Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh VPBank trong hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

Đã hai mươi năm kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về mọi mặt. Nền kinh tế phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Nhắc đến những thành quả của 20 năm đổi mới tại Việt Nam, không thể không nhắc đến những đóng góp quan trọng của hệ thống ngân hàng thương mại. Trong điều kiện hiện nay, Việt Nam là một quốc gia đang trên đà phát triển, tham gia hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu thì vai trò của hệ thống các ngân hàng thương mại lại càng có ý nghĩa quan trọng chi phối toàn bộ hoạt động nền kinh tế, là công cụ hiệu quả trong việc điều chỉnh các chính sách vi mô vĩ mô của Chính phủ, từ đó tạo bàn đạp cho sự tăng trưởng mạnh mẽ.

Ngân hàng là nơi cung cấp vốn lớn nhất cho nền kinh tế, mọi biến động của thị trường ngân hàng đều có tác động không nhỏ đến cả nền kinh tế nói chung cũng như các doanh nghiệp, cá nhân nói riêng.

Mức độ cạnh tranh nội tại trên thị trường ngân hàng là rất khốc liệt, đặc biệt trong thời gian tới khi nước ta tham gia mạnh mẽ vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể khi là thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới WTO, sự tham gia của các tổ chức tín dụng nước ngoài không còn chịu sự ràng buộc chặt chẽ từ phía nhà nước và chính phủ như trước đây. Thị trường ngân hàng Việt Nam sẽ chứng kiến những biến đổi lớn. Mức độ cạnh tranh khốc liệt sẽ loại khỏi thị trường những ngân hàng không tích cực chuẩn bị thích nghi với môi trường cạnh tranh mới.

VPBank – “Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh” được thành lập năm 1993 và là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam. Trong hơn 12 năm hoạt động VPBank đã trải qua những giai đoạn phát triển mạnh mẽ cũng như những giai đoạn khó khăn, và hơn bao giờ hết đang nỗ lực tìm kiếm một vị thế xứng đáng trên tấm bản đồ ngân hàng Việt Nam. Dù vậy từ một ngân hàng thương mại cổ phần thoát ra khỏi khủng hoảng chưa lâu, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường ngân hàng vốn đã rất sôi động không thể là một nhiệm vụ dễ dàng.

Với nhận thức đó, sau thời gian nghiên cứu và tìm hiểu thực tế tại VPBank, tôi đã chọn tiêu đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh VPBank trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình. Tôi mong muốn đề tài nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần nhỏ trong việc nghiên cứu và phân tích thực trạng cũng như đề ra giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung cũng như ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

Phạm vi của khóa luận nghiên cứu này là lý thuyết về Ngân hàng thương mại, hoạt động của nó trên thị trường, với đối tượng nghiên cứu của khóa luận là năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần trong giai đoạn hội nhập và phát triển của Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử trong nghiên cứu khoa học xã hội; thống kê, mô tả, so sánh phân tích. Bài viết lấy giáo trình, nghiên cứu mang tính chất lý thuyết làm cơ sở và thực tế hoạt động ngân hàng để chứng minh. Đề tài đóng góp vào việc nghiên cứu, tổng hợp những vấn đề lý thuyết căn bản về Ngân hàng thương mại, hệ thống hóa các kết quả hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng và hệ thống Ngân hàng thương mại nói riêng; từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao vai trò cũng như hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh của ngân hàng này trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.

Ngoài lời mở đầu và kết luận, khoá luận tốt nghiệp của tôi được kết cấu thành ba chương :

Chương I: Lý thuyết về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại

Chương II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của VPBank

Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của VPBank trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1. Khái niệm và đặc trưng của Ngân hàng thương mại

Không ai có thể phủ nhận được vai trò đặc biệt quan trọng của ngân hàng đối với sự phát triển của một nền kinh tế nói chung cũng như sự phát triển của cộng đồng nói riêng. Tại mọi quốc gia, ngân hàng giữ vai trò là người cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể cũng như cá nhân, với số lượng cho vay từ nhỏ đến lớn. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Khái niệm ngân hàng thường được tiếp cận thông qua dịch vụ được ngân hàng cung cấp. Theo Quản trị Ngân hàng thương mại (NHTM) (Peter S.Rose) thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.

Tuy nhiên thực tế hiện nay có rất nhiều các tổ chức tài chính như công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm,…cung cấp các dịch vụ ngân hàng, và ngược lại ngân hàng cũng mở rộng hoạt động của mình sang các lĩnh vực cung cấp dịch vụ bất động sản, môi giới chứng khoán, bảo hiểm đầu tư,…Dù vậy, hệ thống ngân hàng vẫn nắm giữ vai trò chi phối đối với hoạt động của nền kinh tế thông qua việc cung cấp dịch vụ tài chính đa dạng nhất.

Theo Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 1998 thì các Ngân hàng thương mại được gọi là các tổ chức tín dụng. Theo điều 12 của Luật được ban hành nói trên, Tổ chức tín dụng là “doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của Pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.

“Theo tính chất và mục tiêu hoạt động các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.

Sau đó, khái niệm Ngân hàng thương mại cũng được đề cập và định nghĩa rõ ràng trong Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại trong Điều 1 như sau: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước”.

2. Các chức năng của NHTM Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Đối với bất kỳ một quốc gia nào, dù phát triển hay đang phát triển, ngành ngân hàng luôn là một ngành kinh tế quan trọng. Hoạt động của hệ thống ngân hàng đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế xét trên nhiều phương diện. Dù được tổ chức khác nhau và đóng vai trò khác nhau trong các nền kinh tế, hệ thống ngân hàng luôn mang những chức năng cơ bản sau:

2.1. Chức năng trung gian tín dụng

Trong một nền kinh tế luôn luôn tồn tại hai loại hình tổ chức cá nhân tạm thời thâm hụt chi tiêu và thặng dư chi tiêu, hay nói cách khác là tổ chức cần bổ sung vốn và tổ chức thiếu vốn. Để nền kinh tế hoạt động hiệu quả tất yếu cần thiết phải dịch chuyển vốn giữa hai tổ chức này. Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp giữa hai đối tượng này bị giới hạn cả về không gian, thời gian, quy mô,…từ đó nảy sinh nhu cầu trung gian tín dụng.

Hệ thống tài chính chưa khép kín, thiếu chặt chẽ và kém hoàn hảo tạo ra cơ hội cho các ngân hàng trong việc cung cấp dịch vụ tài chính. NHTM với tư cách là một tổ chức tín dụng, chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, có khả năng giải quyết những nhu cầu về vốn này bằng cách huy động mọi nguồn vốn chưa sử dụng của các chủ thể kinh tế trong xã hội để hình thành quỹ cho vay tập trung. Các trung gian tài chính nhờ chuyên môn hoá đã đem lại lợi ích cho cả hai bên qua việc tăng thu nhập, khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm chi phí tín dụng cho người đầu tư. Thông qua việc huy động vốn và sau đó cho vay lại các thành phần kinh tế, NHTM đã đóng vai trò là người trung gian môi giới giữa người đi vay và người cho vay mà thực chất chính là đang thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Hoạt động của ngân hàng luôn gắn liền với chức năng này, nó quyết định sự phát triển và lớn mạnh của bản thân ngân hàng.

2.2. Chức năng trung gian thanh toán Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM thu hút các chủ thể tham gia mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng. Trên cơ sở đó NHTM thực hiện các khoản thanh toán chi trả cho khách hàng theo các hợp đồng mua bán, giao dịch. Cụ thể là ngân hàng thực hiện theo lệnh của chủ tài khoản thanh toán, chi trả, chuyển khoản cho các đối tượng giao dịch của họ. Từ đó, ngân hàng đảm nhiệm vai trò trung gian thanh toán lớn nhất, cung cấp cho khách hàng những sản phẩm thanh toán đa dạng, tiện ích như thanh toán bằng séc, nhờ thu, uỷ nhiệm chi và mở rộng ra mạng lưới thanh toán điện tử…Thông qua việc sử dụng các công cụ của ngân hàng, hoạt động thanh toán của khách hàng được thực hiện nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí. Chức năng này mang lại hiệu quả to lớn cho nền kinh tế, làm tăng tốc độ luân chuyển vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm, giảm thiểu những chi phí liên quan đến in ấn, bảo quản tiền mặt. Hiện nay khi các ngân hàng áp dụng công nghệ hiện đại, các hình thức thanh toán được chuẩn hóa thì hiệu quả sử dụng càng được nâng cao. Ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng có hiệu quả không chỉ trong nội bộ nền kinh tế mà cả với quy mô nền kinh tế toàn cầu.

2.3. Chức năng “tạo tiền” cho nền kinh tế

Chức năng này xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo tiền, nhân tiền lên nhiều lần, vì vậy giảm thiểu được số lượng tiền mặt trong lưu thông và nguy cơ lạm phát. Từ một khoản tiền gửi ban đầu vào ngân hàng, thông qua quá trình cho vay cũng như thanh toán bằng chuyển khoản, số dư trên tài khoản của khách hàng được cho vay tăng lên, khách hàng dùng tài khoản để thanh toán cho một khách hàng của ngân hàng khác cũng làm tăng số dư của khách hàng tại ngân hàng đó. Số tiền được nhân lên nhiều hay ít phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi của ngân hàng, cụ thể là chịu sự tác động của các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ rút tiền mặt của khách hàng và tỷ lệ dự trữ dư thừa. Tóm lại, thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng, số lượng tiền gửi đã được tạo ra gấp bội mà không cần phải in hay vay nợ thêm, trong khi đó các ngân hàng vẫn đảm bảo được tỷ lệ dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Trung ương.

Ngoài ra, NHTM còn đảm nhận các vai trò sau: vai trò người bảo lãnh khi khách hàng không có khả năng thanh toán hoặc cần sự bảo đảm về mặt pháp lý; vai trò đại lý; thay mặt khách hàng bảo quản tài sản; vai trò thực hiện chính sách kinh tế của Chính phủ…Các chức năng này có mối quan hệ bổ sung hỗ trợ lẫn nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác. Đồng thời, thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và “tạo tiền” sẽ góp phần mở rộng hoạt động của chức năng trung gian tín dụng.

3. Phân loại NHTM Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Theo tiêu chí nguồn vốn hình thành, ta có các loại hình NHTM như sau:

  • NHTM quốc doanh: là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước được Nhà nước cấp vốn ban đầu 100%. Loại hình ngân hàng này được hình thành bằng hai cách:
  • Nhà nước quốc hữu hóa các NHTM lớn, (ii) Nhà nước thành lập các NHTM quốc doanh và cấp vốn pháp định để hoạt động.
  • Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP): là ngân hàng được hình thành bằng vốn đóng góp của các cổ đông mua cổ phần. Đây là hình thức tổ chức ngân hàng phổ biến nhất hiện nay thế giới cũng như ở Việt Nam. Nó có thể mở rộng quy mô hoạt động, huy động vốn bằng việc phát hành thêm cổ phiếu mới hoặc trái phiếu, nhất là trong nền kinh tế thị trường đầy sôi động này. Hoạt động của các NHTMCP thường mang lại hiệu quả kinh tế cao vì có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền điều hành. Bộ máy tổ chức hoạt động chuyên nghiệp hơn, quyền điều hành nằm trong tay người thực sự có năng lực quản lý. Đây chính là mô hình mà VPBank theo đuổi từ khi thành lập và đã mang lại hiệu quả rõ rệt.
  • Ngân hàng tư nhân: là ngân hàng do tư nhân đứng ra thành lập bằng vốn của bản thân họ. Hình thức này rất hạn chế về quy mô và hiệu quả hoạt động cũng như thiếu tính cạnh tranh.
  • NHTM liên doanh: là ngân hàng được hình thành bằng một phần vốn góp của ngân hàng trong nước và một phần vốn của ngân hàng nước ngoài.
  • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: là ngân hàng được hình thành khi các ngân hàng nước ngoài được cấp giấy phép mở chi nhánh hoạt động tại nước sở tại.

4. Hoạt động cơ bản của ngân hàng

Ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, cung cấp dịch vụ ngân hàng cho công chúng và doanh nghiệp. Một ngân hàng hoạt động có hiệu quả hay không phụ thuộc chủ yếu vào dịch vụ ngân hàng được cung cấp có phù hợp, đáp ứng nhu cầu của xã hội không. Do đặc điểm của thị trường ngân hàng có quy mô lớn và nhu cầu luôn thay đổi, vì vậy dịch vụ mà ngân hàng cung cấp rất đa dạng tùy theo sự phát triển của xã hội nói chung. Từ đó dịch vụ ngân hàng cũng được phân loại theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Dịch vụ ngân hàng cung cấp rất đa dạng, có thể khái quát trong các loại dịch vụ cơ bản sau:

4.1. Dịch vụ nhận tiền gửi

Hoạt động cho vay vốn là hoạt động cơ bản và có quy mô lớn kèm theo mức sinh lời cao cho ngân hàng, do đó các ngân hàng luôn tìm cách huy động nguồn vốn phù hợp để cho vay. Từ hoạt động cất trữ bảo quản tiền và tài sản, các ngân hàng sơ khai luôn có dư một lượng lớn tiền mặt sử dụng để cho vay. Đến lúc này hoạt động cho vay đem lại nhiều lợi ích hơn hoạt động bảo quản cho chủ hàng, để thu hút thêm vốn ngân hàng không những không thu phí mà còn trả lãi cho những khoản tiền gửi. Nguồn tiền gửi lớn quan trọng, ổn định nhất đối với ngân hàng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân.

4.2. Dịch vụ trao đổi ngoại tệ (mua bán ngoại tệ) Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Ngân hàng được hình thành từ hoạt động kinh doanh tự phát của những người đúc tiền, đổi tiền. Và như vậy một trong những dịch vụ đầu tiên mà ngân hàng thực hiện là thu đổi ngoại tệ đáp ứng nhu cầu thực hiện giao dịch giữa các vùng, các quốc gia sử dụng những đồng tiền không thống nhất. Cho tới thời điểm hiện tại sự đa dạng hóa, đa phương hóa của hoạt động thương mại đã dẫn đến việc gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng nhu cầu đổi ngoại tệ. Sự bùng nổ của toàn cầu hóa cả về kinh tế lẫn xã hội là cơ hội cho các ngân hàng mở rộng dịch vụ đổi ngoại tệ. Các ngân hàng không chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ thu đổi ngoại tệ thông thường để thu phí mà còn tham gia kinh doanh ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Tuy nhiên, nền kinh tế toàn cầu càng mở rộng bao nhiêu, càng đem lại nhiều cơ hội kinh doanh bao nhiêu thì cũng đồng thời đem đến nhiều bất ổn cho thị trường ngoại hối vốn bị chi phối của nhiều yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội,…Do vậy, thường chỉ có các ngân hàng lớn có tiềm lực mạnh và kinh nghiệm với đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao mới thực hiện được những giao dịch lớn trên thị trường ngoại hối tiềm ẩn nhiều rủi ro.

4.3. Dịch vụ cung cấp các khoản giao dịch và thực hiện thanh toán

Cuộc cách mạng công nghiệp Âu – Mỹ đã đánh dấu cho sự ra đời của dịch vụ ngân hàng mới – “tài khoản giao dịch tiền gửi”. Đến lúc này, các ngân hàng không chỉ làm nhiệm vụ giữ tiền hộ khách hàng mà còn giúp khách hàng thực hiện thanh toán. Như vậy thanh toán không dùng tiền mặt đã bắt đầu được thực hiên, một tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng có thể viết séc để thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ. Dịch vụ mới này là bước đột phá làm tăng hiệu quả của quá trình thanh toán, giảm bớt chi phí trung gian, tạo thuận lợi cho khách hàng với tư cách là người tiêu dùng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, các giao dịch thực hiện thông qua tài khoản tiền gửi ở ngân hàng ngày càng trở nên phổ biến hơn.

4.4. Dịch vụ bảo quản vật có giá

Từ thời trung cổ, các ngân hàng thường là những nơi có mức độ an toàn cao và được tín nhiệm trong việc cất trữ tiền và các vật có giá cho các thương gia và các lãnh chúa. Đây cũng là một trong những dịch vụ được thực hiện đầu tiên bắt nguồn từ hoạt động cất trữ tiền hộ cho các thương gia và ngân hàng được hưởng phí bảo quản. Cũng bắt đầu từ loại hình dịch vụ này hoạt động của ngân hàng đã gắn kết chặt chẽ với uy tín của ngân hàng. Khách hàng sẽ nhận được giấy chứng nhận tài sản do ngân hàng ký phát cho khách hàng. Đây chính là hình thức đầu tiên của thẻ thanh toán và séc.

4.5. Dịch vụ chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Khi các khoản tiền gửi đầy chật trong các ngân hàng, chủ ngân hàng sử dụng chúng để cho vay thương mại, giúp khách hàng có vốn để mua hàng dự trữ, xây dựng, mua thiết bị sản xuất…đổi lại ngân hàng nhận được tiền lãi để trang trải chi phí hoạt động và trả lãi cho tiền gửi mà ngân hàng huy động. Hoạt động cho vay thương mại ngày càng trở thành một nguồn thu lớn cho ngân hàng, khi hoạt động này trở nên sôi động. Cho vay thương mại có thể được thực hiện gián tiếp thông qua việc ngân hàng mua các khoản phải thu của khách hàng (chiết khấu thương phiếu). Khách hàng là các thương gia có thể bán các khoản nợ (phải thu) cho ngân hàng để lấy tiền mặt phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Với dịch vụ cho vay thương mại và dịch vụ chiết khấu, ngân hàng nhận được tiền lãi tương ứng với mức rủi ro của khoản vay và thương phiếu được chiết khấu.

4.6. Dịch vụ quản lý tiền mặt

Việc khách hàng thường xuyên có các khoản tiền nhàn rỗi trong ngân hàng đã nảy sinh dịch vụ quản lý tiền mặt. Ngân hàng cung cấp dịch vụ này sẽ chịu trách nhiệm quản lý thu chi và đầu tư phần thặng dư tạm thời cho khách hàng doanh nghiệp vào các chứng khoán và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền thật để thanh toán. Hiện nay khi dịch vụ quản lý tiền mặt cho khách hàng doanh nghiệp đã trở nên phổ biến, ngân hàng đã mở rộng dịch vụ đối với khách hàng cá nhân. Dịch vụ quản lý tiền mặt cho cá nhân đang chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ phía các tập đoàn tài chính, các công ty môi giới chứng khoán, công ty bảo hiểm,…

4.7. Dịch vụ cho vay tiêu dùng Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Các khoản cho vay tiêu dùng thường không có nhiều ý nghĩa lớn đối với hoạt động của ngân hàng trong thời kỳ đầu. Lý do chủ yếu là mức sinh lời thấp bắt nguồn từ việc các khoản cho vay với mục đích tiêu dùng của hộ cá nhân thường có quy mô nhỏ và tương đối rủi ro. Tuy nhiên trong điều kiện hiện tại khi thu nhập của khách hàng cá nhân trở nên ổn định hơn, thêm vào đó là sức ép cạnh tranh buộc các ngân hàng phải chú ý đến thị trường cho vay tiêu dùng. Khách hàng cá nhân không chỉ là nguồn huy động vốn khá lớn và ổn định mà hoạt động vay với mục đích tiêu dùng của nhóm khách hàng này đang trở thành nguồn thu dịch vụ lớn đối với ngân hàng. Thị trường cho vay cá nhân phục vụ mục đích tiêu dùng đang có mức tăng trưởng cao, cùng nhịp với xu hướng tăng nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư, đặc biệt là tại những nền kinh tế đang phát triển. Tín dụng tiêu dùng là loại hình tín dụng có mức tăng trưởng cao nhất tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Dù vậy, tín dụng tiêu dùng vẫn là một trong những nguồn thu chủ yếu của ngân hàng.

4.8. Dịch vụ ủy thác

Do nhu cầu về quản lý tài sản và tài chính cho các cá nhân và tổ chức ngày càng gia tăng, ngân hàng với đội ngũ cán bộ chuyên gia về quản lý tài chính đã cung cấp dịch vụ ủy thác. Dịch vụ ủy thác hay còn được gọi là dịch vụ quản lý tài sản (đầu tư hộ) được các ngân hàng cung cấp theo hai loại hình gồm ủy thác thông thường cho khách hàng cá nhân, dịch vụ ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp. Đối với cá nhân, ngân hàng đảm nhận vai trò là người quản lý tài sản và đầu tư hộ hay người được ủy thác trong các di chúc tài sản thừa kế. Còn đối với doanh nghiệp, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và tiền lương công nhân thông qua hoạt động của phòng ủy thác thương mại. Hiện nay dịch vụ ủy thác được các ngân hàng phát triển thành các dịch vụ đa dạng như ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy thác phát hành đầu tư,…

4.9. Dịch vụ tài trợ dự án

Đây là một trong những dịch vụ có mức độ rủi ro cao nhất đi kèm với mức sinh lời hấp dẫn. Đối với các dự án, ngân hàng thông qua công ty sở hữu ngân hàng và liên kết cùng đầu tư với các công ty khác để san sẻ rủi ro. Một lý do khác cho việc liên kết cùng đầu tư với các nhà đầu tư khác là ràng buộc về mặt pháp lý, thêm vào đó các dự án được tài trợ thường có nhu cầu vốn rất lớn so với khả năng cung cấp của một ngân hàng đơn lẻ. Những ngành công nghệ cao thường được chú ý xem xét đồng tài trợ để đổi lấy mức lợi nhuận cao tương xứng cho ngân hàng.

4.10. Dịch vụ cho thuê tài chính Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Đáp ứng nhu cầu mua sắm thiết bị hay đầu tư nhà xưởng với quy mô lớn của các khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng cung cấp dịch vụ cho thuê tài chính. Với dịch vụ này ngân hàng cho phép khách hàng có quyền chọn thiết bị máy móc thông qua các hợp đồng thuê mua ký với nhà cung cấp. Ngân hàng thay mặt khách hàng thanh toán cho nhà cung cấp, và hưởng phí thuê thiết bị. Khách hàng phải chịu mọi phí tổn có liên quan như sửa chữa, thuế, bảo dưỡng,…Quyền sở hữu của tài sản vẫn thuộc về ngân hàng, từ đó giúp ngân hàng tăng khấu hao nhằm tiết kiệm thuế. Sau khi thanh lý hợp đồng cho thuê tài chính, khách hàng có quyền đề nghị mua lại tài sản, trong một số trường hợp do tính chất đặc thù của tài sản, điều khoản mua lại sau thanh lý là bắt buộc.

4.11. Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán

Các ngân hàng luôn muốn khẳng định vai trò một bách hóa tài chính thực sự của mình, cung cấp đầy đủ nhất các dịch vụ tài chính. Sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán, cùng nhu cầu đầu tư tăng cao của khách hàng cá nhân, đã tạo cơ hội cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư cho các ngân hàng vốn có nhiều lợi thế trên thị trường tài chính. Với kinh nghiệm của đội ngũ chuyên gia, và tiềm lực mạnh của mình ngày càng nhiều ngân hàng thành lập công ty môi giới chứng khoán đáp ứng nhu cầu đang gia tăng mạnh mẽ của khách hàng.

Trên đây là những dịch vụ chủ yếu mà một NHTM thực hiện trong nền kinh tế, tùy từng loại hình ngân hàng và định hướng phát triển mà mức độ chuyên sâu và hiệu quả là khác nhau. Ngân hàng giữ vai trò như một bách hoá tài chính cho cả nền kinh tế, cung cấp các dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng và liên tục đổi mới cách tiếp cận khách hàng. Ngoài những dịch vụ cơ bản kể trên, ngân hàng còn cung cấp các loại hình dịch vụ khác như dịch vụ bảo hiểm, lập kế hoạch hưu trí, các dịch vụ tương hỗ trợ cấp,…tuỳ theo quy mô chiến lược của từng ngân hàng và mức độ phát triển cũng như nhu cầu của từng nền kinh tế mà các dịch vụ trên được cung cấp theo các hình thức và mức độ khác nhau. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và sức tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới đã dẫn đến việc hình thành nhiều loại hình dịch vụ mới; điển hình là dịch vụ cung cấp tiện ích của thẻ thông minh, giao dịch qua mạng thông tin toàn cầu,…Và xu hướng hợp nhất các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán,…đang trở nên phổ biến dần đưa ngân hàng trở thành bách hoá tài chính thực sự.

II. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM

Thuật ngữ năng lực cạnh tranh (NLCT) được sử dụng rất rộng rãi trong thời gian gần đây mỗi khi đánh giá về khả năng tồn tại của một doanh nghiệp trên thị trường hay thậm chí là cả một nền kinh tế, một quốc gia. Tuy vậy khái niệm NLCT được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau và là một khái niệm hết sức phức tạp.

Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa NLCT là “khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, vùng lãnh thổ trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.

Đối với một doanh nghiệp, có thể định nghĩa NLCT là “khả năng tự duy trì lâu dài trên thị trường trên cơ sở thiết lập các mối quan hệ lâu dài với khách hàng qua việc tạo ra và cung cấp các dịch vụ và khả năng đứng vững trước sức ép cạnh tranh từ phía các đối thủ”. NLCT của NHTM là khả năng tự duy trì một cách lâu dài, có ý thức các lợi thế của mình trên thị trường để đạt được mức lợi nhuận cao và thị phần nhất định hoặc khả năng chống lại một cách thành công sức ép của các lực lượng cạnh tranh.

Từ khi Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường, cạnh tranh bắt đầu hình thành và tồn tại trong lòng các mối quan hệ kinh tế. Nền kinh tế thị trường phát triển càng cao thì sức ép cạnh tranh càng lớn. Thêm vào đó tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật cũng thúc đẩy nhanh việc ra đời của các dịch vụ và các tổ chức cung cấp sản phẩm dịch vụ mới, khiến các doanh nghiệp luôn phải tích cực nâng cao khả năng hoạt động cũng như NLCT của mình.

Ngân hàng là lĩnh vực dịch vụ đi đầu trong áp dụng khoa học công nghệ đồng thời là lĩnh vực có lợi nhuận cao đi kèm với mức độ rủi ro lớn. Ngân hàng cũng là ngành có mức độ toàn cầu hóa cao và tốc độ phát triển khá nhanh. Thị trường cung cấp các dịch vụ ngân hàng gần như không bị giới hạn về không gian thời gian. Các ngân hàng luôn là các thực thể kinh tế nắm trong tay nhiều của cải của xã hội nhất, có khả năng chi phối mạnh mẽ đến sự phát triển của các quốc gia.

Vì vậy, lĩnh vực ngân hàng luôn đồng hành với sự cạnh tranh khốc liệt và mang những đặc trưng riêng biệt.

Do vai trò chi phối to lớn của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế, các NHTM luôn chịu sự giám sát của Ngân hàng Trung ương. Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng không phải là cạnh tranh đối đầu thông thường, mà là cạnh tranh cùng phát triển, cạnh tranh hợp tác, đảm bảo có lợi cho mỗi bên. Tuy vậy, do mang nhiều đặc điểm đặc trưng, cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng không hề kém khốc liệt so với các lĩnh vực khác.

2. Chỉ tiêu phản ánh NLCT của NHTM

NLCT của NHTM là một khái niệm tổng hợp, chịu sự chi phối của nhiều yếu tố. Chính vì vậy, để đánh giá NLCT của NHTM cần phải sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng cũng như các ngành dịch vụ khác là tính khó lượng hóa các yếu tố. Đánh giá NLCT cần phải dựa trên cả các yếu tố định tính và định lượng.

2.1. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh

ROA là một thông số chủ yếu đề cập đến khía cạnh khả năng quản lý của ban quản trị ngân hàng trong việc chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. ROA thể hiện mối quan hệ giữa khả năng sinh lời của tài sản và tổng tài sản. ROA càng lớn thể hiện hiệu quả kinh doanh của ngân hàng là cao và cơ cấu tài sản sinh lãi và không sinh lãi là khá hợp lý. Tuy nhiên ROA quá cao không phải là một tín hiệu tốt đối với các ngân hàng. Trong tình huống đó, ngân hàng đang rơi vào tình trạng rủi ro cao do lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro có mối quan hệ thuận chiều. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

ROE là chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời từ nguồn vốn chủ sở hữu. Nói cách khác ROE đánh giá lợi ích mà cổ đông (chủ sở hữu ngân hàng) có được từ nguồn vốn bỏ ra. ROE đo lường tỷ lệ thu nhập của các cổ đông đền bù cho việc chấp nhận rủi ro và đầu tư vào ngân hàng. Chỉ tiêu ROE luôn nhận được sự quan tâm từ hai phía chủ ngân hàng và nhà quản lý. Các nhà quản trị ngân hàng luôn muốn tăng ROE để thỏa mãn yêu cầu của các cổ đông thông qua nhiều biện pháp như kiểm soát rủi ro có hiệu quả, hạn chế khoản vay xấu,…

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu lãi từ tài sản sinh lời và chi lãi cho nguồn vốn huy động của ngân hàng. Ngân hàng có thể đạt được tỷ lệ thu nhập lãi cận biên hiệu quả trong khoảng 1,8%-3% thông qua việc theo đuổi cơ cấu tài sản hợp lý và nguồn vốn có chi phí thấp.

Tỷ lệ thu nhập cận biên ngoài lãi tính đến chênh lệch thu nhập ngoài lãi (gồm chủ yếu là thu từ các dịch vụ) và chi phí ngoài lãi (gồm chi phí trả lương, chi phí trụ sở, máy móc,…) dù hiện nay các dịch vụ ngân hàng tăng lên nhanh chóng dẫn đến thu phí từ dịch vụ tăng lên theo. Tuy vậy thông thường thu dịch vụ ngoài lãi vẫn nhỏ hơn chi phí ngoài lãi, vì thế tỷ lệ thu nhập cận biên ngoài lãi tính thường âm và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên thường dương.

Ba tỷ lệ trên cùng chỉ ra khả năng hội đồng quản trị duy trì tăng trưởng của các nguồn thu so với chi phí. Trong đó các khoản thu chủ yếu bao gồm thu lãi từ hoạt động cho vay, đầu tư, phí dịch vụ và các khoản chi bao gồm chi trả lãi huy động, chi trả lương, trả các chi phí duy trì hoạt động của ngân hàng.

Thu nhập cận biên trước những khoản giao dịch đặc biệt = Thu nhập sau thuế + lãi (lỗ) từ kinh doanh chứng khoán + các khoản bất thường khác.

Thu nhập cận biên trước những khoản giao dịch đặc biệt, lợi nhuận hay lỗ từ các khoản mục kinh doanh bất thường như chứng khoán, thanh lý thiết bị,…khác với đo lường thu nhập của ngân hàng từ những hoạt động ổn định thông thường như cho vay, đầu tư, thu phí dịch vụ,…và không mang tính điển hình của hoạt động kinh doanh ngân hàng do vậy không được xem xét như yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.

Đây là chỉ tiêu nhận được nhiều sự quan tâm từ phía công chúng và các cổ đông. EPS phản ánh thu nhập của các cổ đông từ hoạt động đầu tư vào ngân hàng. Nhà quản trị luôn cố gắng duy trì EPS cao và tăng trưởng đều đặn để làm hài lòng các cổ đông.

Ngoài các chỉ tiêu trên, tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh trong ngân hàng cũng được xem xét trên cơ sở các chỉ tiêu:

Đánh giá hoạt động của ngân hàng có mức độ hiệu quả như thế nào cần sự tổng hợp của nhiều các chỉ tiêu. Vai trò của các chỉ tiêu này có thể được đánh giá khác nhau tùy thuộc vào mục đích và hoàn cảnh cụ thể của công việc nghiên cứu phân tích.

2.2. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Nguyên tắc lợi nhuận trung bình có mối quan hệ thuận chiều với rủi ro là nguyên tắc phổ biển trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung trong đó có hoạt động ngân hàng. Vì vậy phân tích khả năng cạnh tranh của một ngân hàng không thể chỉ tính tới các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả kinh doanh mà còn phải xét đến các chỉ tiêu phản ánh mức độ rủ ro tương ứng. Rủi ro luôn là một yếu tố khó xác định, do vậy đối với một ngân hàng thì rủi ro cũng phải được xem xét thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau như:

Nợ quá hạn/ tổng dư nợ

Đánh giá mức độ rủi ro của ngân hàng không phải là một nhiệm vụ dễ dàng ngay cả khi đã có đủ các chỉ tiêu. Do các nguyên tắc trong hoạt động ngân hàng, thống kê về nợ quá hạn là những con số nhạy cảm và thường không có được số chính xác.

2.3. Các chỉ tiêu về lãi suất, chi phí và phí dịch vụ

Lãi suất luôn được đánh giá là vũ khí quan trọng của các ngân hàng trong việc chiếm lĩnh ưu thế cạnh tranh cũng như lòng tin của khách hàng. Khi khách hàng quyết định sử dụng dịch vụ thì lãi suất thường xuyên là yếu tố đầu tiên được cân nhắc. Lãi suất bao gồm lãi suất cho vay và lãi suất nhận gửi. Các ngân hàng thường xuyên theo đuổi cơ cấu lãi suất hợp lý, đảm bảo thu hút được khách hàng trên cơ sở có lợi cho ngân hàng. Lãi suất tương ứng với các mức rủi ro khác nhau. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

  • Lãi suất có thể được tính theo các chỉ tiêu sau
  • Lãi suất cho vay = Lãi suất cơ bản + Phần bù rủi ro
  • Lãi suất cơ bản = Lãi suất huy động+chi phí ròng khác+thuế+thu nhập dự tính
  • Lãi suất cơ bản = Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng+thuế+thu nhập dự tính
  • Lãi suất huy động = tỷ lệ lạm phát bình quân+tỷ lệ thu nhập trung bình của người gửi tiền
  • Lãi suất của ngân hàng luôn tuân theo các nguyên tắc sau: – Lãi suất tỷ lệ thuận với kỳ hạn, tỷ lệ thuận với quy mô.
  • Lãi suất tỷ lệ nghịch với tính thanh khoản, độ an toàn của ngân hàng và dịch vụ cung cấp.
  • Lãi suất bình quân thực luôn dương và tương quan với các khoản đầu tư khác như vàng, bất động sản, chứng khoán.

Các ngân hàng vì quyền lợi của mình, không thể đưa ra mức lãi suất vi phạm các nguyên tắc kể trên. Lãi suất là công cụ cạnh tranh hiệu quả nhưng không phải là công cụ toàn năng. Lạm dụng lãi suất trong cạnh tranh sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của các ngân hàng và gây ra cạnh tranh không lành mạnh.

Đối với các NHTM, ngoài nguồn thu chủ yếu từ hoạt động cho vay, phí dịch vụ cũng có đóng góp đáng kể, trong điều kiện hiện nay đang nỗ lực gia tăng mức độ đóng góp của mình trong tổng thu nhập của ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng hiện đại cung cấp ngày càng nhiều tiện nghi đồng thời tạo ra nhiều thu nhập ngoài lãi cho ngân hàng.

Các ngân hàng trong chiến lược kinh doanh của mình luôn cố gắng duy trì mức phí dịch vụ hợp lý. Phí dịch vụ được tính toán sao cho bù đắp được những chi phí cho việc cung cấp dịch vụ như trả lương nhân viên, trả tiền thuê mặt bằng, mua và bảo dưỡng máy móc,…Do đặc điểm dịch vụ ngân hàng có tính dễ sao chép vì vậy dịch vụ các ngân hàng cung cấp thường mang nhiều điểm tương đồng. Trong trường hợp đó phí dịch vụ trở thành điểm khác biệt dễ nhận thấy tạo nên lợi thế cạnh tranh cho dịch vụ.

Biện pháp các ngân hàng thường dùng để duy trì mức phí cạnh tranh là tối ưu hóa chi phí cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên cạnh tranh bằng phí dịch vụ là không phù hợp với các ngân hàng nhỏ. Phí dịch vụ tùy thuộc vào nhiều yếu tố đặc biệt là kinh nghiệm của ngân hàng trong việc cung cấp dịch vụ đó. Trong trường hợp các ngân hàng nhỏ hoặc ngân hàng đi sau trong cung cấp dịch vụ thì việc duy trì mức phí dịch vụ thấp là khá khó khăn. Các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực lớn hơn và có lợi thế quy mô khi cung cấp dịch vụ sẽ có chi phí thấp hơn đồng thời sẵn sàng giảm thu nhập dự tính từ dịch vụ để đưa ra được mức phí thấp. Ngân hàng đi trước trong cung cấp dịch vụ nào sẽ có lợi thế cạnh tranh đặc biệt trong cung ứng dịch vụ ấy.

2.4. Chỉ tiêu phản ánh chất lượng dịch vụ ngân hàng

Chất lượng của dịch vụ luôn là một khái niệm trừu tượng, phụ thuộc chặt chẽ vào cảm nhận của khách hàng khi tiêu dùng dịch vụ đó. Chất lượng dịch vụ ngân hàng được hiểu là mức độ thỏa mãn của khách hàng khi tiêu dùng các dịch vụ ngân hàng cung cấp. Chất lượng dịch vụ ngân hàng là một khái niệm mang tính định tính cao, do vậy chỉ có thể đánh giá chủ yếu qua các yếu tố định tính.

2.4.1. Các yếu tố hữu hình Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Các yếu tố hữu hình như địa điểm, thiết bị,…được sử dụng cung cấp dịch vụ là các yếu tố đầu tiên để lại ấn tượng cho khách hàng. Khi tiếp xúc với ngân hàng, yếu tố hình thức của địa điểm giao dịch, mức độ hiện đại của máy móc thiết bị, sẽ có tác động đầu tiên tới nhận thức của khách hàng.

2.4.2. Chất lượng nhân viên cung ứng dịch vụ

Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng, khách hàng tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng dịch vụ thông qua các nhân viên. Chất lượng dịch vụ vì thế mà phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng đội ngũ nhân viên cung cấp. Chất lượng của nhân viên sẽ quyết định hình ảnh của ngân hàng nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng. Chất lượng nhân viên cũng là một yếu tố khó định lượng vì không chỉ được đo bằng khả năng về chuyên môn, kiến thức nghiệp vụ mà bao gồm cả kỹ năng giao tiếp, thái độ quan tâm đến khách hàng.

2.4.3. Tính tiếp cận được

Đối với các dịch vụ nói chung đều được cung cấp và tiêu dùng một cách trực tiếp do vậy khả năng tiếp cận được của dịch vụ mang ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng của dịch vụ đó. Dịch vụ ngân hàng cung cấp cần đảm bảo có thể dễ dàng tiếp cận được về thời gian và không gian, cũng như thời gian chờ dịch vụ. Trên thực tế khi các dịch vụ ngân hàng gần như được cung cấp như nhau bởi các ngân hàng khác nhau, thì mức tiện lợi hay dễ dàng trong tiếp cận sẽ có tác động đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ.

2.4.4. Mức độ an toàn và chính xác

Các thông tin tài chính thường là các thông tin nhạy cảm mà khách hàng không muốn công khai, do vậy yêu cầm bảo mật thông tin là rất cao đối với ngân hàng. Thêm vào đó, khi các dịch vụ không đảm bảo an toàn sẽ dẫn đến những hậu quả hết sức nghiêm trọng, chỉ cần một sai sót nhỏ có thể gây ra thiệt hại rất lớn cho cả khách hàng và ngân hàng. Như vậy mức độ an toàn và chính xác là yếu tố quan trọng đánh giá chất lượng của dịch vụ được cung cấp.

2.5. Mức độ áp dụng công nghệ thông tin trong ngân hàng Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Ngành ngân hàng là một trong những ngành có mức độ ứng dụng công nghệ cao nhất. Để cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại đảm bảo tính an toàn chính xác, thuận tiện đòi hỏi hệ thống công nghệ nền của ngân hàng cần được đầu tư tương xứng. Mức độ áp dụng khoa học công nghệ trong ngân hàng thường phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tài chính của ngân hàng. Các dịch vụ ngân hàng thường không khác nhiều về nội dung tuy nhiên hàm lượng công nghệ lại khác nhau đáng kể. Hàm lượng công nghệ trong sản phẩm dịch vụ ngân hàng được coi như thước đo mức độ phát triển của ngân hàng. Do mức độ áp dụng công nghệ vào ngân hàng là một yếu tố mang tính định tính cao do vậy để dễ dàng đánh giá cần xét tới các chỉ tiêu sau:

  • Số lượng máy tính, số lượng máy trên một nhân viên.
  • Số lượng các khách hàng truy cập và sử dụng dịch vụ tra cứu trên trang Web của ngân hàng.
  • Số lượng các máy rút tiền, gửi tiền tự động
  • Mức độ phổ biến của các loại thẻ do ngân hàng phát hành và những tiện ích do dịch vụ này cung cấp.
  • Thời gian chờ khi khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng hiện đại.

Tuy vậy việc áp dụng công nghệ hiện đại trong ngân hàng cần tính đến hiệu quả sử dụng và khả năng tiếp cận cũng như nhu cầu của khách hàng. Với đặc điểm các dịch vụ ngân hàng là tương tự nhau (mức độ khó thay thế là không lớn) thì việc áp dụng công nghệ hiện đại một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng tranh thủ có được vị thế vượt trội so với đối thủ.

2.6. Chỉ tiêu phản ánh thị phần hoạt động của ngân hàng

Thị phần ngân hàng là phần thị trường ngân hàng có được trong tương quan so sánh với các đối thủ. Thị phần của một ngân hàng cho thấy khả năng chiếm giữ và duy trì thị trường của ngân hàng đó. Thị phần ngân hàng đóng vai trò là nơi tạo ra thu nhập và đảm bảo cho sự tồn tại của bản thân ngân hàng. Do đặc điểm của dịch vụ ngân hàng là được tiêu dùng rộng rãi tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế và mức sống của người dân, do vậy độ lớn của thị trường phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và nỗ lực của bản thân ngân hàng nói riêng. Cung cấp dịch vụ ngân hàng là lĩnh vực có mức sinh lợi cao, nên thị trường thường bị chia sẻ bởi các NHTM và các tổ chức tín dụng khác. Vì thế mà mỗi ngân hàng đều chọn cho mình một phân đoạn thị trường phù hợp nhất để khai thác và chiếm lĩnh. Thị phần hoạt động của ngân hàng được xem xét trên nhiều khía cạnh và được đánh giá theo thông qua nhiều chỉ tiêu như:

  • Số lượng và quy mô của khách hàng tiềm năng
  • Độ lớn của thị trường mục tiêu
  • Số lượng và quy mô các khách hàng có quan hệ tốt với ngân hàng
  • Số lượng các chi nhánh, các phòng giao dịch, các máy tự động
  • Tương quan so sánh các chỉ tiêu trên của ngân hàng với các đối thủ tiềm năng, các đối thủ hiện tại trên thị trường.

3. Những nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của NHTM Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Ta sẽ nhìn nhận những nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của một chủ thể qua mô hình SWOT – Michael Porter, tức là nghiên cứu điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và hiểm họa đối với một ngân hàng. Trước hết NLCT của một ngân hàng chịu sự tác động trực tiếp của bản thân chủ thể, năng lực hoạt động, hay nói cách khác là nội lực bên trong. Các yếu tố trong bản thân ngân hàng- điểm mạnh, điểm yếu là những nguồn lực mạnh mẽ tác động trực tiếp đến vị thế của ngân hàng trên thị trường. Ngoài ra, cũng như các lĩnh vực khác, NLCT của chủ thể phụ thuộc lớn vào môi trường cạnh tranh. Những cơ hội và thách thức mà thị trường đem lại cũng có tác động không nhỏ đến NLCT của ngân hàng. Ngân hàng có khả năng thích nghi nhanh chóng với những thay đổi của thị trường, tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức sẽ đứng vững trong cuộc cạnh tranh.

3.1. Điểm mạnh, điểm yếu

Yếu tố nội lực đối với bất cứ một thực thể kinh tế nào cũng có ý nghĩa quan trọng nhất quyết định sự sống còn của thực thể ấy trên thị trường. Với tư cách là một doanh nghiệp đặc biệt, NHTM cũng không là một ngoại lệ. Điểm mạnh, điểm yếu chẳng những là điều kiện đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng đáp ứng nhu cầu thị trường mà còn là yếu tố quyết định nâng cao vị thế cạnh tranh. Nó được đánh giá thông qua hệ thống các yếu tố chủ yếu sau:

3.1.1. Vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu, vốn tự có

Yếu tố đầu tiên được nhắc đến như là điều kiện tiên quyết cho sự thành lập của một ngân hàng chính là vốn điều lệ. Ngành ngân hàng là ngành chịu sự quản lý với những điều kiện khắt khe nhất từ phía các cơ quan Nhà nước. Để một ngân hàng được thành lập và hoạt động cần đáp ứng điều kiện vốn điều lệ tối thiểu. Vốn tự có của ngân hàng hay vốn chủ sở hữu được dùng để đầu tư mua sắm trang thiết bị, tài sản cố định,…phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các chỉ tiêu dưới đây thường là các chỉ tiêu được xem xét khi đề cập tới vốn tự có của ngân hàng.

3.1.2. Trình độ công nghệ Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Ngân hàng là một trong những lĩnh vực có mức độ áp dụng công nghệ mới phát triển nhanh nhất. Một lý do quan trọng là vai trò chi phối của các ngân hàng đối với nền kinh tế với tư cách là thực thể kinh tế nắm trong tay phần lớn của cải xã hội. Ngân hàng với tiềm năng của mình là thực thể kinh tế có mức độ áp dụng khoa học công nghệ cao và liên tục được cập nhật.

3.1.3. Chất lượng nguồn nhân lực

Trong mọi quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ, con người luôn là yếu tố trung tâm bên cạnh máy móc thiết bị và vốn. Là một ngành cung cấp dịch vụ điển hình, chất lượng dịch vụ ngân hàng phụ thuộc chặt chẽ vào người trực tiếp cung ứng dịch vụ. Quá trình sản xuất và tiêu dùng các dịch vụ ngân hàng diễn ra một cách đồng thời, và khách hàng tiếp xúc trực tiếp với người cung cấp dịch vụ. Như vậy cán bộ ngân hàng được xem như đại diện cho hình ảnh của ngân hàng trước khách hàng.

Trong điều kiện hiện nay, khi áp dụng khoa học kỹ thuật vào ngân hàng ngày càng yêu cầu đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao và tác phong chuyên nghiệp. Thêm vào đó mức độ cạnh tranh khốc liệt đòi hỏi các ngân hàng phải chuyên nghiệp hóa đội ngũ nhân sự nhằm phát huy tối đa khả năng nội tại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng.

3.1.4. Hệ thống mạng lưới phân phối

Hệ thống phân phối ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp xúc giữa khách hàng và ngân hàng. Mạng lưới phân phối phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm thị trường, tính chất của dịch vụ ngân hàng được cung cấp, trình độ kỹ thuật công nghệ của ngân hàng, quan điểm của nhà quản lý, và đặc biệt là xu hướng phát triển nhu cầu của khách hàng. Một hệ thống mạng lưới phân phối hợp lý trong ngân hàng cần đạt những yêu cầu sau:

  • Thuận tiện cho khách hàng trong quá trình tiếp cận với ngân hàng.
  • Phù hợp với quy mô, phạm vi hoạt động của ngân hàng.
  • Tạo được lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng.

3.1.5. Công tác marketing

Nhiệm vụ then chốt của marketing ngân hàng là xác định được nhu cầu, mong muốn và cách thức đáp ứng nó một cách có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh. Quá trình marketing ngân hàng thể hiện sự thống nhất cao độ giữa nhận thức và hành động của ngân hàng về thị trường, nhu cầu của khách hàng và năng lực của ngân hàng. Do vậy các nhà quản trị ngân hàng luôn quan tâm tới việc định hướng các bộ phận và toàn bộ đội ngũ cán bộ vào việc tạo dựng và duy trì phát triển mối quan hệ khách hàng – yếu tố quyết định sự sống còn của ngân hàng trên thị trường.

Cuộc chiến giành giật và duy trì các thị trường cho dịch vụ ngân hàng diễn ra ngày càng khốc liệt ở quy mô lớn hơn. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải duy trì cấu trúc hợp lý, điều chỉnh các hình thức hoạt động phù hợp với môi trường, nâng cao khả năng cạnh tranh. Các ngân hàng chỉ có thể đạt được yêu cầu đó khi có các giải pháp và chiến lược marketing năng động, đúng hướng.

3.2. Tác động của môi trường kinh doanh – cơ hội và thách thức Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Môi trường kinh doanh có thể được hiểu là tập hợp của các yếu tố, các lực lượng mang tính chất xã hội rộng lớn, có tác động tới hoạt động của NHTM. Những tác động và xu thế của môi trường kinh doanh đem lại “cơ hội” hoặc gây ra “hiểm họa” đối với hoạt động NHTM, từng ngân hàng riêng lẻ không thể kiểm soát được.

Thứ nhất, môi trường kinh tế

Một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao sẽ mang đến nhiều cơ hội kinh doanh cho NHTM nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Môi trường kinh tế cũng chi phối sức mua và cơ cấu chi tiêu của người tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng tới hoạt động cung cấp dịch vụ của NHTM. Trong một nền kinh tế tăng trưởng tốt, sức mua cũng như thu nhập của dân cư là ổn định thì cơ hội phát triển các dịch vụ ngân hàng sẽ cao và ngược lại. Trong đó nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, thu nhập thực tế bình quân đầu người có ảnh hưởng lớn tới yêu cầu dịch vụ ngân hàng, đồng thời chịu sự chi phối của các yếu tố kinh tế như chu kỳ kinh doanh, giai đoạn phát triển nền kinh tế,…

Sơ đồ 1: Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh

Mọi hoạt động của ngân hàng và đối thủ cạnh tranh cùng với khách hàng của mình đều bị chi phối bởi các yếu tố văn hoá xã hội bất kể có nhận thức được hay không. Văn hoá được hiểu là tổng hợp của các giá trị, quan niệm, niềm tin, truyền thống được chấp nhận rộng rãi. Môi trường văn hoá được hình thành tự phát và khách quan, được hình thành trong quá trình lâu dài. Để thành công và chiếm lĩnh được thị trường, các ngân hàng cần có những hiểu biết thấu đáo về văn hoá xã hội từ đó có các điều chỉnh phù hợp với yêu cầu của khách hàng. Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng khốc liệt và vai trò của yếu tố văn hoá xã hội ngày càng được coi trọng trong xây dựng và thực hiện các chiến lược của ngân hàng.

Thứ ba, môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên được hiểu là một hệ thống các yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng nhiều mặt đến nguồn lực đầu vào cũng như nhu cầu đầu ra của mọi thực thể kinh tế trong đó có các ngân hàng. Sự biến động về điều kiện tự nhiên sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống của người dân. Từ đó ảnh hưởng gián tiếp tới nhu cầu và khả năng tiêu dùng dịch vụ ngân hàng của khách hàng. Yếu tố này thường được ngân hàng xem như lợi thế cạnh tranh vốn có của nó trên thị trường.

Thứ tư, môi trường pháp luật

Môi trường pháp luật bao gồm tổng hợp các yếu tố hệ thống pháp luật, các văn bản dưới luật, các chính sách của Nhà nước,…Sự tác động này mang ý nghĩa quản lý vĩ mô đối với các ngân hàng.

Đặc thù của ngành ngân hàng là luôn chịu sự ràng buộc tương đối chặt chẽ của hệ thống pháp luật tại mọi quốc gia. Các ngân hàng thường chịu sự quản lý của ngân hàng trung ương dưới nhiều hình thức khác nhau. Sự nới lỏng hay thắt chặt trong quản lý ngân hàng đều mang đến cơ hội và thách thức đối với hoạt động của các ngân hàng thông qua việc gia tăng hay hạn chế mức độ cạnh tranh trên thị trường. Các công cụ chính sách này rất đa dạng như chính sách tiền tệ, tài khoá, xuất nhập khẩu, chính sách vùng,…tác động tới thị trường và mức độ cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường đó.

Cơ chế điều hành của Chính phủ có minh bạch và hợp lý không cũng tác động một cách trực tiếp và gián tiếp tới cơ hội kinh doanh của ngân hàng. Cơ chế điều hành của Chính phủ còn thể hiện qua mức độ can thiệp và hình thức can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các thực thể kinh tế trong đó có ngân hàng. Sự ưu ái của Chính phủ đối với các ngân hàng có sở hữu Nhà nước cũng tác động bóp méo tương quan và độ khốc liệt của cạnh tranh trên thị trường tài chính.

Thứ năm, môi trường công nghệ

Khoa học công nghệ ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động của ngân hàng thông qua sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế tạo ra những cơ hội kinh doanh cho các ngân hàng. Khoa học công nghệ phát triển cũng mang đến cho ngân hàng khả năng tạo ra những dịch vụ mới nhiều tiện ích hơn hay cải tiến phương thức cung cấp các dịch vụ cũ. Điển hình như sự phát triển của dịch vụ thẻ thanh toán, ngân hàng tự động,…đang trở thành xu thế chung của các ngân hàng. Lợi thế cạnh tranh sẽ đến với các ngân hàng có đầu tư xứng đáng vào cải tiến công nghệ, đi trước trong cuộc chạy đua đòi hỏi vốn lớn và sự nhạy bén này. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

Thứ sáu, môi trường toàn cầu

Cùng với môi trường khoa học công nghệ, môi trường toàn cầu là nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với toàn bộ các nền kinh tế nói chung và các NHTM nói riêng. Toàn cầu hoá nền kinh tế sẽ mở rộng hơn quy mô thị trường, đồng thời tăng mức độ khốc liệt của cạnh tranh. Trong vòng xoáy đó các ngân hàng phải nỗ lực không ngừng nhằm phát huy lợi thế và hạn chế những bất lợi mà quá trình này đem lại. Nhận thức được vấn đề này các NHTM cần thực hiện những chính sách cải tổ, hiện đại hóa bộ máy và các phương thức kinh doanh nhằm chuẩn bị cho sự cạnh tranh khốc liệt từ nhiều phía, với nhiều hình thức và mức độ khác nhau.

Ngoài ra không thể không kể tới các nhân tố ảnh hưởng có tác động trực tiếp đến vị thế cạnh tranh của ngân hàng xét trong phạm vi ngành kinh doanh. Mô hình phân tích cạnh tranh cho thấy ngành kinh doanh nói chung, ngân hàng nói riêng chịu ảnh hưởng bởi năm lực lượng cơ bản – mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter. Cụ thể như sau:

Vị thế khách hàng:

  • Lựa chọn của khách hàng
  • Quy mô, số lượng khách hàng
  • Mức độ thường xuyên sử dụng/ thay đổi sản phẩm

Hàng rào khi ra nhập thị trường, đối thủ tiềm năng:

  • Thuận lợi/rào cản ra nhập
  • Yếu tố về địa lý
  • Chiến lược khi ra nhập
  • Các cách tiếp cận thị trường

Đối thủ cạnh tranh trong nội bộ ngành:

  • Số lượng và quy mô doanh nghiệp
  • Quy mô và xu hướng của ngành
  • Các loại hàng hoá dịch vụ được cung cấp
  • Sự đa dạng của hình thức cạnh tranh

Sự phát triển về sản phẩm, dịch vụ thay thế và về mặt công nghệ, như:

  • Thay đổi giá dịch vụ
  • Thay đổi về phân phối thị trường
  • Thị hiếu và xu hướng
  • Quy định của pháp luật

Vị thế của nhà cung cấp:

  • Ảnh hưởng của yếu tố đầu vào
  • Khả năng khác biệt hóa sản phầm
  • Chi phí chuyển đổi nhà cung cấp

a. Cạnh tranh trong nội bộ ngành

Cạnh tranh trong nội bộ ngành diễn ra giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác đang hoạt động trên thị trường. Cạnh tranh trên thị trường ngân hàng ngày càng trở nên khốc liệt với sự tham gia của các ngân hàng trong và ngoài nước. Do vậy các ngân hàng muốn đứng vững, duy trì phát triển thị phần ổn định không thể không nghiên cứu kỹ lưỡng các đối thủ, từ đó xây dựng chiến lược cạnh tranh hiệu quả. Để làm được điều đó các ngân hàng phải chú trọng đến việc nghiên cứu cấu trúc thị trường và hành vi của các ngân hàng trên thị trường đó. Song song với nghiên cứu thị trường nói chung, các ngân hàng cần thường xuyên nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh cụ thể, nhất là các đối thủ có khả năng cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng.

b. Đối thủ cạnh tranh tiềm năng

Đối thủ cạnh tranh tiềm năng ở đây là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ ngân hàng sắp ra nhập thị trường. Các chính phủ bên cạnh việc quản lý chặt chẽ hoạt động của NHTM, cũng điều chỉnh điều luật để khuyến khích mọi đối tượng có tiềm lực đủ mạnh tham gia vào thị trường. Khi Việt Nam ra nhập WTO, tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường ngân hàng sẽ là cơ hội cho ngân hàng nước ngoài chính thức tham gia cạnh tranh mạnh mẽ với các NHTM trong nước. Đó thực sự là một thách thức lớn không dễ vượt qua, đòi hỏi ngân hàng phải có những định hướng chiến lược đúng đắn.

c. Vị thế của khách hàng

Đối với mọi hoạt động kinh doanh, khách hàng luôn giữ vai trò là đích hướng tới. Hoạt động của ngân hàng là hoạt động cung cấp dịch vụ vì vậy có sự tham gia của ngân hàng vào quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ một cách trực tiếp. Nhu cầu của khách hàng sẽ tác động quyết định giá cả và chất lượng, số lượng, kết cấu dịch vụ được cung cấp, gián tiếp tác động đến kết quả hoạt động của ngân hàng. Yêu cầu đặt ra cho mỗi ngân hàng là phải nghiên cứu nhu cầu khách hàng. Trước hết, phân loại được nhóm khách hàng theo những tiêu chí khác nhau để xác định thị trường mục tiêu. Tìm hiểu nhu cầu khách hàng đối với các dịch vụ được cung cấp trong giai đoạn hiện tại và tương lai, nhằm mục đích tăng chất lượng phục vụ khách hàng. Điều đó cũng giúp tăng uy tín, đưa hình ảnh ngân hàng gần hơn với công chúng. Đồng thời thường xuyên đánh giá các yếu tố tác động đến hành vi tiêu dùng dịch vụ của khách hàng. Trên cơ sở, nghiên cứu này ngân hàng có thể đưa ra các chính sách, biện pháp đáp ứng nhu cầu của khách hàng tốt hơn đối thủ cạnh tranh.

d. Sự xuất hiện của các dịch vụ thay thế

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, nhiều những sản phẩm dịch vụ truyền thống đã biến mất và được thay thế bằng các sản phẩm dịch vụ mới có hàm lượng công nghệ cao hơn. Trong lĩnh vực ngân hàng một lĩnh vực có mức độ áp dụng khoa học công nghệ cao, sự thay thế đó lại càng rõ ràng. Xuất phát từ thực tế đó, các ngân hàng đều cố gắng theo kịp sự tiến bộ của công nghệ và áp dụng chúng vào quá trình tạo ra và cung ứng dịch vụ của mình.

e. Vị thế của nhà cung cấp

Yếu tố này không có ảnh hưởng lớn trong cạnh tranh ngân hàng do đặc thù cung cấp dịch vụ mà sản phẩm dịch vụ cho chính ngân hàng tạo ra nên không phụ thuộc các yếu tố đầu vào từ nhà cung cấp khác. Nói cách khác, chính ngân hàng là nhà cung cấp cho chính họ trong hoạt động kinh doanh của mình.

Như vậy có thể thấy NLCT của một NHTM chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Muốn tìm hiểu, phân tích nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM, ta phải xem xét một cách toàn diện, đồng bộ những yếu tố đó để đi đến những kết luận chính xác, từ đó mới có những nhìn nhận và đưa ra các biện pháp thích hợp. Chương I này đã giải quyết được cơ bản những vấn đề đó. Trong chương II, ta sẽ xem xét cụ thể hơn những chỉ tiêu tài chính và những thống kê kinh tế qua việc tính toán các số liệu và tìm hiểu thực tiễn để đánh giá được chính xác NLCT của một đơn vị kinh doanh là một ngân hàng có tên tuổi trên thị trường Việt Nam. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK 

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tổng quan về cạnh tranh thị trường của VPBANK

One thought on “Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng VPBANK

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của VPBANK

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464