Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành Đạt hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính tại công ty TNHH thương mại vận tải biển Thành Đạt dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2. Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH thương mại vận tải biển Thành Đạt
2.2.1. Phân tích tổng quát các Báo cáo tài chính
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ cung cấp một cách tổng quát nhất tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh là khả quan hay không khả quan. Điều đó cho phép công ty thấy rõ thực chất của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và dự báo trước khả năng phát triển hay chiều hướng suy thoái của doanh nghiệp, trên cơ sở đó có những giải pháp hữu hiệu. Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành Đạt
Khi tiến hành phân tích thực trạng tài chính tại Công ty cần đánh giá khái quát tình hình qua hệ thống báo cáo tài chính mà chủ yếu là Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Những báo cáo này do kế toán soạn thảo vào cuối kỳ kế toán theo đúng quy định và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Để có nhận xét đúng đắn về tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn của công ty trong những năm gần đây, ta lập bảng cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty để không những có thể thấy được cơ cấu tài sản và nguồn vốn mà còn theo dõi được sự thay đổi của các khoản mục.
Qua bảng phân tích trên ta thấy tổng tài sản của công ty năm 2017 tăng 283.088 triệu đồng so với năm 2016 (tăng 66,9%); năm 2018 là 695.991 triệu đồng, giảm 10.009 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm là 1,4% so với năm 2017.
Tài sản ngắn hạn năm 2017 tăng so với năm 2016 là 48.196 triệu đồng (tăng 46,5%); năm 2018 tăng so với năm 2017 là 10.082 triệu đồng (tăng 6,6%). Tài sản dài hạn năm 2017 tăng so với năm 2016 là 234.892 triệu đồng (tăng 73,6%); năm 2018 giảm so với năm 2017 là 20.091 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 3,6%.
Số liệu trên cho ta thấy sự thay đổi của tổng tài sản chủ yếu là do giá trị của tài sản ngắn hạn tăng lên theo từng năm. Việc tài sản ngắn hạn tăng là một biểu hiện tốt. Tài sản ngắn hạn tăng lên chủ yếu là do các khoản phải thu, cụ thể:
- Khoản phải thu năm 2017 giảm 3.293 triệu đồng so với năm 2016 (giảm 9,7%), năm 2018 tăng 7.786 triệu đồng (tương ứng với 25,5%) so với năm 2017, như vậy khoản phải thu của công ty đã không đồng đều qua các năm. Các khoản phải thu năm 2018 tăng là do phải thu của khách hàng tăng 11.104 triệu đồng (tăng 52,8%), trả trước cho người bán cũng đã tăng 458 triệu đồng (tương ứng với 24,9%), và các khoản phải thu khác giảm 3.776 triệu đồng (giảm 49%) so với năm 2017. Số liệu cho ta thấy khoản phải thu của khách hàng tăng mạnh, có thể công ty đã cho khách hàng nợ tiền và công tác thu hồi nợ chưa đạt hiệu quả tốt. Công ty cần có biện pháp để cải thiện khả năng thu hồi nợ.
- Ngoài ra, vốn bằng tiền của công ty năm 2017 là 66.841 triệu đồng (tăng 27.983 triệu đồng tương đương 72%) so với năm 2016, năm 2018 giảm 5.044 triệu đồng (tương đương giảm 7,5%) so với năm 2017. Vốn bằng tiền trong năm 2018 giảm nhẹ do khoản phải thu tăng, cụ thể là phải thu của khách hàng năm 2018 tăng đột biến.
- Bảng cân đối kế toán cho ta thấy hàng tồn kho của công ty năm 2017 tăng 6.097 triệu đồng so với năm 2016 (tương đương với tỷ lệ tăng 20,6%), và tiếp tục tăng 8.691 triệu đồng (tăng 24,3%) so với năm 2017. Công tác quản trị hàng tồn kho có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, sự thiếu hụt hay dư thừa trong hàng tồn kho đều chứng tỏ cho sự tốn kém trong tổ chức điều hành. Qua số liệu ta có thể thấy công ty chưa làm tốt trong việc giải phóng hàng tồn kho qua các năm, đây là điều không có lợi cho doanh nghiệp vì sẽ làm tăng chi phí quản lý hàng tồn kho, cũng như làm kéo dài thời gian sản xuất và phân phối luồng hàng hóa gây ra sự tốn kém. Nhưng cũng không thể làm thiếu hụt hàng tồn kho, có thể sẽ không đáp ứng được nhu cầu thị trường. Xét cả về giá trị và tỷ trọng thì hàng tồn kho đang có nhu cầu tăng lên qua 3 năm.
Bên cạnh đó, tài sản dài hạn của công ty có sự thay đổi qua các năm. Tài sản dài hạn tăng 234.892 triệu đồng vào năm 2017 (tương ứng với 73,6%), nhưng đến năm 2018 tài sản dài hạn lại giảm 20.091 triệu đồng so với năm 2017 (giảm 3,6%). Giá trị của tài sản dài hạn chủ yếu bị ảnh hưởng bởi sự tăng lên của tài sản cố định và các khoản đầu tư tài chính dài hạn. Cụ thể tài sản cố định năm 2017 tăng 209.194 triệu đồng (tăng 69,2%) so với năm 2016; năm 2018 giá trị của tài sản dài hạn là 533.980 triệu đồng, đã giảm đi 20.091 triệu đồng (tương ứng 3,6%) so với năm 2017. Công ty đầu tư cho tài sản cố định trong việc đầu tư cho đội tàu vận tải, vật kiến trúc cũng như mua sắm sửa chữa máy móc, trang thiết bị khác.
Tuy nhiên việc phân tích tình hình tài sản theo chiều ngang chỉ cho ta thấy biến động của các chỉ tiêu qua các năm mà chưa thấy được tỷ trọng tăng lên hay giảm đi của các chỉ tiêu chiếm trong tổng tài sản. Do vậy để phân tích kỹ hơn về cơ cấu tài sản ta cần phân tích cơ cấu tài sản theo chiều dọc.
Biểu đồ 2.1: Biến động của Tài sản theo thời gian
Nhận xét:
Qua bảng phân tích trên ta thấy trong tổng tài sản của công ty thì tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với tài sản dài hạn. Cụ thể như sau: năm 2016 tài sản ngắn hạn chiếm 24,5%, tài sản dài hạn chiếm 75,5% trong tổng tài sản; năm 2017 tài sản ngắn hạn chiếm 21,5%, tài sản dài hạn chiếm 78,5% trong tổng tài sản; năm 2018 tài sản ngắn hạn chiếm 23,3%, tài sản dài hạn chiếm 76,7% trong tổng tài sản. Có thể thấy tài sản ngắn hạn năm 2018 đã tăng lên so với cả hai năm 2016 và năm 2017, tăng khá đồng đều nhưng tốc độ tăng tương đối chậm và tài sản dài hạn dù có sự giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Điều này là hợp lý với một công ty vận tải biển như Công ty TNHH và thương mại vận tải biển Thành Đạt, khi luôn phải đầu tư vào tàu biển, cũng như tăng cường hoạt động bảo dưỡng và sửa chữa máy móc trang thiết bị, đoàn phương tiện vận tải cũ nhằm nâng cao năng lực hoạt động cho công ty. Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành Đạt
Trong tài sản ngắn hạn:
- Vốn bằng tiền chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tài sản ngắn hạn. Năm 2016 chiếm 9,2% trong tổng tài sản, năm 2017 chiếm 9,5% trong tổng tài sản và giảm xuống còn chiếm 8,9% trong tổng tài sản vào năm 2018. Vì kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển nên công ty cần một khoản tiền sẵn có nhất định để có thể ứng phó kịp thời khi những sự cố xảy ra đối với các bến bãi, nhà xưởng, trang thiết bị và cả cho việc dự trữ cho hoạt động thanh toán của mình.
- Các khoản phải thu ngắn hạn cũng chiếm phần không nhỏ trong tài sản ngắn hạn. Năm 2016 khoản phải thu chiếm 8% trong tổng tsfi sản, năm 2017 giảm xuống còn 4,3% trong tổng tài sản và đến năm 2018 tỷ trọng là 5,5% trong tổng tài sản. Như vậy ta thấy tỷ trọng các khoản phải thu là không đồng đều qua các năm, chủ yếu là do phải thu của khách hàng tăng lên. Vì vậy công ty cần tìm hiểu và nâng cao khả năng thu hồi nợ của mình, tránh việc bị gặp khó khăn khi khách hàng chiếm dụng vốn quá lâu.
- Hàng tồn kho tăng về giá trị tuyệt đối (năm 2016: 29.641 triệu đồng, năm 2107: 35.737 triệu đồng, năm 2108: 44.428 triệu đồng), nhưng giá trị tỷ trọng trong hai năm 2017 (7,0% trong tổng tài sản) và năm 2018 (5,1% trong tổng tài sản) lại có sự giảm so với năm 2016 (6,4% trong tổng tài sản). Công ty vẫn đang xử lý quay vòng được hàng tồn kho, không để ứ đọng quá nhiều nhưng cũng không gây ra khó khăn khi không đủ hàng tồn kho để duy trì sản xuất.
Tài sản ngắn hạn tăng về tỷ trọng trong tổng tài sản đã khiến cho tài sản dài hạn, chủ yếu là tài sản cố định giảm nhẹ về tỷ trọng trong tổng tài sản. Năm 2016 tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng 75,5% trong tổng tài sản, năm 2017 chiếm 78,5% trong tổng tài sản và giảm còn chiếm 76,7% trong tổng tài sản vào năm 2018. Tuy nhiên giá trị đầu tư của tài sản cố định vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của công ty và chủ yếu là các phương tiện vận tải, vận chuyển và các máy móc trang thiết bị. Vì sự tăng lên hoặc giảm đi của tài sản cố định về cả giá trị tuyệt đối lẫn tỷ trọng là cùng chiều qua các năm nên chứng tỏ công ty vừa mua thêm tài sản cố định mới vừa bảo dưỡng và sửa chữa tài sản cũ.
Nhận xét:
Qua bảng phân tích trên ta thấy tổng nguồn vốn của công ty năm 2017 tăng so với năm 2016 là 283.088 triệu đồng (tăng 66,9%); năm 2018 giảm so với năm 2017 là 10.009 triệu đồng (tương ứng với tỷ lệ giảm 1,4%). Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của tổng nguồn vốn là do nợ phải trả và vốn chủ sở hữu đồng thời tăng vào năm 2017 và giảm vào năm 2018.
Nợ phải trả là số tiền nợ các cá nhân hay công ty khác, khi họ đã bán hàng hóa, dịch vụ, nguyên liệu cho doanh nghiệp nhưng chưa thanh toán vì đã mua chúng dưới hình thức tín dụng thương mại. Nợ phải trả của công ty TNHH thương mại vận tải biển Thành Đạt năm 2017 tăng 181.276 triệu đồng (tăng 82,1%) chủ yếu do nợ ngắn hạn và nợ dài hạn tăng; năm 2018 giảm 6.948 triệu đồng so với năm 2017 (tương ứng với 1,7%) chủ yếu do nợ dài hạn giảm.
- Nợ ngắn hạn tăng do vay nợ ngắn hạn và phải trả người bán tăng. Vay và nợ ngắn hạn dùng để phản ánh các khoản tiền vay, nợ thuê tài chính và tình hình thanh toán các khoản tiền vay, nợ thuê tài chính của doanh nghiệp trong vòng 12 tháng.
- Phải trả người bán tăng chứng tỏ công ty năm 2018 nợ một khoản tiền tương đối lớn trong khoản mục này.
- Khoản mục người mua trả tiền trước biến động trong ba năm, cụ thể năm 2017 khoản thu này tăng đột biến 2.100 triệu đồng (tương ứng 149,9%) cho thấy công ty đã chiếm được lòng tin của khách hàng, khiến khách hàng đặt thêm nhiều hàng hóa hơn. Người mua trả tiền trước là khoản tiền mà công ty chiếm dụng của khách hàng mà không phải trả chi phí sử dụng, không những giảm rủi ro trong việc thu tiền từ người mua mà còn cho công ty một lượng tiền ngay để có thể sử dụng ngay vào việc sản xuất.
- Ngoài ra, phải trả người lao động vào năm 2017 tăng cao thêm 2.330 triệu đồng (tăng 97,7%), phải trả người lao động quá lớn cho thấy rằng công ty đang còn nợ lương công nhân viên và điều đó là điều thực sự cần phải xem xét. Nhưng đến năm 2018, phải trả người lao động giảm được 2.610 triệu đồng (tương đương 55,4%), trở về mức ổn định so với năm 2016; việc hoàn trả nợ lương là việc làm hết sức đúng đắn, vừa thể hiện sự quan tâm của ban lãnh đạo đến đời sống người lao động, vừa tạo động lực để nâng cao năng suất lao động. Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành Đạt
Vốn chủ sở hữu là một số liệu quan trọng phản ánh khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp; với công ty TNHH, vốn chủ sở hữu là vốn được hình thành do các thành viên tham gia thành lập công ty đóng góp, do đó các thành viên này chính là chủ sở hữu vốn. Vốn chủ sở hữu của công ty năm 2017 tăng so với năm 2016 là 101.812 triệu đồng (tương đương với 50,4%), năm 2018 giảm 3.061 triệu đồng (tương đương 1%) so với năm 2017. Sự giảm này là không đáng kể nên nhìn chung vốn chủ sở hữu tăng, chủ yếu do vốn đầu tư của chủ sở hữu tăng. Bên cạnh đó thì nguồn kinh phí khác cũng tăng lên nhanh, năm 2017 tăng 187,7% so với năm 2016, năm 2018 tăng 9,1% so với năm 2017; nguồn kinh phí khác tăng là do quỹ khen thưởng, phúc lợi tăng. Điều này chứng tỏ công ty luôn luôn quan tâm và nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên.
Có thể thấy giai đoạn năm 2017 Công ty TNHH thương mại vận tải biển Thành Đạt khá bất ổn về nguồn vốn. Công ty có những khoản nợ mới gia tăng trong năm này nhưng đồng thời cũng có sự đầu tư mạnh, chứng tỏ công ty có sự phát triển đột phá trong năm 2017. Đến năm 2018, các khoản nợ vay của công ty giảm, nguồn vốn đầu tư có sự giảm nhẹ nhưng nhìn chung vẫn đạt mức đầu tư ổn định với năm 2017.
Biểu đồ 2.2: Biến động của Nguồn vốn theo thời gian
Nợ phải trả năm 2016 chiếm 52,2% và vốn chủ sở hữu chiếm 47,8% trong tổng nguồn vốn. Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu năm 2017 và năm 2018 thay đổi ít. Năm 2017 và năm 2018 nợ phải trả thay đổi không đáng kể, lần lượt là 56,9% và 56,8%; vốn chủ sở hữu lần lượt chiếm 43,1% và 43,2% trong tổng nguồn vốn. Đây là một biểu hiện tốt cho công ty vì chứng tỏ tình hình tài chính của công ty trong mức ổn định, nhất là hai năm 2017 và 2018. Công ty đã chủ động nhiều hơn ttrong việc đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh và rủi ro về tài chính của công ty cũng đang giảm đi.
Lợi nhuận tăng qua các năm, cụ thể năm 2017 lợi nhuận tăng 92.973 triệu đồng (tăng 22.6%) so với năm 2016, năm 2018 lợi nhuận tăng 3.097 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 2.2% so với năm 2017. Điều này cho ta thấy năm 2018 vừa qua doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả.
Lợi nhuận tăng chủ yếu là do doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng. Năm 2017 tăng so với năm 2016 là 186.627 triệu đồng (từ 460.576 triệu đồng lên 647.203 triệu đồng), tương ứng với tỷ lệ tăng 40,5%; năm 2018 tăng so với năm 2017 là 252.308 triệu đồng (từ 647.203 triệu đồng lên 899.511 triệu đồng), tương ứng với tỷ lệ tăng là 39,0%.
Bên cạnh đó giá vốn hàng bán cũng tăng. Năm 2017 giá vốn hàng bán tăng so với năm 2016 là 93.654 triệu đồng (tăng 22,6%); năm 2018 giá vốn hàng bán tăng so với năm 2017 là 249.211 triệu đồng (tăng 49,0%). Giá vốn hàng bán tăng lên là do sự tăng của giá vốn dịch vụ đã cung cấp, điều này cho thấy hoạt động kinh doanh của công ty có hiệu quả và tiến hành mở rộng thị trường hơn, có nhiều khách hàng hơn. Nguyên nhân là do giá nguyên vật liệu tăng lên, mặt khác do doanh thu tăng cũng làm cho giá vốn hàng bán tăng lên theo.
Ngoài ra chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty cũng tăng lên. Năm 2016 chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty là 21.861 triệu đồng, chỉ số này tăng lên thành 25.861 triệu đồng vào năm 2017 (tương đương tăng 18,3%) và tăng lên đến giá trị 40.778 triệu đồng vào năm 2018 (tăng 57,7% so với năm 2017). Điều này cho thấy công ty chưa quản lý tốt chi phí quản lý doanh nghiệp của mình, ngoài ra còn do chi phí tiền lương chiếm một phần trong chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty.
Chi phí tài chính năm 2018 tăng so với các năm về trước. Cụ thể, năm 2017 chi phí tài chính tăng 3.938 triệu đồng (tương đương 72,5%) so với năm 2016, năm 2018 tăng 7.377 triệu đồng (tăng 78,7%) so với năm 2017. Chi phí tài chính tăng chủ yếu do chi phí lãi vay tăng. Tuy nhiên con số này chỉ góp một phần tương đối nhỏ vào tổng chi phí của công ty.
Chi phí bán hàng của công ty có xu hướng tăng nhanh trong năm 2017. Năm 2017 chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 5.775 triệu đồng (tương ứng 118,8%) so với năm 2016, nhưng đến năm 2018 thì chi phí quản lý doanh nghiệp lại giảm 4.485 triệu đồng (giảm 42,2%) so với năm 2017. Dù cho doanh thu của công ty tăng cao vào năm 2018 cũng sẽ kéo theo các chi phí tăng theo nhưng chi phí bán hàng tăng đột biến cũng là một điểm công ty cần lưu ý.
Nhận xét:
Qua bảng phân tích trên ta thấy giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng lớn nhất trong doanh thu thuần và có xu hướng tăng lên từ năm 2017 đến năm 2018. Cụ thể năm 2016 giá vốn hàng bán chiếm 90,1%, năm 2017 giá vốn hàng bán chiếm 78,6% và năm 2018 là 84,2%. Năm 2017 tỷ trọng này đã giảm xuống so với 2016 điều này thể hiện một hiệu quả quản lý tốt trong nỗ lực giảm chi phí của công ty. Năm 2018 tỷ trọng giá vốn trên doanh thu tăng từ 78,6% lên 84,2% làm cho lợi nhuận giảm, nguyên nhân là do giá nguyên vật liệu và chi phí nhân công đều tăng.
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của công ty năm 2017 chiếm 15,6% trong tổng tỷ trọng của doanh thu thuần, nhưng đến năm 2018 tỷ trọng này giảm xuống còn 10,7%. Điều này cho thấy năm 2018 công ty kinh doanh không hiệu quả, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh có xu hướng giảm đi gây lỗ cho công ty. Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành Đạt
Bảng 2.7: Bảng cân đối giữa Tài sản và Nguồn vốn
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn
Nhận xét:
Nhìn vào bảng số liệu cho thấy, Công ty TNHH Thương mại vận tải biển Thành Đạt chủ yếu đầu tư vốn vào tài sản dài hạn, trong 3 năm đều chiếm tỷ lệ từ 76% đến 79%. Trong khi đó tài sản ngắn hạn chỉ chiếm tỷ lệ không cố định dao động từ 21% đến 25% và có xu hướng giảm dần. Điều này là phù hợp với loại hình công ty vận tải biển cần nguồn đầu tư lâu dài cho tàu và các cơ sở vật chất như bến bãi, nhà xưởng. Các nguồn đầu tư ngắn hạn chủ yếu sẽ được sử dụng cho máy móc, trang thiết bị khác và khoản phải trả cho công nhân viên.
Đầu tư dài hạn là hình thức đầu tư vào một lĩnh vực nào đó trong khoảng thời gian kéo dài nhiều năm (thông thường từ 3 năm trở lên), đầu tư dài hạn giúp các nhà đầu tư tránh được nhiều biến động từ thị trường ngắn hạn. Nhìn chung tài sản dài hạn của Công ty TNHH thương mại vận tải biển Thành Đạt được đầu tư phần lớn nhờ vốn dài hạn và một phần nhỏ từ vốn ngắn hạn. Việc dùng vốn dài hạn đầu tư cho tài sản dài hạn của công ty là rất có lợi, vì nếu sử dụng nguồn vốn vay ngắn hạn để đi đầu tư cho tài sản dài hạn sẽ tạo ra áp lực thanh toán lớn hơn rất nhiều cho công ty vì thời gian đáo hạn ngắn và lãi suất cao hơn, từ đó gây ra rủi ro về mặt thanh toán rất lớn.
Bảng 2.8: Vốn lưu động ròng
Vốn lưu động ròng:
- VLĐR năm 2016 = -22.218 triệu đồng < 0
- VLĐR năm 2017 = -47.211 triệu đồng < 0
- VLĐR năm 2018 = -47.627 triệu đồng < 0
Vốn lưu động ròng âm thể hiện công ty đã sử dụng một phần nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn, điều này thể hiện sự mất cân đối tài chính do tài sản dài hạn có thời gian thu hồi vốn lâu dài trong khi các khoản nợ ngắn hạn sẽ phải đáo hạn trong thời gian ngắn, tức là sự mất cân đối giữa kỳ hạn của tài sản và kỳ hạn của nguồn nợ vay. Vốn lưu động ròng âm đẩy công ty vào tình trạng thường xuyên phải đảo nợ ngắn hạn (vay nợ mới trả nợ cũ) tạo ra tình trạng căng thẳng tài chính và nếu thị trường tài chính bị đóng băng, ngân hàng từ chối cho vay thì điều này sẽ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp cạn kiệt tiền mặt và có thể phải dừng hoạt động do thiếu vốn lưu động.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
2.2.2. Phân tích các nhóm chỉ số tài chính Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành Đạt
2.2.2.1. Phân tích các hệ số về khả năng thanh toán
Nhận xét: Từ bảng biểu 2.9: Các hệ số khả năng thanh toán ta nhận thấy
- Khả năng thanh toán tổng quát của công ty qua 3 năm lại giảm dần. Cụ thể năm 2017 chỉ số này bằng 1,756 lần, giảm 0,16 lần (tương ứng 8,3%) so với năm 2016. Khả năng thanh toán tổng quát của năm 2018 bằng khả năng thanh toán tổng quát của năm 2017, như vậy tổng giá trị tài sản của công ty đủ để thanh toán các khoản nợ hiện tại của công ty.
- Khả năng thanh toán hiện thời của công ty giảm dần, năm 2017 chỉ số này là 0,763 lần, giảm 0,06 lần (tương ứng 7,4%) so với năm 2016. Năm 2018 chỉ số này là 0,773 tăng 0,01 lần (tương ứng 1,3%) so với năm 2016.
Điều này cho thấy việc thanh toán công nợ của công ty vẫn gặp nhiều khó khăn do vòng quay vốn chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Khả năng chi trả các khoản nợ của công ty không tốt do các khoản nợ của công ty lớn hơn nhiều so với tài sản hiện có.
Chỉ số khả năng thanh toán hiện thời của công ty bằng 1 là lí tưởng nhất. Chỉ số khả năng thanh toán nhanh của công ty trong 3 năm đều nhỏ hơn 1. Cụ thể năm 2017 là 0.43 lần, giảm 0,111 lần (tương ứng 34,6%) so với năm 2016. Năm 2018 chỉ số này là 0,378, giảm 0,052 lần (tương ứng 12,1%) so với năm 2017. Tỷ lệ tăng của các khoản nợ thấp hơn so với tỷ lệ tăng của tổng tài sản. Nhưng thực tế lại chứng minh điều ngược lại. Các khoản nợ của công ty rất lớn trong khi đó tài sản của công ty không đáng kể để đảm bảo cho các khoản vay đó.
Bảng 2.9: Các hệ số về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán lãi vay của công ty năm 2017 là 14,4 lần, tăng 10,2 lần (tương ứng 243,6%) so với năm 2016. Năm 2018 là 7,1 lần, giảm 7,3 lần (tương ứng 50,7%) so với năm 2017.
Cả 3 năm vốn vay của công ty đã được sử dụng hợp lý, đem lại 1 khoản lợi nhuận lớn và thừa đủ để bù đắp lãi vay.
Nguyên nhân sự tăng lên của chỉ tiêu này là do khoản mục tiền và tương đương tiền cuối năm 2017 đã tăng chủ yếu là do công ty đã thu hồi được một lượng lớn nợ của khách hàng. Mặt khác tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn năm 2018 so với năm 2017 tăng trong khi đó tốc độ tăng của nợ ngắn hạn giảm. Tuy hệ số này cuối năm 2018 đã tăng so với cuối năm 2017 nhưng hệ số thanh toán hiện thời của công ty còn thấp, công ty cần quan tâm và có biện pháp để cải thiện hệ số này.
2.2.2.2. Phân tích các chỉ số về hoạt động Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành Đạt
Nhận xét: Qua bảng phân tích các chỉ số về hoạt động ta thấy:
Số vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho:
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản lý hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Số vòng quay hàng tồn kho là một chỉ tiêu khá quan trọng trong việc đánh giá tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất cho đến khi tiêu thụ sản phẩm. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao thì thời gian luân chuyển một vòng càng ngắn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều khả năng giải phóng hàng tồn kho, tăng khả năng thanh toán.
Số vòng quay hàng tồn kho của công ty năm 2018 tăng so với năm 2017, năm 2017 công ty có 15,6 vòng quay hàng tồn kho và đến năm 2018 tăng lên là 18,9 vòng. Việc hàng tồn kho quay được nhiều vòng trong kỳ rất tốt, bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao.
Từ việc xác định số vòng quay hàng tồn kho ta có thể tính được số ngày một vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho. Số vòng quay hàng tồn kho tăng làm cho số ngày một vòng quay hàng tồn kho giảm đi, năm 2017 số ngày một vòng quay hàng tồn kho là 23,1 ngày thì năm 2018 giảm xuống còn 19 ngày. Đây là một biểu hiện tốt chứng tỏ khả năng giải quyết hàng tồn kho của công ty năm 2018 đã nhanh hơn so với năm 2017.
Số vòng quay khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân:
Đây là một chỉ số cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp áp dụng đối với các bạn hàng, chỉ số vòng quay càng cao sẽ cho thấy doanh nghiệp được khách hàng trả nợ càng nhanh. Năm 2017 số vòng quay khoản phải thu là 20,1 vòng, năm 2018 số vòng quay khoản phải thu tăng lên 26,1 vòng.
Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ. Cụ thể năm 2017 cứ 17,9 ngày công ty thu được các khoản phải thu, và đến năm 2018 thì công ty cứ 13,8 ngày là thu được khoản phải thu của khách hàng.
Vòng quay vốn lưu động và số ngày một vòng quay vốn lưu động: Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành Đạt
Vòng quay vốn lưu động là số ngày hoàn thành chu kỳ kinh doanh của một doanh nghiệp, chỉ số vòng quay vốn lưu động đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả trong kinh doanh; đối với chỉ số vòng quay vốn lưu động càng lớn thì càng tốt vì nó là con số chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng vốn lưu động tốt. Năm 2017 vòng quay vốn lưu động là 5,06 vòng tức là bình quân 1 đồng vốn lưu động bình quân đưa vào sản xuất kinh doanh thì thu về 5,06 đồng doanh thu thuần ứng với số ngày một vòng quay vốn lưu động là 71,1 ngày; tới năm 2018 vòng quay vốn lưu động tăng lên 5,73 vòng tức là bình quân 1 đồng vốn lưu động bình quân bỏ ra thì thu về 5,73 đồng doanh thu thuần làm cho số ngày một vòng quay vốn lưu động giảm xuống còn 62,8 ngày. Nguyên nhân là do doanh thu thuần của công ty có tốc độ tăng nhanh hơn vốn lưu động bình quân, trong khi doanh thu thuần tăng được 39% thì vốn lưu động bình quân chỉ tăng được 22,8%.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
Hiệu suất sử dụng vốn cố định của công ty đã tăng lên. Năm 2017 hiệu suất sử dụng vốn cố định của công ty là 1,482 tức là 1 đồng vốn cố định bình quân bỏ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được 1,482 đồng doanh thu thuần; năm 2018 hiệu suất sử dụng vốn cố định đã tăng lên 1,653 tức là cứ 1 đồng vốn cố định bỏ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra 1,653 đồng doanh thu thuần. Điều đó chứng tỏ công ty ngày càng sử dụng vốn cố định hiệu quả hơn.
Vòng quay toàn bộ vốn:
Vòng quay toàn bộ vốn phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được bao nhiêu vòng, qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệp hoặc doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư. Vòng quay càng lớn thể hiện hiệu quả càng cao. Năm 2017 vòng quay toàn bộ vốn là 1,147 vòng tức là trung bình cứ 1 đồng vốn kinh doanh bình quân bo vào sản xuất kinh doanh thi thu được 1,147 đồng doanh thu thuần và đến năm 2018 đã thu tăng lên thành 1,283 đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân là do doanh thu thuần của công ty tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng của vốn kinh doanh bình quân, doanh thu thuần tăng 39% trong khi vốn kinh doanh bình quân chỉ tăng được 24,2%.
2.2.2.3. Phân tích các hệ số cơ cấu tài sản, nguồn vốn và tình hình đầu tư Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành Đạt
Bảng 2.11: Bảng phân tích các hệ số về cơ cấu tài sản, nguồn vốn và tình hình đầu tư
- Hệ số nợ của công ty: năm 2016 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,522 đồng vay nợ, năm 2017 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,569 đồng vay nợ, năm 2018 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,568 đồng đi vay. Việc hệ số nợ tăng lên và gần như giữ nguyên trong hai năm 2017 và 2018 dẫn đến kết quả tất yếu là tỷ số tự tài trợ của công ty sẽ giảm đi, hay nói cách khác là công ty không sử dụng vốn tự có của mình được và công ty còn phải phụ thuộc vào các chủ nợ, chịu ít sức ép từ các khoản nợ vay và rủi ro tài chính cũng đáng lo ngại.
- Tỷ suất tự tài trợ: trong năm 2016 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,478 đồng là vốn chủ sở hữu, năm 2017 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,431 đồng là vốn chủ sở hữu, năm 2018 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,432 đồng là vốn chủ sở hữu. Kết quả này cho thấy mức độ độc lập về tài chính của công ty còn thấp và cũng cho thấy khả năng chiếm dụng vốn của công ty thấp.
- Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn: tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn của công ty năm 2016 trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,245 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn, có xu hướng giảm vào năm 2017 (giảm 12,3% so với năm 2016, trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,215 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn) và tăng vào năm 2018 (tăng 8,2% so với năm 2017, trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,233 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn). Như vậy mức độ quan trọng của tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản mà công ty sử dụng đã tăng lên trong giai đoạn năm 2018. Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành Đạt
- Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn: tỷ suất đầu tư vào tài sản ngược chiều với tỷ suất đầu tư tài sản ngắn hạn, năm 2016 cứ 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,755 đồng đầu tư vào tài sản dài hạn, cũng có nghĩa vào năm 2017 tỷ suất đầu tư vào tài sản của công ty tăng so với năm 2016 (tăng 4,0%, cứ 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,785 đồng đầu tư vào tài sản dài hạn), và năm 2018 tỷ suất này giảm đi 2,2% so với năm 2017 (cứ 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,767 đồng đầu tư vào tài sản dài hạn).
- Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn: tỷ suất tự tài trợ của công ty có xu hướng giảm vào năm 2017 nhưng lại tăng lên vào năm 2018, tỷ suất nầy cho biết năm 2016 cứ 1 đồng vốn đầu tư cho tài sản dài hạn thì có 0,633 đồng là vốn chủ sở hữu, năm 2017 cứ 1 đồng đầu tư cho tài sản dài hạn thì có 0,549 đồng là của vốn chủ sở hữu, năm 2018 đã tăng lên 0,563 đồng. Năm 2018 mặc dù đầu tư vào tài sản dài hạn bị giảm xuống 0,036 lần nhưng do nguồn vốn chủ sở hữu chỉ giảm 1% nên tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn vẫn tăng so với năm 2017. Điều đó cho thấy phần lớn tài sản của công ty đều được đầu tư từ vốn tự có của doanh nghiệp.
Nhìn chung cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty là hợp lý vì công ty đang hoạt động trong lĩnh vực vận tải và dịch vụ thương mại. Vì vậy tài sản dài hạn luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản và được đầu tư phần lớn từ vốn chủ sở hữu. Tài sản dài hạn đó là vật kiến trúc, kho bến bãi, phương tiện vận tải. Còn tài sản ngắn hạn chủ yếu là tiền và các khoản phải thu để phục vụ ngày càng tốt trong quá trình giao dịch với các bạn hàng.
2.2.2.4. Phân tích chỉ số sinh lời
Nhận xét: Từ Bảng 2.12 ta thấy:
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu có xu hướng giảm. Năm 2017 cứ 1 đồng doanh thu thì có 0,157 đồng lợi nhuận trước thuế và tạo ra 0,123 đồng lợi nhuận sau thuế, sang năm 2018 cứ 1 đồng doanh thu thì tạo ra 0,091 đồng lợi nhuận trước thuế và tạo ra 0,085 đồng lợi nhuận sau thuế. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của doanh thu thuần nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ tăng của lợi nhuận trước thuế cũng như lợi nhuận sau thuế. Cụ thể năm 2018 doanh thu thuần tăng 39% so với năm 2017, mà lợi nhuận trước thuế lại giảm 19,9% và lợi nhuận sau thuế giảm 4,4% so với năm 2017. Điều này chứng tỏ công ty hoạt động chưa hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành
Bảng 2.12: Phân tích chỉ số sinh lời
Tỷ suất sinh lời của tài sản: năm 2017 là 11,3% và năm 2018 tỷ suất sinh lời là 10,9% (giảm 0,3% so với năm 2017). Năm 2017 bình quân cứ 1 đồng giá trị tài sản làm ra 0,113 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, năm 2018 bình quân cứ 1 đồng giá trị tài sản chỉ còn làm ra được 0,109 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Như vậy công ty đã sử dụng tài sản ngày càng không hiệu quả.
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh bình quân: năm 2017 bình quân cứ 1 đồng vốn kinh doanh bình quân đưa vào sản xuất kinh doanh thì đem lại cho công ty 0,18 đồng lợi nhuận trước thuế và 0,141 đồng lợi nhuận sau thuế, đến năm 2018 cứ 1 đồng vốn kinh doanh đem lại 0,116 đồng lợi nhuận trước thuế và 0,109 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy lợi nhuận trước thuế và sau thuế của công ty bị giảm qua các năm, mặc dù doanh thu tăng nhưng lợi nhuận lại giảm do công ty đang trong giai đoạn phát triển nên các chi phí tăng cao hơn so với tỷ lệ tăng doanh thu. Đôi khi công ty phải hi sinh lợi nhuận trước mắt để nhắm đến mục tiêu dài hạn.
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu có xu hướng giảm. Năm 2017 cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu bình quân đưa vào sản xuất kinh doanh đã tạo ra được 0,262 đồng lợi nhuận sau thuế, nhưng năm 2018 chỉ tạo ra được 0,253 đồng lợi nhuận sau thuế. ROE thể hiện mức độ hiệu quả khi sử dụng vốn của doanh nghiệp. Mặc dù tỷ suất ROE giảm nhưng vẫn duy trì được mức trên 15% trong 3 năm thì công ty vẫn được đánh giá là làm ăn hiệu quả. Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu giảm là do vốn chủ sở hữu của công ty có tốc độ giảm chậm hơn mức giảm của lợi nhuận sau thuế, cụ thể vốn chủ sở hữu bình quân năm 2018 chỉ giảm 1% so với năm 2017 nhưng lợi nhuận sau thuế năm 2018 lại giảm 4,4% so với năm 2017.
2.2.2.5. Tổng hợp các chỉ số phân tích tài chính cơ bản
Qua phân tích các chỉ số tài chính cho thấy Công ty TNHH thương mại vận tải biển Thành Đạt hoạt động có hiệu quả, có tiềm năng phát triển. Tuy nhiên có một số hạn chế về tiềm lực tài chính và đang tồn tại những nguy cơ tiềm ẩn. Rủi ro ở mức trung bình, khả năng tự chủ tài chính chưa cao, các khoản bán chịu thu hồi chậm gây ra khả năng thanh toán các khoản nợ còn thấp. Hệ số nợ cao dẫn đến rủi ro khả năng chi trả yếu. Công ty cần có chính sách quản lý các khoản thu hồi chặt chẽ, đồng thời chú trọng điều hòa nguồn vốn hợp lý để giảm bớt rủi ro về khả năng chi trả các khoản vay nợ.
2.2.3. Phương trình phân tích Dupont Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành Đạt
Bản chất của phương pháp Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của các chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp.
Phương pháp Dupont dựa trên cơ sở kiểm soát các chỉ tiêu phân tích tài chính khá là phức tạp.
Với mỗi chỉ tiêu lại phản ánh mối quan hệ tài chính dưới dạng các tỷ số. Mỗi tỷ số tài chính lại chịu ảnh hưởng từ các quan hệ tài chính của doanh nghiệp với các bên có liên quan.
Dựa vào đó, việc thiết lập các mối quan hệ của mỗi tỷ số tài chính cùng các nhân tố ảnh hưởng cần theo một trình tự logic chặt chẽ. Cần nhìn nhận rõ ràng hơn các hoạt động tài chính doanh nghiệp. Việc tác động vào các nhân tố cũng cần thực hiện sao cho hiệu quả và hợp lý nhất.
Trước hết ta xem xét mối quan hệ tương tác giữa tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) với tỷ số doanh lợi tài sản (ROA)
ROA2017 = 12,32% × 0,918 = 11,3%
ROA2018 = 8,5% × 1,292 = 10,9%
Tỷ số ROA cho thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản phụ thuộc vào hai yếu tố:
- Thu nhập ròng của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu
- Một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
- Doanh lợi tài sản của công ty năm 2018 thấp hơn năm 2017, cho thấy năm 2018 công ty đã sử dụng tài sản kém hiệu quả hơn so với năm 2017. Từ đẳng thức trên ta thấy bình quân cứ đưa ra 100 đồng giá trị tài sản vào sử dụng trong năm 2017 tạo ra được 11,3 đồng lợi nhuận sau thuế và đến năm 2018 giảm xuống còn 10,9 đồng.
- Có hai hướng để có thể tăng chỉ số ROA là tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế/doanh thu thuần (ROS) hoặc tăng vòng quay vốn kinh doanh:
- Tăng ROS bằng cách tiết kiệm chi phí.
- Tăng vòng quay vốn kinh doanh bằng cách tăng doanh thu và giảm giá bán, cùng với tăng cường các hoạt động xúc tiến bán hàng.
Tiếp theo, ta xem xét tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (ROE):
Lợi nhuận sau thuế
ROE = Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu.
Nếu tài sản của doanh nghiệp chỉ được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thì doanh lợi vốn và doanh lợi vốn chủ sở hữu bằng nhau vì khi đó Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn.
Nếu doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho các tài sản của mình thì ta có mối liên hệ giữa ROA và ROE:
Tổng tài sản
ROE = Vốn chủ sở hữu × ROA
Kết hợp (1) & (3) ta có:
ROE2018 = 8,5% × 1,292 × 1 – 56,8% = 25,3%
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ năm 2018 giảm xuống so với năm 2017 chủ yếu là do tỷ suất doanh lợi trên doanh thu của năm 2018 bị giảm còn 8,5%. Ta thấy bình quân 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ vào kinh doanh thì năm 2017 tạo ra được 26,2 đồng lợi nhuận sau thuế và năm 2018 tạo ra được 25,3 đồng lợi nhuận sau thuế.
- Có hai hướng để có thể giúp công ty tăng ROE: tăng ROA hoặc tăng tỷ số tổng tài sản/vốn chủ sở hữu:
- Tăng ROA như phương pháp đã nêu trên.
- Tăng tỷ số tổng tài sản/vốn chủ sở hữu bằng cách giảm vốn chủ sở hữu và tăng nợ. Ta thấy tỷ số nợ càng cao thì lợi nhuận của vốn chủ sở hữu càng cao. Tuy nhiên khi tỷ số nợ tăng thì rủi ro cũng sẽ tăng theo do đó nên công ty sẽ phải hết sức thận trọng khi sử dụng nợ.
Với Rd = Nợ / Tổng tài sản là hệ số nợ và phương trình này gọi là phương trình Dupont mở rộng thể hiện sự phụ thuộc của doanh lợi vốn chủ sở hữu vào doanh lợi tiêu thụ, vòng quay toàn bộ vốn và hệ số nợ.
Từ đây ta thấy sử dụng nợ có tác dụng khuyếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu nếu doanh nghiệp có lợi nhuận trong kỳ, hệ số nợ càng lớn thì lợi nhuận càng cao và ngược lại, nếu doanh nghiệp đang bị lỗ thì sử dụng nợ càng tăng số lỗ. Khóa luận: Thực trạng về tài chính của Công ty Thành Đạt
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Biện pháp cải thiện tài chính tại Cty Thành Đạt

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan chung về Công ty TNHH Thành Đạt