Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng.
3.1.1 Nhận xét chung về thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng là một loại trách nhiệm dân sự đặc biệt. Bởi vì tính chất cộng đồng tạo sản đã làm cho vợ chồng phải liên đới chịu trách nhiệm cùng nhau cho dù chỉ một bên tham gia giao dịch dân sự hợp pháp nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Song trên thực tế giải quyết các vụ án về vấn đề này lại rất phức tạp, rất nhiều hợp đồng dân sự do một bên vợ hoặc chồng thực hiện không có sự bàn bạc, thỏa thuận với bên kia. Khi một bên vợ hoặc chồng phát hiện ra, có yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng, các Tòa án đều xác định hợp đồng dân sự đó vị vô hiệu, nhưng việc xác định trách nhiệm dân sự liên đới của bên không tham gia của các Tòa án lại rất khác nhau.
Hiện nay, Luật HN&GĐ chỉ quy định duy nhất một điều luật về trách nhiệm liên đới của vợ chồng: Điều 25 [44] dẫn tới việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp có liên quan đến trách nhiệm liên đới của vợ chồng là rất khó khăn. Mặt khác, do có sự không thống nhất giữa các văn bản pháp luật thuộc các chuyên ngành khác nhau nên việc áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề này lại càng nan giải hơn bao giờ hết. Tất cả những yếu tố này đã tạo nhiều khe hở cho vợ chồng và những chủ thể có liên quan, kể cả những người “cầm cân nảy mực” “lách luật” hoặc hiểu sai, hiểu không đúng, không đầy đủ về nội dung quy phạm pháp luật, về bản chất vấn đề, từ đó, tạo nên những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng. Từ quy định trong pháp luật hiện hành chưa đầy đủ, thiếu tính đồng bộ và thống nhất về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng đã là “lỗ hổng” pháp luật khi áp dụng xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Cùng một vụ việc với nội dung tương tự, có thể khi giải quyết ở mỗi cấp Tòa án xét xử thậm chí ở mỗi vị thẩm phán khi giải quyết tranh chấp lại có quan điểm khác nhau.
Xét cả về học lý và thực tiễn áp dụng xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng đòi hỏi cần phải hoàn thiện pháp luật quy định về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
3.1.2. Một số vụ việc cụ thể Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
- Ví dụ thứ nhất:
Theo hợp đồng mua bán căn nhà số 24 A Lê Minh Ngươn, phường Mỹ Long thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang ngày 3-01-2001 lập tại Phòng Công chứng Nhà nước thì vợ chồng ông Vương Tấn Dũng, bà Phạm Thị Nga thỏa thuận bán nhà cho vợ chồng ông Lâm Đức Trung, bà Văng Thị Bạch Tuyết với giá 300.000.000 đồng. Ngày 28-02-2001, ông Lâm Đức Trung được UBND tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với căn nhà nêu trên. Trong khi bán nhà cho ông Trung, thì ông Dũng vẫn đang cho bà Nguyễn Kim Hoàng thuê. Ngày 6-3-2001, ông Trung lại lập hợp đồng bán căn nhà trên cho bà Kha Thị Hiếng với giá 345.000.000 đồng. Do đó ông Dũng đã khởi kiện xin hủy hợp đồng mua bán nhà với ông Trung vì cho rằng ông bị ông Trung ép buộc bán nhà trừ nợ và nhà đất là tài sản của vợ chồng ông và bà Nga, hợp đồng mua bán nhà có chữ ký của bà Nga, ông Dũng xin hoàn lại tiền bán nhà cho ông Trung.
Căn cứ vào kết luận giám định số 1017 ngày 15-4-2002 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an thì chữ ký trong hợp đồng mua bán nhà giữa ông Dũng, bà Nga với ông Trung, bà Tuyết không phải chữ ký của bà Nga, nên Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đều xác định hợp đồng mua bán nhà giữa ông Dũng với vợ chồng ông Trung là vô hiệu.Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 147/DSPT ngày 16-4-2003 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang nhận định để đảm bảo việc thi hành án nên tuyên xử buộc vợ chồng ông Dũng và bà Nga cùng liên đới hòan trả cho vợ chồng ông Trung 300.00.000 đồng tiền bán nhà đã nhận và tiền chênh lệch 1/2 giá trị căn nhà là 191.807.000 đồng. (Ngoài ra Bản án còn giải quyết các quan hệ pháp luật khác).
Qua ví dụ nêu trên, chúng ta thấy rằng các cấp Tòa án giải quyết vụ việc như thế là thỏa đáng, tuy nhiên việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng đương sự trong vụ kiện lại khác nhau. Sở dĩ như vậy vì quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình còn chung chung, chưa cụ thể. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung quy định của Luật HN&GĐ hiện hành về xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng là vô cùng cần thiết.
- Ví dụ thứ hai:
Từ ngày 2-7-1997 đến 28-2-1997, bà Nguyễn Thị Nga có cho bà Đào Thị Nhâm vay 7 lần tổng cộng là 477.000.000 đồng để làm vốn kinh doanh. Việc vay nợ chỉ do một mình bà Nhâm ký giấy nhận nợ. Hai bên thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, bà Nhâm có giao cho bà Nga giấy tờ nhà 3 tầng do bà Nhâm đứng tên để thế chấp nợ. Do bà Nhâm không chịu trả nợ nên bà Nga đã khởi kiện đòi nợ. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/DSST ngày 23-3-1999 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Phả và tại Bản án dân sự phúc thẩm số 32/DSPT của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đều quyết định: buộc bà Nhâm phải hoàn trả bà Nga 477.000.000 đồng tiền nợ gốc và 143.000.000 đồng tiền lãi. Ngày 03-5-2002 Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã có Quyết định số 54/KNDS kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên với nhận định: Cần xác định ông Hà Văn Hiên – chồng bà Nhâm liên đới chịu trách nhiệm trả nợ, vì việc kinh doanh của bà Nhâm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình và ông Hiên không thừa nhận nhưng ông Hiên đương nhiên phải biết việc kinh doanh đó của bà Nhâm. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 173/GĐT-DS ngày 22-8-2002 của Tòa án nhân dân tối cao đã hủy Bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm lại theo hướng kháng nghị của Phó chánh án. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/DSST ngày 30-6-2003 và Bản án dân sự phúc thẩm số 131/DSPT ngày 19-6-2003 đều quyết định: Buộc bà Nhâm và ông Hiên phải trả nợ cho bà Nga 477.000.000 đồng nợ gốc và 391.000.000 đồng tiền lãi.
Qua ví dụ trên, chúng ta thấy việc Tòa án sơ thẩm tỉnh Quảng Ninh xét xử lại buộc vợ chồng ông Hiên và bà Nhâm cùng liên đới trả nợ cho bà Nga là đúng theo quy định của Luật HN&GĐ hiện hành cùng các văn bản pháp luật có liên quan. Vì bà Nhâm mặc dù đơn phương đứng ra vay tiền bà Nga để kinh doanh nhưng việc kinh doanh đó nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình nên ông Nhâm phải biết việc kinh doanh đó và phải liên đới chịu trách nhiệm trả nợ cùng vợ. Một lần nữa, chúng ta lại thấy sự “tùy nghi” trong xét xử của mỗi cấp Tòa án vì quy định của Luật HN&GĐ còn mang tính định khung, khái quát.
- Ví dụ thứ ba:
Chị H và chị T cùng trú tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội quen biết nhau đã lâu. Do thiếu tiền trong khi sửa chữa nhà nên chị H đã hỏi vay tiền chị T. Ngày 5/5/2007, Chị H đã vay của chị T 100 triệu đồng, lãi suất thoả thuận, thời hạn 5 tháng. Chị H đã cầm cố cho chị T chiếc xe ôtô Ford cùng giấy tờ do anh K – chồng chị H đứng tên. Việc vay nợ này được lập thành hợp đồng có chữ ký của cả chị H và chị T. Tuy nhiên, khi hết thời hạn trong hợp đồng chị H vẫn không trả được gốc và lãi. Chị T đề nghị bán chiếc xe ôtô để thanh toán nợ nhưng anh K không đồng ý. Do đó, ngày 25/2/2007 chị T đã khởi kiện chị H tại Toà án nhân dân Quận Đống Đa – Hà Nội. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Qua xác minh Toà án đã xác định được:
- Có việc chị H đã vay chị T 100 triệu đồng, lãi suất thoả thuận, thời hạn 5 tháng.
- Chị H vay tiền để sửa chữa nhà nhằm phục vụ nhu cầu cơ bản của gia đình đó là nhu cầu ở.
- Chiếc xe ôtô mà chị H cầm cố cho chị T là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của chị H và anh K.
Hướng giải quyết vụ việc:
Trong vụ việc này, chị T đã cho chị H vay 100 triệu đồng, lãi suất thoả thuận và thời hạn 5 tháng. Chị T có viết giấy vay nợ cho chị H. Do đó, giữa chị H và chị T đã hình thành một hợp đồng vay tài sản được quy định trong Bộ luật dân sự, với đối tượng vay là: tiền (VNĐ). Qua đó đã xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia hợp đồng.
Khi hết thời hạn hợp đồng là 5 tháng nhưng chị H đã không thực hiện đúng theo hợp đồng hay vi phạm một nội dung trong thực hiện nghĩa vụ dân sự: “thực hiện nghĩa vụ dân sự đúng thời hạn”. Nên việc chi T khởi kiện chị H là đúng theo quy định của pháp luật.
Để tạo sự tin tưởng đối với chị T, chị H đã giao giấy tờ chiếc xe ôtô do anh K đứng tên để làm tin. Mặc dù chiếc xe ô tô đứng tên anh K nhưng theo luật thì nó là tài sản chung của hai vợ chồng chị H –anh K. Vì căn cứ theo Điều 27 – Luật hôn nhân – gia đình: “Tài sản của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất”. Do vậy, việc một mình chị H xác lập hợp đồng vay nợ có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng là trái pháp luật. Toà án tuyên bố hợp đồng này bị vô hiệu.
Anh K- chồng chị H không thừa nhận việc có biết về chuyện vay nợ giữa vợ mình và chị T nên anh K đã phủ nhận trách nhiệm liên quan của mình. Anh K nói vậy là không đúng với quy định của pháp luật do: việc vay nợ của chị H đựơc xác định là vì nhu cầu ở – nhu cầu sinh hoạt cơ bản của gia đình. Do đó, dù anh K không thừa nhận nhưng đương nhiên phải biết việc sửa chữa nhà đó. Đồng thời, tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hợp nhất của hai vợ chồng anh K-chị H.
Căn cứ Khoản 1 – Điều 298 BLDS quy định việc thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới: “Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ” [48]. Do đó, Toà án quyết định anh K phải chịu trách nhiệm liên đới về việc trả nợ cho chị T. Nếu chị H nhất định không chịu trả thì chị T có quyền yêu cầu anh K phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đối với mình dù chị T không trực tiếp xác lập hợp đồng vay nợ với anh K. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Từ ví dụ trên đây, chúng ta một lần nữa thấy rằng những quy định của BLDS và Luật HN&GĐ hiện hành còn rất chung chung, chưa dự liệu hết được những tình huống xảy ra trong thực tế. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật Dân sự nói chung và pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng liên quan đến việc xác định nghĩa vụ và trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng là vô cùng cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Tóm lại, những vụ việc trên đã đề cập đến việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng cũng chính là xác định nghĩa vụ liên đới của vợ chồng. Việc xác định nghĩa vụ liên đới rất có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền lợi của một bên trong giao dịch dân sự khi giao dịch dân sự không được thực hiện, hoặc thực hiện không đúng như đã thỏa thuận trong giao dịch, hợp đồng.
Như vậy, qua các ví dụ nêu trên đều cho thấy: các hợp đồng dân sự hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng vay nợ… đều được một bên vợ hoặc chồng xác lập liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, các hợp đồng dân sự đó đều bị Tòa án các cấp tuyên bố vô hiệu là đúng. Song việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với hợp đồng dân sự do một bên thực hiện và việc xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu có khác nhau.
Để khắc phục tình trạng trên khi giải quyết các vụ án xác định trách nhiệm liên đới liên quan đến hợp đồng dân sự bất hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện đối với tài sản chung của vợ chồng, chúng tôi nhận thấy cần phải thống nhất đường lối giải quyết loại việc này như sau:
Nếu một bên vợ hoặc chồng tham gia các hợp đồng dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn mà không có sự đồng ý của bên kia, thì bên đó có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng dân sự đó, Tòa án phải tuyên bố hợp đồng dân sự đó là vô hiệu.
Tuy một bên vợ hoặc chồng không có sự tham gia hợp đồng dân sự, làm cho hợp đồng dân sự đó trở nên bất hợp pháp, bị coi là vô hiệu, song thông qua các hợp đồng đó vẫn nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của gia đình, thì bên vợ hoặc chồng không tham gia hợp đồng dân sự vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới đối với việc xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.
Việc thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý của bên vợ hoặc chồng không tham gia hợp đồng dân sự, không nhất thiết phải được xác định bằng văn bản thỏa thuận, mà chỉ cần xác định bên vợ hoặc chồng không tham gia hợp đồng dân sự đó có biết và phải biết việc tham gia hợp đồng dân sự của phía bên kia, thì sẽ buộc họ phải có trách nhiệm liên đới đối với việc xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.
Trên thực tế, nước ta vẫn còn tồn tại tình trạng: mỗi tòa án lại giải quyết vụ việc một cách khác nhau vì quy định pháp luật của nước ta trong lĩnh vực HN&GĐ nói riêng và pháp luật dân sự nói chung còn có điểm chưa rõ ràng, cụ thể, còn chung chung dẫn tới cách hiểu của mỗi tòa khác nhau nên cách giải quyết cũng khác nhau. Vì thế mà khiếu kiện của người dân ngày càng gia tăng, kéo dài thời gian và gây quá tải cho tòa án cấp trên vì họ cho rằng vụ việc của họ được giải quyết không thỏa đáng, không đúng nguyện vọng.
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, pháp luật dân sự nói chung và pháp luật HN&GĐ nói riêng hiện hành đã có sự phát triển cao trên cơ sở kế thừa và phát huy những quy định tiến bộ của những văn bản pháp luật trước đó, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu khách quan trong sự phát triến của xã hội và gia đình (chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và chế định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng nói riêng trong Luật HN&GĐ năm 2000 đã thể hiện rõ nét về vấn đề này). Tuy nhiên, thực tiễn pháp lý cho thấy, các quy định nói chung, chế độ tài sản của vợ chồng nói riêng trong đó có quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình trong pháp luật HN&GĐ hiện hành còn chưa thực sự đi vào đời sống xã hội, chưa thành những chuẩn mực pháp lý trong xử sự của các thành viên trong gia đình. Nguyên nhân thì có nhiều, song theo chúng tôi, nguyên nhân cơ bản nhất vẫn là do thiếu các quy định pháp luật, hay các quy định pháp luật chưa cụ thể, còn chung chung và trên thực tế còn quá nhiều hạn chế trong công tác tổ chức và áp dụng Luật HN&GĐ. Sự yếu kém trong công tác tổ chức và áp dụng Luật HN&GĐ, trong đó có chế độ tài sản của vợ chồng xuất phát từ những lý do chủ quan hoặc khách quan khác nhau và để khắc phục hiện tượng này, theo chúng tôi cần tiến hành đồng bộ những giải pháp sau:
Thứ nhất: xuất phát từ đặc thù của quan hệ HN&GĐ, các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng trong đó có cả những tranh chấp về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng cũng mang những đặc điểm riêng biệt so với các tranh chấp tài sản khác. Song trong tổ chức và hoạt động của Tòa án, Tòa dân sự giải quyết cả hai loại việc dân sự và hôn nhân, gia đình. Do đó, kỹ năng xét xử các vụ việc dân sự thường áp dụng chung cho cả các tranh chấp hôn nhân, gia đình và tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng, trách nhiệm liên đới của vợ chồng. Thực tế này cũng tạo nhiều thuận lợi trong công tác tổ chức và hoạt động của Tòa án, tuy nhiên trong nhiều vụ việc lại không phù hợp với đặc thù của tranh chấp từ các quan hệ HN&GĐ. Để nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết các loại tranh chấp này, theo chúng tôi, ngành Tòa án cần xây dựng một đội ngũ thẩm phán, cán bộ chuyên trách cả về chuyên môn và nghiệp vụ xét xử về các vụ việc trong lĩnh vực HN&GĐ, và giải pháp tối ưu nhất là Nhà nước ta nên thành lập Tòa án HN&GĐ. Thực tế cho thấy, những năm gần đây, những vụ án liên quan tới HN&GĐ nói chung, tài sản của vợ chồng và trách nhiệm liên đới của vợ chồng chiếm số lượng lớn, gây quá tải cho tòa án các cấp. Khiếu kiện của người dân tăng lên nhanh chóng một phần vì thiếu sự chuyên trách trong từng lĩnh vực cụ thể làm cho cán bộ ngành tòa án phải như con “dao pha” trong nhiều lĩnh vực như: lao động, kinh tế, dân sự, HN&GĐ, thương mại…Vì thế mà chất lượng xét xử không cao, còn nhầm lẫn, sai sót khi xét xử. Do đó, thành lập tòa án chuyên trách trong các lĩnh vực khác nhau nhất là trong lĩnh vực về HN&GĐ là việc hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Thứ hai: một trong những khó khăn mà tòa án nhân dân các cấp thường gặp trong xét xử các vụ việc này là do các quy định của pháp luật hoặc thiếu hoặc không cụ thể, còn chung chung. Để khắc phục tình trạng này, Tòa án cần đa dạng hóa việc áp dụng pháp luật, đặc biệt vận dụng các phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp trong đời sống xã hội về HN&GĐ. Ngoài ra, cũng cần thiết phải công nhận hình thức án lệ áp dụng cho các quan hệ mới phát sinh khi chưa có quy định pháp luật điều chỉnh hoặc đã có quy định pháp luật nhưng việc điều chỉnh không còn phù hợp với thực tế. Trên thực tế, Tòa án Nhân dân tối cao hàng năm đều có các công văn hoặc báo cáo công tác ngành để tổng kết rút kinh nghiệm, hướng dẫn công tác xét xử cho Tòa án các cấp. Đây là hoạt động rất cần thiết song chưa đủ, bên cạnh những hoạt động đó, Tòa án Nhân dân tối cao cần định kỳ ban hành các tập hợp án lệ điển hình để Tòa án các cấp học tập và rút kinh nghiệm trong hoạt động xét xử, cũng như phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tiến tới xây dựng các tập án lệ về dân sự và HN&GĐ.
Thứ ba: việc xác định chủ quyền hoặc định giá tài sản đang là đối tượng của tranh chấp (đặc biệt đối với tài sản tranh chấp là bất động sản) hiện còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Có thể do giá cả thị trường luôn biến động, sự phối hợp không hiệu quả giữa Tòa án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Vì vậy, cần thành lập một cơ quan định giá tài sản chuyên nghiệp và thống nhất làm chức năng tham mưu cho các hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động xét xử của Tòa án nói riêng; cũng như đáp ứng các yêu cầu của xã hội về định giá tài sản. Ngoài ra, cần làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc phối hợp với Tòa án giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng và trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình. Riêng về trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 2000 còn được quy định quá sơ sài, chỉ dành một điều luật duy nhất để quy định: Điều 25 [44]. Tuy nhiên, nhiều người còn mơ hồ hay có nhiều quan điểm khác nhau, cách hiểu khác nhau về khái niệm: “nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” vì chưa có một văn bản luật nào hướng dẫn cụ thể về vấn đề này nên điều tất yếu xảy ra là mỗi tòa lại hiểu và áp dụng theo cách khác nhau để giải quyết vụ việc liên quan tới vấn đề này.
Thứ tư: Nhà nước ta cần sửa đổi, bổ sung điều luật liên quan đến việc xác định tài sản chung của vợ chồng và trách nhiệm liên đới của vợ chồng và nên chăng cần bố trí một chương cho những vấn đề này vì trên thực tế, có rất nhiều tranh chấp liên quan đến việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi một bên vợ, chồng thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Tuy nhiên, dù một bên có làm được như vậy vì gia đình nhưng nếu có tranh chấp xảy ra thì việc xác định trách nhiệm liên đới của một bên vợ, chồng còn lại là vấn đề khá phức tạp, rồi việc buộc bên trực tiếp giao kết hợp đồng, giao dịch phải chứng minh việc tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch đó nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình…Về vấn đề tài sản riêng của vợ hoặc chồng khi sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình, là nguồn sống duy nhất của gia đình thì khi có tranh chấp xảy ra liên quan tới tài sản đó (gây thiệt hại cho người khác hoặc làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác) thì có buộc bên kia (vợ hoặc chồng) phải cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm hay không? Các khoản nợ phát sinh nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình; các khoản nợ liên quan đến việc tạo lập, quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung của gia đình; các khoản nợ liên quan đến tài sản riêng của vợ chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lơi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình; các khoản nợp phát sinh từ những công việc mà cả hai vợ chồng cùng phải thực hiện. Đó là những vấn đề pháp luật về HN&GĐ còn bỏ ngỏ, gây ra nhiều tranh cãi liên quan tới việc áp dụng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc, và cũng chính vì chưa có quy định pháp luật điều chỉnh nên có nhiều tranh chấp đã xảy ra xung quanh việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng mang ra giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình cũng như một số vấn đề liên quan đến tài sản chung, riêng của hai vợ chồng. Tòa án thì tùy nghi áp dụng các quy định pháp luật để giải quyết vụ việc dẫn tới cùng một loại vụ việc nhưng mỗi tòa án lại có hướng giải quyết khác nhau. Vì thế, để khắc phục những tồn tại nêu trên, nhà làm luật của nước ta cần đề ra những quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn, điều chỉnh mạnh mẽ hơn những vấn đề ấy.
Thứ năm: việc sửa đổi, bổ sung luật HN&GĐ cần được đặt trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật của các chuyên ngành luật khác có liên quan như Luật thương mại, Luật Doanh nghiệp…. phải có sự thống nhất, phù hợp nhằm tạo ra một cơ chế pháp lý đồng bộ để xác định rõ ràng và chính xác trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi vợ, chồng tham gia vào các giao dịch dân sự, thương mại. Cần xây dựng nguyên tắc chung để làm cơ sở pháp lý giải quyết các quan hệ pháp luật liên quan đến việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo hướng sau: Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Nếu vợ chồng có thỏa thuận bằng văn bản là dùng tài sản chung để đầu tư sản xuất, kinh doanh , góp vốn vào doanh nghiệp hoặc thành lập các loại hình doanh nghiệp thì cần xác định rằng: sự thỏa thuận đó được coi là cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm chung của vợ chồng trong suốt thời gian một bên vợ hoặc chồng tham gia trực tiếp đầu tư, kinh doanh, là thành viên góp vốn hay là chủ doanh nghiệp.
Nếu vợ hoặc chồng dùng tài sản chung để để đầu tư sản xuất, kinh doanh, góp vốn vào doanh nghiệp hoặc thành lập các loại hình doanh nghiệp, mặc dù không có sự thỏa thuận giữa vợ chồng nhưng việc dùng tài sản chung thuộc trường hợp buộc một bên còn lại phải biết thì đương nhiên vẫn xác định vợ chồng đều có trách nhiệm đối với tài sản chung đó trong suốt thời gian vợ hay chồng là người trực tiếp đầu tư kinh doanh, là thành viên góp vốn hay là chủ doanh nghiệp.
Trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, sau đó, vợ chồng dùng tài sản chung, tài sản riêng góp vốn cùng nhau đề đầu tư kinh doanh, góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp khác thì cần xác định trách nhiệm về tài sản phụ thuộc vào phần tài sản ban đầu của vợ, chồng và của mỗi bên vợ, chồng.
Nếu vợ hoặc chồng dùng tài sản riêng để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp thì người đó phải chịu trách nhiệm riêng đối với tài sản của mình.
Thứ sáu: tăng cường và đổi mới công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về HN&GĐ nói riêng của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể. Việc nâng cao sự hiểu biết của nhân dân về pháp luật HN&GĐ nói chung và chế định tài sản của vợ chồng, trách nhiệm liên đới của vợ chồng nói riêng được Nhà nước rất quan tâm, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 15/2000/CT-TTg ngày 9/8/2000 về việc tổ chức thi hành Luật HN&GĐ năm 2000, trong đó xác định: “Công tác phổ biến, tuyên truyền HN&GĐ năm 2000 phải được tiến hành thường xuyên, sâu rộng trong cán bộ, công chức, viên chức, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và trong nhân dân…” [18].
Thứ bảy: ngành Tòa án cần tuyển dụng những cán bộ thực sự tâm huyết với nghề, được đào tạo bài bản tại các cơ sở đào tạo pháp luật chính quy vào làm việc hoặc sắp xếp, bố trí những người giàu kinh nghiệm xét xử, làm việc thấu tình đạt lý, được mọi người yêu quý tín nhiệm để giữ những chức trách quan trọng trong ngành tòa án. Làm được như thế thì chất lượng của những phiên tòa mới được nâng lên, xét xử đúng người, đúng việc, tạo niềm tin của nhân dân vào tòa án, vào đường lối xét xử của chúng ta, từ đó nâng cao niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước ta.
Qua thực tiễn áp dụng Luật HN&GĐ quy định trên đã được thực hiện nghiêm túc. Tuy nhiên, việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục Luật HN&GĐ chưa toàn diện, hầu như mới chỉ tập trung vào các quy định về kết hôn, quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng, của cha mẹ và con, ly hôn… Theo chúng tôi, bên cạnh việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục các quy định trên cần chú trọng đến việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục các quy định của pháp luật về quyền sở hữu tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng trong gia đình, trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong giao dịch liên quan tới quyền lợi, nhu cầu thiết yếu của gia đình; quyền của người vợ, người phụ nữ liên quan đến tài sản. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nên tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Bình đẳng giới tới đông đảo nhân dân để họ hiểu hơn quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội. Nếu làm tốt việc này mới hạn chế các tranh chấp về tài sản trong gia đình, sự công bằng, bình đẳng, tiến bộ giữa vợ và chồng về sở hữu mới được nhân dân “nắm bắt” và thực hiện.
KẾT LUẬN Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Từ sự phân tích về mặt lý luận và thực tiễn nêu trên cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật HN&GĐ ở nước ta, có thể nhận thấy rằng việc xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong pháp luật dân sự Việt Nam là một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc, không chỉ là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đối với bên kia – một bên trong giao dịch dân sự mà vợ hoặc chồng đã tham gia giao kết – mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản cho các bên vợ, chồng. Chính vì lẽ đó, để xác định một cách chính xác trách nhiệm dân sự liên đới giữa vợ chồng thì trước hết phải xác định tài sản đã tham gia giao dịch, hợp đồng, gây thiệt hại cho người khác là tài sản riêng của vợ, chồng hay là tài sản chung của vợ chồng. Luật HN&GĐ hiện hành đã quy định các căn cứ xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; mục đích sử dụng tài sản của một bên vợ hoặc chồng tham gia giao dịch để làm cơ sở phân định giữa tài sản chung và tài sản riêng; trách nhiệm của vợ chồng đối với giao dịch, hợp đồng đó. Từ đó, chúng ta có thể xác định được trách nhiệm dân sự liên đới giữa vợ chồng có được đặt ra hay không.
Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và chế định trách nhiệm liên đới của vợ chồng nói riêng theo Luật HN&GĐ năm 2000, luận văn chỉ rõ những quy định còn bất cập, chưa hợp lý, không bảo đảm được tính khoa học của luật thực định. Trên cơ sở đó, luận văn có một số kiến nghị, đề xuất hướng hoàn thiện các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng cũng như chế định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng theo pháp luật hiện hành và việc tổ chức thực hiện những quy định đó, bảo đảm tính hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và chế định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng nói riêng ở nước ta trong thời kỳ đổi mới./. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng