy động đều là vốn ngắn hạn, do vậy cho vay ngắn hạn vẫn luôn được ưu tiên thực hiện và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu dư nợ của những năm gần đây.
Đến năm 2023 tỷ lệ dư nợ ngắn hạn đã đạt 46%, đây là kết quả của những nỗ lực rất lớn của VPBank trong năm năm cải tổ. VPBank đần thoát khỏi khủng hoảng, trở thành NHTMCP có uy tín, thu hút được các doanh nghiệp có nhu cầu được cung cấp tín dụng trung và dài hạn. Thị trường cho vay của VPBank đã có thay đổi đáng kể về chất.
Khác với xu hướng thay đổi của cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời hạn, cơ cấu dư nợ theo loại tiền vay có biến động thất thường hơn. Vai trò của cho vay bằng USD là khá cao trong năm 2020, và đạt mức cao nhất trong năm 2021 với 28% dư nợ. Tuy nhiên đến năm 2023, dư nợ tín dụng bằng USD chỉ chiếm 4% tổng dư nợ, nguyên nhân chủ yếu là do tăng trưởng tín dụng cao của khu vực khách hàng cá nhân với các khoản vay chủ yếu bằng Việt Nam đồng.
Như các NHTMCP trung bình khác, hoạt động tín dụng vẫn giữ vững vai trò nguồn thu chủ yếu của VPBank. Năm 2021 thu nhập thuần từ tiền lãi đạt 27,8 tỷ đồng vượt 49% kế hoạch. Năm 2022 thu nhập thuần tăng gần 149% so với năm 2022, đạt 69,2 tỷ đồng. Năm 2023 tiếp tục là một năm thành công với hoạt động tín dụng khi thu nhập thuần từ hoạt động này tăng 37% đạt 94,8 tỷ đồng. Tuy nhiên, dù có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhưng chất lượng tín dụng vẫn được đảm bảo. Rút kinh nghiệm từ những bất cập trong quá khứ, ban điều hành VPBank luôn duy trì chính sách chấm điểm tín dụng chặt chẽ và kiểm soát tốt các tài sản đảm bảo. Kết quả là tỷ lệ nợ xấu luôn được duy trì dưới chuẩn NHNN kể từ năm 2023. Dư nợ mới phát sinh trong năm 2020 dưới 3%, đến năm 2021 chỉ còn dưới 1% và phần lớn được thu hồi trong năm.
Năm 2023 VPBank chính thức có tỷ lệ nợ quá hạn dưới chuẩn của NHNN, chỉ 0,5%. So với năm 2022 con số này là 13,2% thì đây là thành công rất lớn, nhờ vào hoạt động hiệu quả của phòng thu hồi nợ của VPBank. Kết thúc năm 2005 VPBank tiếp tục duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp, chiếm 0,75% tổng dư nợ, đa số có tài sản đảm bảo hợp pháp nên đều được thu hồi ngay sau khi chuyển nợ quá hạn.
4. Các hoạt động cung cấp dịch vụ khác Khóa luận: Tổng quan về cạnh tranh thị trường của VPBANK
Bên cạnh nguồn thu chính là dịch vụ tín dụng, VPBank cũng chú trọng đặc biệt đến cung cấp các dịch vụ ngân hàng đa dạng. VPBank luôn duy trì mục tiêu trở thành NHTMCP có vị thế trên thị trường, do vậy ngân hàng luôn tập trung vào công tác đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ. Trong những năm gần đây, VPBank đã có được kết quả khả quan từ hoạt động cung cấp các dịch vụ ngân hàng đa dạng của mình.
Thứ nhất, hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Xác định mục tiêu trở thành ngân hàng bán lẻ, khách hàng của dịch vụ kinh doanh ngoại tệ của VPBank chủ yếu là các doanh nghiệp kinh doanh hàng nhập khẩu. Năm 2021, thu nhập thầu của hoạt động này đạt 8,8 tỷ đồng bằng 21% tổng thu nhập thuần. Kết thúc các năm 2022 và 2023, thu nhập thuần của hoạt động kinh doanh ngoại tệ chỉ dừng lại ở 1,16 tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do những biến động trên thị trường ngoại tệ và nền kinh tế trong nước. Tuy vậy doanh số mua bán ngoại tệ vẫn tăng và đạt 265 triệu USD và 277 triệu (mua và bán) trong năm 2023. Tuy không phải là hoạt động thường xuyên, nhưng hoạt động kinh doanh ngoại tệ đảm nhận vai trò lớn trong cơ cấu các dịch vụ ngân hàng của VPBank hiện nay.
Thứ hai, hoạt động thanh toán quốc tế
Bảng 2: Một số chỉ tiêu hoạt động thanh toán quốc tế của VPBank
Nguồn: Báo cáo thường niên của VPBank 2021, 2022, 2023. Với phương châm trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu, dịch vụ mở L/C có khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp quy mô vừa và hoạt động nhập khẩu. Năm 2023 doanh số mở L/C tăng sau năm 2022 giảm mạnh. Phí dịch vụ thu được từ dịch vụ thanh toán quốc tế cũng tăng nhẹ 14,7% so với thực hiện năm 2022 và đạt 3,9 tỷ đồng.
Thứ ba, dịch vụ chi trả kiều hối
Dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union được VPBank chính thức đưa vào khai thác ngày 29/07/2021, và là một trong số hai ngân hàng Việt Nam làm đại lý cho Western Union tính đến thời điểm hiện tại.
Số lượng đại lý chi trả kiều hối Western Union của VPBank tăng lên nhanh chóng từ 64 đại lý lên 195 chỉ sau hơn một năm thực hiện. Dù doanh số chi trả và thu phí dịch vụ chuyển tiền ngoại hối giảm nhẹ trong năm 2023 do biến động nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên VPBank đang thể hiện quyết tâm trở thành ngân hàng dẫn đầu trong cung cấp dịch vụ chuyển tiền nhanh, thông qua viếc tiếp tục mở thêm 10 đại lý trong năm 2023.
Bảng 3: Một số chỉ tiêu của dịch vụ chi trả kiều hối của VPBank
Dịch vụ chuyển tiền trong nước cũng đem lại thu nhập hàng năm xấp xỉ 1 tỷ đồng cho VPBank. Khách hàng của dịch vụ này chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các hộ cá thể, do vậy số lượng lớn song, quy mô từng khoản thu lại nhỏ. Năm 2023 doanh số chuyển tiền toàn hệ thống chỉ đạt 3315 tỷ đồng tăng không đáng kể so với thực hiện năm 2022.
Thứ năm, hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng từ có giá
Tính đến năm 2023, VPBank vẫn duy trì vốn cổ phần tại các doanh nghiệp có hoạt động hiệu quả như ngân hàng Á Châu, Công ty Togi, Công ty cổ phần Đồng Xuân,… Dù hoạt động đầu tư của VPBank không có quy mô lớn như các NHTMCP khác tuy nhiên kết quả thu được từ hoạt động này rất đáng kể. Năm 2023 VPBank sở hữu lượng vốn cổ phần xấp xỉ 12 tỷ đồng. Thu nhập từ tiền cổ tức đạt 459 triệu đồng giảm nhẹ so với thực hiện năm 2022.
Năm 2021 là một năm thành công của VPBank trong hoạt động kinh doanh chứng từ có giá, với nguồn thu nhập thu được đạt 7,6 tỷ đồng gần gấp 4 lần năm 2020. Trong năm 2022 và 2023, VPBank tiếp tục đẩy mạnh kinh doanh chứng từ có giá. Kết quả là tính đến cuối năm 2023 số dư chứng từ có giá đạt 683,8 tỷ đồng tăng 277% so với năm 2021. Tổng thu lãi từ chứng từ có giá trong năm 2023 vượt 62,4 tỷ gấp hai lần cùng kỳ năm 2022.
Bảng 4: Một số chỉ tiêu về kinh doanh chứng từ có giá
Bên cạnh các dịch vụ trên VPBank bắt đầu chú trọng phát triển các dịch vụ đa dạng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng như:
- Dịch vụ tư vấn địa ốc.
- Dịch vụ bảo lãnh dưới nhiều hình thức .
- Dịch vụ tư vấn thẩm định các dự án đầu tư trong và ngoài nước.
- Dịch vụ tư vấn bán các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ.
- Dịch vụ chi trả lương cho cán bộ nhân viên các doanh nghiệp. Khóa luận: Tổng quan về cạnh tranh thị trường của VPBANK
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK