Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam

2.1.1 Các giai đoạn phát triển của pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam

Khái niệm cụm từ cổ đông chỉ xuất hiện khi có loại hình Công ty cổ phần, cho nên pháp luật về bảo vệ quyền lợi Cổ đông thiểu số luôn gắn liền với pháp luật của Công ty cổ phần tại Việt Nam. Hình thức Công ty cổ phần được ra đời theo Luật công ty 1990. Tiếp theo đó ngày 12/6/1999 Quốc hội thông qua Luật doanh nghiệp 1999 để hợp nhất và thay thế Luật Công ty 1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân 1990. Luật doanh nghiệp 2005 ra đời đánh dấu nhiều vấn đề đổi mới pháp luật về Công ty cổ phần và bảo vệ Cổ đông thiểu số ở Việt Nam, pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số ở Việt Nam được quy định theo hướng tiếp cận dần đến các chuẩn mực pháp luật quốc tế. Trước vấn đề hội nhập và tiếp thu việc áp dụng Luật doanh nghiệp 2005, Luật doanh nghiệp 2014 ra đời nhằm tạo hành lang pháp lý cho các chủ thể kinh doanh, trong đó chú trọng đến Pháp luật về công ty cổ phần và bảo vệ Cổ đông thiểu số, đã tạo ra có một bước đột phá bởi các điều khoản luật đã tiếp cận được với pháp luật các nước phát triển.

Nghiên cứu lịch sử phát triển Công ty cổ phần và pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số thì Luật doanh nghiệp chính là đạo luật duy nhất quy định trực tiếp về Công ty cổ phần và các vấn đề liên quan đến cổ đông. Vì vậy, việc phải phân chia các giai đoạn phát triển của Pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số cần được xây dựng trên nền tảng lịch sử phát triển của các Luật doanh nghiệp ở Việt Nam.

  • Giai đoạn thứ nhất: Pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số thời kỳ Luật công ty 1990 cho đến trước khi Luật doanh nghiệp 1999 có hiệu lực thi hành:

Luật công ty 1990 ra đời, trong đó không thể hiện và phân biệt các loại cổ phần khác nhau, nghĩa là tất cả các cổ phần đều cùng loại như nhau. Theo Điều 8 Luật công ty 1990, quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên hay còn gọi là cổ đông trong Công ty cổ phần. Chúng ta thấy, các quy định về quyền của các thành viên trong công ty rất sơ sài và thiếu. Trong đó quy định thành viên công ty sở hữu một tài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công ty là chưa phù hợp bởi vì cổ đông một phần quyền sở hữu của công ty chứ không phải đối với tài sản của công ty. Cổ đông chủ yếu mới có hai quyền đó là: tham dự, thảo luận, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng và được chia lợi nhuận chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty. Các quyền khác của một thành viên trong công ty như quyền được cung cấp thông tin cơ bản về tài chính, quản lý và hoạt động kinh doanh của công ty; quyền được mua ưu đãi cổ phần hoặc góp vốn chi phối theo tỷ lệ vốn góp hiện có đối với cổ phần mới phát hành; quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, kiến nghị nội dung và chương trình họp Đại hội đồng cổ đông; quyền xem xét danh sách cổ đông có quyền biểu quyết .. và những nội dung như công khai hoá thông tin, minh bạch quản lý điều hành hay cấm giao dịch nội gián và kiểm soát giao dịch với các bên có liên quan… không được thể hiện trong Luật.

  • Giai đoạn thứ hai: Pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số thời kỳ Luật doanh nghiệp 1999 có hiệu lực Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

LDN 1999 kế thừa và ghi nhận từ thực tế áp dụng trong giai đoạn 1, có sự phân biệt giữa cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi (cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi cổ tức). Như vậy đã đa dạng cấu trúc cổ phần của loại hình Công ty cổ phần. Theo Điều 51 Luật doanh nghiệp 1999 quy định “cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa” . Đây là sự thay đổi khác nhiều so với Luật công ty 1990 trước kia yêu cầu số lượng cổ đông tối thiểu trong Công ty cổ phần là bảy (khoản 1 Điều 30 Luật Công ty 1990)

Theo Điều 53 Luật doanh nghiệp 1999, quy định về quyền của cổ đông khá đổi mới. So với Luật Công ty 1990, Luật doanh nghiệp 1999 đã quy định một số quyền mới mà trước đây chưa được quy định, đó là: Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần, quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng; Quyền được cung cấp thông tin cơ bản về quản lý và hoạt động của công ty thông; Các quy định về thêm các quyền cho cổ đông.

Như vậy, những quy định mới trên của Luật doanh nghiệp 1999 có ưu điểm khi đây chính là các quy định nhằm bảo vệ quyền lợi cho các Cổ đông thiểu số, hạn chế sự lạm quyền từ các cổ đông đa số khác trong Công ty cổ phần.

  • Giai đoạn thứ ba: Pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số thời kỳ Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực

Kế thừa các quy định về cấu trúc cổ phần của Công ty cổ phần trong Luật doanh nghiệp 1999, nhưng quy định đầy đủ hơn địa vị pháp lý của từng loại cổ đông nắm giữ từng loại cổ phần tương ứng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, đại đa số Công ty cổ phần chỉ có cổ phần phổ thông, chỉ có một ít công ty phát hành loại cổ phần ưu đãi biểu quyết hay cổ phần ưu đãi cổ tức, còn cổ phần ưu đãi hoàn lại hầu như chưa dùng đến.

Theo Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005,“cổ đông trong công ty cổ phần có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu để thành lập Công ty cổ phần là ba và không hạn chế số lượng tối đa”. Quy định này được giữ nguyên so với Luật doanh nghiệp 1999, thể hiện phù hợp với thực tế. Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Theo Điều 79 Luật doanh nghiệp 2005, quy định rõ các quyền của cổ đông phổ thông. So với Luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp 2005 cổ đông đã được bổ sung thêm một số quyền mới liên quan đến xem xét, tra cứu, trích lục thông tin, đây là điểm tốt để bảo vệ quyền lợi cho Cổ đông thiểu số. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty, so với Luật doanh nghiệp 1999 thì bổ sung thêm nhiều quyền hơn như “Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát;Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông khi Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao; nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị vượt quá 6 tháng mà Hội đồng quản trị mới chưa được bầu thay thế; Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết”

Những quy định tăng thêm về quyền của cổ đông theo Luật doanh nghiệp 2005 đã góp phần giúp Cổ đông thiểu số rất nhiều trong quá trình tự bảo vệ mình,tăng cường tính giám sát của cổ đông đối với hoạt động quản lý, điều hành của công ty không chỉ giúp tăng cường tính minh bạch thông tin của Công ty cổ phần mà còn đảm bảo được tối đa quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là Cổ đông thiểu số. Quyền được mở rộng và nghĩa vụ cũng mở rộng tương ứng của cổ đông phổ thông như sau: Cổ đông phổ thông phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty dưới mọi hình thức để thực hiện một trong các hành vi sau đây

  • Vi phạm pháp luật
  • Tiến hành kinh doanh và các giao dịch khác để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác
  • Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công ty. Những quy định này phần nào có tác dụng ngăn chặn các cổ đông lớn, giúp bảo vệ quyền lợi của Cổ đông thiểu số.

Giai đoạn thứ tư: Pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số thời kỳ Luật doanh nghiệp 214 có hiệu lực

Theo Điều 110 Luật doanh nghiệp 2014, “cổ đông trong Công ty cổ phần có thể là tổ chức, cá nhân. Số lượng cổ đông tối thiểu để thành lập Công ty cổ phần là ba và không hạn chế số lượng tối đa”. Quy định này được giữ nguyên so với Luật doanh nghiệp 2005, Luật doanh nghiệp 199. Theo Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014, quy định rõ quyền của các cổ đông phổ thông.

So với Luật doanh nghiệp 2005, Luật doanh nghiệp 2014 giữ nguyên quy định về cấu trúc công ty cổ phần, nhưng có các quy định tăng cường thêm quyền mới cho cổ đông, đặc biệt là cổ đông phổ thông. Từ đó cho thấy đã có những cố gắng trong việc xây dựng một cơ chế để bảo vệ các Cổ đông thiểu số, vốn luôn là những nhóm lợi ích nhỏ trong Công ty cổ phần, nhóm cổ đông mà ít có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình trước các cổ đông lớn đặc biệt là cổ đông phổ thông. Thực tiễn áp dụng các quy định này trong các năm qua đã làm phát sinh nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu và tổng kết để hoàn thiện các quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho Cổ đông thiểu số bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình cũng như xây dựng một cơ chế hiệu quả để làm sao Công ty cổ phần hoạt động một cách hiệu quả và có khả năng tối đa bản chất của loại hình này. Nhưng nội dung cụ thể của các điều luật đã có những sự thay đổi, dưới đây phân tích những điểm mới của Luật doanh nghiệp 2014.

2.1.2 Thực trạng các phương thức bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

2.1.2.1 Cơ chế tự vệ thông qua các quyền của cổ đông thiểu số

Từ các quy định tại Điều 110 Luật doanh nghiệp 2014, có thể định nghĩa Công ty cổ phần là một loại hình công ty có tư cách pháp nhân, có chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn, có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, trong đó phải có cổ phần phổ thông và có thể có những cổ phần ưu đãi khác nhau, cổ phần được tự do chuyển nhượng trừ một số trường hợp ngoại lệ theo quy định pháp luật và điều lệ công ty quy định; Công ty có thể phát hành thêm cổ phần để huy động vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh; cổ đông trong Công ty cổ phần có thể là tổ chức, cá nhân góp vốn thành lập và tối thiểu là ba và không có tối đa cổ đông. Các quy định trên đều kế thừa các nội dung quy định tương ứng tại Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005 cũng như Điều 51 Luật doanh nghiệp 1999. Điều đó cho thấy, những bản chất căn bản của loại hình Công ty cổ phần có thể xem như đã được định hình rất rõ rệt trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, mặt dù mỗi luật về sau đều phát triển một cách đáng kể từ những đúc kết của luật trước về các quy định mới về mối quan hệ pháp lý của loại công ty này so với luật trước đó.

Đối với quyền của cổ đông phổ thông, thì Luật doanh nghiệp 2014 đã quy định rõ tại Điều 114. Sau khi so sánh với Luật doanh nghiệp 2005 thì chúng ta thấy vẫn giữ các quyền như cũ. Nhưng nội dung cụ thể của các điều luật đã có sự thay đổi, cụ thể như sau:

  • Quyền nhận cổ tức

LDN 2014 quy định rõ thời hạn doanh nghiệp phải thanh toán cổ tức cho cổ đông, được thể hiện rõ trong Khoản 4 Điều 132 với nội dung được bổ sung như sau “ Cổ tức phải được thanh toán đầy đủ trong thời gian 06 tháng, kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên:”. Đây là một quy định mang tính chất đột phá. Trước đây cơ chế trả cổ tức do các cổ đông quyết định tại Đại hội đồng cổ đông, cụ thể ĐHCĐ quyết định mức trả cổ tức, hình thức trả cổ tức bằng cách thông qua nghị quyết trên cơ sở đề nghị của Hội đồng quản trị; còn về mặt thời gian, thời gian chi trả cổ tức thường không nói đến hoặc uỷ quyền cho GĐ/TGĐ hoặc Hội đồng quản trị quyết định. Việc này dẫn đến nợ trả cổ tức cho các cổ đông mà không có quyền đòi. Với quy định tại Khoản 4 Điều 132 Luật doanh nghiệp 2014 chắc chắn sẽ giúp giảm bớt tình trạng chiếm dụng vốn không trả cổ tức cho cổ đông, để nguồn vốn đó phục vụ trong hoạt động kinh doanh của công ty theo ý chí của những nhà quản lý công ty. Một điểm mới nữa là tại Khoản 6 Điều 132 Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định thêm về trường hợp chi trả cổ tức bằng cổ phần. Có như vậy, giúp tăng niềm tin cho các cổ đông nhỏ lẻ khi tham gia đầu tư cổ phiếu vào các công ty cổ phần.

Thực tế những năm qua, nhiều trường hợp doanh nghiệp nợ cổ tức và để cổ đông, nhất là cổ đông nhỏ lẻ có thể đòi được cổ tức lại được nhiều ý kiến đánh giá là việc không dễ. Như vậy, xét về lý thuyết và quy định của pháp luật, cổ đông có quyền khởi kiện doanh nghiệp nợ cổ tức ra tòa án. Nhưng trên thực tế, việc khởi kiện được đánh giá khó khả thi. Giả sử, cổ đông nhỏ có thắng kiện thì cũng có nhiều khó khăn để bản án được thi hành, chưa kể nếu có đòi được cũng không tương xứng với chi phí và công sức bỏ ra. Tại Điều 4, Quyết định 21/2012/QĐ-TTg quy chế quản lý quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp có quy định, nếu chậm nộp cổ tức, lợi nhuận được chia của phần vốn nhà nước góp tại các doanh nghiệp trong vòng 3 tháng, doanh nghiệp phải chịu thêm tiền lãi tính trên lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước và phải chịu thêm tiền lãi tính theo lãi suất tiền vay quá hạn nếu chậm nộp quá 3 tháng và sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khi quá hạn 4 tháng cũng như các khoản phạt chậm nộp này không được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều này chỉ áp dụng với cổ đông nhà nước, còn các cổ đông khác không có sự bảo vệ như vậy.

  • Quyền yêu cầu mua lại cổ phần Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Các quyền liên quan đến chuyển nhượng cổ phần, yêu cầu công ty mua lại cổ phần: Luật doanh nghiệp 2014 duy trì nguyên tắc tự do chuyển nhượng (trừ trường hợp 03 năm của cổ đông sáng lập) theo quy định từ Luật doanh nghiệp 2005, ngoài ra cũng có quy định mới cho phép Điều lệ công ty được quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần như tại Khoản 1 Điều 126 Luật doanh nghiệp 2014. Theo đó, các cổ đông đã có ý tưởng sáng lập ra công ty thường là những cổ đông lớn, họ phải có trách nhiệm gắn bó với công ty, không được tùy ý từ bỏ công ty. Việc một cổ đông sáng lập rời khỏi công ty phải được sự đồng ý của các cổ đông khác, cụ thể là được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận, điều này cũng không nằm ngoài vấn đề bảo vệ Cổ đông thiểu số, đặc biệt là những cổ đông đến mua cổ phần sau khi công ty thành lập.

Bên cạnh đó, cũng giống như các cổ đông khác trong công ty, Cổ đông thiểu số cũng có các quyền khác về tài sản như quyền nhận một phần tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản, quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán…

  • Quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông

Về hình thức tham dự và thực hiện quyền biểu quyết: Theo Điểm a, Khoản 1, Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014, bên cạnh hình thức tham dự và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện theo ủy quyền thì còn có “các hình thức khác” do pháp luật, điều lệ công ty quy định. Mặc dù “các hình thức khác” chưa được làm rõ, nhưng quy định này không những đã thể hiện được sự chủ động của công ty trong việc lựa chọn các hình thức tham dự cuộc họp phù hợp với tình hình hoạt động (VD: họp trực tuyến, bỏ phiếu điện tử…) còn góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của toàn bộ cổ đông, đặc biệt là các Cổ đông thiểu số trong việc tham dự và thực hiện quyền biểu quyết của mình. Như vậy về hình thức giao cho doanh nghiệp có thể chủ động xây dựng hình thức tổ chức Đại hội đồng cổ đông, miễn sao đảm bảo lợi ích cho các cổ đông. Thực tế cho thấy rằng, có nhiều Công ty cổ phần có số lượng cổ đông lớn, trải dài khắp cả nước, thậm chí sinh sống và công tác ở nước ngoài. Việc có thể tổ chức Đại hội đồng cổ đông với mong muốn có đầy đủ các cổ đông hoặc đại diện hợp pháp tham gia là rất khó khăn,tốn kém và bất khả thi. Như vậy, với quy định được quyền xây dựng các hình thức khác sẽ hứa hẹn giải quyết những khó khăn, tồn đọng cho các doanh nghiệp. Các hình thức khác ở đây có thể hiểu rằng là việc áp dụng linh hoạt các biện pháp,công cụ, phương tiện điện tử như truyền hình trực tiếp, kết nối trực tiếp hai chiều, các phần mềm họp trực tuyến… phù hợp với các đặc điểm cụ thể của từng công ty. Trước đây theo Luật doanh nghiệp 1990 và Luật doanh nghiệp 1999, cổ đông chỉ được tham dự và thực hiện biểu quyết trực tiếp. Đến Điều 79 Luật doanh nghiệp 2005 cổ đông ngoài việc được tham dự và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp thì được thông qua đại diện được uỷ quyền. Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Về điều kiện tiến hành họp: Nếu như trước đây, Luật doanh nghiệp 2005 quy định tỷ lệ cổ đông dự họp lần thứ nhất, lần thứ hai (khi lần thứ nhất không đủ điều kiện) lần lượt là: ít nhất 65% và ít nhất 51% thì Điều 141 Luật doanh nghiệp 2014 giảm xuống còn: ít nhất 51% và ít nhất 33%. Điều này đã tạo điều kiện cho các Cổ đông thiểu số thực hiện quyền tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông được dễ dàng hơn vì các cổ đông nhỏ thì sở hữu ít cổ phần nên họ phải phối hợp với nhau để tạo thành nhóm cổ đông đạt tỷ lệ đủ điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông lần thứ hai mà không cần phải chờ đến lần thứ ba do gôm hoặc tụ tập không đủ số lượng và bị vướng mắc của việc quy định tỷ lệ cao như trong Luật doanh nghiệp 2005.

Có quan điểm cho rằng, Luật doanh nghiệp 2005 là luật có bảo vệ quyền dự họp của Cổ đông thiểu số được tốt hơn hạn chế sự chi phối công ty của những cổ đông lớn nhưng sẽ tạo rất nhiều khó khăn cho việc tổ chức một lần Đại hội đồng cổ đông nếu các Cổ đông thiểu số xem thường quyền lợi của mình không tham dự họp. Ví dụ chỉ cần tỷ lệ Cổ đông thiểu số xem thường quyền lợi của mình, khi có cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, quyết không tham dự họp có tỷ lệ sở hữu cổ phần lớn hơn 35% (lần 1) và lớn hơn 49% lần hai thì cuộc họp Đại hội đồng cổ đông bị huỷ bỏ, gây tốn kém thời gian và chi phí cho công ty.

Tuy nhiên theo tác giả, dù việc bảo vệ Cổ đông thiểu số là cần thiết nhưng phải trên cơ sở hợp lí, bởi thực tế trong thời kỳ Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực do Cổ đông thiểu số không tham dự họp Đại hội đồng cổ đông xảy ra khá nhiều, gây khó khăn không nhỏ trong việc họp Đại hội đồng cổ đông cho các Công ty cổ phần, từ đó dẫn đến việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trị của doanh nghiệp.

Chính vì vậy, với điều kiện quy định tại Điều 141 Luật doanh nghiệp 2014, thì đây là một quy định chặt chẽ của Luật doanh nghiệp 2014, vì việc bảo vệ Cổ đông thiểu số là cần thiết nhưng phải trên cơ sở hợp lý, các quy định của pháp luật vẫn phải tránh việc gây bất lợi cho cổ đông lớn.

  • Quyền biểu quyết Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Về tỉ lệ biểu quyết trong cuộc họp: Điều 144 Luật doanh nghiệp 2014 quy định 65% và 51% là những tỉ lệ sở hữu cổ phần mang tính chất quyết định. Như vậy, có thể hiểu rằng những cổ đông, nhóm cổ đông giữ 35% hoặc 49% trở lên sẽ có quyền phủ quyết các quyết định của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị liên quan đến các nội dung được quy định tại Điều 144 Luật doanh nghiệp 2014. Những tỷ lệ này theo Điều 104 Luật doanh nghiệp lần lượt là 75% và 65%. Việc giảm tỷ lệ cổ phần để thông qua nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông cho phù hợp hơn với thông lệ quốc tế của Luật doanh nghiệp 2014 đã góp phần thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Việc này làm cho việc ngăn cản một số Cổ đông thiểu số có thể làm ảnh hưởng đến những chính sách lớn có lợi cho đa số cổ đông. Xét trên phương diện bảo vệ Cổ đông thiểu số quy định Luật doanh nghiệp 2014 có thể thấy là bất lợi hơn so với Luật doanh nghiệp 2005, lý do là các nhóm cổ đông chỉ cần có tỷ lệ đủ 65% hoặc 51% cổ phần là có thể quyết định các vấn đề trong công ty.

Nhưng ngay tại Điều 144 Luật doanh nghiệp 2014, để khắc phục vấn đề này, cũng đã quy định những tỷ lệ trên chỉ là tỷ lệ tối thiểu; trong trường hợp các bên có thoả thuận một tỷ lệ lớn hơn thì sẽ áp dụng theo tỷ lệ đó để thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị.Do vậy trong đàm phán ban đầu nếu các cổ đông nhỏ có thể đạt được các thoả thuận có lợi trong đó tỷ lệ cổ phần được thông qua lớn hơn những con số trên thì thoả thuận đó vẫn là hợp pháp và sẽ bảo vệ quyền lợi của cổ đông tốt hơn.

Đối với hình thức lấy ý kiến bằng văn bản: cũng có sự thay đổi và mang ý nghĩa tương tự như đối với hình thức biểu quyết. Khoản 4 Điều 144 Luật doanh nghiệp 2014 quy định “ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết tán thành”, tỷ lệ này theo Khoản 5 Điều 104 Luật doanh nghiệp 2005 là 75%.

Về việc bầu thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát: điểm mới của Luật doanh nghiệp 2014 là quy định việc thực hiện bầu thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát bằng phương pháp bầu dồn phiếu hay không phụ thuộc vào quyền chủ động của công ty và được quy định trong điều lệ tại Khoản 3 Điều 144. Trước đây theo điều 104 LND 2005 “ việc biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu”; còn Luật doanh nghiệp 1999 và LND 1990 chỉ quy định một hình thức biểu quyết duy nhất khi họp Đại hội đồng cổ đông là biểu quyết theo phương thức thông thường. Sự thay đổi trong Luật doanh nghiệp 2014 đã trao thêm quyền tự chủ hoạt động cho các Công ty cổ phần nhưng xét trên khía cạnh bảo vệ quyền lợi của Cổ đông thiểu số thì quy định này phần nào hạn chế tác dụng của công cụ bầu dồn phiếu. Nếu trao cho công ty cổ phần có quyền tự quyết việc bầu dồn phiếu thì có thể dẫn đến trường hợp: (i) Khi một nhà đầu tư mua cổ phiếu và trở thành cổ đông của công ty thì điều lệ công ty đó đã quy định không áp dụng nguyên tắc bầu dồn phiếu ngay từ đầu hoặc (ii) Trường hợp những cổ đông hoặc nhóm cổ đông lớn nắm trên 65% cổ phần phổ thông hoặc một tỷ lệ khác do điều lệ công ty quy định thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông đó có thể phủ quyết việc áp dụng nguyên tắc bầu dồn phiếu ngay cả khi trong điều lệ của công ty có quy định. Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

  • Quyền yêu cầu triệu tập Đại hội đồng cổ đông

LDN 2014 thêm một số quy định: mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm khi không thực hiện việc triệu tập cuộc họp bất thường theo đúng quy định cả Chủ tịch Hội đồng quản trị và các thành viên Hội đồng quản trị đều phải chịu trách nhiệm. So với Luật doanh nghiệp 2005 thì chỉ có Chủ tịch Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm.

Khi Ban kiểm soát được quyền thay thế Hội đồng quản trị triệu tập theo đúng quy định thì tất cả các thành viên Ban kiểm soát phải chịu trách nhiệm. So với Luật doanh nghiệp 2005 thì chỉ có Trưởng Ban kiểm soát chịu trách nhiệm.

Điều 136 Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định thêm một số nội dung khác như: “Địa điểm họp Đại hội đồng cổ đông phải ở trên lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tổ chức đồng thời ở nhiều địa điểm khác nhau thì địa điểm họp Đại hội đồng cổ đông được xác định là nơi chủ tọa tham dự họp; báo cáo tự đánh giá kết quả hoạt động của Ban kiểm soát và của từng Kiểm soát viên”

Công việc người triệu tập Đại hội đồng cổ đông thêm một vài chi tiết về nhiệm vụ: phải có dự thảo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông theo nội dung dự kiến của cuộc họp; danh sách và thông tin chi tiết, rõ ràng của các ứng cử viên trong trường hợp HĐCĐ tổ chức có chương trình bầu thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên.

  • Quyền ứng cử vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát

Về cơ cấu, tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, người tham gia ứng cử phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện tại Điều 151 Luật doanh nghiệp 2014 đối với Hội đồng quản trị và Điều 164 Luật doanh nghiệp 2014 đối với Ban kiểm soát. Điểm mới của điều này là không quy định cụ thể số cổ phần mà cổ đông phải nắm giữ để ứng cử vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Đây là một bước tiến bộ lớn so với Điều 110 Luật doanh nghiệp 2005 “Thành viên Hội đồng quản trị phải là cổ đông cá nhân sở hữu ít nhất 5% tổng số cổ phần phổ thông”

  • Quy định về hợp đồng, giao dịch phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận.

Khoản 2, 3 Điều 162 Luật doanh nghiệp 2014 quy định cụ thể các hợp đồng và giao dịch có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính gần nhất, phải được Hội đồng quản trị chấp thuận; còn đối với các giao dịch có giá trị lớn hơn 35% sẽ thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. So với Điều 120 Luật doanh nghiệp 2005 đã quy định về tỷ lệ ranh giới giữa thẩm quyền cuả Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông là 50%.

Ngoài ra tại quy định Điều 159 và Điều 162 Luật doanh nghiệp 2014 thì các hợp đồng, giao dịch giữa công ty với cổ đông, người đại diện uỷ quyền của cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ; giữa công ty với Thành viên Hội đồng quản trị, GĐ/TGĐ và người liên quan đến họ; giữa công ty với các doanh nghiệp mà Thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, GĐ/TGĐ và người quản lý khác của công ty có sở hữu cổ phần phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận. Trước đó Điều 120 Luật DN 2005 quy định “Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải được Đại hội đồng cổ đồng hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận: Cổ đông, người đại diện uỷ quyền của cổ đông sở hữu trên 35% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ”. Như vậy, với việc giảm tỷ lệ như trên đã làm cho quyền của các Cổ đông thiểu số được đảm bảo hơn rất nhiều.

Ngoài ra tại Khoản 1 Điều 159 Luật doanh nghiệp 2014 cũng đã quy định thêm một nội dung: “công ty phải tập hợp và cập nhật danh sách những người có liên quan của công ty”. Việc quy định cụ thể hơn thể hiện sự công khai thông qua xem xét, trích lục, sao chép danh sách người có liên quan và lợi ích có liên quan để các cổ đông biết và bảo vệ lợi ích cho công ty.

  • Quyền yêu cầu huỷ bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông

Theo quy định tại Điều 147 Luật doanh nghiệp 2014, trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông, cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2014 có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Như vậy, muốn có quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, bạn phải là cổ đông, nhóm cổ đông thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: sở hữu 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên (nếu điều lệ công ty quy định tỷ lệ khác nhỏ hơn thì theo quy định của Điều lệ). Và thời gian sở hữu số cổ phần nói trên: liên tục ít nhất 06 tháng tính đến thời điểm muốn yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.

Trước đây Điều 79 Luật doanh nghiệp 1999 và Điều 107 Luật doanh nghiệp 2005 trao quyền này cho tất cả các cổ đông. Mặc dù có lợi hơn cho các nhóm cổ đông nhỏ nhưng lại không tránh được khả năng bị lạm dụng bởi những vi phạm trong quá trình triệu tập và ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông rất phổ biến. Đây là một quy định khá chặt chẽ của Luật doanh nghiệp 2014 vì việc bảo vệ Cổ đông thiểu số là cần thiết nhưng phải trên cơ sở hợp lý, các quy định của pháp luật phải tránh gây bất lợi cho các cổ đông lớn.

  • Quyền khởi kiện đối với thành viên Hội đồng quản trị, GĐ/TGĐ

Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và trong Công ty cổ phần nói riêng, đôi khi tồn tại các trường hợp sai phạm của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hay Tổng giám đốc. Đây là các chủ thể có quyền quản lý, điều hành trong công ty, song không vì thế mà các chủ thể này được loại trừ các trách nhiệm tham gia tố tụng. Luật doanh nghiệp 2014 đã dự trù các trường hợp cụ thể về việc khởi kiện đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc, từ đó quy định cụ thể quyền khởi kiện tại Điều 161 như sau: “Chủ thể được trao quyền khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong Công ty cổ phần bao gồm: Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng.” (Khoản 1 Điều 161 Luật doanh nghiệp 2014).

Nếu như trước đây, Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều Luật doanh nghiệp 2005 quy định cổ đông, nhóm cổ đông nói trên không được trực tiếp khởi kiện ngay từ đầu mà phải thông qua Ban kiểm soát, chỉ sau 15 ngày kể từ ngày Ban kiểm soát nhận yêu cầu mà không tiến hành khởi kiện thì cổ đông, nhóm cổ đông trên mới có quyền trực tiếp khởi kiện. Việc trao quyền trực tiếp khởi kiện các chức danh quản lý cho cổ đông, nhóm cổ đông ngay từ ban đầu mà không phải thông qua Ban kiểm soát theo Luật doanh nghiệp 2014 sẽ giảm bớt tính phức tạp trong thủ tục khởi kiện những chức danh quản lý của công ty. Thêm vào đó, họ có thể nhân danh công ty khởi kiện người quản lý khi phát hiện người quản lý có các hành vi vi phạm, gây thiệt hại cho công ty để đòi bồi thường thiệt hại sẽ góp phần bảo vệ Cổ đông thiểu số một cách bình đẳng.

2.1.2.2. Cơ chế bảo vệ bên trong về bảo vệ cổ đông thiểu số Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Theo Điều 134 Luật doanh nghiệp 214 quy định về cơ cấu tổ chức Công ty cổ phần thì Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình có Ban kiểm soát hoặc không có Ban kiểm soát. Như vậy, điểm mới đặc biệt của Luật doanh nghiệp 2014 là Công ty cổ phần có quyền lựa chọn việc có hay không có Ban kiểm soát trong cơ cấu tổ chức, quản lý công ty của mình theo các quy định của Pháp luật. Trước đây Điều 95 Luật doanh nghiệp 2005 không có quy định mở như vậy: “Công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát.”. Sự thay đổi này được đánh giá là phù hợp với thông lệ quốc tế; phù hợp với thực tế đa dạng của doanh nghiệp về quy mô, tính chất sở hữu và sự đa dạng của cách thức quản trị công ty ở Việt Nam; hơn nữa là phù hợp với thực tế hoạt động của Ban kiểm soát trong Công ty cổ phần hiện nay. Về lý thuyết, việc tồn tại Ban kiểm soát có vẻ mang đến nhiều lợi ích cho công ty nhưng trên thực tế Ban kiểm soát chưa thể hiện hết vai trò của mình theo đúng chức năng nhiệm vụ pháp luật đã quy định. Do vậy việc cho Công ty cổ phần tự quyết việc có thành lập Ban kiểm soát hay không là hoàn toàn hợp lý theo nhu cầu riêng của từng Công ty cổ phần.

  • Đại hội đồng cổ đông

ĐHĐCĐ cơ quan quyết định cao nhất trong loại hình Công ty cổ phần, trong đó gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, các cổ đông ưu đãi khác không có quyền biểu quyết thì không thuộc Đại hội đồng cổ đông. Quyền của Đại hội đồng cổ đông được quy định đầy đủ tại Điều 135 Luật doanh nghiệp 2014.

ĐHĐCĐ chỉ bao gồm các “nhà đầu tư tích cực” hay “nhà đầu tư chủ động” nghĩa là những người mà cũng đầu tư vốn vào công ty muốn tham gia định đoạt số phận của công ty thông qua quyền biểu quyết của mình. Cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông là cơ hội quan trọng để các cổ đông có thể đối thoại, chất vấn các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc/ Tổng giám đốc và các thành viên quản lý công ty.

Pháp luật Việt Nam chỉ nhìn nhận cổ đông Công ty cổ phần là nhà đầu tư chứ chưa phải là nhà quản lý doanh nghiệp. Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất trong công ty cổ phần chứ không phải là cơ quan quản lý và điều hành công ty.

Do vậy, có thể thấy để đảm bảo quyền lợi của các cổ đông, tăng tính hiệu quả trong hoạt động Đại hội đồng cổ đông, Luật doanh nghiệp 2014 đã quy định rất cụ thể về trình tự thủ tục, tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông, trách nhiệm thông báo, báo cáo công bố thông tin cho các tổ chức trước cuộc họp, quyền của các cổ đông đưa ra các vấn đề bàn bạc tại cuộc họp, thủ tục bỏ phiếu.. Có thể nói Luật doanh nghiệp 2014 mang lại một bước tiến dài trong vấn đề bảo vệ Cổ đông thiểu số ở Việt Nam.

  • Hội đồng quản trị Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Điều 149 Luật doanh nghiệp 2014 quy định chi tiết về Hội đồng quản trị, Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, để thực hiện chức năng này, Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Quyền nhân danh ở quy định này là quyền nhân danh trong các mối quan hệ đối nội, mặc dù quyết định của Hội đồng quản trị cũng có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba trong giao dịch pháp luật, còn sự nhân danh công ty trong các mối quan hệ đối ngoại luôn phải thực hiện qua người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo uỷ quyền của công ty.

HĐQT có từ 3 đến 11 thành viên; Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng thành viên Hội đồng quản trị (khoản 1 Điều 150 Luật doanh nghiệp 2014). Cần lưu ý là cổ đông hoặc nhóm cổ đông phải phù hợp tại khoản 2 Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014, còn Đại hội đồng cổ đông bầu thành viên Hội đồng quản trị theo tại điểm C khoản 2 Điều 135 Luật doanh nghiệp 2014.

Về quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị, có sự tách bạch giữa quyền của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị. Bởi vì, mặc dù là các đồng chủ sở hữu đối với công ty, nhưng các cổ đông chỉ được xem là các nhà đầu tư, còn các thành viên Hội đồng quản trị mới là người quản lý doanh nghiệp. Trong chừng mực nào đó các nhà đầu tư gửi gắm vốn đầu tư và quyền chèo lái công ty cho những người quản lý doanh nghiệp. Chính vì vậy mà Hội đồng quản trị có thẩm quyền rất lớn, thể hiện trong danh mục quyền hạn và nhiệm vụ quy định tại Điều 149 và một số điều riêng lẽ khác như Điều 155, 162 Luật doanh nghiệp 2014. Về cơ bản, các quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị của Luật doanh nghiệp 2014 không thay đổi so với Luật doanh nghiệp 2005, trừ quy định quyền của Hội đồng quản trị tại điểm h, khoản 2 Điều 149 Luật doanh nghiệp 2014 với tỷ bằng hoặc lớn hơn 35% báo cáo tài chính gần nhất. Trước đây thì theo tỷ lệ này là 50% quy định tại Điều 108 Luật doanh nghiệp 2005. Mặt dù quy định này giảm đi tỷ lệ % quyền của Hội đồng quản trị nhưng về cơ bản trong quan hệ pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số, Hội đồng quản trị giống như Luật doanh nghiệp 2005 đang chi phối, dành quyền cho các cổ đông trong đó có Cổ đông thiểu số. Tuy nhiên thực tế cho thấy, Hội đồng quản trị thường là đại diện cho các cổ đông lớn, vì vậy để Cổ đông thiểu số có quyền thực sự trong Hội đồng quản trị là một vấn đề tồn tại nhiều năm qua mà luật khó thay đổi và tìm ra một giải pháp nào để bảo vệ triệt để.

  • Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Về cơ bản các chức năng, quyền và điều kiện liên quan đến GĐ/ Tổng giám đốc không có sự thay đổi nhiều so với Luật doanh nghiệp 2005. Trong mối quan hệ với Hội đồng quản trị, GĐ hoặc TGD là người thừa hành, chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị. Tuy nhiên để thực hiện chức năng điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty, GĐ hoặc Tổng giám đốc cũng có thẩm quyền riêng biệt. GĐ hoặc Tổng giám đốc cũng có quyền quyết định về các vấn đề trong phạm vi điều hành đó. Bên cạnh chức năng điều hành, GĐ hoặc Tổng giám đốc cùng với Chủ tịch Hội đồng quản trị còn thực hiện chức năng đại diện theo pháp luật đương nhiên của công ty trong trường hợp công ty có 02 người đại diện theo pháp luật, hoặc là người đại diện theo pháp luật của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật trong trường hợp công ty chỉ có một người đại diện theo pháp luật (khoản 2 Điều 134 Luật doanh nghiệp 2014).

Pháp luật trao cho GĐ/TGĐ những quyền riêng biệt với Hội đồng quản trị, nhằm giúp cho GĐ/ Tổng giám đốc không phải phụ thuộc quá nhiều vào Hội đồng quản trị. Do vậy, pháp luật đặt ra những tiêu chí lựa chọn GĐ/ Tổng giám đốc tại khoản 2 Điều 175, Điều 65 Luật doanh nghiệp 2014. Trước đây Luật doanh nghiệp 2005 (khoản 3 Điều 116) còn quy định GĐ/ Tổng giám đốc không được đồng thời là GĐ/ Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác, việc quy định này nhằm đảm bảo toàn quyền điều hành hoạt động hằng ngày. Luật doanh nghiệp 2014 không áp đặt điều này nữa vì bản thân công ty biết rõ hơn việc nó có nên thuê một người làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của một doanh nghiệp khác hay không hoặc cho phép GĐ hoặc Tổng giám đốc của mình làm việc ở doanh nghiệp khác hay không. Pháp luật phân rõ quyền và nghĩa vụ để mong muốn bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông. Trên thực tế thì thường Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm GĐ/ TGD và ít có doanh nghiệp tách bạch giữa vai trò này.

  • Ban kiểm soát

Là một bộ phận của cơ cấu tổ chức công ty trong trường hợp Công ty cổ phần lựa chọn mô hình đa hội đồng; tuy nhiên, kể cả trong trường hợp này công ty có dưới 11 cổ đông và các cổ đông tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát (điểm a khoản 1 Điều 134 Luật doanh nghiệp 2014).

BKS có chức năng giám sát Hội đồng quản trị,GĐ hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty (khoản 1 Điều 165 Luật doanh nghiệp 2014).

Với chức năng đó, Ban kiểm soát không phải là cơ quan quản lý của công ty, các Kiểm soát viên cũng không phải là người quản lý doanh nghiệp theo khoản 8 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014. Tuy nhiên, kiểm soát viên cũng có trách nhiệm tương tự như người quản lý doanh nghiệp (so sánh quy định tại điều 168 và Điều 160 Luật doanh nghiệp 2014)

Với chức năng giám sát công việc quản lý và điều hành công ty bởi Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kiểm soát viên độc lập với các cơ quan này. Bởi vậy, khác với GĐ hoặc Tổng giám đốc, Kiểm soát viên được bầu bởi Đại hội đồng cổ đông. Mối quan hệ giữa Ban kiểm soát với Hội đồng quản trị là mối quan hệ giữa cơ quan giám sát và cơ quan bị giám sát. Để đảm bảo Ban kiểm soát có thể thực hiện chức năng đó, Luật doanh nghiệp 2014 quy định chi tiết quyền được cung cấp thông tin của Ban kiểm soát (Điều 166). Tuy nhiên, việc kiểm tra của Ban kiểm soát trên cơ sở yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 không được cản trở hoạt động bình thường của HD9QT, không được gây gián đoạn điều hành hoạt động kinh doanh của công ty theo khoản 6 Điều 165 Luật doanh nghiệp 2015.

Hiện nay, hầu hết các công ty có 03 thành viên trong ban kiểm soát, chỉ có số lượng nhỏ công ty là có đến 05 thành viên. Những thành viên này thường do hội đồng quản trị chỉ định, không độc lập và là cấp dưới, phụ thuộc vào thành viên của hội đồng quản trị và tổng giám đốc. Như vậy, hoạt động của ban kiểm soát sẽ không hiệu quả. Trên thực tế, hầu hết các kiểm soát viên làm việc kiêm nhiệm tại công ty, chỉ có một số lượng nhỏ kiểm soát viên là cổ đông, đại diện của cổ đông, không là người lao động trong công ty, không chuyên trách, không có chuyên môn cao. Thực tế cho thấy, ban kiểm soát chưa thể hiện đầy đủ vai trò theo đúng chức năng nhiệm vụ đã được pháp luật quy định, từ đó có ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư và Cổ đông thiểu số.

2.1.2.3 Cơ chế bảo vệ bên ngoài về bảo vệ cổ đông thiểu số

  • Cơ chế hành chính Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Tại Việt Nam, Chính phủ đại diện cho nhà nước quản lý đối với doanh nghiệp, trong quản lý đã chỉ định cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành khác thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp. Các Công ty cổ phần sẽ hoạt động theo pháp luật việt nam, ngoài ra còn tùy theo quy mô sẽ chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước sau: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban chứng khoán nhà nước, trung tâm lưu ký chứng khoán, cơ quan quản lý thuế, ngân hàng nhà nước, Bảo hiểm, Cơ quan quản lý địa phương… Với sự quản lý tốt của cơ chế hành chính, sẽ thúc đẩy cho hoạt động của doanh nghiệp được thông suốt và phù hợp với pháp luật, từ đó là công cụ tốt nhất có thể bảo vệ Cổ đông thiểu số.

  • Cơ chế khởi kiện

Căn cứ vào Điều 161 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về quyền khởi kiện của cổ đông. Khởi kiện tại Tòa án là một trong những quyền quan trọng nhất của cổ đông.

Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp2014 quy định cổ đông sở hữu từ 1% cổ phần phổ thông liên tục trong 6 tháng mới có quyền khởi kiện. Đây là một trong những quy định mới của Luật doanh nghiệp2014 nhằm bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cổ đông; đảm bảo nguyên tắc đối xử công bằng giữa các cổ đông. Với quy định này cổ đông không chỉ có quyền tự mình khởi kiện mà còn nhân danh công ty khởi kiện cá nhân người quản lý doanh nghiệp khi phát hiện người quản lý có các hành vi vi phạm, gây thiệt hại cho doanh nghiệp và gián tiếp cho cổ đông, để đòi bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra còn có thể khởi kiện theo hình thực giải quyết bằng trọng tài theo quy định của Luật trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 ngày 17/06/2010. Trọng tài là một biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính pháp lý, giống như kiện tụng ở toà án và khác hoàn toàn với các nhóm các biện pháp không mang tính bắt buộc pháp lý như đàm phán, trung gian, thẩm tra và hoà giải. Tuy nhiên, ở Việt Nam số lượng các vụ tranh chấp thương mại sử dụng Tổ chức trọng tài thương mại Việt Nam còn ít và chưa tạo thành thói quy cho các doanh nghiệp.

  • Các thiết chế hỗ trợ khác

Trong giai đoạn này chủ yếu như cơ quan kiểm toán độc lập, các tổ chức luật sư và vai trò của các Hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, công đoàn.. ngày càng hoạt động tích cực, đi vào thực tiễn cao so với thời kỳ trước. Từ đó có giám sát các hoạt động của doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích cho doanh nghiệp phát triển, cũng là cách bảo vệ các Cổ đông thiểu số khi tham gia đầu tư vào doanh nghiệp.

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

2.2.1 Các kết quả đạt được

Tại Hội thảo“Vấn đề và giải pháp cải thiện khởi sự kinh doanh và bảo vệ cổ đông thiểu số” diễn ra ngày 28/2, tại Hà Nội, Ngân hàng thế giới chỉ ra, bảo vệ cổ đông tốt là một trong những tiêu chí đánh giá quản trị công ty tốt. Khi luật pháp bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư tốt mới khiến họ bỏ tiền đầu tư vào doanh nghiệp. Và ngược lại, nếu môi trường đầu tư rủi ro thì họ sẽ mang tiền gửi tiết kiệm, không kích thích phát triển kinh tế.

Theo Ngân hàng thế giới, có 5 tiêu chí để bảo vệ cổ đông tốt, đó là: Công khai hóa giao dịch có liên quan; trách nhiệm người quản lý; quyền của cổ đông; tỷ lệ sở hữu và kiểm soát công ty; minh bạch hóa thông tin. Áp các tiêu chí này vào thực trạng bảo vệ cổ đông ở Việt Nam, các chỉ số đều rất thấp so với các nước được đánh giá.

Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ Cổ đông thiểu số cũng chưa bao giờ được nâng tầm quan trọng như hiện nay, khi mà tại Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 về tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh năm 2017, định hướng đến năm 2020, Chính phủ đã giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thực hiện nhiệm vụ “Đảm bảo hiệu quả thực thi các quy định về Bảo vệ nhà đầu tư” với mục tiêu từng bước nâng cao thứ hạng chỉ số bảo vệ Cổ đông thiểu số (thuộc báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới) từ thứ 87/189 (năm 2016) lên thứ 80 (năm 2017) và 60 (năm 2020). Chỉ số bảo vệ Cổ đông thiểu số thuộc Báo cáo Doing Business cung cấp dữ liệu về 38 khía cạnh liên quan đến quản trị doanh nghiệp, được chia thành 02 nhóm, mỗi nhóm gồm 03 chỉ số thành phần.

  • Quy định về quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

LDN 2005 chỉ quy định 02 hình thức dự họp Đại hội đồng cổ đông là tham gia trực tiếp và thông qua uỷ quyền cho người đại diện. Quy định này là quá cứng nhắc so với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật “bất đắt dĩ” là công ty tự đặt ra các tiêu chí về điều kiện để hạn chế sự tham gia của Cổ đông thiểu số. Để hạn chế tình trạng này, Nghị định 102/2010/NĐ-CP có bổ sung thêm một hình thức tham gia Đại hội đồng cổ đông là gửi phiếu biểu quyết bằng thư bảo đảm đến Hội đồng quản trị chậm nhất 01 ngày trước khi khai mạc Đại hội đồng cổ đông. Đây là một hướng đi tích cực, tuy nhiên vẫn không thể giải quyết quyết hiệu quả vấn đề nêu trên bởi: Trên nguyên tắc thì đây là một trường hợp điển hình mà nghị định sửa luật. Và dù bổ sung thêm một hình thức thì quy định này vẫn còn tương đối cứng nhắc và không phải cổ đông nào cũng có điều kiện để tham gia họp Đại hội đồng cổ đông theo ba hình thức trên. Trên thực tế, nhiều công ty lớn chọn hình thức việc họp trực tuyến, biểu quyết online và đã thống nhất được các nội dung trong cuộc họp. Tuy nhiên, để kết quả của việc biểu quyết được công nhận thì các cổ đông vẫn phải bỏ vào thư bảo đảm và gửi cho Hội đồng quản trị. Đây có thể xem là những phiền phức, gánh nặng và không cần thiết đối với các cổ đông.

Thấy được điều này, pháp luật đã thay đổi quyền của cổ đông, thể hiện rõ trong Khoản 1 Điều 114 Luật doanh nghiệp 2014, bên cạnh hình thức: tham gia trực tiếp; thông qua đại diện theo uỷ quyền thì còn có: các hình thức khác do pháp luật, điều lệ công ty quy định. Các hình thức khác do pháp luật, điều lệ công ty quy định thể hiện việc trao quyền chủ động cho các doanh nghiệp trong việc tổ chức các kỳ họp Đại hội đồng cổ đông, bảo đảm quyền và lợi ích của toàn bộ các cổ đông. Một số doanh nghiệp đã áp dụng linh hoạt các hình thức khác trên như truyền hình trực tiếp, kết nối trực tiếp hai chiều, các phần mềm họp trực tuyến đã từng bước làm cho giữa nhà quản lý với cổ đông được gần nhau hơn.

Những thay đổi về tổ chức Đại hội đồng cổ đông đã được triển khai theo hướng bảo vệ tiếng nói của Cổ đông thiểu số, cụ thể như sau:

LDN 2005 quy định tỷ lệ 65% và 75% là những tỷ lệ sở hữu cổ phần mang tính chất quyết định để tổ chức Đại hội đồng cổ đông. Nhưng tỷ lệ này trong Luật doanh nghiệp 2014 lần lượt là 51% và 65%. Việc giảm tỷ lệ cổ phần để thông qua nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông có ý nghĩa thuận lợi trong việc triệu tập họp, thay vì phải tổ chức lại gây tốn kém.. Từ đó quyết định các vấn đề quan trọng của công ty được nhanh chóng và đáp ứng nhu cầu thị trường. Tuy nhiên xét trên phương diện bảo vệ Cổ đông thiểu số thì nó lại phản ánh không tốt và gây bất lợi cho Cổ đông thiểu số, vì với quy định này sẽ làm cho các cổ đông nhỏ không có quyền biểu quyết trong Đại hội đồng cổ đông. Theo đó chỉ cần nhóm cổ đông hoặc cổ đông có tỷ lệ chiếm 51% hoặc 65% cổ phần là có thể quyết định mọi hoạt động của công ty, khi đó nhóm cổ đông 49% hoặc 35% không có quyền và không ý nghĩa trong hoạt động biểu quyết các vấn đề trong Đại hội đồng cổ đông.

  • Những thay đổi về tổ chức Đại hội đồng cổ đông đã được triển khai theo hướng bảo vệ tiếng nói của Cổ đông thiểu số, cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Nếu như trước đây, Luật doanh nghiệp 2005 quy định tỷ lệ cổ đông dự họp lần thứ nhất, lần thứ hai (khi lần thứ nhất không đủ điều kiện) lần lượt là: ít nhất 65% và ít nhất 51% thì Điều 141 Luật doanh nghiệp 2014 giảm xuống còn: ít nhất 51% và ít nhất 33%. Như vậy, pháp luật đã tạo điều kiện cho các Cổ đông thiểu số một quyền quyết định tổ có thể tổ chức Đại hội đồng cổ đông hay không mà không cần chờ đến lần thứ hai, lần thứ ba.

Về tỉ lệ biểu quyết trong cuộc họp: Điều 144 Luật doanh nghiệp 2014 quy định tỷ lệ thông qua các quyết định của Đại hội đồng cổ đông: từ 51% đối với quyết định thông thường, từ 65% đối với quyết định quan trọng (LDN 2005 quy định tỷ lệ cũ là 65% và 75%). Xét trên phương diện bảo vệ Cổ đông thiểu số việc giảm tỉ lệ trên dường như gây bất lợi hơn cho Cổ đông thiểu số so với Luật doanh nghiệp 2005, tuy nhiên đây chỉ là những tỷ lệ tối thiểu; trong trường hợp các bên có thỏa thuận một tỷ lệ lớn hơn thì sẽ áp dụng theo tỷ lệ đó. Mặt khác, việc giảm tỷ lệ biểu quyết theo quy định tại Luật doanh nghiệp 2014 còn hạn chế được những trường hợp chỉ vì lợi ích của một Cổ đông thiểu số trong công ty mà ngăn cản những chính sách lớn có lợi cho đa số cổ đông.

2.2.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân

2.2.2.1 Những hạn chế và vi phạm các quyền cơ bản của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần.

  • Quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông bị hạn chế

CTCP tại Việt Nam hay lựa chọn tháng 3, tháng 4 hàng năm để tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên. Ngoài ra, mỗi khi có những phát sinh vấn đề, các cổ đông có thể triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường để xin ý kiến thông qua các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hoặc Công ty cổ phần cũng có thể lấy ý kiến cổ đông về một số vấn đề quan trọng bằng văn bản. Có thể kể đến việc vi phạm quyền cổ đông phát sinh ngay trong các cuộc Đại hội đồng cổ đông như: Không cho cổ đông nhỏ lẻ tham dự Đại hội đồng cổ đông bằng nhiều hình thức như gởi thư chậm hoặc không báo. Một số công ty thì chọn địa điểm tổ chức Đại hội đồng cổ đông xa để cổ đông khó tham dự hoặc muốn đăng ký dự họp thì cổ đông phải đăng ký trước mới được tham dự Đại hội đồng cổ đông. Không cho cổ đông nhỏ lẻ quyền biểu quyết đầy đủ tại Đại hội đồng cổ đông: Đối với việc lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản, nhiều công ty đã không gửi văn bản đến cho cổ đông. Một số công ty còn quy định cổ đông sở hữu dưới một lượng cổ phiếu nhất định nào đó thì không được quyền biểu quyết, không được chất vấn.

Theo quy định tại Luật doanh nghiệp 2014, tất cả các cổ đông phổ thông đều có quyền tham dự và biểu quyết mọi vấn đề tại kỳ họp Đại hội đồng cổ đông. Mỗi một cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết và dù ít hay nhiều đều có quyền ngang nhau trong việc tham dự và biểu quyết theo tỷ lệ cổ phần tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông. Trên thực tế, hầu hết các Công ty cổ phần đều không thực hiện triệt để nguyên tắc này và có sự phân biệt giữa các cổ đông với nhau. Rất nhiều các lý do mà công ty đưa ra mà không dựa trên cơ sở pháp lý cụ thể, chẳng hạn như: do địa điểm tổ chức chật hẹp, không đủ diện tích cho tất cả các cổ đông trong công ty tham dự ngồi họp, hoặc phải một tỷ lệ nhất định. Như vậy, để đảm bảo quyền lợi thì các Cổ đông thiểu số phải tập hợp lại với nhau để có thể đạt một tỷ lệ tối thiểu và có quyền để ủy quyền cho một người đại diện đi họp theo quy định. Thông thường các Cổ đông thiểu số do không có thông tin nên không thể tập hợp nhau lại trong một thời gian ngắn nên không tham dự hoặc khi dự thì không thể có tiếng nói chung trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, đành nhường cho các cổ đông lớn quyết định mọi vấn đề liên quan đến lợi ích của chính mình.

  • Quyền thông tin của cổ đông bị hạn chế: Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Sai phạm trong thực hiện Báo cáo tài chính gây thiệt hại cho cổ đông. Trong đó phổ biến có các dạng gian lận Báo cáo tài chính: che giấu công nợ và chi phí, ghi nhận doanh thu không có thật, định giá sai tài sản, ghi nhận sai niên độ… Sai phạm về CBTT cho cổ đông.

Các vi phạm này thường chỉ bị phát hiện khi nó đã xảy ra hoặc để lại hậu quả cho các cổ đông của công ty. Ở mức độ nhẹ, cổ đông không được hưởng quyền lợi của mình một cách đầy đủ sẽ cảm thấy khó chịu, bất mãn, nhưng ở mức độ nặng, các vi phạm này còn có thể gây ra những thua lỗ lớn cho các cổ đông. Các công ty vi phạm vẫn có động lực để tiếp tục hành vi vi phạm do chế tài xử lý lỏng lẻo, phần lớn các vụ việc xảy ra chỉ bị xử phạt hành chính với mức xử phạt quá nhẹ so với những thiệt hại mà họ gây ra cho cổ đông. Mặt khác, nhiều công ty vi phạm quyền cổ đông và bị các cổ đông khởi kiện, yêu cầu đòi bồi thường, nhưng công ty vẫn chây ỳ, không chịu thực hiện bồi thường mặc dù tòa án đã phán quyết.

Về phía các cơ quan chức năng như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) hay các Sở Giao dịch Chứng khoán, việc quản lý, phát hiện và xử lý các vi phạm quyền cổ đông vẫn chưa được toàn diện. Báo cáo tài chính của các Công ty cổ phần vẫn chỉ được kiểm soát dựa trên đội ngũ các công ty kiểm toán (CTKT). Hàng năm, UBCKNN vẫn lập ra danh sách khoảng 20 – 25 CTKT được chấp thuận. Tuy nhiên, việc quản lý các CTKT này vẫn chưa thực sự được chú trọng, nhiều trường hợp CTKT có dấu hiệu cấu kết với các Công ty cổ phần làm giả, làm đẹp Báo cáo tài chính nhằm che giấu kết quả thua lỗ.

Hiện nay, các quy định pháp luật liên quan đến quyền cổ đông vẫn chưa hoàn thiện và chi tiết để bảo vệ tối đa quyền lợi của cổ đông. Ngoài các quy định về quyền của cổ đông theo Luật doanh nghiệp 2014 và các quy định về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực cổ phần và thị trường chứng khoán được quy định tại Văn bản số 01/VBHN/BTC (hợp nhất Nghị định số 145/2016/NĐ-CP và Nghị định số 108/2013/NĐ-CP của Chính phủ). Việt Nam hiện vẫn chưa có các quy định cụ thể liên quan đến việc xử lý các vi phạm đối với quyền cổ đông. Bản thân các điều luật được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều điểm hạn chế và chưa phù hợp, chẳng hạn như Luật doanh nghiệp chưa định nghĩa được rõ ràng về cổ đông nhỏ lẻ và nhiều bất cập khác. Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

2.2.2.2 Những bất cập trong cách thức thực hiện quyền của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần

Bản thân nhận thức pháp luật của cổ đông cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bất mãn khi tham gia vốn trong các công ty cổ phần, từ đó dẫn đến những tranh chấp kéo dài trong nội bộ công ty. Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 161 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về “Quyền khởi kiện đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc”. Như vậy, rõ ràng khi các thành viên Hội đồng quản trị vi phạm điều lệ, không hoàn thành nghĩa vụ, các cổ đông không thực hiện quyền thay thế Hội đồng quản trị của mình để đảm bảo hoạt động kinnh doanh và bảo vệ vòng vốn do mình bỏ ra, mà phải tiến hành các thủ tục khởi kiện hoặc viết đơn tố cáo yêu cầu cơ quan Nhà nước can thiệp; hoặc khi công ty có dấu hiệu vi phạm chế độ quản lý tài chính thì cổ đông không có một bất cứ quyền nào yêu cầu Ban kiểm soát của công ty làm rõ mà lại yêu cầu cơ quan nhà nước thanh tra, kiểm soát.

Một số công ty đã chuyển đổi sang hoạt động theo loại hình Công ty cổ phần, đặc biệt từ những công ty có nguồn gốc nhà nước, các cổ đông và người lao động có thói quen sử dụng các thiết chế chính trị, xã hội như tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên như công cụ để bày tỏ nguyện vọng của mình mà không tiếp cận theo hướng quy định pháp luật, vì thế các cổ đông chưa phát huy được vai trò và sử dụng quyền của mình một cách hợp lý.

  • Bất cập liên quan đến nhóm quyền tài sản

Cổ tức được chi trả không công bằng: Thể hiện trong một số hình thức sau đây:

Một là, chia cổ tức bằng cổ phiếu tính theo mệnh giá, không theo thị giá của cổ phiếu khi giá cổ phiếu của công ty đang tăng lên, gây ảnh hưởng quyền lợi chung của cổ đông. Bằng cách này các cổ đông đã lấy đi một phần thặng dư vốn của công ty, nguồn vốn cần thiết để phát triển và người được lợi nhiều nhất là các cổ đông lớn. Hơn nữa, cách làm nói trên còn làm giảm giá trị cổ phần của công ty bởi nó “pha loãng” cổ phiếu công ty (tức là tăng cung về cổ phiếu công ty), và làm suy giảm tiềm năng phát triển của công ty trong tương lai.

Hai là, “cổ phần hóa’’ tạo ra thặng dư vốn và có phương án phân phối số cổ phần đó cho cổ đông. Hay thực chất là công ty chia giá trị của doanh nghiệp cho các cổ đông thay vì phát hành thêm cổ phần cho cổ đông, để huy động vốn. Cụ thể hơn, các cổ đông chia cổ phần đó cho nhau để chuyển nhượng cho người khác không chỉ thu lại vốn đã đầu tư và cả phần thặng dư vốn đáng ra là thuộc sở hữu của công ty. Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Ba là, phát hành thêm cổ phần theo mệnh giá cho nội bộ khi thị giá cổ phần của công ty cao hơn, thậm chí cao hơn nhiều so với mệnh giá của nó. Cách làm này gây thất thoát cho công ty và đặc biệt o có lợi cho Cổ đông thiểu số, tương tự như cách làm thứ nhất nói trên.

Tóm lại, trong quản trị điều hành đã có xung đột quyền lợi lẫn nhau giữa các cổ đông, các cổ đông thường có xu hướng chạy theo lợi ích ngắn hạn, đầu cơ trước mắt, nên không chú ý tăng cường tiềm năng phát triển lâu dài của công ty. Chính vì vậy chính họ mà không đảm đảm bảo lợi ích lâu dài và bền vững của chính họ cũng như cho công ty nơi mà họ tham gia đầu tư vốn.

  • Công ty chậm chi trả cổ tức hoặc không chịu chi trả cổ tức cho cổ đông.

Trước đây tình trạng các công ty đưa ra nhiều lý do để chưa ấn định ngày chi trả cổ tức (chỉ thông báo chung chung rằng sẽ chi trả khi có nguồn) hoặc ấn định ngày rồi xin lùi, xin khất rất phổ biến. Gia hạn trả cổ tức là bình thường nếu doanh nghiệp chưa sắp xếp được nguồn vốn hoặc cần vốn để đầu tư khi cơ hội xuất hiện, việc này chỉ bất thường khi công ty không “rõ ràng” với cổ đông. Nhiều nguyên nhân khác nhau để lý giải cho việc trì hoãn, nhưng tựu trung lại là “chưa có tiền” – lý do hoàn toàn hợp lý khi trong thứ bậc phân chia lợi ích tại công ty cổ phần, cổ đông vốn xếp ở vị trí cuối cùng, điều này được quy định rõ tại Khoản 2, Điều 132, Luật doanh nghiệp 2014 “công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức của cổ phần phổ thông khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; đã trích lập các quỹ công ty và bù đắp đủ lỗ trước đó theo quy định và sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn”. Ngoài ra, còn một lý do chính đáng nữa là doanh nghiệp viện cớ là tập trung dòng tiền cho hoạt động kinh doanh, tái đầu tư để đem lại lợi ích cho doanh nghiệp, thay vì tăng vay nợ và phải chịu gánh nặng lãi vay, cuối cùng cũng là có lợi cho cổ đông.

Ví dụ gần đây: Cổ đông của Công ty cổ phần Dầu khí Đông Đô (PVC Đông Đô – mã: PFL) vừa nhận được thông báo về việc lùi ngày trả cổ tức thêm một năm nữa đến ngày 29/6/2020. Đây là lần thứ 10, PVC Đông Đô “khất” việc thanh toán cổ tức năm 2010. Một trong những kỷ lục về số lần hoãn và thời gian chi trả cổ tức kéo dài phải kể đến Công ty cổ phần Sông Đà 9.06 (mã: S96) với việc hoãn thời gian trả cổ tức bằng tiền năm 2010 tới 31/12/2021 thay vì chi trả vào ngày 31/12/2018 như thông báo trước đó, đánh dấu lần thay đổi thứ 9 về thời hạn trả cổ tức.Trong khi đó, danh sách cổ đông nhận cổ tức đã được chốt vào ngày 1/7/2011 với tỷ lệ thanh toán 20% bằng tiền mặt. Kết quả là Cổ phiếu S96 đã bị hủy niêm yết trên Sàn chứng khoán Hà Nội và sau đó không có thanh khoản trên thị trường. Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

  • Quyền ưu tiên mua trước bị vi phạm hoặc lạm dụng:

Một là, cổ đông đa số có số vốn và chiếm tỷ lệ lớn nên có quyền chi phối tại Đại hội đồng cổ đông, thống nhất bỏ phiếu để có những nghị quyết phát hành thêm cổ phần mới theo phương thức phát hành nội bộ. Từ đó, dành cho mình quyền mua cổ phần nhiều hơn với giá ưu đãi hoặc thông qua nó gôm thêm những cổ phần không mua hoặc có nhu cầu chuyển nhượng lại để tăng tỷ lệ cổ phần thêm so với các cổ đông khác.

Hai là, phát hành dưới hình thức “ưu tiên cho người lao động” với tỷ lệ khác so với tỷ lệ sở hữu, tỷ lệ này được dựa trên thời gian làm việc. Thông thường, những cổ đông mà vào làm quản lý doanh nghiệp đã làm việc lâu năm có vị trí cũng như khung lương cao, nên được hưởng lợi nhiều hơn so với các cổ đông, người lao động khác.

Ba là, kêu gọi vốn cho các cổ đông chiến lược. Đây là hình thức vận động các cổ đông khác trở thành “cổ đông chiến lược” dựa trên quy chế do mình tạo ra. Sau đó bắt tay nhau và “hợp pháp hóa” thanh của mình trong thời gian sớm nhất. Các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông chọn lựa cổ đông chiến lược thường giá thấp hơn, đó cũng là cách trục lợi của các cổ đông lớn. Nhu vậy, cho thấy nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa các cổ đông cùng loại đã bị vi phạm; có hành vi chiếm đoạt một phần giá trị tài sản của các cổ đông nhỏ; và có thể coi đó là một hình thức trục lợi giá trị tài sản công ty.

  • Giao quyền cho thành viên Hội đồng quản trị quá lớn

Theo Điều 149 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ: “Thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc giá trị khác. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng và giao dịch quy định, tại điểm d khoản 2 Điều 135, khoản 1 và khoản 3 Điều 162 của Luật này”.

Thực tế có nhiều trường hợp, Hội đồng quản trị vì có sự chủ quan trong nhận định của mình, ra các quyết định đầu tư và mở rộng kinh doanh sai lầm, gây thiệt hai cho các Cổ đông thiểu số, người mà bỏ vốn vào công ty.

  • Cổ đông lớn hạn chế Cổ đông thiểu số thực hiện quyền dự họp

Công ty yêu cầu cổ đông phải sở hữu lượng cổ phần nhất định mới được tham dự, biểu quyến, được chất vấn tại Đại hội đồng cổ đông. Có nhiều Công ty cổ phần tự đặt ra quy định trong Điều lệ về việc cổ đông phải nắm trong tay số lượng cổ phần nhất định mới được tham dự Đại hội đồng cổ đông với lý do công ty có số lượng cổ đông lớn nên không thể thuê được địa điểm để tổ chức cho tất cả các cổ đông tham dự, chưa kể kinh phí gia tăng, thậm chí lãng phí nếu cổ đông không tham dự; thực hiện nguyên nguyên tắc “một cổ phần, một phiếu bầu” có thể khiến cho Đại hội đồng cổ đông kéo dài hơn dự kiến do thủ tục triệu tập phức tạp mà khoảng thời gian từ khi chốt danh sách đến khi họp là ngắn (dưới 30 ngày làm việc). Hay việc quy định một tỷ lệ nắm giữ cổ phần nhất định đã được thể hiện trong Điều lệ mà chính các cổ đông đã thông qua nên mặc nhiên các cổ đông phải công nhận (bao gồm cả cổ đông vào công ty sau này).Ví dụ như trường hợp của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Hải Châu, theo như thông cáo báo chí năm 2014 để tiến hành Đại hội đồng cổ đông thì cho phép cổ đông sở hữu từ 12.000 cổ phần trở lên được tham dự Đại hội đồng cổ đông, các cổ đông còn lại có thể và có quyền liên kết đề cử đại diện từ 18.000 cổ phần trở lên. Việc làm này đã bị báo chí và lên tiếng về việc không bảo vệ cổ đông nhỏ, từ đó Bánh kẹo Hải Châu đã thay đổi lại thông cáo báo chí và phương án để cho phép tất cả các cổ đông hoặc người được ủy quyền hợp pháp đều được tham dự Đại hội đồng cổ đông.

  • Công ty buộc cổ đông phải đăng ký trước mới được tham dự Đại hội đồng cổ đông.

Trong khi Luật doanh nghiệp không có quy định nào buộc cổ đông phải đăng ký mới được tham dự Đại hội đồng cổ đông. Thậm chí, Luật còn quy định, cổ đông đến muộn vẫn được tham dự đại hội và biểu quyết một số vấn đề chưa được biểu quyết. Nhưng một số công ty vẫn cố tình đưa ra quy định buộc cổ đông phải đăng ký trước mới được tham dự Đại hội đồng cổ đông, gây bất tiện cho các Cổ đông thiểu số. Ví dụ, Tháng 2/2014, một công ty thuộc Vinacomin tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường, yêu cầu cổ đông phải đăng ký trước, khiến Ủy ban chứng khoán nhà nước phải lên tiếng, yêu cầu công ty giải trình. Sau đó, doanh nghiệp này đã phải ra thông báo mới, cho phép cổ đông tham dự mà không cần đăng ký. Trong thông báo họp Đại hội đồng cổ đông năm 2014 của Công ty cổ phần Than Cao Sơn đưa ra hồi cuối tháng 2 vừa qua cũng buộc cổ đông phải đăng ký trước ngày 25/3 thì mới được Ban tổ chức đại hội chấp nhận. Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

Còn nhiều hình thức nhằm gây phiền toái cho việc dự hợp Đại hội đồng cổ đông của Cổ đông thiểu số như: mời họp cận ngày tổ chức, không gửi thông báo mời họp Đại hội đồng cổ đông kèm theo thư ủy quyền đương nhiên cho Hội đồng quản trị, buộc cổ đông phải sử dụng mẫu ủy quyền có đóng dấu treo của công ty…Có trường hợp doanh nghiệp không cho cổ đông vào dự họp, bởi giấy ủy quyền được lấy từ website công ty, không có đóng dấu treo. Bản có dấu treo được công ty cung cấp cho cổ đông kèm thư mời, nhưng cổ đông không nhận được thư mời.

  • Cổ đông lớn hạn chế Cổ đông thiểu số thực hiện quyền biểu quyết

Công ty quy định bỏ phiếu tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông theo đầu người, chứ không theo số cổ phần sở hữu; Đối với việc lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản, nhiều công ty đã không gửi văn bản đến cho cổ đông hoặc gửi thiếu tài liệu; Tại đại hội, muốn phát biểu, tranh luận cũng khó vì họp muộn, ca nhạc kéo dài, báo cáo đọc lâu nên thời gian thảo luận đôi khi chỉ còn 10-15 phút..tất cả nhằm làm nản lòng Cổ đông thiểu số.

  • Cổ đông lớn cố tình vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin, cố tình sai phạm trong thực hiện Báo cáo tài chính.

Một số quy định về quyền cổ đông chưa phù hợp cho lắm, đã cản trở cổ đông, đặc biệt là nhóm Cổ đông thiểu số tiếp cận thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và tham gia vào các quyết định quan trọng của công ty. Ví dụ, khoản 2 Điều 114, khoản 4 Điều 149 Luật doanh nghiệp 2014 yêu cầu cổ đông phải có thời gian sở hữu tối thiểu từ 10% cổ phần và trong 6 tháng liên tục mới có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị.

Trên thực tế các Công ty cổ phần không bao giờ tự nguyện công bố thông tin hoặc công bố thông tin một cách trung thực; việc công bố thông tin còn mang tính hình thức và đối phó, cổ đông lớn hoặc là hạn chế quyền tiếp cận thông tin của Cổ đông thiểu số hoặc là che giấu hầu hết các thông tin quan trọng để sử dụng cho mục đích tư lợi, gây ra những thiệt hại đáng kể cho các Cổ đông thiểu số. Thời gian gần đây nhiều trường hợp cổ đông nội bộ tại các doanh nghiệp niêm yết vi phạm quy định về công bố thông tin trước khi thực hiện mua, bán cổ phiếu bị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sợ giao dịch chứng khoán xử phạt. Các dạng gian lận Báo cáo tài chính có thể kể đến như: che giấu công nợ và chi phí, ghi nhận doanh thu không có thật, định giá sai tài sản, ghi nhận sai niên độ, gây thiệt hại cho cổ đông. Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

  • Cổ đông thiểu số thực sự chưa đủ thông tin để thực hiện quyền khởi kiện

Các cổ đông chưa thực sự thuận lợi trong khởi kiện những người quản lý do vi phạm trong điều hành công ty hoặc ngăn ngừa việc ký kết và thực hiện giao dịch mà có thể gây thiệt hại cho công ty., cổ đông hiện không có nhiều quyền tiếp cận các thông tin về giao dịch giữa công ty với người có liên quan, không được quyền tiếp cận các nghị quyết của Hội đồng quản trị. Theo quy định Điều 147, 161 Luật doanh nghiệp 2014, khi Cổ đông thiểu số phát hiện những sai sót, gian lận trong quá trình điều hành của cấp quản lý công y đều có quyền khởi kiện, đều có quyền kiến nghị, yêu cầu đối với công ty và khi xảy ra mâu thuẫn, xung đột quyền lợi, thì giải pháp cuối cùng là có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với người quản lý công ty. Tuy nhiên, quyền khởi kiện ra tòa không dành cho cổ đông quá nhỏ. Chỉ cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng trở lên mới có quyền khởi kiện và phải trả chi phí khởi kiện khi bị bác đơn Tuy nhiên, thứ nhất do về mặt tâm lý người dân Á Đông nhìn chung không thích kiện; thứ hai là về mặt thủ tục, nó rắc rối, rườm rà; thứ ba là về mặt ý thức của nhà đầu tư, họ chưa quen với việc kiện tụng, mà thường quen với việc gửi đơn kiến nghị hơn. Phần lớn các nhà đầu tư nhỏ thường khiếu nại lên Ủy ban Chứng khoán (UBCK) hay Sở Giao dịch chứng khoán, chứ họ không thực hiện quyền kiện dù đây là quyền rất lớn và thực hiện triệt để hơn. Một yếu tố nữa khiến việc kiện tụng ít xảy ra là thi hành án. Ngay cả khi đã thắng kiện ở tòa, thì việc thi hành án cũng rất lâu, thêm vào đó việc kiện là vì lợi ích chung của công ty, nhưng Cổ đông thiểu số là người chịu thiệt ít hơn, nên cũng có tâm lý ngại khởi kiện.

  • Kiểm soát viên chưa thực sự hoạt động đúng quy định

Ngoài ra một số quy định khác của Luật doanh nghiệp 2014 về quản trị doanh nghiệp cũng chưa rõ ràng và chưa phù hợp với thực tiễn. Ví dụ, khoản 2 Điều 164 Luật doanh nghiệp yêu cầu kiểm soát viên công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ phải là kiểm toán viên hoặc kế toán viên là yêu cầu cao hơn so với thực tế; do số lượng kiểm toán viên, kế toán viên đã có chứng chỉ, đáp ứng đủ yêu cầu Luật doanh nghiệp là không nhiều.

Ban kiểm soát vẫn là lao động, ký hợp đồng và được trả lương từ người quản lý công ty, vì vậy rất khó thực hiện đủ hết chức năng và nhiệm vụ theo pháp luật quy định đối với Ban kiểm soát, nên rất nhiều khoản sai phạm mà Ban kiểm soát phát hiện không ra hoặc ngại va chạm trong thực thi nhiệm vụ. Do đó, rủi ro mà nhà đầu tư và cổ đông khi đầu tư vốn vào công ty sẽ bị gánh chịu một cơ chế làm việc thiếu minh bạch và thiếu cơ sở theo đúng chức năng cấu trúc của công ty cổ phần.

  • Tiểu kết chương 2

Pháp luật về bảo vệ Cổ đông thiểu số ra đời từ Luật Công ty 1990 đến Luật doanh nghiệp 2014 đã có những quy định cụ thể về cách thức quản trị và nguyên tắc hoạt động của Công ty cổ phần. Tuy nhiên, cho thấy giữa các quy định quyền của các cổ đông trong luật so với thực tế vẫn chưa được thực thi, cách áp dụng chưa thống nhất triệt để. Việc thực hiện, giám sát chưa nghiêm từ các mối có liên quan đến vấn đề bảo vệ Cổ đông thiểu số và một phần thiếu thông tin cũng là một phần tạo ra vấn đề chưa đảm bảo quyền lợi cho Cổ đông thiểu số. Chương 2 của luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về quyền lợi của Cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần theo quy định pháp luật như nhóm quyền về tài sản, nhóm quyền về thông tin… Bên cạnh đó, cũng phân tích các cơ chế bảo vệ Cổ đông thiểu số được quy định theo pháp Luật doanh nghiệp hiện hành, đánh giá các kết quả đạt được, những hạn chế trong thực hiện pháp luật về quyền của Cổ đông thiểu số. Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số

One thought on “Luận văn: Thực trạng pháp luật DN về bảo vệ cổ đông thiểu số”

  1. Pingback: Luận văn: Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật doanh nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464