Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Sau hơn 20 năm thực hiện nghị quyết số 90/CP của Chính phủ ban hành ngày 21/08/1997 về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế văn hóa đã có lượng vốn hàng nghìn tỷ đồng được đầu tư vào hệ thống y tế tư nói chung và bệnh viện tư nhân nói riêng. Hiện các bệnh viện tư nhân vẫn không ngừng phát triển và lớn mạnh về mọi mặt, góp phần đa dạng hóa các dịch vụ khám, chữa bệnh, nâng cao sức khỏe cho người dân. Các bệnh viện được tập trung đầu tư cả về nhân lực và vật lực, được trang bị thiết bị y tế hiện đại, góp phần giảm tải tình trạng quá tải ở các bệnh viện công.

Sự ra đời của khối bệnh viện tư nhân nằm trong chủ trương xã hội hóa y tế của Chính phủ. Nghị quyết 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã khuyến khích hợp tác công-tư, đầu tư tư nhân trong lĩnh vực y tế. Đầu tư tư nhân được khuyến khích trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của ngành y tế, từ sản xuất, cung ứng thuốc, trang thiết bị đến đào tạo, tư vấn sức khỏe, khám chữa bệnh… Trong số đó lĩnh vực y tế được tư nhân đầu tư nhiều vẫn là đầu tư phát triển cơ sở khám, chữa bệnh.

Báo cáo tại Hội nghị tổng kết 9 năm thi hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh cho biết các cơ sở y tế tư nhân có bước phát triển lớn, đóng vai trò quan trọng trong cung ứng dịch vụ y tế cho người dân. Số bệnh viện và số giường bệnh ngoài công lập tăng nhanh: Năm 2005 có 43 bệnh viện trên địa bàn của 9 tỉnh, thành phố với 3.324 giường bệnh, nay đã tăng lên 250 bệnh viện với 15.475 giường bệnh (đạt 1,7 giường/vạn dân, chiếm 15% số bệnh viện và 5,6% số giường bệnh trong toàn quốc), có khoảng gần 40.000 nhà thuốc, 35.000 phòng khám đa khoa, chuyên khoa, cung cấp 43% dịch vụ ngoại trú và 2,1% tổng số dịch vụ nội trú cho người dân. Một số bệnh viện 100% vốn nước ngoài có trang thiết bị hiện đại đã được đưa vào hoạt động.

Y tế tư nhân phát triển nhanh cả về quy mô và số lượng qua các năm. Năm 2018, 2019 tiếp tục thu hút sự tham gia của khu vực y tế tư nhân, một số bệnh viện tư nhân có quy mô được thành lập mới. Điển hình là các bệnh viện như: Bệnh viện Nhi Đức Tâm, Đăk Lăk (50 giường bệnh), Bệnh viện Mắt Cao Nguyên tại Gia Lai (100 giường bệnh), Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Hải Phòng (180 giường bệnh), Bệnh viện Phương Châu Sa Đéc (50 giường bệnh), Bệnh viện Đa khoa Medlatec với một loạt cơ sở mới tại Hà Nội…

Bệnh viện tư nhân đã đạt được nhiều thành công nhất định trong hoạt động khám, chữa bệnh ngày càng khẳng định vai trò trong hệ thống y tế Việt Nam. Tuy nhiên một số bệnh viện tư vẫn còn xảy ra nhiều vi phạm trong quá trình hoạt động cũng như gặp phải nhiều vướng mắc, khó khăn. Vi phạm phổ biến của bệnh viện tư hiện nay là hoạt động không đúng với nội dung giấy phép được cấp, không công khai tên người hành nghề, bằng cấp, chứng chỉ, kinh nghiệm làm việc; không niêm yết công khai giá các dịch vụ; sử dụng lao động không có chứng chỉ hành nghề, trình độ chuyên môn tương ứng; hoạt động không đúng địa điểm ghi trong giấy phép. Cá biệt có những cơ sở sử dụng “chui” lao động là người nước ngoài, không qua sự quản lý của các cơ quan chức năng về y tế và lao động. Việc tuân thủ quy trình khám chữa bệnh ở nhiều cơ sở còn bị xem nhẹ, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Những bất cập của bệnh viện tư nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và gây khó khăn cho công tác quản lý của Nhà nước. Nguyên nhân của những bất cập trên là do cơ chế, chính sách pháp luật liên quan đến hoạt động của bệnh viện tư nhân chưa hoàn thiện. Hiện chưa có hành lang pháp lý cụ thể cho bệnh viện tư. Các quy định pháp luật liên quan đến bệnh viện tư được quy định trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp…và các văn bản dưới luật. Điều này có thể gây khó khăn, lúng túng cho bệnh viện tư khi thực hiện các quy định của pháp luật vì các quy định còn chưa thống nhất, đồng bộ, hoặc một số quy định còn chưa phù hợp với thực tiễn. Do vậy việc nghiên cứu pháp luật bệnh viện tư nhân là cần thiết, vừa là cơ sở để hoàn thiện pháp luật vừa tạo động lực thúc đẩy bệnh viện tư nhân phát triển. Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

Bởi những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam” để hiểu rõ về quy trình thủ tục điều kiện, hoạt động của bệnh viện tư và đề xuất những giải pháp phù hợp hoàn thiện hệ thống pháp luật.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Bệnh viện tư nhân là một hình thức cơ sở khám, chữa bệnh trong y tế tư nhân. Có thể nói y tế tư nhân đã thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học. Nhiều công trình nghiên cứu y tế tư nhân có thể kể đến như:

Thực trạng chấp hành một số quy định của pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân năm 2003 tại các quận của thành phố Hà Nội” (556+567), tr.90-92; “Thực trạng một số vi phạm quy định của pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân năm 2003 tại các quận của thành phố Hà Nội”(569+570), tr.49-51 trên tạp chí Y học thực hành của tác giả Trần Quang Trung;

Đánh giá hiệu quả một số giải pháp tăng cường công tác quản lý hành nghề y tư nhân tại thành phố Đà Nẵng(2007-2009) trên tạp chí Y học thực hành (75), tr.70-73 của các tác giả Trần Quang Trung, Lê Ngọc Trọng, Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Huỳnh (2011);

Một số kết quả đat được của y tế tư nhân tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng (2007-2008) (741), tr (117-119) trên tạp chí Y học thực hành của các tác giả Trần Quang Trung, Lê Ngọc Trọng, Nguyễn Văn Hưng (2010);

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Quang Trung về “Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các cơ sở hành nghề y tế tư nhân tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và một số giải pháp can thiệp (2007-2009)”.

Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu về hoạt động chuyên môn của các cơ sở y tế tư nhân. Một số công trình nghiên cứu y tế tư nhân dưới góc độ pháp luật có thể kể đến:

  • Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công “Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế” của tác giả Nguyễn Hoàng Phúc (2000);
  • Luận án Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Huy Quang (2010).

Có thể thấy các công trình nghiên cứu mới chỉ quan tâm về chuyên môn y tế và quản lý nhà nước trong y tế tư nhân. Chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ về pháp luật bệnh viện tư nhân, từ đó đưa ra khuyến nghị hoàn thiện pháp luật, tăng cường kiểm tra, giám sát và tạo điều kiện cho hoạt động thực tiễn, nâng cao hiệu quả hoạt động của bệnh viện tư nhân.

3. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

3.1. Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của việc nghiên cứu đề tài là nhằm làm rõ, đánh giá tính phù hợp của các chế định pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện hoạt động của bệnh viện tư.

3.2. Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tổng quát, luận văn cần làm rõ những vấn đề lý luận về đặc điểm của bệnh viện tư, pháp luật tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư. Nghiên cứu về điều kiện, trình tự thủ tục cấp giấy phép hoạt động và thực trạng hoạt động của bệnh viện tư hiện nay. Đồng thời chỉ ra mặt hạn chế trong quy trình, thủ tục đó, ảnh hưởng đến hoạt động và chất lượng của bệnh viện tư. Từ những hạn chế đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về bệnh viện tư.

4. Tính mới và những đóng góp của đề tài

Có thể nói nghiên cứu pháp luật về tổ chức, hoạt động của bệnh viện tư là đề tài khá mới mẻ chưa có nhiều tác giả nghiên cứu sâu. Phần lớn những vấn đề được quan tâm là xây dựng y tế tư nhân, so sánh giữa y tế tư và y tế công… Việc nghiên cứu về điều kiện hoạt động không những đưa ra giải pháp tăng cường công tác quản lý mà còn hoàn thiện hệ thống y tế tư nhân, để hệ thống tư nhân phát triển bền vững, hạn chế những mặt tồn tại, những rủi ro đáng tiếc trong việc khám chữa bệnh cho người dân. Đề tài này cũng góp phần làm rõ lý luận trong việc nghiên cứu, điều chỉnh trình tự, thủ tục hoạt động của bệnh viện tư, những khó khăn trong phát triển bệnh viện tư.

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư ở Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm: Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật bảo hiểm y tế và các văn bản dưới luật, các nghị quyết của Đảng, chủ trương, chính sách pháp luật… về hoạt động của bệnh viện tư và thực trạng hoạt động của bệnh viện tư ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay. Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

6. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những nội dung sau: Cơ sở lý luận của pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân; Thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân Việt Nam hiện nay; Định hướng hoàn thiện và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân.

  • Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Phần lý luận chung về pháp luật về điều kiện hoạt động của bệnh viện tư sử dụng các phương pháp nghiên cứ bao gồm: phương pháp diễn dịch, phân tích, tổng hợp.

Phần thực trạng thực thi pháp luật trong hoạt động của bệnh viện tư sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp diễn dịch, thống kê, so sánh, phân tích.

Phần giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của bệnh viện tư sử dụng phương pháp nghiên cứu bao gồm: phương pháp phân tích, tổng kết, diễn dịch.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân
  • Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân

Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân

1.1. Khái quát về bệnh viện tư nhân

1.1.1. Khái niệm bệnh viện tư nhân

Trong những năm gần đây, hệ thống y tế Việt Nam ngày càng hiện đại, các dịch vụ y tế ngày càng phát triển và đem lại hiệu quả cao. Người dân có thêm nhiều cơ hội tiếp cận các thông tin y tế, được bảo vệ, chăm sóc nâng cao sức khỏe một cách khá toàn diện. Hệ thống y tế Việt Nam được tổ chức theo tổ chức hành chính bao gồm y tế tuyến trung ương, y tế tuyến địa phương, y tế cơ sở hoặc theo lĩnh vực hoạt động như khám chữa bệnh, điều dưỡng, y tế dự phòng, y tế công cộng, giám định, kiểm nghiệm, dược, thiết bị y tế hoặc tổ chức dựa theo tính chất chủ sở hữu bao gồm y tế Nhà nước và y tế tư nhân. Y tế tư nhân ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong hoạt động khám chữa bệnh. Khi y tế tư nhân phát triển thì các cơ sở y tế tư nhân đặc biệt là bệnh viện tư nhân cũng phát triển theo, cả về số lượng, quy mô và chất lượng dịch vụ thu hút ngày càng nhiều người dân có nhu cầu khám chữa, bệnh. Theo khoản 2, điều 2 của Pháp lệnh 07/2003/PL-UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về hành nghề y dược tư nhân: Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

Các cơ sở hành nghề y, dược tư nhân bao gồm:

  1. Cơ sở y, dược tư nhân;
  2. Cơ sở y, dược dân lập;
  3. Cơ sở y, dược có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong đó cơ sở y, dược tư nhân là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và quản lý, điều hành. Cơ sở y, dược dân lập là cơ sở do tổ chức đứng ra thành lập, được đầu tư bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước do tổ chức, cá nhân đóng góp và tự quản lý, điều hành. [24]

Là một bộ phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội y tế, bệnh viện là một cơ sở khám và điều trị bệnh được nhà nước công nhận, có chức năng chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân. Bệnh viện không chỉ có khả năng và phương tiện chẩn đoán bệnh, điều trị và phẫu thuật, có điều kiện thuận lợi cho việc điều trị ngoại trú, nội trú mà còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, bệnh viện còn có chức năng chỉ đạo tuyến, hệ thống các bệnh viện được tổ chức theo tuyến kỹ thuật, tuyến trên có trách nhiệm chỉ đạo kỹ thuật cho tuyến dưới; chức năng phòng bệnh, song song với khám, chữa bệnh, phòng bệnh là nhiệm vụ quan trọng của bệnh viện; chức năng hợp tác quốc tế, bệnh viện thực hiện hợp tác quốc tế theo quy định của Nhà nước; chức năng quản lý kinh tế, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của bệnh viện từng bước tổ chức thực hiện việc hạch toán chi phí về khám bệnh, chữa bệnh trong bệnh viện.

Bệnh viện thường được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, dựa vào chức năng chuyên môn để phân loại thành bệnh viện đa khoa có thể xét nghiệm, chữa trị hầu hết các loại bệnh, bệnh viện chuyên khoa dựa trên nhu cầu điều trị đặc biệt hoặc phân loại bệnh viện theo tuyến hoặc dựa vào tính chất sở hữu và hệ thống quản lý có thể phân loại thành bệnh viện công lập (do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật) và bệnh viện tư nhân (do cá nhân tổ chức không phải nhà nước đăng ký thành lập, sở hữu và điều hành). “Bệnh viện tư là một trong các thành phần kinh tế ngoài nhà nước cùng tham gia cung cấp các dịch vụ y tế, tham gia vào lực lượng xã hội để bổ khuyết cho khu vực y tế công” [12, tr.26], phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu khám, chữa bệnh trong xã hội. Nhiệm vụ của bệnh viện tư nhân được quy định cụ thể trong khoản 1 điều 7 Quyết định 217-BYT/QĐ:

Khám bệnh, kê đơn, chữa bệnh và làm các thủ thuật theo quy định của các cơ quan y tế có thẩm quyền và Hội đồng chuyên môn xét duyệt tiêu chuẩn hành nghề y tế tư nhân cùng cấp tuỳ theo năng lực cán bộ và các điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật khác.

Phải tiếp nhận và giải quyết mọi trường hợp cấp cứu hoặc sơ cứu rồi chuyển ngay bệnh nhân đến các cơ sở y tế Nhà nước gần nhất.

Như vậy, bệnh viện tư nhân là cơ sở y tế do các cá nhân, tổ chức góp vốn thành lập, thực hiện cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh, thực hiện đồng thời các mục tiêu kinh doanh và phát triển sự nghiệp y tế.

1.1.2. Đặc điểm của bệnh viện tư nhân Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

Là một tổ chức do các nhân, tổ chức đầu tư kinh doanh, thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho người dân, bệnh viện tư nhân vừa có những đặc điểm của doanh nghiệp vừa có đặc điểm của một đơn vị sự nghiệp.

Bệnh viện tư nhân là hình thức doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực khám, chữa bệnh, là cơ sở kinh doanh có điều kiện. Bệnh viện tư nhân hội tụ đầy đủ các điều kiện của một thương nhân bao gồm: “Thực hiện các hành vi thương mại một cách thường xuyên và lấy chúng làm nghề nghiệp của mình; Tự thân thực hiện các hành vi thương mại, tức là thực hiện các hành vi thương mại dưới danh nghĩa và tài khoản của họ” [5]. Bệnh viện tư nhân là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cung cấp dịch vụ thương mại là dịch vụ y tế nhằm mục đích sinh lợi. Bệnh viện tư tham gia vào các hoạt động kinh doanh với tư cách là chủ thể pháp luật độc lập, có khả năng bằng hành vi của mình, nhân danh chính mình tham gia các quan hệ pháp luật và tự chịu trách nhiệm đối với các hành vi đó. Các hoạt động kinh doanh của bệnh viện tư nhân được tiến hành thường xuyên, liên tục, và nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh đó. Để có thể đi vào hoạt động, bệnh viện tư phải đáp ứng các thủ tục hành chính như được cấp giấy phép đăng kí kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp và các giấy phép khác liên quan đến hoạt động chuyên môn. Ngoài ra doanh nghiệp thành lập bệnh viện còn phải đáp ứng các yêu cầu về nguồn lực con người, tài chính, cơ sở vật chất, quy trình quản lý, quy trình kỹ thuật, địa điểm kinh doanh v.v… theo quy định của pháp luật và duy trì những yêu cầu đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. Bệnh viện tư nhân là cơ sở kinh doanh có điều kiện do kinh doanh trong lĩnh vực khám chữa bệnh là ngành nghề có điều kiện theo quy định tại Luật Đầu tư.

Bệnh viện tư là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xã hội đặc biệt. Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa tồn tại chủ yếu dưới hình thái vô hình, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống của con người. Dịch vụ xã hội là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao giá trị đạo lý, nhân văn, vì con người, là hoạt động mang bản chất kinh tế – xã hội, do nhà nước, thị trường hoặc xã hội dân sự cung ứng, tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay tư của từng loại hình dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực: giáo dục – đào tạo, y tế, khoa học – công nghệ, văn hóa – thông tin, thể dục – thể thao và các trợ giúp xã hội khác [22]. Trong đó dịch vụ y tế chủ yếu do Nhà nước cung cấp, nhưng khu vực tư nhân cũng đã nhanh chóng tham gia cung cấp dịch vụ này, đặc biệt là khối bệnh viện tư nhân. Bệnh viện tư nhân cung cấp dịch vụ y tế là dịch vụ xã hội đặc biệt bởi: Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

Dịch vụ y tế cũng tham gia vào tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tạo cơ hội việc làm và tạo khả năng phát triển dịch vụ khác. Bên cạnh mục tiêu vì lợi nhuận, dịch vụ y tế còn bị điều tiết bởi yếu tố đạo đức, nhân văn, do dịch vụ y tế là dịch vụ xã hội tác động trực đến con người, gắn với trách nhiệm cao trước sức khỏe con người và tính mạng người bệnh. Chất lượng dịch vụ y tế không chỉ đơn thuần đánh giá bằng giá cả trên thị trường như các dịch vụ khác mà còn dựa trên sự hài lòng của người bệnh, kết quả công tác khám chữa bệnh, ứng xử, tác phong chăm sóc bệnh nhân của đội ngũ y bác sĩ…Dịch vụ y tế khác với các dịch vụ kinh tế hay xã hội khác vì liên quan đặc biệt đến các quyền con người như quyền được sống, quyền được bảo vệ sức khỏe. Tất cả mọi người trong xã hội không phân biệt lứa tuổi, giàu nghèo đều được hưởng một mức chăm sóc y tế tối thiểu như nhau. Do liên quan chặt chẽ đến yếu tố nhân đạo, nên dịch vụ y tế không bị nguyên tắc thị trường chi phối hoàn toàn. Nhà nước sử dụng hệ thống pháp luật để điều tiết và kiểm soát các doanh nghiệp bệnh viện trong việc cung ứng dịch vụ y tế theo yêu cầu của nhà nước, quy định, kiểm soát quy trình hoạt động của bệnh viện để đảm bảo quyền lợi cho người bệnh. Bệnh viện tư nhân do tư nhân thành lập dưới sự cho phép, ủy quyền của Nhà nước trong việc trực tiếp cung ứng dịch vụ y tế cho xã hội, được sự trợ giúp từ Nhà nước bằng các chính sách miễn, giảm thuế, các chính sách ưu đãi trong quá trình thành lập và hoạt động.

Trong cung ứng dịch vụ, việc xác định đối tượng phục vụ là rất quan trọng. Xác định được đối tượng phục vụ, doanh nghiệp sẽ đáp ứng đúng, kịp thời, nhu cầu của khách hàng, đảm bảo hoạt động cho doanh nghiệp. Bệnh viện tư là doanh nghiệp cung cấp hàng hóa là dịch vụ y tế phục vụ đối tượng khách hàng đặc biệt là người bệnh. Khách hàng ở đây là người bệnh, trên thực tế thường có ít thông tin về bệnh tật và chỉ định điều trị, do vậy hầu như người bệnh phải hoàn toàn dựa vào các quyết định của bệnh viện trong việc lựa chọn dịch vụ y tế, không thể tùy ý lựa chọn dịch vụ mà phải theo sự hướng dẫn của các y bác sĩ có chuyên môn. Cụ thể, khi người dân có nhu cầu khám chữa bệnh, việc điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu hoàn toàn do thầy thuốc quyết định. Như vậy, người ta chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị và ở một chừng mực nào đó, người chữa chứ không chủ động lựa chọn được phương pháp điều trị cho mình. Mặt khác, do dịch vụ y tế là loại hàng hoá gắn liền với tính mạng con người nên mặc dù không có tiền nhưng người bệnh vẫn cần được khám, chữa bệnh (mua dịch vụ). Điểm này khiến đối tượng khách hàng này trở nên đặc biệt, khác với các đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ khác không phải là sức khỏe, người mua có thể có nhiều giải pháp lựa chọn, thậm chí tạm thời không mua nếu chưa có khả năng tài chính [10]. Hơn nữa, sử dụng dịch vụ này, giữa khách hàng là người bệnh và bên cung cấp dịch vụ là bệnh viện không có sự thỏa thuận giá cả, giá dịch vụ là do cơ sở bệnh viện tư quyết định. Người bệnh là người có tổn thương về thể chất và tinh thần, luôn lo lắng cho thể trạng sức khỏe và tình hình bệnh tật của mình và họ thường chỉ tìm đến dịch vụ y tế khi không thể tự phục hồi tại nhà, do vậy họ mong muốn được sử dụng dịch vụ tốt nhất trong điều kiện có thể để hồi phục sức khỏe nhanh nhất. Đối tượng phục vụ của các bệnh viện tư thường là những người có điều kiện, có nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế chất lượng tốt, trang thiết bị hiện đại, quy trình khám chữa bệnh nhanh chóng, chính xác. Hiện nay các bệnh viện tư cũng tiến tới đa dạng hóa các đối tượng phục vụ bằng việc đăng kí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, vì cung cấp dịch vụ y tế là cung cấp dịch vụ xã hội liên quan đến an sinh xã hội, đảm bảo quyền cơ bản của con người là quyền được sống, được chăm sóc sức khỏe. Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

Bệnh viện tư nhân là doanh nghiệp vì sự nghiệp Nhà nước, vì cộng đồng hay còn gọi là đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Đơn vị sự nghiệp ngoài công lập là những tổ chức sự nghiệp không nằm trong khu vực nhà nước, được thành lập bởi các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, các cá nhân hoặc liên doanh giữa các tổ chức với nước ngoài, có tư cách pháp nhân, cung cấp các dịch vụ công, hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Bệnh viện tư nhân là đơn vị sự nghiệp ngoài công lập được khuyến khích xây dựng, thành lập theo chủ trương xã hội hóa y tế của Chính phủ. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Đảng, Quốc hội và Nhà nước đã có chủ trương xã hội hóa nhằm huy động các nguồn lực của xã hội, không những của Nhà nước mà còn của cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương cũng như các ban ngành đoàn thể và các tổ chức xã hội phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe. Nội dung chính là xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe, không phải là giảm đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước mà huy động các nguồn trên. Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của mỗi người dân, cộng động cũng như các cơ quan liên quan. Chủ trương xã hội hóa thực hiện theo quan điểm của Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, Khám bệnh, chữa bệnh.” [16]

Xã hội hóa sẽ đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Nhà nước, tập thể, dân lập, tư nhân) cho phép nhiều lực lượng có hiểu biết và kinh nghiệm nghề nghiệp tham gia các dịch vụ chăm sóc sức khỏe dưới sự quản lý của Nhà nước nhằm cung ứng dịch vụ ngày càng thuận tiện cho người dân và giảm bớt sức ép về ngân sách cho Nhà nước. Khuyến khích các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước thành lập các cơ sở khám chữa bệnh tư như bệnh viện tư nhân. Hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành trung ương khóa XVII đã ban hành Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Trong đó nêu rõ quan điểm “Đầu tư cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách và có cơ chế, chính sách huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; tổ chức cung cấp dịch vụ công, bảo đảm các dịch vụ cơ bản, đồng thời khuyến khích hợp tác công – tư, đầu tư tư nhân, cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu” [2]. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014) Về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Các chính sách ưu đãi về đất, tín dụng, thuế, khuyến khích phát triển y tế tư bao gồm cả bệnh viện tư nhân, bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài, phục vụ không chỉ nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân trong nước mà còn có thể thu hút các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người nước ngoài. Xã hội hóa y tế sẽ tạo điều kiện và cơ chế cho các nhà đầu tư rót vốn vào lĩnh vực y tế, xây dựng mới, cải tạo bệnh viện. Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

Bệnh viện tư nhân ra đời bắt nguồn từ nhu cầu của xã hội, là xu thế tất yếu của xã hội nhằm phục vụ cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khỏe. Hơn nữa xây dựng và thành lập bệnh viện tư nhân cũng xuất phát từ sự quan tâm và thực sự mong muốn hoạt động vì cộng đồng của chủ đầu tư vì để bệnh viện tư nhân đi vào hoạt động cần tổng vốn đầu tư rất lớn, trang thiết bị máy móc phục vụ cho công tác khám, chữa bệnh có thể lên đến nhiều tỷ đồng trong khi thu lợi từ hoạt động kinh doanh này phải diễn ra trong một thời gian dài nên đối với nhiều chủ đầu tư đây không phải là lĩnh vực đầu tư hấp dẫn. Bệnh viện tư nhân phải tuân thủ các yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ trong quá trình hoạt động để hướng tới sản phẩm đặc thù là sức khỏe người bệnh. Thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế bằng việc khuyến khích thành lập bệnh viện tư không những đáp ứng cho nhu cầu xã hội mà còn thể hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong công tác chăm sóc sức toàn dân, trong sự nghiệp y tế.

Từ những đặc điểm trên có thể nói bệnh viện tư là một chủ thể doanh nghiệp đặc biệt do bản chất có sự pha trộn giữa một đơn vị kinh doanh và một đơn vị sự nghiệp. Vậy nên pháp luật điều chỉnh hoạt động bệnh viện tư cũng cần có những đặc điểm đặc thù để đảm bảo cho bệnh viện tư có thể đồng thời đáp ứng được cả hai nhiệm vụ, nhiệm vụ của doanh nghiệp và nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp vì cộng đồng.

1.1.3. Vai trò của bệnh viện tư nhân

Sự ra đời và phát triển của bệnh viện tư nhân cả về quy mô và chất lượng là xu thế tất yếu phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân. Người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế đa dạng theo nhu cầu và yêu cầu, được phục vụ tận tình, chu đáo và tiết kiệm thời gian. Thu hút được nhiều người bệnh đến với mình cũng đồng nghĩa bệnh viện tư nhân đang chia sẻ gánh nặng quá tải với bệnh viên công nói riêng và khối y tế công lập nói chung trong việc cung cấp dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ khám chữa bệnh. Trong khi bệnh viện công luôn đối mặt với tình trạng quá tải mỗi ngày, các bác sĩ, nhân viên tại bệnh viện công gần như phải làm việc trong trạng thái căng thẳng, mệt mỏi nên khó có thể đáp ứng toàn bộ được sự hài lòng của bệnh nhân thì bệnh viện tư có thể coi là một giải pháp giảm thiểu sự quá tải cho bệnh viện công.

Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống các bệnh viện tư đã tạo ra sự cạnh tranh và những hiệu ứng tích cực đối với các cơ sở y tế công lập. “Nhiều đơn vị y tế công lập thời gian qua đã phải nhanh chóng đổi mới lề lối, tác phong phục vụ, đầu tư trang thiết bị hiện đại, không ngừng nâng cao chất lượng khám, điều trị để cạnh tranh” [20].Có thể nói sự phát triển của các bệnh viện tư nói riêng và hệ thống cơ sở y tế tư nhân nói chung đã kích thích thay đổi của hệ thống bệnh viện công theo hướng tích cực, giúp bệnh viện công thoát ra khỏi cách làm việc lâu năm trong cơ chế được bao cấp nguồn kinh phí hoạt động.

Việc đầu tư từ nhân lực đến vật lực của bệnh viện tư nhân còn góp phần hạn chế tình trạng “chảy máu ngoại tệ” do người dân ra nước ngoài khám, chữa bệnh. Hiện nay rất nhiều người dân Việt Nam có điều kiện, một phần vì tâm lý hướng ngoại, một phần vì mong muốn ở nước ngoài được khám chữa bệnh trong môi trường không quá tải, cơ sở vật chất hiện đại, thái độ phục vụ tận tình và tôn trọng bệnh nhân mà lựa chọn các nền y tế khác trong khu vực như Singapore, Malaysia…Theo ước tính của Bộ Y tế Việt Nam, trong năm 2018 có khoảng 60.000 lượt bệnh nhân trong nước ra nước ngoài điều trị làm “chảy máu” nguồn ngoại tệ khoảng 2 tỷ USD. Với chất lượng dịch vụ y tế chất lượng cao, đáp ứng từ thái độ chăm sóc, phong cách phục vụ, đặc biệt là trình độ chuyên môn, khả năng điều trị bệnh lý phức tạp, ứng dụng kỹ thuật y tế cao của hệ thống bệnh viện ngoài công lập có thể làm giảm con số 2 tỷ USD. Bệnh nhân được giảm rất nhiều chi phí cũng như bệnh viện có nguồn thu tái đầu tư, ngày càng nâng cao chất lượng dịch vụ hơn. Hơn nữa nếu có các phòng bệnh chất lượng cao thì số người nước ngoài hiện đang sinh sống và làm việc ở Việt Nam sẽ không phải trở về nước để chữa bệnh và chúng ta có thêm nguồn thu để dựng xây đất nước.

1.2. Pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

1.2.1. Khái niệm pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân

Pháp luật ra đời khi xã hội đã phát triển đến một mức độ nhất định và trở nên phức tạp, đặc biệt là khi trong xã hội có sự phân hóa các giai cấp có lợi ích đối lập nhau, khi phong tục, tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo không còn đủ khả năng duy trì được trật tự xã hội và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Nhà nước đã ban hành ra pháp luật để tổ chức và quản lý xã hội vừa để bảo vệ lợi ích của xã hội vừa để bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền. Thông thường pháp luật được hiểu khái quát như sau: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội vì sự tồn tại và phát triển của cả xã hội, đồng thời vì lợi ích, mục đích của giai cấp thống trị” [21].

Bệnh viện tư nhân là loại hình doanh nghiệp đặc biệt với những đặc điểm của một doanh nghiệp và một đơn vị sự nghiệp vì cộng đồng vậy nên để loại hình doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả cần có khung cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch, công khai. Pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân có thể hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình thành lập, tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân. Các quy định trong pháp luật về bệnh viện tư phải tạo ra được các cơ hội để doanh nghiệp bệnh viện tích cực, chủ động phát triển. Ngoài ra pháp luật về bệnh viện tư phải đạt được sự thống nhất, đồng bộ, có sự điều chỉnh phù hợp, kịp thời để giúp các doanh nghiệp bệnh viện không lúng túng trong quá trình hoạt động, đảm bảo công bằng với khối bệnh viện công vốn đã có thương hiệu lâu đời và được nhiều ưu đãi từ Nhà nước.

1.2.2. Đặc điểm pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân

Căn cứ vào đặc điểm của bệnh viện tư có thể thấy pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư cũng mang những đặc điểm đặc thù như sau:

Là một loại hình doanh nghiệp nên pháp luật về bệnh viện tư nhân cũng mang tính chất doanh nghiệp. Bệnh viện tư nhân chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp trong quá trình hoạt động như thành lập, tổ chức, tổ chức lại, mua bán, chuyển nhượng, góp vốn vào doanh nghiệp.

Bệnh viện tư nhân tham gia vào hoạt động kinh tế bằng việc cung cấp dịch vụ y tế để đạt được lợi nhuận. Song y tế là lĩnh vực đặc thù liên quan đến sức khỏe, tính mạng con người nên bên cạnh yếu tố lợi nhuận, hoạt động của bệnh viện tư còn là hoạt động chuyên môn cao vì cộng đồng, phục vụ cộng đồng, xã hội, là hoạt động đảm bảo an sinh xã hội, mang tính trách nhiệm cao. Do vậy pháp luật về bệnh viện tư cũng mang tính chất phục vụ, phúc lợi xã hội. Hoạt động của bệnh viện tư chịu sự điều chỉnh của Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật Bảo hiểm y tế.

1.2.3. Nội dung pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

Từ những đặc điểm pháp luật trên, có thể thấy các quy định về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư bao gồm những nội dung chính sau: Các quy định về điều kiện thành lập, tổ chức hoạt động cũng như tổ chức lại, quy định về mua bán, chuyển nhượng, góp vốn vào doanh nghiệp, các quy định về điều kiện hành nghề.

Đối tượng tham gia vào quan hệ pháp luật tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư là các chủ đầu tư có điều kiện, có số vốn nhất định để xây dựng, thành lập bệnh viện. Họ nhận thấy y tế là lĩnh vực tiềm năng và có nhu cầu về phục vụ cộng đồng. Do vậy các quy định về chủ thể pháp luật bệnh viện tư cần cụ thể và có những điều kiện nhất định đối với chủ đầu tư để thành lập bệnh viện. Chủ đầu tư phải có một tiêu chuẩn tối thiểu về năng lực, về pháp lý, về tài chính được xác định theo pháp luật để thực hiện một hợp đồng giao ước trong thời hạn hiệu lực. Trên thực tế, chủ đầu tư phải có đầy đủ khả năng về mọi trách nhiệm pháp lý đối với hợp đồng mà mình đã ký kết như khả năng về tài chính, về thanh toán cho dự án, tư cách pháp lý về quyền sử dụng đất, cũng như bảo hiểm, thanh toán lãi vay… và cung cấp các thông tin cơ bản có liên quan đến dự án khi có yêu cầu. Chủ đầu tư phải có khả năng và quyền hạn trong việc đưa ra các quyết định ràng buộc giữa các bên trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng theo pháp luật quy định đối với các tổ chức tư vấn cũng như các nhà thầu xây lắp, cung ứng vật tư thiết bị cho công trình, dự án.

Trình tự, thủ tục thành lập bệnh viện tư là các quy định của pháp luật về hồ sơ, thủ tục và cơ quan có thẩm quyền tiến hành đăng ký thành lập bệnh viện tư. Thành lập bệnh viện tư bao gồm các quy định cho phép thành lập và hoạt động bệnh viện. Thủ tục thành lập bệnh viện tư là thủ tục pháp lý được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Tùy thuộc vào mức độ cải cách hành chính và chủ trương của Nhà nước, nhu cầu của xã hội mà thủ tục này đơn giản hay phức tạp. Việc đăng ký hoạt động của bệnh viện tư là bắt buộc để xác định tư cách pháp lý của bệnh viện.

Về hồ sơ đề nghị thành lập bệnh viện tư đó là những giấy tờ, văn bản, tài liệu để chứng minh cho chủ thể có điều kiện thành lập bệnh viện. Có thể khái quát một cách chung nhất hồ sơ đề nghị thành lập bệnh viện bao gồm: hồ sơ xin quy hoạch, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động, đề án thành lập bệnh viện, điều lệ tổ chức và hoạt động bệnh viện, các giấy tờ chuyên môn như chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh… Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

Về trình tự thành lập và cơ quan có thẩm quyền đăng ký thành lập: Chủ đầu tư muốn thành lập bệnh viện phải nộp hồ sơ đề nghị thành lập bệnh viện tại cơ quan có thẩm quyền. Trong một khoảng thời gian nhất định do luật định cơ quan có thẩm quyền xem xét, nếu đủ điều kiện thì cấp giấy phép hoạt động cho bệnh viện.

Về tổ chức hoạt động: các hoạt động góp vốn, chuyển nhượng, mua bán sáp nhập doanh nghiệp cũng cần được quy định cụ thể. Pháp luật cần có những quy định hỗ trợ trong hoạt động và phát triển bệnh viện. Bệnh viện tư có thể được thành lập theo hình thức bệnh viện đa khoa hoặc bệnh viện chuyên khoa. Đối với bệnh viện đa khoa, các hoạt động chuyên môn bao gồm:

  • Khám chữa bệnh đa khoa và điều trị ngoại trú: Khám chẩn đoán điều trị các bệnh thông thường về nội, ngoại, nhi, sản phụ khoa, và các chuyên khoa mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt, da liễu… Sơ cấp cứu: bệnh nhân sơ cứu và cấp cứu đa khoa.
  • Về ngoại khoa: Điều trị phẫu thuật bệnh nhân với các bệnh lý: viêm ruột thừa, thủng dạ dày, chấn thương bụng (vỡ gan, vỡ lách, vỡ bàng quang, thủng ruột…), gãy xương, trật khớp, thoát vị bẹn, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, sỏi túi mật, sỏi đường mật, sỏi thận, u thận, u tuyến tiền liệt, dò hậu môn, trĩ…Phẫu thuật nội soi: sỏi túi mật, sỏi đường mật, u xơ tuyến tiền liệt, viêm ruột thừa, thủng dạ dày…
  • Về nội – nhi: Điều trị nội trú các bệnh lý thường gặp về nội khoa và nhi khoa, kể cả cấp cứu như: bệnh lý hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, tiết niệu, huyết học, nội tiết, cơ xương khớp, thần kinh, lão khoa…
  • Về sản phụ khoa: Điều trị nhiều bệnh như: u xơ tử cung, u nang buồng trứng, u xơ tuyến vú, sinh thường, sinh mổ (phẫu thuật Cesarien), chửa ngoài tử cung vỡ, sa sinh dục, sửa tầng sinh môn…
  • Về tai mũi họng: Chẩn đoán điều trị các bệnh lý thông thường như: cắt amidale, chỉnh vẹo vách ngăn, nạo xoang , cắt polype, nâng xương chính mũi, bóc u các loại, dẫn lưu apxe, thông vòi nhĩ, đốt cuốn mũi, điều trị viêm tai giữa, viêm tai xương chũm, dò luân nhĩ….
  • Về răng hàm mặt: trám răng, nhổ răng, chữa tủy, cạo vôi răng, chỉnh khớp cắn, chỉnh răng lệch, tẩy trắng răng, làm răng giả, hàm giả, mổ nạo tủy nha chu, mổ khe hở môi, khe hở vòm miệng, chấn thương hàm mặt, u vùng hàm mặt…
  • Về mắt: Chẩn đoán và điều trị các bệnh lý về mắt có hiệu quả cao: tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị…), điều trị đục thủy tinh thể (cườm mắt), glaucoma (thiên đầu thống)… Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

Ngoài ra bệnh viện tư còn có thể có các dịch vụ khám kiểm tra sức khỏe các cơ quan doanh nghiệp, dịch vụ khám bệnh tại nhà và dịch vụ khám, chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế.

Hoạt động của bệnh viện tư nhân là hoạt động được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra bệnh viện tư còn có những hoạt động khác để duy trì sự phát triển và phù hợp với yêu cầu nhà nước như hợp tác quốc tế, hợp tác với các cơ sở khám chữa bệnh khác, ứng phó với dịch bệnh, thiên tai, thảm họa…

Trong việc thành lập và tổ chức hoạt động của bệnh viện tư nhân các quy định phải chặt chẽ, rõ ràng, thống nhất, là cơ sở pháp lý cụ thể cho các doanh nghiệp đầu tư bệnh viện thực hiện, dễ dàng tiếp cận thị trường trong lĩnh vực y tế. Tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định, các văn bản pháp luật hay tình trạng lạc hậu không phù hợp với tình hình thực tại, không theo kịp với xu thế phát triển của xã hội và của nền kinh tế nói chung.

Pháp luật về bệnh viện tư bên cạnh việc đảm bảo theo đúng tinh thần Hiến pháp, theo chủ trương xã hội hóa của Chính phủ còn phải đảm bảo tạo ra cơ chế thông thoáng thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, hỗ trợ, đảm bảo quyền và lợi ích của các nhà đầu tư vì đầu tư xây dựng và thành lập và duy trì hoạt động của bệnh viện cần nguồn vốn rất lớn song việc thu lại lợi nhuận còn phải cân đối với các yếu tố xã hội. Hoạt động khám chữa bệnh là hoạt động mang tính chuyên môn cao, vì lợi ích chung xã hội vì cộng đồng nên pháp luật về bệnh viện tư cần đảm bảo quyền và lợi ích của người bệnh trong hoạt động khám chữa bệnh, khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại bệnh viện tư, tránh tình trạng tận thu, trục lợi trên người bệnh. Pháp luật về bệnh viện tư còn thể hiện vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.

1.3. Pháp luật về bệnh viện tư nhân ở một số nước trên thế giới Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

Mỹ luôn là quốc gia được biết đến với chất lượng y tế hàng đầu thế giới. Đất nước này tập trung những biện pháp y học tân tiến, những chuyên gia chuyên môn cao và những dịch vụ chăm sóc tốt nhất. Hầu hết các bệnh viện ở Mỹ đều thuộc quyền sở hữu của tư nhân. Mỹ không có hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân do nhà nước điều hành. Thay vào đó là hệ thống bệnh viện tư có tiêu chuẩn chất lượng cao. Việc sử dụng bệnh viện tư nhân mang lại những lợi ích như: thời gian chờ đợi ngắn, sự cạnh tranh đổi mới liên tục giữa các cơ sở. Tuy nhiên giá dịch vụ khám chữa bệnh ở Mỹ rất cao sẽ là trở ngại đối với những người không có bảo hiểm y tế tư nhân, không có khả năng chi trả. Hiện nay, nước Mỹ trở thành quốc gia có chi phí y tế đắt đỏ nhất thế giới (với chi phí y tế bình quân đầu người trên 7000 USD/năm) với 45 triệu người Mỹ (15% dân số) rất khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế do không có bảo hiểm y tế. [8]

Hàn Quốc có một hệ thống y tế hiện đại và minh bạch ở tất cả các cấp từ trung ương tới các địa phương, vùng, quận… Ở Hàn Quốc, không khó tìm bệnh viện tư nhân vì nó có ở hầu hết mọi nơi. Hệ thống chăm sóc sức khỏe của Hàn Quốc do khu vực tư nhân chi phối. Khoảng 90% bác sĩ và tuyệt đại đa số giường bệnh thuộc sở hữu tư nhân. Chính phủ có một vai trò hạn chế như một nhà cung cấp các dịch vụ y tế và có một chính sách tự do để điều chỉnh khu vực tư nhân. Nguồn tài chính cho y tế dựa trên sự kết hợp giữa các nguồn công và tư. Các bệnh viện đa khoa (trên 100 giường bệnh) được tách thành hai loại là bệnh viện công lập và bệnh viện tư nhân. Tỷ lệ bệnh viện công và bệnh viện tư ở Hàn Quốc lần lượt là khoảng 10% và 90% (Bộ Y tế và Phúc lợi Hàn Quốc, 2004). Khám ở bệnh viện tư nhân có ưu điểm là thủ tục đơn giản và nhận được kiểm tra y tế trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, phần lớn các bệnh viện tư nhân ở Hàn Quốc chỉ thích hợp khám và điều trị các bệnh đơn giản, trong trường hợp bệnh nghiêm trọng và cần những chẩn đoán phức tạp hơn thì nên đến bệnh viện đa khoa. [28]

Các bệnh viện ở Canada hầu hết hoạt động dưới hình thức tư nhân (cộng đồng) không vì lợi nhuận. Bệnh viện được điều hành bởi Ban quản lý cộng đồng hoặc là do tổ chức tình nguyện cộng đồng. Về bản chất, các bệnh viện này không hoàn toàn là tư nhân bởi nhà nước vẫn giám sát thông qua việc đưa ra các quy định và cung cấp ngân sách cơ bản cho hoạt động bệnh và giám sát chi tiêu ngân sách của bệnh viện. Chính quyền địa phương có quyền áp đặt các dịch vụ do bệnh viện cung cấp và thậm chí đóng cửa bệnh viện. Ngân sách này được quyết định dựa vào nhiều yếu tố và chính quyền có quyền tăng hoặc giảm ngân sách. Tại Canada số bác sĩ làm việc cho các cơ sở tư nhân chiếm 57.8%, họ được trả lương theo dịch vụ cung cấp và theo hợp đồng với các tổ chức y tế. Mức giá dịch vụ y tế do chính quyền địa phương quyết định. Chính quyền địa phương sẽ thực hiện việc đàm phán với Hiệp hội bác sĩ của địa phương mình để đưa ra mức giá chung thống nhất cho dịch vụ y tế của địa phương. [12, tr.57]

Các bệnh viện ở Pháp có thể là bệnh viện công, tư nhân phi lợi nhuận hoặc vì lợi nhuận. Nhưng trong mọi trường hợp, bệnh nhân được tự do lựa chọn bệnh viện của mình và ít nhiều sẽ được bảo hiểm xã hội như nhau. Các bệnh viện tư nhân vì lợi nhuận chiếm 40% tổng số bệnh viện ở Pháp nhưng 20% tổng số giường bệnh nội trú. Họ có xu hướng chuyên sâu vào một số lĩnh vực nhất định như phẫu thuật tự chọn, bao gồm 2/3 hoạt động. Lĩnh vực này đầu tư vào các quy trình phẫu thuật tương đối nhỏ, chẳng hạn như thực hiện 3/4 các quy trình phẫu thuật đục thủy tinh thể, nhưng hơn 60% trường hợp nhập viện vì rối loạn hệ tiêu hóa. Các bệnh viện tư nhân vì lợi nhuận có một hệ thống thanh toán với các thành phần khác nhau: biểu giá hàng ngày và một khoản thanh toán riêng dựa trên các quy trình chẩn đoán và điều trị. Ngoài ra, các bác sĩ làm việc trong các bệnh viện tư nhân vì lợi nhuận được trả lương trên cơ sở dịch vụ không giống như những người làm việc trong các bệnh viện công và phi lợi nhuận. Các bệnh viện tư nhân vì lợi nhuận đã được thanh toán hoàn toàn bằng cách sử dụng hệ thống dựa trên ca bệnh mới kể từ ngày 1 tháng 3 năm 2005.[26] Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

Một xu hướng quan trọng trong quỹ đạo hiện tại và tương lai của ngành y tế Trung Quốc là quá trình tư nhân hóa các bệnh viện y tế ngày càng tăng. Sự phát triển này được thúc đẩy bởi cả mong muốn của người tiêu dùng về trải nghiệm lấy bệnh nhân làm trung tâm hơn và các sáng kiến của chính phủ nhằm phân bổ gánh nặng chăm sóc từ các bệnh viện công.

Trong thập kỷ qua, số lượng giường bệnh tư nhân đã tăng gần theo cấp số nhân, trong khi tăng trưởng bệnh viện công tương đối trì trệ. Tăng trưởng kép hàng năm cho giường bệnh tư nhân là 31%, so với 6% cho bệnh viện công. Ngoài ra, số lượng bệnh viện tư nhân ở Trung Quốc đã tăng gấp đôi lên tổng số 16.900 bệnh viện chỉ trong sáu năm, từ 2011-2017, và hiện chiếm 57,2% số bệnh viện Trung Quốc.

Tuy nhiên, dù có sự tăng trưởng về số lượng cơ sở vật chất nhưng các bệnh viện tư nhân tạo ra doanh thu thấp hơn đáng kể so với bệnh viện công. Năm 2016, bệnh viện tư nhân chiếm phần lớn số bệnh viện nhưng tạo ra chưa đến 10% tổng doanh thu. Lý do cho sự khác biệt này chủ yếu nằm ở khối lượng bệnh nhân thấp hơn. Các bệnh viện tư có xu hướng là các bệnh viện chuyên khoa và nhỏ hơn, trong khi các bệnh viện công thường có nhiều giường bệnh, nhân viên và năng lực chăm sóc tốt hơn.

Vì các bệnh viện tư nhân có chi phí tự trả cao hơn cho bệnh nhân, nên bệnh viện tư thường phục vụ cho những công dân có bảo hiểm tư nhân, bao gồm cả người nước ngoài nước ngoài, khách du lịch y tế và các cá nhân giàu có Trung Quốc. Các bệnh viện này thu hút bệnh nhân hơn nữa bằng cách cung cấp dịch vụ chăm sóc theo định hướng với thời gian khám bệnh lâu hơn và tăng cường chú trọng vào chăm sóc dự phòng. Khu vực tư nhân được coi là một giải pháp giúp giải quyết những bất ổn ngày càng tăng về cách hệ thống chăm sóc sức khỏe Trung Quốc có thể hỗ trợ dân số già đang già đi nhanh chóng và sự gia tăng các bệnh mãn tính. Theo đó, chính sách công đã khuyến khích tăng trưởng thị trường chăm sóc sức khỏe tư nhân. Năm 2009, chính phủ cho phép các bác sĩ hành nghề tại nhiều cơ sở để giúp họ đồng thời làm việc tại các bệnh viện tư và công. Ngoài ra, chính phủ đã hạ thấp các rào cản đối với đầu tư tư nhân vào lĩnh vực y tế. Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 13, chính phủ cho phép tối đa 100% sở hữu nước ngoài tại các bệnh viện tư nhân, vốn trước đây yêu cầu quyền sở hữu tối thiểu là 30% của người Trung Quốc. Ngoài ra, trong năm 2014, các nhà đầu tư tư nhân được phép mua lại và quản lý các bệnh viện công hiện có.

Một vấn đề chính khác là giới hạn thanh toán của các chương trình bảo hiểm y tế xã hội. Một số bệnh viện tư nhân được miễn trừ để điều trị hoàn lại bằng bảo hiểm công. Tuy nhiên, có rất ít trường hợp đặc biệt này (37 ở Bắc Kinh, 43 ở Thượng Hải, 40 ở Hàng Châu, 17 ở Cáp Nhĩ Tân), so với tổng số bệnh viện của Trung Quốc (hơn 29.000). Vì các chương trình bảo hiểm y tế công cộng bao phủ 97% dân số Trung Quốc, nên hầu hết công dân hàng ngày đều không mấy quan tâm dịch vụ chăm sóc sức khỏe tư nhân. Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

Những bệnh nhân thiếu thu nhập khả dụng đáng kể tin rằng các bệnh viện tư nhân tồn tại vượt quá khả năng của họ. Vì bảo hiểm y tế công đã chi trả phần lớn chi phí y tế của họ, nên họ không thấy bất kỳ động lực cấp bách nào để theo đuổi các lựa chọn tư nhân.

Vì bệnh viện tư nhân mới phát triển nên họ vẫn phải đối mặt với sự kỳ thị từ khi bệnh viện tư nhân ít phổ biến hơn và có nhiều liên quan đến chăm sóc y tế tham nhũng hoặc bất hợp pháp. Sự kỳ thị này thường phổ biến ở những bệnh nhân cao tuổi hơn là những người trẻ tuổi.

Sự phát triển nhanh chóng của các bệnh viện tư nhân gần đây là vô cùng hứa hẹn. Để thành công bền vững, các bệnh viện tư nhân sẽ cần củng cố lòng tin của công chúng, thu hút các bác sĩ có kinh nghiệm, giải quyết các rào cản đối với các bác sĩ thực hành tại nhiều cơ sở và làm cho các lựa chọn tư nhân hợp lý hơn cho công chúng. Cuối cùng, các bệnh viện tư nhân phải tiếp tục cung cấp giá trị cho bệnh nhân của họ bằng cách cung cấp dịch vụ chăm sóc phòng ngừa, trải nghiệm lấy bệnh nhân làm trung tâm và tiếp cận với các loại thuốc và công nghệ hiện đại. [27]

Phần lớn hệ thống y tế các nước trên thế giới đều bao gồm khối bệnh viện tư nhân và khối bệnh viện công lập, vừa hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động vừa đa dạng hóa dịch vụ khám chữa bệnh, tạo thêm nhiều sự lựa chọn cho người dân. Tuy nhiên trong một hệ thống y tế hầu hết các bệnh viện thuộc sở hữu tư nhân như Mỹ sẽ dẫn tới tình trạng phúc lợi xã hội không được đảm bảo, người dân không được thực hiện các quyền được chăm sóc sức khỏe do chi phí y tế vượt quá khả năng chi trả. Do vậy pháp luật bệnh viện tư nhân ở Việt Nam cần thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước nhất là trong việc điều tiết giá dịch vụ khám, chữa bệnh để hoạt động của bệnh viện tư nhân đảm bảo cả hai mục tiêu kinh doanh và phục vụ cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khỏe. Bên cạnh đó có thể thấy pháp luật bệnh viện tư nhân của các nước đều có cơ chế hỗ trợ bệnh viện tư nhân phát triển vậy nên quy định, chính sách ưu đãi, hỗ trợ trong pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam là rất cần thiết. Quy định pháp luật hỗ trợ để hạn chế rào cản đầu tư vào y tế tư nhân, để bệnh viện tư nhân cạnh tranh công bằng và hợp tác cùng phát triển với khối bệnh viện công lập vốn có nhiều lợi thế và sự tự tin tưởng của người dân.

Bệnh viện tư nhân ở các nước luôn chiếm tỉ trọng đáng kể và có vai trò quan trọng trong hệ thống y tế. Căn cứ vào tình hình thực tiễn ở Việt Nam và từ cơ sở pháp luật bệnh viện tư nhân của một số nước trên thế giới có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân.

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

Trong thời đại hiện nay, việc phát triển bệnh viện tư nhân là xu thế tất yếu của xã hội do nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân ngày càng cao và mong muốn được sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh tốt nhất. Từ việc nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, vai trò của bệnh viện tư nhân có thể thấy bệnh viện tư nhân mang những đặc điểm của một chủ thể kinh doanh và một đơn vị sự nghiệp vì cộng đồng. Do vậy pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân cũng mang những đặc điểm riêng biệt.

Những vấn đề pháp luật về bệnh viện tư nhân bao gồm: khái niệm, đặc điểm, tổ chức, hoạt động cũng như tổ chức lại bệnh viện tư nhân. Pháp luật là cơ sở nền tảng của hoạt động bệnh viện tư nhân. Nghiên cứu pháp luật bệnh viện tư nhân, hướng tới hoàn thiện, xây dựng hệ thống pháp luật chất lượng cao, đồng bộ, thống nhất sẽ hỗ trợ cho bệnh viện tư nhân hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của xã hội trong lĩnh vực y tế. Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân

One thought on “Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464