Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Định hướng chung nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh tại Việt Nam trong những năm tới
3.1.1. Triển khai thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng về định hướng phát triển kinh tế đất nước trong những năm tới
- Quan điểm của Đảng về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội Đảng lần thứ IX chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và khái quát những nhân tố cấu thành cơ bản của nó. Đại hội Đảng lần thứ XI đã làm rõ thêm nội dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Theo đó “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”. Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực.
Cụ thể hóa quan điểm và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung ương 6 khóa X đã ra Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 30-01-2008, về “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết đã xác định mục tiêu, quan điểm, chủ trương và giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến năm 2020.
Nghị quyết xác định, mục tiêu chung của việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường, nhằm: thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế thành công, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Các quan điểm chủ đạo cũng đã được khẳng định như: Nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế; bảo đảm tính đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế; giữa các yếu tố thị trường và các loại thị trường; giữa thể chế kinh tế với thể chế chính trị, xã hội; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Đến Đại hội lần thứ XII, Đảng ta xác định rõ hơn yêu cầu xây dựng nền tảng pháp lý cho nền kinh tế thị trường. Theo đó, đến năm 2020, nước ta phấn đấu cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế.
Về định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở nước ta, Đại hội Đảng lần thứ XII xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế – xã hội”.
Ngày 3/6/2017, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó nêu rõ: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp luật. Khuyến khích làm giàu hợp pháp. Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.
- Nghị quyết đưa ra các giải pháp như sau: Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật. Tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế.
Hoàn thiện pháp luật về đầu tư, kinh doanh, nhất là về đầu tư công, đấu thầu. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh của các chủ thể kinh tế đã được Hiến pháp quy định; xoá bỏ các rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Hoàn thiện các quy định liên quan để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động khởi nghiệp.
Hoàn thiện thể chế về cạnh tranh; tăng cường tính minh bạch về độc quyền nhà nước. Xoá bỏ các cơ chế can thiệp hành chính trực tiếp, bao cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp; thực sự hoạt động theo cơ chế thị trường. Đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp, lâm nghiệp nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất, rừng và các tài sản nhà nước đã đầu tư; bảo đảm lợi ích của Nhà nước và các bên đang nhận khoán đất đai, vườn cây lâu năm. Tăng cường quản lý, giám sát, kiểm tra đối với hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, không để thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước.
Hoàn thiện thể chế, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đầy đủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập về phạm vi hoạt động, tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự và tài chính gắn với cơ chế đánh giá độc lập. Thực hiện xã hội hoá tối đa các dịch vụ công, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị ngoài công lập tham gia cung cấp dịch vụ công theo cơ chế thị trường.
Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ phát triển thị trường. Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của kinh tế tập thể. Tăng cường các hình thức hợp tác, liên kết, hỗ trợ cho nông dân trong sản xuất, bảo quản, chế biến, tiêu thụ nông sản; nhân rộng các mô hình tổ chức sản xuất mới, hiệu quả; phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị, kết nối với hệ thống tiêu thụ ở cả trong và ngoài nước; chuyển mạnh từ sản xuất theo hộ gia đình riêng lẻ sang mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn. Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có công nghệ hiện đại, năng lực quản trị tiên tiến. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài; chủ động lựa chọn các dự án đầu tư nước ngoài có chuyển giao công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, có cơ sở nghiên cứu và phát triển công nghệ tại Việt Nam, có cam kết liên kết, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế và các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế.
- Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Ngày 03/6/2017, thay mặt Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 12, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Quan điểm của Nghị quyết là:
Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỉ trọng đóng góp trong GDP.
Xoá bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng. Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực, nhất là phòng, chống mọi biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, quan hệ “lợi ích nhóm”, thao túng chính sách, cạnh tranh không lành mạnh để trục lợi bất chính.
Kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Phát huy phong trào khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để các hộ kinh doanh tự nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, có đủ khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu. Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Nghị quyết đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp.
Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Phấn đấu tăng tỉ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP để đến năm 2020 đạt khoảng 50%, năm 2025 khoảng 55%, đến năm 2030 khoảng 60 – 65%.
Với 4 nhóm nhiệm vụ chủ yếu: Hoàn thiện thể chế, chính sách; Bãi bỏ các rào cản, điều kiện kinh doanh không cần thiết; Tăng cường khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng và các nguồn lực; Hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân.
Đây là một chủ trương rất đúng đắn, thể hiện sự tiến bộ trong tư duy của đảng ta về đường lối phát triển kinh tế và thể hiện rất rõ trách nhiệm của Chính phủ đối với việc phát triển kinh tế tư nhân. Xét đến cùng là nhằm tạo ra sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm phóng thích sức sản xuất của xã hội; tạo ra điều kiện để phát huy tối đa tiềm năng thế mạnh của các tầng lớp dân cư, các vùng miền nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, theo tinh thần là phát huy sức mạnh toàn dân tộc để thực hiện thành công công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.
Phát triển kinh tế tư nhân thành một động lực quan trọng theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng chính là tăng thêm cơ hội để nền kinh tế nước ta bắt nhịp với sự phát triển nhanh chóng của thế giới, tạo sự kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại để phát triển đất nước trong điều kiện ngày nay. Phát triển kinh tế tư nhân là góp phần thực hiện dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, làm tăng tính năng động sáng tạo, tiếp sức cho những khát vọng làm giàu chính đáng của người dân.
Việc ban hành các nghị quyết trên không chỉ là sự thay đổi về mặt chính sách mà phải làm thế nào để nâng cao tính hành động, tính hiệu quả của chính sách trong nền kinh tế, thay đổi môi trường kinh doanh theo hướng thuận lợi hơn cho doanh nghiệp phát triển. Như vậy, với quan điểm định hướng trên, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam cũng phải được hoàn thiện để đảm bảo thể chế hóa quan điểm của Đảng trên thực tế.
3.2. Các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam những năm tới Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
3.2.1. Đảm bảo quyền tự do kinh doanh
Nhằm thực hiện tối đa hóa quyền tự do doanh theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 Đến Hiến pháp năm 2013, quyền tự do kinh doanh đã có một bước tiến mới, cởi mở hơn với nguyên tắc: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33). Quy định này hàm chứa hai ý quan trọng, đó là: mọi người có quyền tự do kinh doanh; và giới hạn của quyền tự do đó là những gì luật cấm, nói khác đi, muốn cấm cái gì, thì Nhà nước phải công bố minh thị. Căn cứ quan điểm, định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam như đã nêu trên cùng với kinh nghiệm rút ra từ các nước trên thế giới, pháp luật về doanh nghiệp phải hoàn thiện các quy định về quyền tự do kinh doanh theo hướng đảm bảo đúng theo Luật. Hiện thực hóa quyền đó, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã được xây dựng với cách tiếp cận về quyền tự do kinh doanh theo hướng đơn giản hóa điều kiện, thủ tục cấp phép, dỡ bỏ hàng loạt hạn chế, bất cập của quy định cũ, mở rộng các nhóm quyền tự quyết của doanh nghiệp. Điều 7, Luật doanh nghiệp 2014 quy định quyền của doanh nghiệp:
“Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm; Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh”.
Công dân chỉ không được phép kinh doanh những gì mà theo quy định của luật trong những trường hợp cần thiết, vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng. Trên cơ sở quy định những ngành nghề cấm kinh doanh, nhà nước đã có sự chỉ đạo chỉ có Quốc hội mới có quyền quy định về ngành nghề cấm kinh doanh. Chính phủ quy định ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Sự quy định rõ ràng danh mục, lĩnh vực, ngành nghề cấm kinh doanh và kinh doanh có điều kiện sẽ giúp các chủ thể kinh doanh khi tiến hành hoạt động kinh doanh không bị bỡ ngỡ, và chỉ kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm. Do đó, hoàn thiện pháp luật về quyền tự do kinh doanh cần phải được quy định theo hướng trong Luật, Nghị định, Thông tư về lĩnh vực, ngành, nghề, hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh một cách rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu. Mặt khác, lấy yếu tố “hiến định” là trụ cột, trung tâm để cụ thể hóa, tránh tình trạng nhiều bộ ngành, địa phương đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật dưới luật làm hạn chế, thậm chí ngăn cản hoạt động đầu tư, kinh doanh của chủ thể kinh doanh. Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Tuy nhiên hiện nay quy định các ngành nghề có điều kiện còn chưa chuẩn có thể gây ảnh hưởng quyền tự do kinh doanh. Như vậy, chưa bảo đảm thực thi quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp. Quy định bỏ đăng ký ngành nghề kinh doanh còn mâu thuẫn. Theo quy định tại khoản 3 Điều 24 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định “nội dung giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp bắt buộc phải có ngành nghề kinh doanh”, đồng thời tại điểm b khoản 1 Điều 25 nội dung điều lệ doanh nghiệp quy định ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp là nội dung bắt buộc phải có. Như vậy, liệu có phải là sự cản trở quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp quy định tại Điều 7 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 hay không? Sự trùng lắp giữa thủ tục đăng ký kinh doanh và thủ tục đăng ký đầu tư (quy định tại Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư) tạo ra tình trạng chồng chéo về thủ tục, gây phiền hà.
Quyền tự do kinh doanh theo quy định của Hiến pháp năm 2013 góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển theo đúng tinh thần “kinh tế thị trường”. Vì vậy, để quyền đó được thực thi tốt hơn, tác giả có một số giải pháp sau:
Các cơ quan quản lý nhà nước khi thực hiện hoạt động cấp phép kinh doanh một mặt phải tuân thủ Hiến pháp và Luật doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng phải tuân theo những văn bản dưới luật. Chính vì thế, các Bộ ngành, địa phương phải khi ban hành quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện cũng cần lưu ý “trong mỗi ngành, nghề kinh doanh lại có những văn bản hướng dẫn riêng”. Do vậy, trước khi cấp phép cho ngành, nghề nào đó phải có tờ trình xin ý kiến của các ngành chuyên môn về lĩnh vực đó. Các cơ quan nên có sự phối kết hợp cùng nhau để thực hiện việc cấp phép có hiệu quả, tránh để xảy ra những hậu quả đáng tiếc gây thiệt hại về người và của cho các chủ thể kinh doanh
Nhằm thực hiện quyền tự do kinh doanh, đòi hỏi nhà nước khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động kinh doanh của người dân không thể bị hạn chế ngay từ các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ, ngành hay Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Tránh để tình trạng, do nhận thức, trình độ năng lực yếu kém của cán bộ quản lý mà ảnh hưởng, giới hạn những quyền cơ bản của con người, của công dân đã được hiến định.
Phải tiếp tục tháo dỡ các rào cản từ khung pháp lý đến thể chế. Chính phủ, các bộ, ban ngành cần quyết liệt hơn cho “khai tử” hệ thống giấy phép con, giảm mệnh lệnh hành chính ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Những thủ tục xác nhận ngành nghề kinh doanh, buộc doanh nghiệp phải thông báo thay đổi ngành nghề kinh doanh, hay buộc doanh nghiệp ghi ngành nghề kinh doanh trong điều lệ doanh nghiệp nên xem xét bỏ để đảm bảo quyền tự do kinh doanh đúng tinh thần của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Nâng cao quyền tự do kinh doanh thông qua việc quy định logic hệ thống pháp luật giữa luật chung và luật luật chuyên ngành hoàn toàn biện chứng với nhau. Trong trường hợp cần thiết có thể xây dựng quy trình riêng, đặc thù với một số ngành nghề nhưng phải đảm bảo là không được trái luật chung.
Để thực hiện giải pháp trên, Chính phủ cần có những chỉ đạo cụ thể, quyết liệt hơn nữa với các Bộ, ban, ngành có liên quan, đặc biệt là Bộ Kế hoạch và đầu tư trong việc rà soát, cắt giảm các thủ tục hành chính, giấy phép con gây phiền hà, ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế.
Việc sửa đổi bổ sung Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2015 là một trong những tiến bộ của văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh, nhưng cũng đòi hỏi khi đã có chủ trương thì thực thi làm sao có hiệu quả và đảm bảo đúng theo tinh thần của Hiến pháp và Luật là một thách thức không chỉ đối với cơ quan quản lý nhà nước và đối với mỗi chủ thể kinh doanh phải có ý thức thực hiên thật tốt. Điều này không chỉ giúp quy định của Hiến pháp năm 2013 được thi hành, mà còn giúp tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho các cá nhân, tập thể và doanh nghiệp.
3.2.2. Đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và bình đẳng Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Một môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng là môi trường mà ở đó mọi chủ trương, chính sách phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp với thực tế phát triển kinh tế của đất nước. Căn cứ đề xuất giải pháp xuất phát trong các Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và bình đẳng.
Tại Điều 5, Luật doanh nghiệp 2014 quy định: “Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật này; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh”.
- Do đó, pháp luật về doanh nghiệp phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật để thu hút các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh đòi hỏi pháp luật về doanh nghiệp phải phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường cũng như phải phù hợp với luật lệ quốc tế, các hiệp định song phương và đa phương, khắc phục các yếu tố phi thị trường cản trở việc thực thi luật pháp trong thực tế đòi hỏi Nhà nước phải luôn đảm bảo có văn bản hướng dẫn (Nghị định, Thông tư) một cách kịp thời và phù hợp, thống nhất. Ngoài ra, nhà nước cần phải xây dựng cơ chế cụ thể thực thi luật pháp và thể chế trong thực tế cuộc sống như phổ biến, truyền đạt các nội dung và quy tắc của thể chế trong xã hội, triển khai sự vận động của luật lệ, thể chế trong hoạt động kinh tế; tổ chức theo dõi, giám sát việc thực thi thể chế trong thực tiễn; tổ chức hỗ trợ tư pháp cho người dân, cho doanh nghiệp tổ chức xử lý các vi phạm và tranh chấp trong thực tế.
Cải cách thể chế hành chính: Hoàn thiện môi trường kinh doanh không thể không nhắc tới việc cải cách thể chế hành chính. Do đó, cần phải có một chương trình cải cách hành chính tổng thể cho đất nước, xác định rõ mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, mô hình hành chính cần đạt được; thời gian cần thiết để hoàn thành cải cách, lộ trình và giải pháp thực hiện. Từ chương trình cải cách tổng thể đó xác định nội dung, nhiệm vụ cải cách phải thực hiện cho từng giai đoạn, từng năm. Trong lộ trình cải cách hành chính thì cải cách thủ tục hành chính là bộ phận sức quan trọng của luật pháp và thể chế hành chính. Bản thân thủ tục hành chính cũng phải được thể chế hóa và đòi hỏi thực thi nghiêm minh.
Xây dựng cơ chế, chính sách bảo vệ các chủ thể tham gia khởi sự doanh nghiệp: Môi trường kinh doanh của nhà nước ta hiện nay vẫn chưa đảm bảo sự phát triển ổn định, do đó đòi hỏi nhà nước cần phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sở hữu nhằm thể chế hoá đường lối phát triển kinh tế thị trường với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, phù hợp với các cam kết quốc tế và lộ trình đã công bố, thể hiện các nguyên tắc của WTO về đối xử quốc gia và tối huệ quốc; Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nhằm bảo đảm quyền tự do về hợp đồng và bảo đảm các thoả thuận trong hợp đồng phải được thực hiện nếu không trái pháp luật.; Cần tăng cường tính độc lập và năng lực của hệ thống tư pháp để đảm bảo nâng cao tính chuyên nghiệp, loại bỏ những rờm rà, phức tạp và tốn kém trong việc giải quyết các thủ tục tố tụng, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp cho tất cả các bên liên quan.
Đơn giản hoá và minh bạch hoá các thủ tục cấp phép (hiện nay nước ta xếp thứ 63/178 nước) Minh bạch hóa thủ tục cấp phép đăng ký kinh doanh góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể tham gia thị trường nên nhà nước cần phải thay đổi một cách căn bản nhận thức về vấn đề cấp phép theo nghĩa cấp phép là đăng ký để được hoạt động chứ không phải là cơ chế “xin cho”; Rà soát lại các quy định của hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề cấp phép, chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện các quy định này theo hướng công khai, minh bạch, rõ ràng, cụ thể phù hợp với các cam kết quốc tế và điều kiện cụ thể của Việt Nam; bãi bỏ các thủ tục, giấy tờ không thực sự cần thiết nhằm rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh. Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Để thực hiện các giải pháp trên đòi hỏi Chính phủ phải quyết tâm xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ người dân và doanh nghiệp; Bộ trưởng, Trưởng ngành phải dành thời gian cho công việc xây dựng thể chế, chính sách, pháp luật; hết sức quan tâm tăng cường phối hợp, không được đùn đẩy trách nhiệm.
Điều kiện thực hiện giải pháp trên phải xây dựng nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là hình thức chính trị – pháp lý hợp lý để quản lý một xã hội dân chủ, văn minh và phát triển. Mọi sự đổi mới và phát triển đất nước đều không thể thoát ly được vai trò của Nhà nước. Để đảm bảo đổi mới thành công, cần phải có một Nhà nước mạnh, được tổ chức hợp lý, thực hành dân chủ, có khả năng huy động và quản lý mọi nguồn lực phát triển đất nước.
Thực hiện tốt các yêu cầu trên, pháp luật về doanh nghiệp sẽ tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh và bình đẳng cho mọi chủ thể kinh doanh.
- Đảm bảo tính phù hợp các cam kết từ điều ước quốc tế và các hiệp định thương mại song phương và đa phương
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước là một trong những yêu cầu hết sức cần thiết để phù hợp với các quy tắc chung của thế giới và các nước trong khu vực: Trong thời gian qua Việt Nam đảm bảo ưu tiên thực hiện các cam kết trong các điều khoản quốc tế mà nhà nước đã ký kết hoặc gia nhập, thể hiện thái độ coi trọng các cam kết quốc tế, ưu tiên thực hiện tốt các quy định của điều ước quốc tế khi các quy định này khác với quy định của luật, pháp lệnh. Việc ưu tiên này là cần thiết để đảm bảo các điều ước quốc tế được thực hiện nghiêm chỉnh. Do đó, Việt Nam hiện nay đã và đang nỗ lực để cải tiến quy trình gia nhập thị trường cho doanh nghiệp dưới các hình thức rà soát lại toàn bộ quy trình, điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng để cho phù hợp với các thông lệ quốc tế, các điều ước quốc tế đa phương, song phương mà Việt Nam là thành viên hoặc tham gia ký kết. Cụ thể: Theo Hiệp định song phương Việt Nam – Hoa kỳ (BTA): Việt Nam đã đẩy mạnh việc cải cách thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo hướng không sử dụng thủ tục hành chính, không áp dụng các rào cản cho các quan hệ thương mại quốc tế, đồng thời phải chuyển chế độ cấp phép sang chế độ đăng ký kinh doanh trong giai đoạn từ 2 đến 9 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
Bên cạnh Hiệp định BTA, các cam kết trong khuôn khổ WTO cũng thúc đẩy việc cải cách thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam để cạnh tranh với các nước trong việc cải thiện môi trường đầu tư. Để thực hiện được các hoạt động đó, đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải thực hiện thật tốt các cam kết, đẩy nhanh việc hoàn thiện các chính sách, môi trường đầu tư, hệ thống pháp luật về kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Vì là thành viên của tổ chức WTO nên cũng đòi hỏi Việt Nam phải rà soát lại hệ thống pháp luật để sao cho phù hợp, thống nhất với thông lệ quốc tế, đảm bảo với những yêu cầu của hội nhập WTO. Vì một trong những yêu cầu của tổ chức này là hệ thống pháp luật của các nước thành viên là thống nhất và minh bạch. Nếu Việt Nam chưa thống nhất được pháp luật để đảm bảo tốt hơn sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài có nghĩa là Việt Nam chưa thực hiện được nguyên tắc “đối xử quốc gia – NT”, nguyên tắc cơ bản của WTO. “Nguyên tắc này đảm bảo rằng những sản phẩm nước ngoài và đôi khi nhà cung cấp những sản phẩm đó được đối xử trong thị trường nội địa không kém thuận lợi hơn các sản phẩm nội địa hoặc các nhà cung cấp các sản phẩm đó. Đặc biệt là sự thống nhất về thủ tục gia nhập thị trường giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải được hưởng các cơ chế và ưu đãi như nhau.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn thực hiện hiệp định cam kết về khu vực đầu tư ASEAN (AIA), nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) và nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) là những nguyên tắc cơ bản để điều chỉnh các quan hệ đầu tư. Do đó, đòi hỏi Việt Nam cũng như các nước thành viên khác phải tuân theo những quy định này, như vậy mới thực sự giúp Việt Nam trở trành môi trường đầu tư hấp dẫn không chỉ đối với các nước trong khu vực mà còn cả ở trên thế giới. Có thể thấy, khi Việt Nam là một thành viên của WTO đã tạo thuận lợi cho nền kinh tế Việt Nam phát triển, hàng hóa của Việt Nam có mặt ở thị trường nước ngoài nhiều hơn, cơ hội cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đến Việt Nam đầu tư nhiểu hơn, trước yêu cầu đó, việc cải cách hệ thống pháp luật gia nhập thị trường cho doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu.
3.2.4. Tăng cường hoạt động lập pháp, xây dựng luật đảm bảo tính khả thi Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Căn cứ đề xuất giải pháp xuất phát từ một số hạn chế của pháp luật doanh nghiệp trong thời gian vừa qua như đã nêu ở trên. Bên cạnh đó từ phần kinh nghiệm của các nước cho thấy một số quốc gia vẫn đang áp dụng các luật về doanh nghiệp được xây dựng từ rất lâu, ví dụ như kinh nghiệm của Malaysia, Công ty hiện vẫn đang được điều chỉnh bởi Luật công ty 1965, trong đó quy định bốn loại hình công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo đảm; Công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần và bảo đảm; Công ty trách nhiệm vô hạn. Trong khi đó đối với Việt Nam kể từ khi Luật Công ty ra đời năm 1990 đến nay nước ta đã 3 lần ban hành các Luật liên quan đến doanh nghiệp, gây tốn kém kinh phí, nguồn lực cho việc sửa đổi, bổ sung. Có thời điểm nước ta có ba văn bản pháp luật điều chỉnh về các loại hình doanh nghiệp khác nhau, tạo ra sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Do đó, tôi đề xuất các giải pháp sau:
Tăng cường công tác soạn thảo, thẩm tra dự án luật, có sự phân công rõ ràng về cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp. Quá trình chuẩn bị dự án có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức hữu quan, nghiên cứu, khảo sát thực tế, tham khảo, lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, các chuyên gia, nhà khoa học, ý kiến của cử tri.
Trong hoạt động xây dựng pháp luật, đặc biệt là pháp luật doanh nghiệp, các cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu, tiếp thu các quy định trong pháp luật của các nước, vì những vấn đề mà Việt Nam đang tiếp cận hôm nay đã từng được cộng đồng quốc tế nghiên cứu, giải quyết bằng pháp luật một cách thỏa đáng và khoa học. Việc tiếp thu các quy định này một mặt giúp chúng ta không tốn thời gian và công sức, mặt khác góp phần làm cho pháp luật Việt Nam trở nên tương thích hơn với pháp luật của các nước trên thế giới, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung theo chủ trương của Đảng và Nhà nước ta.
Đề cao vai trò của luật với tư cách là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, tăng cường việc ban hành luật để thay thế dần các hình thức văn bản quy phạm pháp luật khác. Quán triệt nguyên tắc luật càng cụ thể càng tốt để trên cơ sở đó, giảm dần và tiến tới xóa bỏ việc ban hành các văn bản dưới luật, qua đó khắc phục tình trạng cồng kềnh, không đồng bộ, tính khó tiếp cận của hệ thống pháp luật kinh tế nước ta.
Xây dựng pháp luật doanh nghiệp để thúc đẩy sự vận hành và phát triển của nền kinh tế thị trường theo hướng tất cả những gì cản trở quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, cản trở cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh đều cần phải được loại bỏ càng sớm càng tốt. Bảo đảm pháp luật doanh nghiệp không chỉ phải phù hợp với thực tiễn Việt Nam, mà còn phải đảm bảo sự tương thích với pháp luật của các nước trên thế giới, vì đây là điều kiện quan trọng để thúc đẩy chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Bên cạnh việc tăng cường ban hành luật, cần phải tiếp tục xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh thông về nghiệp vụ để bảo đảm cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm túc (không chỉ quan tâm đến việc xây dựng mà còn phải quan tâm hơn nữa đến việc thực thi pháp luật).
Để thực hiện giải pháp trên, Quốc hội cần chủ trì, chỉ đạo các cơ quan soạn thảo các dự án luật cần cân nhắc về việc giao Chính phủ lập dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm trên cơ sở đề xuất của tất cả các chủ thể có sáng kiến pháp luật để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, bảo đảm chất lượng, tính tổng thể, nghiêm túc các dự án luật, tránh tình trạng chỉ do một ý kiến của một đại biểu Quốc hội nêu ra trong kỳ họp về việc ban hành một đạo luật, thiếu cơ sở nghiên cứu, tổng kết, đánh giá thực tiễn kỹ lưỡng mà Quốc hội đã quyết đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm và nhiệm kỳ Quốc hội.
Điều kiện thực hiện giải pháp trên đòi hỏi cần tăng cường nguồn lực, tài chính cho công tác lập pháp của Quốc hội đảm bảo chất lượng, có hiệu quả.
Luật doanh nghiệp năm 2014 ra đời góp phần xóa bỏ rào cản về đầu tư, kinh doanh theo hướng phù hợp với kinh tế thị trường và cam kết hội nhập của Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, minh bạch và bình đẳng giữa các nhà đầu tư. Tuy nhiên Việt Nam cần tiếp tục nâng cao khả năng lập pháp, tăng cường học tập kinh nghiệm lập pháp, lập quy của các nước có điều kiện kinh tế, xã hội giống như Việt Nam để bảo đảm tính khoa học, tính hội nhập của pháp luật nước ta với pháp luật của thế giới.
3.2.5. Hoàn thiện các quy định của Luật doanh nghiệp 2014 về thành lập doanh nghiệp dân doanh
Từ phân tích tại mục 2.6.2 cho thấy Luật doanh nghiệp còn có thiếu sót về các đối tượng không được quyền thành lập doanh nghiệp, cụ thể Luật doanh nghiệp 2014 đã không đề cập tới người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chủ thể bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014 thì “Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự,….” không được thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Từ những thiếu sót nêu trên, tôi đề xuất: Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Thứ nhất, bổ sung đối tượng không được thành lập, quản lý doanh nghiệp đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Bộ luật dân sự 2015 có một quy định mới về năng lực hành vi dân sự của cá nhân, đánh dấu lần đầu tiên các nhà làm luật Việt Nam đưa ra khái niệm về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Cụ thể như sau:
Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ (Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13, Điều 23, Khoản 1).
Liên quan tới năng lực hành vi dân sự của cá nhân, Luật doanh nghiệp 2014 có liệt kê hai đối tượng không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, đó là người bị mất năng lực hành vi dân sự và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Điều 18, Khoản 2, Điểm đ).
Tuy nhiên, vì Luật doanh nghiệp 2014 ra đời trước Bộ luật dân sự 2015, nên trong quy định của Luật doanh nghiệp 2014 về các cá nhân bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp đã không đề cập tới người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Thứ hai, cần bỏ quy định cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không được thành lập và quản lý doanh nghiệp tại điểm e khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014 để phù hợp với thực tế cũng như phù hợp với quy định của Hiến pháp. Bởi lẽ, về nguyên tắc, một công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự chỉ bị tước đoạt một số quyền công dân khi có hành vi vi phạm pháp luật và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật kết luận người đó đã vi phạm pháp luật. Và thực tế đã chứng minh, không phải tất cả những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự đều bị Tòa án kết luận là có tội, do họ chứng minh được mình vô tội và các cơ quan tiến hành tố tụng không có đủ cơ sở để chứng minh họ có tội và từ đó không có cơ sở để tước đoạt quyền công dân của họ trong đó có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là, thực tế cho thấy, có nhiều trường hợp bản án sơ thẩm của Tòa án tuyên bị cáo là người có tội nhưng đến bản án phúc thẩm lại tuyên người đó không phạm tội.
Mặt khác, Luật doanh nghiệp 2014 cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không được thành lập và quản lý doanh nghiệp nhằm mục đích ngăn chặn những tác động xấu mà người này có thể gây ra cho chính doanh nghiệp và cả các đối tác khi họ thành lập và thực hiện vai trò quản lý doanh nghiệp của mình. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 56 Luật doanh nghiệp 2014 lại quy định: “Trường hợp cá nhân là thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn bị tạm giam, bị kết án tù hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề theo quy định của Bộ luật Hình sự, thành viên đó ủy quyền cho người khác tham gia Hội đồng thành viên công ty”. Và theo quy định tại khoản 18 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014 thì thành viên công ty trách nhiệm hữu hai thành viên trở lên là người quản lý công ty. Theo hai quy định nêu trên, thì kế cả trong trường hợp một thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên bị tạm giam (đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự), bị kết án tù (phải chịu trách nhiệm hình sự) thì họ vẫn không bị tước quyền làm thành viên của công ty mà thành viên đó vẫn giữ được quyền quản lý công ty thông qua cơ chế ủy quyền cho người khác tham gia Hội đồng thành viên. Do đó, nếu đối chiếu quy định tại khoản 3 Điều 56 Luật doanh nghiệp 2014 với điểm e khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014 chúng ta có thể thấy quy định của luật thiếu tính nhất quán. Và nếu áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 56 Luật doanh nghiệp 2014 thì mục đích của việc quy định cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không được thành lập và quản lý doanh nghiệp tại điểm e khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014 không đạt được.
Để thực hiện giải pháp trên, đề nghị các cơ quan soạn thảo pháp luật bỏ quy định cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không được thành lập và quản lý doanh nghiệp tại điểm e khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014 để phù hợp với thực tế cũng như phù hợp với quy định của Hiến pháp, bảo đảm được tính thống nhất trong quy định của Luật doanh nghiệp 2014 về chủ thể có quyền quản lý doanh nghiệp quyền thành lập để từ đó bảo đảm tốt hơn quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp chính đáng của công dân. Bổ sung đối tượng có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là các đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp. Có như vậy mới tạo điều kiện cho công tác quản lý, điều hành doanh nghiệp trên thực tế.
3.2.6. Hoàn thiện pháp luật về số lượng thành viên tối thiểu trong công ty cổ phần Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Như phần kinh nghiệm tại các nước cho thấy, Bộ luật thương mại của Hàn Quốc, phần công ty quy định 5 loại hình công ty là: (1) Công ty hợp danh; (2) Công ty hợp danh hữu hạn; (3) Công ty trách nhiệm hữu hạn; (4) Công ty cổ phần; (5) Công ty hữu hạn (limited company). Đối với Công ty cổ phần Luật quy định có thể được thành lập bởi một người và không quy định về số cổ đông tối thiểu trong công ty cổ phần. Điều đó có nghĩa là sự thay đổi cổ đông không ảnh hưởng đến sự tiếp tục tồn tại của công ty cổ phần. Đối với pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam quy định công ty cổ phần bắt buộc phải có ba cổ đông, như vậy thì khi số lượng cổ đông không đạt được mức tối thiểu, công ty cổ phần có thể có nguy cơ phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp và chấm dứt tồn tại với tư cách là công ty cổ phần. Điều đó có thể gây bất lợi cho các chủ thể kinh doanh do cá nhân họ không muốn chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
Với các căn cứ như trên, tôi đưa ra giải pháp đề nghị các cơ quan soạn thảo sửa điểm b, khoản 1, Điều 110 Luật doanh nghiệp năm 2014 theo hướng bỏ quy định số lượng cổ đông tối thiểu là 03 để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế.
Việc thực hiện giải pháp trên để linh hoạt hơn trong công tác quản lý đối với doanh nghiệp, để các chủ thể kinh doanh có thể thực hiện quyền tự do kinh doanh, tự do lựa chọn ngành nghề, mô hình kinh doanh, góp phần làm tăng số lượng công ty cổ phần vốn được coi là ưu việt nhất trong số các loại hình công ty hiện nay.
3.2.7. Hoàn thiện quy định về trách nhiệm tài sản của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh
Như phần hạn chế đã nêu, hiện nay trách nhiệm tài sản của thành viên góp vốn trong công ti hợp danh được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 172 và điểm a khoản 2 Điều 182 Luật doanh nghiệp năm 2014.
Như vậy, thành viên góp vốn sẽ phải chịu trách nhiệm tài sản theo quy định tại Điều 172 hay Điều 182 Luật Doanh nghiệp năm 2014? Đặc biệt, quy định mâu thuẫn trên đã tồn tại từ Luật doanh nghiệp năm 2005 đến nay vẫn chưa được khắc phục. Vì vậy, để hoàn thiện Luật doanh nghiệp thì trách nhiệm tài sản của thành viên góp vốn công ti hợp danh phải được quy định thống nhất.
Theo tôi cần thống nhất quy định trách nhiệm tài sản của thành viên góp vốn đối với các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ti. Theo đó, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ti trong phạm vi số vốn đã góp vào công ti.
Để thực hiện giải pháp trên, các doanh nghiệp cần có trách nhiệm kiến nghị đối với Hiệp hội các doanh nghiệp kiến nghị sửa đổi quy định nêu trên đến Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam để tổng hợp, thống nhất nội dung cần sửa trong Luật hiện hành.
Thực hiện giải pháp trên sẽ góp phần quy định rõ ràng trách nhiệm của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh, đồng thời giúp tăng thêm số lượng công ty hợp danh được thành lập mới.
3.2.8. Nâng cao vai trò nhận thức của các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Xuất phát từ thực trạng hiện nay hiệu quả công tác tuyên truyền pháp luật chưa cao và doanh nghiệp chưa thực sự coi trọng việc tìm hiểu pháp luật. Vì vậy tôi đề xuất các giải pháp sau:
Tăng cường hoạt động tuyên truyền pháp luật cho các chủ thể kinh doanh về quyền tự do kinh doanh để họ có thể nắm bắt đầy đủ các quyền năng của mình mà pháp luật đã quy định, bảo vệ, cho phép thực hiện. Sự nắm bắt của các chủ thể kinh doanh có ý nghĩa rất lớn là tạo điều kiện cho các chủ thể thuận lợi trong tuân thủ pháp luật khi kinh doanh, tránh các rủi ro pháp lý. Điều đó sẽ thúc đẩy doanh nghiệp pháp triển góp phần vào xây dựng kinh tế đất nước.
Yêu cầu các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật hiện hành. Để bảo bảo công tác quản lý nhà nước trong hoạt động của doanh nghiệp đúng theo quy định của pháp luật, Nhà nước cần quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể khi có ý định khởi sự doanh nghiệp. Pháp luật về đăng ký kinh doanh quy định về xử phạt vi phạm đăng ký kinh doanh bước đầu mới chỉ dừng lại ở xử lý vi phạm hành chính. Do đó, để chủ thể kinh doanh có ý thức chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh, ngay từ khi có ý tưởng thành lập doanh nghiệp đã phải có ý thức tuân thủ pháp luật kinh doanh cái gì theo đúng pháp luật và chỉ được kinh doanh những gì mà pháp luật cho phép. Khi đến khâu chuẩn bị hồ sơ phải chịu trách nhiệm, toàn bộ thông tin ghi trong hồ sơ đăng ký kinh doanh phải gắn trách nhiệm của mình trong đó. Khi có thông tin cần phải thay đổi, bổ sung trong hồ sơ đăng ký kinh doanh doanh nghiệp phải báo cáo kịp thời với cơ quan đăng ký kinh doanh. Nhằm tăng cường công tác quản lý trong việc đăng ký kinh doanh, ở Việt Nam hiện nay thực hiện theo chủ trương tăng cường công tác “hậu kiểm”. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện chủ trương này nhiều địa phương cũng chưa thực sự làm tốt vẫn còn để tình trạng vi phạm pháp luật trong công tác đăng ký kinh doanh diễn ra hàng năm. Do đó, để thực sự đảm bảo được quyền tự do kinh doanh của công dân, đồng thời thực hiện được công tác quản lý nhà nước trong việc đăng ký kinh doanh đòi hỏi nhà nước cần phải có những chế tài siết mạnh tính chịu trách nhiệm của các chủ thể khi thực hiện hoạt động đăng ký kinh doanh. Bởi lẽ, việc kinh doanh ngoài việc thỏa mãn nhu cầu, ý chí của các chủ thể kinh doanh thì cũng cần phải yêu cầu các chủ thể thực thi tốt vấn đề đạo đức trong kinh doanh. Mà một trong những nguyên tắc của đạo đức kinh doanh đó là tính trung thực, tôn trọng con người. Cho nên, một chủ thể kinh doanh khi thực hiện hành vi kinh doanh cố tình lừa dối, dùng mọi thủ đoạn, không trung thực trong việc chấp hành pháp luật thì cần phải loại bỏ không thể để những chủ thể như thế gia nhập thị trường.
Đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam cần có tư duy đột phá để vừa thực hiện tốt việc phát triển kinh tế, đảm bảo lợi nhuận cho đồng vốn đầu tư, nhưng đồng thời cũng phải thực hiện trách nhiệm xã hội để đất nước có thể phát triển bền vững. Chú trọng cải thiện năng lực quản trị, tiếp thu được thành quả của các cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới để có thể hoàn thành tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, doanh nhân.
Để thực hiện các giải pháp trên đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, nghiên cứu tìm hiểu pháp luật về doanh nghiệp dân doanh. Như vậy sẽ giúp các doanh nghiệp dân doanh tồn tại và phát triển trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa. Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
3.2.9. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về vị trí, vai trò của pháp luật doanh nghiệp dân doanh trong nền kinh tế thị trường
Xuất phát từ thực tế hiện nay công tác tuyên truyền, giáo dục về pháp luật nói chung, pháp luật doanh nghiệp nói riêng tuy đã có chuyển biến song chưa đáp ứng được yêu cầu. Để nâng cao kiến thức về pháp luật doanh nghiệp, phát huy vai trò tham gia góp ý của các chủ thể đối với việc hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam trong thời gian tới, tôi đề xuất các giải pháp:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cơ quan tư pháp, quản lý nhà nước, đảng, đoàn thể phải nắm vững pháp luật, các quy định nhà nước trên các lĩnh vực để thực hiện tốt nhiệm vụ.
Đa dạng hóa các hình thức phổ biến pháp luật, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp. Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp, tổ chức các hoạt động dưới nhiều hình thức nhằm tuyên truyền khuyến cáo doanh nghiệp thực thi pháp luật
Đổi mới tư duy và nhận thức đòi hỏi phải xây dựng cơ sở lý luận, xác định đúng quan điểm, định hướng phát triển thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước. Từ đó giáo dục, đào tạo cho cán bộ, đảng viên về nhận thức mới, đối tượng chủ yếu là cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp và cán bộ nghiên cứu chính sách để đưa những tư duy mới làm cơ sở soạn thảo luật pháp và thể chế.
Thay đổi nhận thức, tạo ra một cách nhìn tiến bộ, đúng đắn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân thì chính sách của Đảng, Nhà nước mới được triển khai đồng bộ, sâu rộng, hiệu quả và những doanh nhân mới có nhiều cơ hội để kinh doanh và cống hiến cho quê hương, đất nước.
Để thực hiện giải pháp trên Chính phủ cần chỉ đạo Bộ Tư pháp, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam có kế hoạch cụ thể tuyên truyền tới quần chúng nhân dân và doanh nghiệp hiểu rõ vị trí, vai trò của Luật doanh nghiệp hiện hành, từ đó để các chủ thể thực thi và chấp hành nghiêm túc các quy định của Luật.
3.3. Kiến nghị cụ thể Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
3.3.1. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam
Tiếp tục thể chế hóa các quan điểm về quyền tự do kinh doanh, bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh và bình đẳng, phù hợp với cam kết quốc tế và quá trình hội nhập của Việt Nam ở các giải pháp 3.2.1, 3.2.2, 3.2.3 vào trong Nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng và các Nghị quyết chuyên đề để đảm bảo công tác lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất.
3.3.2. Đối với Chính phủ
Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo Bộ kế hoạch và đầu tư, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, các Bộ ngành có liên quan tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Chỉ đạo cơ quan soạn thảo dự án luật tiếp thu, triển khai các cách làm cụ thể, đồng bộ để ngày càng hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp theo hướng tiệm cận với pháp luật doanh nghiệp trên thế giới, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp như Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 12 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
3.3.3. Đối với Quốc hội
Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng luật, thực hiện có hiệu quả giải pháp tăng cường hoạt động lập pháp, xây dựng luật đảm bảo tính khả thi, tạo thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
3.3.4. Đối với doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp
Về phía doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp cần phải có kiến nghị đối với các giải pháp từ 3.2.5 đến 3.2.9 để xóa bỏ rào cản, khó khăn trong kinh doanh, đặc biệt là những chi phí kinh doanh phi chính thức; tự đánh giá, đưa ra những khuyến nghị về chính sách và thực thi mà doanh nghiệp mong nhận được sự hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý nhà nước; thay đổi chính sách quản lý doanh nghiệp sao cho phù hợp với môi trường kinh doanh hiện nay.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật. Quyền tự do kinh doanh và bình đẳng của các doanh nghiệp chỉ thực sự được bảo đảm trên cơ sở một hệ thống pháp luật hoàn thiện, mà trước hết là hệ thống pháp luật về tổ chức doanh nghiệp.
Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh là bộ phận của pháp luật kinh doanh, quy định các vấn đề về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp. Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh có mối liên hệ mật thiết với các bộ phận khác của hệ thống pháp luật kinh doanh.
Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam lần đầu tiên được quy định bằng chế định riêng trong văn bản quy phạm pháp luật kể từ khi Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty vào năm 1990. Sau đó Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời đã thể chế hóa các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn.
Pháp luật hiện hành về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam đang bộc lộ nhiều hạn chế cần được nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, nhất là với bối cảnh kinh tế – xã hội cụ thể của Việt Nam, việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh có thể được coi là một trong những động thái chính, một bước tiên quyết trong việc hoàn thiện pháp luật thương mại.
Với các nội dung trên, luận văn đã đưa ra được một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh là tất yếu khách quan ở Việt Nam hiện nay, bắt nguồn từ những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh cần dựa trên những quan điểm chỉ đạo thống nhất và có những giải pháp cụ thể, khoa học, với một lộ trình hợp lý. Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh