Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quy định của pháp luật hiện hành về kháng nghị phúc thẩm hình sự

Quy định về kháng nghị phúc thẩm là “những quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của bộ luật này”. Đây là một quy định mang tính khái quát. Như vậy, những quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là những quyết định nào? Xét về nội dung, những quyết định của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là quyết định giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm “Những quyết định hành chính tư pháp nhằm đảm bảo hoạt động đúng đắn của trình tự phúc thẩm ,“không định đoạt việc giải quyết vụ án” thì không phải là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm”. Hiện nay, bộ luật tố tụng hình sự  2015 quy định một số quyết định là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm như sau: Quyết định khởi tố vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm; quyết định của Tòa án về việc áp dụng bắt buộc biện pháp chữa bệnh; quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Theo chúng tôi, quyết định này không quyết định, định đoạt việc giải quyết vụ án nên để không kéo dài thời gian tố tụng và thời gian giải quyết vụ án không nên đưa những quyết định này là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, cụ thể:

2.1.1 Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự

Thẩm quyền chi tiết: “Viện trưởng, Phó Viện trưởng viện kiểm soát nhân dân cấp huyện kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện; Tòa án tự mình khởi tố một vụ án và rồi lại tự mình xét xử vụ án – điều này sẽ dẫn đến một hệ quả như sau: Nếu có dấu hiệu tội phạm, có người phạm tội thật thì việc Tòa án quyết định khởi tố là đúng, hướng đi đúng với việc điều tra của Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát; nhưng nếu đó là bản án trắng, tức là không có tội phạm hay người phạm tội thì Tòa án sẽ phải tuyên án trắng chính vụ án mà mình đã khởi tố. Điều này còn dễ dàng dẫn đến hiện tượng, Tòa án muốn bảo vệ quan điểm khởi tố ban đầu của mình, và đương nhiên nó sẽ không còn vô tư, khách quan trong quá trình xét xử nữa.

Việc duy trì chức năng này không phải là không hợp lý, nó sẽ giúp cho việc không để lọt tội phạm, ngăn chặn sự nguy hiểm cho xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của công dân, bởi lẽ có thể trong quá trình điều tra, truy tố cơ quan điều tra, viện kiểm sát có thể bỏ sót tội phạm. Tuy nhiên, không nên quy định thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự trực tiếp cho HĐXX, mà chỉ nên quy định nếu trong quá trình có tội phạm hay người phạm tội mới cần điều tra thì HĐXX đề nghị Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án. Điều này trước hết là đảm bảo việc vô tư, khách quan trong xét xử, vừa phù hợp hơn với chức năng cũng như các giai đoạn tiêp theo của tố tụng hình sự, viện kiểm soát có thể kháng nghị toàn bộ hoặc một phần của bản án, quyết định; đối với tất cả bị cáo và những người tham gia tố tụng khác hoặc chỉ với một số người; hướng kháng nghị của viện kiểm soát cũng không bị hạn chế. Do thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm thuộc về viện kiểm soát cùng cấp và viện kiểm soát cấp trên trực tiếp nên sẽ có những trường hợp xảy ra như:

  • Nếu hai bản kháng nghị có tính chất bổ sung cho nhau thì tòa án cấp phúc thẩm sẽ chấp nhận để xét xử theo cả hai bản kháng nghị đó.
  • Nếu hai bản kháng nghị mâu thuẫn nhau, viện kiểm soát cùng cấp không rút kháng nghị của mình, viện kiểm soát cấp trên không hủy kháng nghị của viện kiểm soát nhân dân cấp dưới thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét kháng nghị của viện kiểm soát cấp trên trực tiếp do nguyên tắc hoạt động của viện kiểm soát nhân dân là tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành.

2.1.2. Phạm vi kháng nghị phúc thẩm hình sự Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

Điều 239 bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về kháng cáo, kháng nghị những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, tuy nhiên tại Khoản 2 của điều luật chỉ liệt kê các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, đó là quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, còn các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mà viện kiểm soát có quyền kháng nghị lại không được quy định cụ thể. Vì vậy, từ nội dung của điều luật ta có thể hiểu rằng viện kiểm soát có thể kháng nghị phúc thẩm đối với tất cả các quyết định tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm nếu phát hiện quyết định đó có VPPL nghiêm trọng.

BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể các quyết định sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị tại Khoản 2 Điều 330, đó là quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của LTTHS 2015.

2.1.3. Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự

Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự là khoảng thời gian tối đa mà bộ luật tố tụng hình sự quy định cho phép viện kiểm soát kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án. Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự được tính kể từ thời điểm bắt đầu đến thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị. điều luật quy định về đối tượng kháng cáo là “những quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của bộ luật này”. Đây là một quy định mang tính khái quát. Như vậy, những quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là những quyết định nào? Xét về nội dung, những quyết định của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là quyết định giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm “Những quyết định hành chính tư pháp nhằm đảm bảo hoạt động đúng đắn của trình tự phúc thẩm,“không định đoạt việc giải quyết vụ án” thì không phải là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm”.

Hiện nay, bộ luật tố tụng hình sự  2015 quy định một số quyết định kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm như sau: Quyết định khởi tố vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm; quyết định của Tòa án về việc áp dụng bắt buộc biện pháp chữa bệnh; quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Theo chúng tôi, quyết định này không quyết định, định đoạt việc giải quyết vụ án nên để không kéo dài thời gian tố tụng và thời gian giải quyết vụ án không nên đưa những quyết định này là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

2.1.4. Căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

Điều 357 bộ luật tố tụng hình sự  năm 2015 khi có căn cứ xác định bản án sơ thẩm đã tuyên không đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc có tình tiết mới; hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại tại Điều

  • BLTTHS năm 2015, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án quy định tại Điều
  • BLTTHS năm

Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất của vụ án.

Tòa án tự mình khởi tố một vụ án và rồi lại tự mình xét xử vụ án – điều này sẽ dẫn đến một hệ quả như sau: Nếu có dấu hiệu tội phạm, có người phạm tội thật thì việc Tòa án quyết định khởi tố là đúng, hướng đi đúng với việc điều tra của Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát; nhưng nếu đó là bản án trắng, tức là không có tội phạm hay người phạm tội thì Tòa án sẽ phải tuyên án trắng chính vụ án mà mình đã khởi tố. Điều này còn dễ dàng dẫn đến hiện tượng, Tòa án muốn bảo vệ quan điểm khởi tố ban đầu của mình, và đương nhiên nó sẽ không còn vô tư, khách quan trong quá trình xét xử nữa.

Việc duy trì chức năng này không phải là không hợp lý, nó sẽ giúp cho việc không để lọt tội phạm, ngăn chặn sự nguy hiểm cho xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của công dân, bởi lẽ có thể trong quá trình điều tra, truy tố cơ quan điều tra, viện kiểm sát có thể bỏ sót tội phạm. Tuy nhiên, không nên quy định thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự trực tiếp cho HĐXX, mà chỉ nên quy định nếu trong quá trình có tội phạm hay người phạm tội mới cần điều tra thì HĐXX đề nghị Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án. Điều này trước hết là đảm bảo việc vô tư, khách quan trong xét xử, vừa phù hợp hơn với chức năng cũng như các giai đoạn tiêp theo của tố tụng hình sự [22, tr.34].

  • Kết luận, quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.

Kết luận, quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án điều này có nghĩa là, trong phần xét thấy, phần quyết định của bản án hoặc quyết định sơ thẩm có những vấn đề không phù hợp với các tình tiết khách quan đã được điều tra, xác minh, thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa hoặc những tình tiết khách quan của vụ án được làm rõ tại phiên tòa qua phần xét hỏi, tranh luận. Kết luận trong bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án bị coi là không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.

  • Có sai lầm trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác

Theo như tác giả đã phân tích ở trên, quy định của bộ luật tố tụng hình sự hiện nay đã khá rõ ràng, và theo đó, chúng tôi cho rằng, quan điểm thứ hai là chính xác. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cho rằng, điều này là thiếu hợp lý so với hướng dẫn của Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP. Bởi việc quy định như quan điểm thứ hai trong nhiều trường hợp sẽ bất lợi cho các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị do phiên tòa kết thúc muộn và việc tuyên án diễn ra gần như cuối ngày. Do đó, để bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể đó, chúng tôi cho rằng, nên có hướng dẫn hoặc quy định về thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị như Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP. Về thời hạn được quy định: Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, thời hạn được quy định là quá ngắn, trong nhiều trường hợp không đảm bảo thời gian cho việc xem xét tiến hành kháng cáo, kháng nghị.

  • Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng thành phần theo luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng

Theo quy định tại Điều 254 bộ luật tố tụng hình sự  năm 2015 thì thành phần Hội đồng xét xử gồm:

  1. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.
  2. Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán“ [22, tr.122].

Theo quy định tại khoản 1 Điều 262 bộ luật tố tụng hình sự 2015, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao, gửi bản án cho các chủ thể, đối tượng theo quy định. Như vậy, pháp luật cho phép Tòa án gửi bản án trong thời hạn 10 ngày nhưng chỉ cho thực hiện việc kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 15 ngày (30 ngày đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp) là không hợp lý. Nếu như bản án được Tòa án giao gửi đúng trong thời hạn 10 ngày, đồng nghĩa với việc chỉ còn 5 ngày để thực hiện việc kháng cáo, kháng nghị và thời gian này là không đủ để xem xét bản án, quyết định có kháng cáo, kháng nghị hay không. Đồng thời, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp cũng có khó thể nghiên cứu hồ sơ để phát hiện căn cứ kháng nghị trong thời gian 20 ngày.

2.1.5. Trình tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm hình sự

VKS thực hiện việc ban hành Quyết định kháng nghị khi có đủ căn cứ để tiến hành việc kháng nghị phúc thẩm hình sự theo luật định. Quyết định kháng nghị phải thể hiện được các nội dung sau: tên của viện kiểm soát ra quyết định; ngày, tháng, năm ban hành quyết định; số của quyết định; phạm vi kháng nghị là toàn bộ hay một phần bản án, quyết định sơ thẩm; lý do, căn cứ kháng nghị và yêu cầu của viện kiểm soát; về việc xem xét kháng cáo quá hạn: Theo quy định tại Điều 335 bộ luật tố tụng hình sự  2015 về kháng cáo quá hạn, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán xem xét kháng cáo quá hạn. Đồng thời, điều này cũng quy định phiên họp xét kháng cáo quá hạn phải có sự tham gia của Kiểm sát viên và trong thời hạn 03 ngày trước ngày xét đơn, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi đơn kháng cáo kèm theo tài liệu, đồ vật cho Viện kiểm sát cùng cấp. Điều này có nghĩa, việc thành lập Hội đồng xem xét kháng cáo quá hạn và việc tổ chức phiên họp xét kháng cáo quá hạn là hai hoạt động khác nhau và pháp luật chỉ đặt ra thời hạn đối với việc thành lập Hội đồng mà không ghi nhận thời hạn giải quyết kháng cáo quá hạn.

Theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP, việc xét kháng cáo quá hạn được thực hiện trước khi mở phiên tòa phúc thẩm. Chúng tôi cho rằng, cần đặt ra thời hạn đối với vấn đề này bởi quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo quá hạn có ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ thể kháng cáo.Đồng thời, trong trường hợp kháng cáo quá hạn được chấp nhận, các chủ thể có liên quan cũng cần có thời gian để xem xét, chuẩn bị cho việc mở phiên tòa phúc thẩm. Do đó, cần đặt ra vấn đề về thời hạn giải quyết kháng cáo quá hạn. Theo đó, chúng tôi cho rằng có thể quy định thời hạn này là 15 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo kèm các chứng cứ, tài liệu liên quan, bởi so với việc xem xét bản án để quyết định kháng cáo, kháng nghị, việc xem xét kháng cáo quá hạn có thể hoàn thành trong thời gian đó.

Hiện nay, pháp luật không ghi nhận trường hợp kháng nghị quá hạn của Viện kiểm sát. Có quan điểm cho rằng, bởi nếu quá thời hạn kháng nghị phúc thẩm Viện kiểm sát có quyền kháng nghị giám đốc thẩm.Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng vẫn nên ghi nhận trường hợp kháng nghị quá hạn. Bởi tính chất của xét xử phúc thẩm và giám đốc thẩm là hoàn toàn khác nhau.

2.1.6. Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

Khi viện kiểm soát đã gửi kháng nghị, Tòa án đã thụ lý ở cấp phúc thẩm. Bên cạnh đó, viện kiểm soát có thẩm quyền sẽ thực hiện nhiệm vụ thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp như: viện kiểm soát nhận thấy quyết định kháng nghị chưa đầy đủ, cần bổ sung kháng nghị, viện kiểm soát nhận thấy việc kháng nghị là không đúng quy định, không cần thiết nên cần rút kháng nghị hay nội dung kháng nghị cần phải thay đổi cho phù hợp, lúc đó viện kiểm soát sẽ thực hiện việc thay đổi, rút hoặc bổ sung kháng nghị phúc thẩm.

Về nội dung biên bản kháng cáo: Điều 332 bộ luật tố tụng hình sự  chỉ ghi nhận nội dung cần có trong đơn kháng cáo mà không quy định biên bản kháng cáo trong trường hợp kháng cáo trực tiếp tại Tòa án phải có những nội dung gì. Mặc dù vấn đề này nhìn chung thuộc về nghiệp vụ của Tòa án, tuy nhiên, để thống nhất cũng như đảm bảo nội dung của biên bản, chúng tôi cho rằng cần quy định thêm vấn đề này.

Trong hệ thống pháp luật nước ta nói chung, có không ít các thủ tục có thể thực hiện bằng đơn hoặc trình bày trực tiếp, hầu hết các vấn đề đó đều ghi nhận nội dung của biên bản khi trình bày trực tiếp phải có các nội dung như đối với đơn. Do đó, chúng tôi đề xuất bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 332 như sau: “2. Đơn kháng cáo, biên bản về việc kháng cáo có các nội dung chính:….”

Thứ hai, kháng cáo trực tiếp tại Tòa án là một hình thức kháng cáo được pháp luật ghi nhận, do đó, về nguyên tắc, hình thức này cũng được thực hiện khi kháng cáo quá hạn. Tuy nhiên, Điều 335 bộ luật tố tụng hình sự  2015 về kháng cáo quá hạn lại không hề nhắc đến trường hợp này. Đây là một thiếu sót trong quy định của bộ luật tố tụng hình sự 2015 về việc kháng cáo quá hạn. Do đó, chúng tôi đề xuất sửa đổi quy định này bằng cách thay thế cụm từ “đơn kháng cáo quá hạn” bằng cụm từ “đơn kháng cáo quá hạn, biên bản về việc kháng cáo quá hạn” trong toàn bộ quy định của Điều 335.

2.1.7. Hậu quả pháp lý của kháng nghị phúc thẩm hình sự

Theo khoản 1 Điều 237 bộ luật tố tụng hình sự  năm 2003 thì hậu quả của việc kháng nghị là những phần của bản án bị kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành; đối với bản án hoặc quyết sơ thẩm bị kháng cáo toàn bộ thì toàn bộ bản án hoặc quyết đó chưa có hiệu lực pháp luật và không được đưa ra thi hành, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật này.

Quy định này nhằm bảo đảm trên thực tiễn khi xét xử vụ án theo trình tự giám đốc thẩm có nhiều trường hợp đã rõ ràng về chứng cứ, không cần phải xét xử lại như có đủ căn cứ để giảm nhẹ hình phạt hoặc giảm mức bồi thường cho bị cáo nhưng do quy định hiện hành Hội đồng giám đốc thẩm không có quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, chỉ được hủy án để xét xử lại làm việc giải quyết vụ án kéo dài, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người dân, gây tốn kém, lãng phí ngân sách Nhà nước.

Việc cho phép Hội đồng giám đốc thẩm sửa án không vi phạm nguyên tắc Hiến định “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” mà lại đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Để đảm bảo tranh tụng, bộ luật tố tụng hình sự  năm 2015 đã bổ sung quy định trường hợp có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm. Tuy nhiên, nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn được tiến hành.

2.2. Thực trạng áp dụng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định từ năm 2015 đến năm 2019 Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

2.2.1. Tình hình đặc điểm của việc chấp hành pháp luật và tội phạm có liên quan đến áp dụng kháng nghị phúc thẩm hình sự trên địa bàn tỉnh Bình Định từ năm 2015 đến năm 2019

Qua các báo cáo công tác ngành Kiểm sát và số liệu thống kê tổng hợp của VKSND tỉnh Bình Định qua các năm từ 2015 đến năm 2019 đều có đề cập đến kết quả áp dụng kháng nghị phúc thẩm hình sự, qua đó cho thấy:

Số vụ án và bị cáo đưa ra xét xử sơ thẩm là 2.993 vụ/5.588 bị cáo; số vụ án và bị cáo được thụ lý phúc thẩm là 1.091 vụ/1.857 bị cáo, trong đó số vụ án và bị cáo bị viện kiểm soát nhân dân hai cấp tỉnh Bình Định kháng nghị phúc thẩm là 107 vụ/191 bị cáo. Như vậy, trung bình mỗi năm đã xét xử sơ thẩm 559 vụ/1.118 bị cáo; thụ lý phúc thẩm là 218 vụ/371 bị cáo; ban hành 21 kháng nghị phúc thẩm; tỷ lệ giữa bị cáo có kháng nghị so với tổng số bị cáo thụ lý phúc thẩm là 10,64% (trong đó năm 2015 là 3,33%; năm 2016 là 2,84%; năm 2017 là 12,07%; năm 2018 là 14,08%; năm 2019 là 20,87%). Kháng nghị trên một cấp vẫn còn ít, trung bình trong 05 năm là 11 vụ/17 bị cáo được viện kiểm soát cấp trên kháng nghị phúc thẩm. Từ năm 2015 đến năm 2019, viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định kháng nghị phúc thẩm đối với 84 bị cáo của 57 vụ, chiếm tỷ lệ 43,98% trên tổng số bị cáo do hai cấp kháng nghị.

Qua phân tích cho thấy số lượng án và bị cáo có kháng nghị của viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định tăng qua hằng năm: Năm 2015 là 10 vụ/15 bị cáo; năm 2016 là 10 vụ/11 bị cáo; năm 2017 là 16 vụ/39 bị cáo; năm 2018 là 24 vụ/40 bị cáo; năm 2019 là 47 vụ/87 bị cáo có kháng nghị phúc thẩm [Xem phụ lục 2.1 và 2.2].

Về thực trạng số vụ án, số bị cáo bị xét xử phúc thẩm và số vụ án, số bị cáo có kháng nghị phúc thẩm được đưa ra xét xử từ năm 2015 đến năm 2019 trên địa bàn tỉnh Bình Định cụ thể như sau:

Tổng số vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm là 781 vụ/1.340 bị cáo, trung bình mỗi năm có 156 vụ/268 bị cáo được đưa ra xét xử phúc thẩm, trong đó tổng số vụ có kháng nghị đưa ra xét xử phúc thẩm là 77 vụ/142 bị cáo, trung bình mỗi năm có 15 vụ/28 bị cáo có kháng nghị được đưa ra xét xử phúc thẩm. Như vậy, đối với các vụ án đã đưa ra xét xử phúc thẩm thì tỷ lệ giữa số bị cáo có kháng nghị đưa ra XXPT chiếm tỷ lệ thấp, chỉ 10,6% so với số bị cáo đã đưa ra xét xử phúc thẩm (cụ thể: năm 2015 chiếm tỷ lệ 4,09%; năm 2016 chiếm tỷ lệ 2,07%; năm 2017 chiếm tỷ lệ 16,03%; năm 2018 chiếm tỷ lệ 13,11%; năm 2019 chiếm tỷ lệ 22,75%). Tuy nhiên, qua phân tích số liệu có thể thấy mặc dù tỷ lệ giữa số bị cáo có kháng nghị đưa ra XXPT chiếm tỷ lệ thấp so với tổng số bị cáo được đưa ra XXPT nhưng trong 05 năm tỷ lệ này vẫn có xu hướng tăng, duy chỉ có năm 2016 tỷ lệ giảm thấp (đạt 2,7%) [Xem phụ lục 2.3]. Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

Kết quả giải quyết các vụ án có kháng nghị phúc thẩm hình sự của viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 như sau:

Số vụ án và bị cáo bị viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định kháng nghị phúc thẩm hình sự là 107 vụ/191 bị cáo; số vụ viện kiểm soát rút kháng nghị: 11 vụ/43 bị cáo (chiếm tỷ lệ 10,28% số vụ và 22,51% số bị cáo); số vụ viện kiểm soát cấp tỉnh bảo vệ kháng nghị là 66 vụ/99 bị cáo, trong đó Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị đối với 60 vụ/86 bị cáo (chiếm tỷ lệ 90,9% số vụ, 86,87% số bị cáo), không chấp nhận kháng nghị đối với 06 vụ/10 bị cáo (chiếm tỷ lệ 9,1% số vụ, 13,13% số bị cáo). Phần lớn các kháng nghị phúc thẩm của viện kiểm soát được cấp phúc thẩm được chấp nhận đều là kháng nghị các yêu cầu khắc phục những sai sót của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm như: đề nghị tăng hình phạt; chuyển hình phạt từ cho hưởng án treo sang hình khác về áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS; về tổng hợp các loại hình phạt;… [Xem phụ lục 2.4].

Kết quả xét xử theo thủ tục phúc thẩm cho thấy: tổng số bị cáo bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy, sửa án là 98 bị cáo trên tổng số bị cáo Tòa án đưa ra xét xử 1340 bị cáo (chiếm tỷ lệ 7,31%). Tổng số bị cáo bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy, sửa án thông qua kháng nghị là 98 bị cáo trên tổng số bị cáo bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy, sửa 98 bị cáo (chiếm tỷ lệ 100%). Như vậy, số bị cáo bị Tòa án phúc thẩm hủy, sửa án vẫn hoàn toàn là thông qua kháng nghị [Xem phụ lục 2.5].

2.2.2. Những kết quả đạt được qua công tác áp dụng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định

  • Kháng nghị phúc thẩm hình sự đã khắc phục những sai sót cơ bản của Toà cấp sơ thẩm về áp dụng quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại

Phần lớn các kháng nghị được cấp phúc thẩm chấp nhận đều là những kháng nghị yêu cầu khắc phục những sai sót của Toà án cấp sơ thẩm như vấn đề áp dụng điểm, khoản, điều luật áp dụng, về mức hình phạt, về việc cho hưởng án treo, về định tội danh, về tuyên bị cáo không phạm tội cũng như những vấn đề khác về mức bồi thường, hình phạt bổ sung…

Về áp dụng mức hình phạt, chỉ tính riêng trong 05 năm từ 2015 đến năm 2019 đối với cấp phúc thẩm, thông qua kháng nghị, đã tăng hình phạt đối với 110 bị cáo; giảm hình phạt đối với 95 bị cáo. Phần lớn các bị cáo bị kháng nghị tăng hoặc giảm hình phạt do toà án cấp sơ thẩm chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội nên xử quá nhẹ hoặc quá nặng. Có 17 bị cáo bị tăng từ chung thân lên tử hình, 25 bị cáo tăng hình phạt từ tù có thời hạn lên tù chung thân; giảm hình phạt từ tử hình xuống chung thân cho 04 bị cáo, từ chung thân xuống tù có thời hạn 04 bị cáo. Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

Thông qua kháng nghị cấp phúc thẩm trung ương đã cải tội danh với 50 bị cáo; không cho hưởng án treo 63 bị cáo; cho hưởng án treo đối với 18 bị cáo; huỷ án sơ thẩm về việc tuyên không phạm tội đối với 19 bị cáo. kháng nghị phúc thẩm hình sự đã khắc phục những vi phạm trong thực hiện quá trình tố tụng hình sự  của TAND cấp sơ thẩm, như bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo đã được điều tra, truy tố; nghị án kéo dài (như trường hợp nghị án kéo dài 20 ngày đối với vụ án Trần Văn Lâm – thành phố Quy Nhơn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”); việc xét hỏi sơ sài, phiến diện, không xét hỏi đối với từng bị cáo để làm rõ nội dung vụ án (như vụ án Lưu Đức Huy – thị xã Hoài Nhơn, hội đồng xét hỏi chỉ xét hỏi 3/4 bị cáo còn lại 1/4 bị cáo không được xét hỏi). Ngoài ra, công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của viện kiểm soát nhân dân hai cấp tỉnh Bình Định trong thời gian 05 năm qua đã khắc phục được những sai sót của bản án sơ thẩm về vấn đề bồi thường thiệt hại, các biện pháp tư pháp khác…

  • Kháng nghị phúc thẩm hình sự đã có nhiều chuyển biến theo tinh thần Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/02/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới

Sau khi Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/02/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới được ban hành, công tác kháng nghị phúc thẩm trên địa bàn tỉnh Bình Định đã có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng kháng nghị đã được nâng cao hơn. Các viện kiểm soát cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bình Định đã chú trọng từ hình thức đến nội dung của kháng nghị nhằm bảo đảm tình có căn cứ và chặt chẽ về mặt pháp luật [36, tr.7]. Các viện kiểm soát cấp phúc thẩm đã tăng cường rút kinh nghiệm về công tác này đối với các viện kiểm soát cấp sơ thẩm do đó chất lượng kháng nghị đã tăng lên rõ rệt. Các viện kiểm soát cả hai cấp đã chú trọng tới những vụ án được dư luận quan tâm, nhất là các vụ án về đấu tranh chống tham nhũng, bảo đảm sự phán xét nghiêm minh hơn. Thông qua việc kháng nghị đã giải toả được những bức xúc trong dư luận báo chí và được người dân đồng tình ủng hộ. Điển hình là vụ án 4 bị can liên quan đến vụ sai phạm trong quản lý, sử dụng đất xảy ra tại thị trấn Phù Mỹ, huyện Phù Mỹ, đây là vụ án sau khi XXST đã gây bức xúc trong dư luận xã hội. viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định đã ban hành kháng nghị phúc thẩm hình sự, việc này đã tạo ra dư luận tốt trong xã hội, lấy lại niềm tin trong quần chúng nhân dân. Kết quả XXPT đã huỷ bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại theo hướng tăng hình phạt đối với các bị cáo và mở rộng việc điều tra đối với một số đối tượng khác và đã được TAND tỉnh Bình Định chấp nhận.

Vấn đề bảo đảm việc truy tố không để xảy ra oan sai và cũng như không bỏ lọt tội phạm theo tinh thần Nghị quyết 08/NQ-TW luôn được viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định coi là nhiệm vụ hàng đầu. 11 đơn vị viện kiểm soát nhân dân huyện, thị xã, thành phố trực thuộc viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định đã đặc biệt chú trọng tới các trường hợp Toà án tuyên không phạm tội. bộ luật tố tụng hình sự  năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về thẩm quyền tố tụng hình sự  của các cơ quan tố tụng cấp phúc thẩm, theo đó cấp phúc thẩm có thẩm quyền huỷ án sơ thẩm để xét xử lại trong trường hợp toà án cấp sơ thẩm tuyên không phạm tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó phạm tội. Đây là quy định mới tăng thẩm quyền cho cấp phúc thẩm nhằm bảo đảm cho việc xử lý vụ án nhanh chóng hơn. Sau khi bộ luật tố tụng hình sự  năm 2015 có hiệu lực thi hành, chỉ riêng viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định đã kháng nghị phúc thẩm hình sự, yêu cầu cấp phúc thẩm huỷ án sơ thẩm đối với 23 bị cáo. Toà án cấp phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị của viện kiểm soát, huỷ án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng các bị cáo có phạm tội đối với 16/98 bị cáo (chiếm 16,33%).

Ngoài ra, kháng nghị phúc thẩm hình sự cũng đã tập trung đấu tranh đối với một số loại tội phạm phục vụ yêu cầu phòng ngừa, răn đe, giáo dục pháp luật chung cho quần chúng Nhân dân như việc xử lý nghiêm đối với loại tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ, khi mà xu hướng của loại tội phạm này ngày càng gia tăng về số vụ, số người chết và số người bị thương, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, gây bức xúc trong dư luận quần chúng Nhân dân. Nhìn chúng, những năm vừa qua, tình hình tai nạn giao thông ở nước ta ngày càng gia tăng cả về số vụ tai nạn, số người chết và bị thương, tính chất vi phạm nghiêm trọng với các lỗi phóng nhanh, vượt ẩu, sử dụng ma túy, chất kích thích khi điều khiển phương tiện, lái xe không đáp ưng tiêu chuẩn theo quy định. Thông qua kháng nghị phúc thẩm hình sự đã tăng hình phạt hoặc không cho hưởng án treo đối với nhiều bị cáo phạm loại tội này góp phần tích cực vào chương trình “An toàn giao thông quốc gia”, kéo giảm tai nạn giao thông, vì bình yên và hạnh phúc của Nhân dân. Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

  • Kháng nghị phúc thẩm hình sự góp phần tích cực trong công tác đấu tranh chống và phòng chống tội phạm

Thực hiện Chỉ thị 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTP trong tình hình mới, cấp ủy, chính quyền các cấp đã có nhiều nỗ lực trong lãnh, chỉ đạo; nhận thức của cán bộ, Đảng viên và Nhân dân về công tác này đã được nâng lên. Nhân dân đã cung cấp hàng chục nghìn nguồn tin cho lực lượng chức năng về hoạt động của tội phạm. Công tác phòng, chống tội phạm đạt và vượt các chỉ tiêu do Quốc hội, Chính phủ đề ra (khám phá án hình sự đạt trung bình 75%, các vụ trọng án đạt 95%); kiềm chế gia tăng tội phạm, triệt xóa nhiều băng, nhóm tội phạm nguy hiểm; tội phạm nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đều giảm; đấu tranh hiệu quả với tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường; phát hiện và triệt xóa nhiều đường dây mua bán, vận chuyển ma túy lớn xuyên quốc gia, nhiều tụ điểm ma túy phức tạp…. đã tiến hành quyết liệt, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Trên địa bàn tỉnh Bình Định, mặc dù tình hình tội phạm trong thời gian qua diễn biến còn nhiều phức tạp, nhiều vấn đề mới nảy sinh nhưng so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra của việc triển khai thực hiện Chỉ thị 48 về cơ bản Bình Định đã hoàn thành. Cụ thể, Bình Định đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cấp cơ sở cùng vào cuộc trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm; sự vào cuộc quyết liệt của các cấp ủy đảng, sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của các ban, ngành, địa phương đã góp phần kiềm chế hoạt động, ngăn chặn được sự phát triển của các loại tội phạm trong thời gian qua. Để đạt được những thành tựu nói trên trong công tác đấu tranh chống và phòng chống tội phạm, cấp ủy, chính quyền địa phương đã phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các ngành, lĩnh vực, của tất cả mọi người, mọi tầng lớp dân chúng trong xã hội.

Trong đó, hoạt động của các cơ quan tư pháp tỉnh Bình Định nói chung và của viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định nói riêng đã góp phần không nhỏ trong công cuộc xây dựng và phát triển địa phương, đặc biệt là trong công cuộc đấu tranh và phòng chống tội phạm để giữ vững an ninh trật tự, bình yên và hạnh phúc của Nhân dân. Thông qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử nói chung và đặc biệt là công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng, ngành kiểm sát tỉnh Bình Định đã góp phần tích cực trong công cuộc đấu tranh và phòng chống tội phạm bảo đảm trật tự an toàn xã hội, góp phần tích cực xây dựng quê hương Bình Bình tự hào là đất võ trờ văn, ngày càng giàu đẹp và phát triển.

Thông qua công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, viện kiểm soát đã góp phần trong việc thực hiện đấu tranh kiên quyết và có hiệu quả đối với các loại tội phạm nhất là đối với các loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm như tội phạm về ma túy, các tội phạm tham nhũng, kinh tế, chức vụ, các tội xâm phạm trật tự xã hội như tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tội phạm xâm hại trẻ em, phụ nữ… Bằng việc thực hiện quyền kháng nghị của mình viện kiểm soát đã yêu cầu toà án cấp trên phải xem xét lại phán quyết của Toà án cấp dưới để đưa ra những phán quyết nghiêm minh hơn, trừng phạt đích đáng hơn những kẻ cầm đầu, lưu manh côn đồ, những băng nhóm hoạt động theo kiểu ”xã hội đen” phạm những tội đặc biệt nghiêm trọng. Thông quá công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự nhằm thực hiện hiệu quả việc răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Qua thực tiễn nghiên cứu 05 năm thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự thấy rằng viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định đã kiên quyết yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xử phạt mức án tử hình đối với nhiều bị cáo phạm tội nguy hiểm và đã được Toà án chấp nhận.

Điển hình là vụ án Trương Thanh Sang phạm tội “Giết người” xảy ra tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Hội đồng thi hành án tử hình tỉnh Bình Định đã quyết định tổ chức thi hành bản án tử hình vào ngày 7/5 đối với tên Trương Thanh Sang, 20 tuổi, trú tại TP Quy Nhơn, kẻ chủ mưu, cùng đồng bọn đã sử dụng hung khí chém chết em Nguyễn Vĩnh Phú, học sinh lớp 11A8 – Trường Trung học phổ thông Trưng Vương, TP Quy Nhơn. Đầu tháng 4/2016, sau 2 cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, TAND tỉnh Bình Định và TAND cấp cao tại Đà Nẵng đều đã tuyên phạt tên Trương Thanh Sang mức án cao nhất – tử hình – về “tội giết người”. Thời gian sau, Sang đã có đơn xin ân giảm án tử hình, tuy nhiên ngày 20/3, Chủ tịch nước đã bác đơn xin giảm án tử hình của Sang. TAND tỉnh Bình Định vừa tổ chức cuộc họp với các đại diện: viện kiểm soát nhân dân tỉnh, Công an tỉnh, Công an TP Quy Nhơn, lãnh đạo UBND TP Quy Nhơn để triển khai việc thi hành bản án tử hình đối với Sang.

Bên cạnh đó trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO đặt ra những thách thức đối với nền kinh tế đất nước, thực tiễn diễn biến tình hình tội phạm của nước ta trong những năm gần đây và thực tiễn tình hình tội phạm ở một số nước trên thế giới, có thể nhận thấy trong thời gian tới sẽ phải đối mặt với những khó khăn, thách thức. Tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm rửa tiền, tội phạm buôn lậu, tham nhũng, buôn ma túy, vũ khí, các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, tội phạm về môi trường, tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em sẽ diễn ra phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi (môi giới nhận con nuôi, kết hôn lấy chồng nước ngoài, xuất khẩu lao động, thậm chí cưỡng ép, bắt cóc phụ nữ, trẻ em…), tội phạm buôn bán ma tuý vẫn tiếp tục gia tăng và diễn biến khó lường… Do đó, việc trừng trị nghiêm khắc những loại tội phạm này là sự răn đe cần thiết đối với những kẻ tội phạm định coi Việt Nam là “vùng đất phạm tội mới”. Thông qua việc kháng nghị phúc thẩm hình sự viện kiểm soát đã thể hiện rõ quan điểm của mình trong đấu tranh phòng chống những loại tội phạm này.

Tiêu biểu như vụ án Hồ Long Thoại và đồng bọn phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” ở thị xã Hoài Nhơn bị tuyên phạt 20 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hành vi phạm tội của các bị cáo là có tổ chức, phạm tội với trình độ cao, phạm tội nhiều lần, chiếm đoạt số tiền đặc biệt lớn và không khắc phục được hậu quả. Bản thân Hồ Long Thoại là người giữ vai trò chỉ đạo, giám sát toàn bộ hoạt động của nhóm nên mức án 20 năm tù là quá nhẹ không tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, không đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống. Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

Cấp phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định phạt tù chung thân đối với bị cáo.

  • Kháng nghị phúc thẩm hình sự góp phần nâng cao trình độ của cán bộ kiểm sát, kiểm sát viên

Lãnh đạo viện kiểm soát nhân dân hai cấp tỉnh Bình Định đã từng bước nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác kháng nghị phúc thẩm vì đây không những là biện pháp để thực hiện tốt chức năng luật định của Ngành mà còn đảm bảo pháp luật được thực thi thống nhất, đồng thời phục vụ có hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định đã có những chỉ đạo sâu sát, nâng cao hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm, xem công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những công việc trọng tâm của công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo chức năng của ngành. Đưa ra những chỉ tiêu và nhiệm vụ cụ thể trong kế hoạch, chương trình công tác hàng năm nhằm tăng cường hơn nữa việc phát hiện những bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về áp dụng pháp luật, về đường lối xét xử, thủ tục tố tụng để kháng nghị phúc thẩm hình sự. Sự chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo các viện kiểm soát các địa phương là nhân tố đảm bảo cho kháng nghị chặt chẽ về thủ tục, nội dung có căn cứ và có tính thuyết phục. Thực tế cho thấy khi các vụ án được lãnh đạo các đơn vị quan tâm đúng mức, sát sao thì các bản kháng nghị luôn được bảo vệ và chấp nhận.

Do đó, trình độ của KSV đã từng bước được nâng lên. Những bản kháng nghị có chất lượng cao thường là những kháng nghị đã phát hiện đúng những vi phạm của toà án cấp sơ thẩm trong việc áp dụng luật và các văn bản hướng dẫn thi hành hoặc có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự. Sự sắc bén về nghiệp vụ và nắm vững căn cứ pháp luật của KSV là yếu tố hết sức cần thiết góp phần quan trọng cho bản kháng nghị có chất lượng cao.

  • Viện kiểm sát cấp phúc thẩm đã chú trọng hơn trong công tác rút kinh nghiệm đối với Viện kiểm sát cấp sơ thẩm trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự

Các viện kiểm soát cấp phúc thẩm đã chú trọng hơn trong công tác rút kinh nghiệm đối với viện kiểm soát cấp sơ thẩm trong công tác kháng nghị phúc thẩm. Trước và sau mỗi đợt xét xử ở địa phương các viện kiểm soát cấp phúc thẩm đều có thông báo kết quả xét xử và trao đổi với viện kiểm soát cấp sơ thẩm những sai sót trong kháng nghị phúc thẩm. Ngoài ra định kỳ đã tổng hợp về công tác kháng nghị phúc thẩm trong 6 tháng hoặc 1 năm để thông báo rút kinh nghiệm với viện kiểm soát địa phương. Bên cạnh đó các viện phúc thẩm thuộc viện kiểm soát nhân dân tối cao trong kế hoạch công tác hàng năm vẫn thường xuyên tổ chức hội thảo về chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự trên toàn quốc để học tập, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau về công tác này. Việc thực hiện Chỉ thị số 03 của Viện trưởng viện kiểm soát nhân dân tối cao ngày 19/6/2008 về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của viện kiểm soát nhân dân hai cấp tỉnh Bình Định sau hơn 10 năm thực hiện đã đạt được những bước tiến đáng khích lệ trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, khắc phục khó khăn, nỗ lực triển khai nhiều biện pháp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao, kiềm chế sự gia tăng của tội phạm, VPPL cơ bản đạt và vượt chỉ tiêu, yêu cầu của các nghị quyết của Quốc hội, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

2.2.3. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của các tồn tại hạn chế Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

  • Những tồn tại, hạn chế

Số bị cáo bị kháng nghị trong giai đoạn 5 năm thường chiếm trung bình khoảng 10,64% số bị cáo cấp phúc thẩm thụ lý (năm 2015 là 3,33%; năm 2016 là 2,82%; năm 2017 là 12,07%; năm 2018 là 14,08%; năm 2019 là 20,87%). Trong các năm từ 2015 đến 2016 số bị cáo bị kháng nghị so với tổng số bị cáo cấp phúc thẩm thụ lý và giải quyết có chiều hướng giảm, đến năm 2017 tỷ lệ này có tăng lên đôi chút nhưng không đáng kể. Tỷ lệ số bị cáo bị kháng nghị so với số bị cáo được cấp phúc thẩm đưa ra xét xử có tăng hơn, tỷ lệ trung bình đó là 10,6%/ năm (năm 2015 là 4,09%; năm 2016 là 2,7%; năm 2017 là 16,03%; năm 2018 là 13,11%; năm 2019 là 22,75%). Qua số liệu thống kê cho thấy có những “điểm trống” về công tác kháng nghị phúc thẩm. Trong 05 năm qua, thực tế XXPT một số vụ án hình sự phải cải sửa ở cấp phúc thẩm, điều này cho thấy rằng không thể kết luận như một số quan điểm vẫn cho rằng do chất lượng án sơ thẩm đã nâng lên nên không có kháng nghị phúc thẩm, mà chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận rằng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự thời gian vẫn chưa được chú trọng và quan tâm thực hành đúng mức, vì vậy dẫn đến hiệu quả tố tụng hình sự  vẫn còn những hạn chế và bấn cập nhất định.

Mặc dù số bị cáo bị kháng nghị giảm nhưng thực tế cho thấy nhiều vụ án cấp phúc thẩm phải cải sửa tội danh, tăng hoặc giảm mức hình phạt khá lớn theo kháng cáo của bị cáo hoặc người bị hại. Số bị cáo bị cải sửa chủ yếu vẫn thông qua kháng cáo, trong đó có việc cải sửa do có tình tiết mới ở cấp phúc thẩm nhưng không nhiều mà chủ yếu vẫn do sai sót trong việc đánh giá chứng cứ, việc áp dụng pháp luật của cấp sơ thẩm nhưng chưa được phát hiện để kháng nghị hoặc do viện kiểm soát cấp sơ thẩm cũng thống nhất với nhận định, đánh giá của Toà án cấp sơ thẩm nên không kháng nghị. Một số vụ án cấp sơ thẩm đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự, cấp phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm phải huỷ án nhưng viện kiểm soát cấp sơ thẩm không kháng nghị. Đáng chú ý, trong một số trường hợp, Toà án sơ thẩm nhận định thiếu căn cứ, quyết định áp dụng tội danh và mức hình phạt khác với quan điểm của viện kiểm soát truy tố và bảo vệ tại phiên toà nhưng viện kiểm soát lại không kháng nghị phúc thẩm. Ngoài ra, một số vụ án được báo chí và dư luận quan tâm, toà sơ thẩm xét xử còn nhẹ nhưng viện kiểm soát không kháng nghị. Từ những vấn đề nêu trên cho thấy bản án sơ thẩm có vi phạm còn khá nhiều nhưng chưa bị kháng nghị phúc thẩm hình sự. Đây là vấn đề nghiêm túc cần xem xét trách nhiệm của viện kiểm soát đối với công tác kháng nghị.

Số bị cáo cấp phúc thẩm xin rút kháng nghị và Toà án cấp phúc thẩm bác kháng nghị chiếm tỷ lệ cao. Số kháng nghị bị bác chiếm tỷ lệ lớn, một số trường hợp bác kháng nghị chưa chính xác nhưng không đề nghị giám đốc thẩm hoặc có đề nghị nhưng cấp giám đốc chưa kiên quyết để giải quyết Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

Trong tổng số 191 bị cáo bị viện kiểm soát cấp huyện và viện kiểm soát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị đã giải quyết, số bị cáo bị rút kháng nghị là 43 bị cáo, số bị cáo được chấp nhận kháng nghị là 86 bị cáo. Tuy một số trường hợp rút và bác kháng nghị chưa chính xác nhưng ít nhiều cũng cho chúng ta thấy chất lượng kháng nghị chưa cao. Đáng lưu ý là tỷ lệ rút và bác kháng nghị là không đồng đều ở các địa phương và các cấp có kháng nghị. Bên cạnh một số viện kiểm soát nhân dân cấp huyện kháng nghị phúc thẩm hình sự có chất lượng tốt và có tỷ lệ chấp nhận kháng nghị cao như thành phố Quy Nhơn, huyện Hoài Ân, huyện An Lão…Còn một số địa phương khác chất lượng kháng nghị còn chưa cao, tỷ lệ bị rút, bác còn nhiều như Tây Sơn, Phù Cát, Phù Mỹ…

Trong số các trường hợp bác kháng nghị cho thấy phần lớn các trường hợp bác kháng nghị do kháng nghị yêu cầu toà án cấp phúc thẩm tăng hoặc giảm mức hình phạt đối với bị cáo nhưng đó là mức hình phạt chênh lệch không lớn so với đề nghị của viện kiểm soát tại phiên toà sơ thẩm hoặc yêu cầu chuyển biện pháp chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo sang tù giam là không cần thiết. Trong đó nhiều trường hợp viện kiểm soát cấp phúc thẩm phải rút kháng nghị mới đúng nhưng khi trao đổi viện kiểm soát địa phương đề nghị bảo vệ kháng nghị. Một số trường hợp khác viện kiểm soát cấp phúc thẩm tuy không rút kháng nghị nhưng cũng không bảo vệ kháng nghị mà lại đề nghị Toà án cấp phúc thẩm bác kháng nghị. Đây là việc làm không đúng Quy chế nghiệp vụ của ngành cần rút kinh nghiệm.

Bên cạnh đó có không ít trường hợp Toà án cấp phúc thẩm bác kháng nghị không có căn cứ, trái pháp luật nhưng viện kiểm soát cấp phúc thẩm không kiến nghị giám đốc thẩm hoặc có kiến nghị nhưng cấp giám đốc thẩm lại chưa kiên quyết bảo vệ quan điểm của ngành thông qua kháng nghị giám đốc thẩm. Tiêu biểu như vụ án Nguyễn Văn Hải phạm tội Cố ý gây thương tích; vụ Nguyễn Đoàn Tiến phạm tội Hiếp dâm.

  • Kháng nghị trên một cấp vẫn còn ít, sự phối kết hợp giữa hai cấp sơ thẩm, phúc thẩm trong công tác kháng nghị còn hạn chế

Trong 05 năm từ năm 2015 đến năm 2019, viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình việc kháng nghị phúc thẩm hình sự trên một cấp trực tiếp chiếm 22% tổng số bị cáo có kháng nghị. Một số địa phương cấp huyện làm khá tốt nhưng ngược lại có nhiều địa phương chưa thật sự quan tâm, trong khi đó án sơ thẩm sai sót không ít. Việc thực hiện kháng nghị phúc thẩm trên cấp thực hiện mang tính sự vụ và mới chỉ đặt ra khi có dư luận thông tin, báo chí hoặc có đề nghị của viện kiểm soát cấp dưới.

Công tác phối hợp giữa viện kiểm soát nhân dân hai cấp tỉnh Bình Định thông qua công tác gửi bản án và phiếu kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm cho viện kiểm soát cấp trên đôi lúc chưa đảm bảo đúng quy định; viện kiểm soát nhân dân cấp huyện chưa thường xuyên có sự trao đổi, tham khảo ý kiến của các phòng nghiệp vụ về việc kháng nghị phúc thẩm hay đề nghị viện kiểm soát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị phúc thẩm trên cấp.

  • Sự phối hợp giữa viện kiểm soát cấp trên và viện kiểm soát cấp dưới trong việc bảo vệ hoặc rút kháng nghị chưa được quan tâm trong những năm qua Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

Qua số liệu thống kê cho thấy: Số bị cáo bị kháng nghị đưa ra XXPT bị viện kiểm soát cấp trên rút kháng nghị chiếm một tỷ lệ không nhỏ, khoảng 22,51% tổng số bị cáo bị kháng nghị phúc thẩm đã được Toà án cấp phúc thẩm xét xử. Số bị cáo bị kháng nghị phúc thẩm nhưng Toà án cấp phúc thẩm bác kháng nghị cũng chiếm tỷ lệ 27% đến 28%, như vậy, nếu tính chung thì số bị cáo bị kháng nghị phúc thẩm nhưng viện kiểm soát cấp trên rút kháng nghị và Toà án cấp phúc thẩm bác kháng nghị chiếm hơn 50% so với bị cáo bị kháng nghị đã được Toà cấp phúc thẩm xét xử. Đây là một trong những hạn chế của công tác kháng nghị phúc thẩm. Hạn chế này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về sự phối hợp giữa viện kiểm soát cấp trên và cấp dưới trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự.

Khi có kháng nghị phúc thẩm hình sự của viện kiểm soát là có sự khác biệt giữa cách đánh giá và nhận định của Hội đồng xét xử và viện kiểm soát về toàn bộ hay một phần cáo trạng của viện kiểm soát.

VKS kháng nghị phúc thẩm là thể hiện quan điểm của viện kiểm soát đối với các quyết định, bản án của Toà cấp sơ thẩm. Như vậy, vấn đề đặt ra là viện kiểm soát cấp dưới kháng nghị, nhưng bảo vệ kháng nghị tại phiên toà phúc thẩm lại là viện kiểm soát cấp trên trực tiếp. Vì vậy, để có được quyết định đúng pháp luật, có căn cứ trước và trong phiên toà phúc thẩm thì viện kiểm soát cấp trên và cấp dưới phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau. Sau khi đã ra quyết định kháng nghị phúc thẩm, viện kiểm soát cấp dưới phải báo cáo cho viện kiểm soát cấp trên trực tiếp một cách cụ thể, đầy đủ, tỷ mỷ về quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, đặc biệt nêu rõ căn cứ, lý do kháng nghị phúc thẩm. viện kiểm soát cấp trên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, các căn cứ và lý do kháng nghị, cần thiết có thể thực hiện các biện pháp khác nhau để củng cố hồ sơ, thu thập thêm chứng cứ phục vụ cho việc bảo vệ quan điểm trong kháng nghị.

Muốn cho kháng nghị có chất lượng thì viện kiểm soát cấp dưới và cấp trên phải phối hợp chặt chẽ. Hết sức tránh tình trạng cả hai cấp cùng kháng nghị phúc thẩm. Nếu viện kiểm soát cấp trên thấy kháng nghị của viện kiểm soát cấp dưới chưa chính xác thì trao đổi với với viện kiểm soát ra kháng nghị có quyết định kháng nghị bổ sung (nếu còn thời hạn) hoặc rút kháng nghị (nếu không có căn cứ kháng nghị), hoặc viện kiểm soát cấp trên ra quyết định kháng nghị bổ sung (nếu còn thời hạn kháng nghị).

  • Một số hạn chế về hình thức Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

KNPT hình sự ở một số nơi còn chưa thực hiện theo đúng quy định. kháng nghị phúc thẩm hình sự là văn bản áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự  tuy mang tính cá biệt chỉ áp dụng một lần nhưng nó cũng đòi hỏi phải tuân theo trình tự, thủ tục, quy định chặt chẽ. Về hình thức kháng nghị phúc thẩm hình sự về cơ bản đã theo mẫu nhưng vẫn còn một số tồn tại: Một số kháng nghị không bảo đảm đúng theo mẫu quy định của Viện kiểm soát nhân dân tối cao.Việc thay đổi, bổ sung kháng nghị phúc thẩm hình sự đã có mẫu ban hành, theo đó khi bổ sung, thay đổi kháng nghị phúc thẩm hình sự của viện kiểm soát phải ra Quyết định bổ sung, thay đổi kháng nghị nhưng có viện kiểm soát lại ban hành một kháng nghị mới thay thế kháng nghị phúc thẩm trước đó là không đúng thủ tục quy định. Việc kiểm tra bản thảo kháng nghị phúc thẩm hình sự trước khi ban hành chính thức còn những sơ xuất không đáng có như nhầm tên địa phương nơi XXST, ngày ban hành kháng nghị trước ngày ra bản án sơ thẩm, số liệu sai sót, có nhiều lỗi chính tả…Về từ ngữ sử dụng trong kháng nghị phúc thẩm hình sự có một số trường hợp còn thiếu chặt chẽ hoặc không đúng về mặt pháp lý. Một số kháng nghị lại quá thời hạn bộ luật tố tụng hình sự  quy định nên phải rút kháng nghị.

  • Những sai lầm, hạn chế của công tác kháng nghị phúc thẩm

Số lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong tổng số vụ án có quyết định truy tố của Viện Kiểm sát các cấp chuyển Toà án nhân dân xét xử. Trung bình số lượng kháng nghị phúc thẩm của Viện Kiểm sát chỉ chiếm 9,4% tổng số vụ án Viện kiểm sát có quyết định truy tố chuyển Toà án nhân dân xét xử, mặc dù số lượng án Viện kiểm sát có quyết định truy tố chuyển Toà án nhân dân xét xử tăng nhưng số kháng nghị của Viện kiểm sát lại giảm đáng kể. Điển hình là trong năm 2019, tổng số vụ án Viện kiểm sát nhân dân có quyết định truy tố chuyển Toà án nhân dân xét xử là 11.030 vụ, song kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân các cấp ban hành chỉ có 1021 kháng nghị, chiếm 3,2%, trong khi đó số án sơ thẩm có vi phạm pháp luật bị cấp phúc thẩm huỷ để điều tra lại hoặc xét xử lại còn nhiều. Ví dụ: trong năm 2018, Toà phúc thẩm thụ lý 2130 vụ án, qua xét xử đã huỷ và sửa án 4321 vụ, song số kháng nghị của Viện kiểm sát chỉ có 508 vụ (kể cả kháng nghị trên một cấp của ba Viện phúc thẩm), chiếm 22% so với số án xử sai ở cấp sơ thẩm phải sửa và huỷ án. Số lượng kháng nghị phúc thẩm trên một cấp còn quá ít. Trong số 321 kháng nghị của ba Viện phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì chỉ có 24 vụ kháng nghị trên một cấp [31, tr 40]. Hoặc trong năm 2017, toàn ngành kiểm sát có 905 kháng nghị phúc thẩm thì có 17 kháng nghị bị rút ở cấp phúc thẩm (chiếm 14%); trong số 543 vụ có kháng nghị đưa ra xét xử phúc thẩm thì có 203 vụ Toà phúc thẩm không chấp nhận kháng nghị (chiếm 23%) [29, tr. 3]. Một số Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có rất ít kháng nghị, thậm chí có đơn vị trong 03 năm không có kháng nghị phúc thẩm như Viện kiểm sát nhân dân. Nhiều bản kháng nghị chưa đúng trọng tâm, chưa phù hợp với các quy định của pháp luật nên số kháng nghị bị rút, bị bác vẫn còn ở tỷ lệ cao. Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

Việc đưa ra căn cứ kháng nghị do có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự và kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án cũng không chính xác, do chưa nghiên cứu kỹ các quy định của Bộ luật hình sự như: về đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội…Do đó, nội dung kháng nghị nhận định bản án sơ thẩm áp dụng luật sai, không có căn cứ, nhưng qua nghiên cứu lại cho thấy án sơ thẩm áp dụng đúng pháp luật. Hoặc có không ít trường hợp tuy bản án sơ thẩm áp dụng sai các quy định của Bộ luật hình sự nhưng kháng nghị nhận định cũng thiếu chính xác về sai sót của bản án sơ thẩm.

Tuy nhiên, thực tiễn việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân còn có những tồn tại nhất định. Tình trạng Viện kiểm sát nhân dân đã ban hành kháng nghị không phát hiện được sai sót của kháng nghị, dẫn đến Viện kiểm sát cấp trên phải rút kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới. Hoặc tình trạng Viện kiểm sát đã ban hành kháng nghị không phát hiện được sai sót của kháng nghị nhưng cũng không được Viện kiểm sát cấp trên phát hiện để bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị, dẫn đến tình trạng Toà án không chấp nhận kháng nghị.

Ngoài ra, những kháng nghị không được Viện kiểm sát cấp trên chấp nhận do ở phần nội dung kháng nghị viết quá dài, ghi cả nội dung của cáo trạng, bản án sơ thẩm…mà không đi sâu phân tích các vi phạm cần kháng nghị. Nguyên nhân của tình trạng này là các Viện kiểm sát cấp dưới chưa phân biệt được rõ ràng hai khái niệm “nội dung vụ án” và “nội dung bản án”. Ngược lại là tình trạng viết kháng nghị quá ngắn gọn, không thể hiện được tính thuyết phục lý do đưa ra kháng nghị.

  • Nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế

Có nhiều nguyên nhân chủ quan dẫn đến sai sót trong đó, nguyên nhân từ con người của cán bộ kiểm sát, KSV.

Thông qua việc nghiên cứu những tồn tại, thiếu sót trong kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong những năm qua, có thể rút ra một số những nguyên nhân như sau:

Thứ nhất, số lượng án phải giải quyết nhiều nhưng số lượng Kiểm sát viên còn thiếu; năng lực, trình độ của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân còn những hạn chế nhất định, công tác tập huấn, đào tạo cán bộ kiểm sát, bồi dưỡng rút kinh nghiệm chưa được thực hiện thường xuyên. Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

Viện kiểm sát có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo cho vụ án được điều tra, truy tố và xét xử đúng người, đúng tội. Kiểm sát viên là người kiểm sát vụ án từ khi vụ án được khởi tố, điều tra, truy tố đồng thời là người đại diện cho Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại các phiên toà hình sự. Kiểm sát viên là người có mặt ngay từ khi phiên toà được khai mạc và chứng kiến mọi diễn biến tại phiên toà; Kiểm sát viên cũng là người có quyền tham gia việc xét hỏi và kết thúc việc xét hỏi; Kiểm sát viên là người sẽ luận tội đối với bị cáo. Do vậy, Kiểm sát viên là người có điều kiện nhất để xem xét tính có căn cứ và hợp pháp của bản án. Tuy nhiên, hiện nay, toàn ngành kiểm sát có 9804 người. Trong đó, biên chế hiện có của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là 701 người: có 531 công chức chuyên môn nghiệp vụ kiểm sát, bao gồm: 178 Kiểm sát viên, 20 Điều tra viên cao cấp, 131 Kiểm tra viên, Chuyên viên, cán bộ làm nghiệp vụ Kiểm sát và 163 công chức chuyên môn nghiệp vụ khác. Biên chế hiện có của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 2.034 người, trong đó có 3007 công chức chuyên môn nghiệp vụ kiểm sát, bao gồm: 2.908 Kiểm sát viên, 1.202 Kiểm tra viên, Chuyên viên, cán bộ làm nghiệp vụ kiểm sát và 433 công chức chuyên môn nghiệp vụ khác. Số lượng Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh được giao là 3090 người, hiện có 3012 người.

Năng lực trình độ Kiểm sát viên ngành kiểm sát nhân dân còn những hạn chế nhất định nên chất lượng kháng nghị phúc thẩm trong thời gian qua còn nhiều thiếu sót, tồn tại. Hiện nay, tổng số cán bộ, công chức toàn ngành hiện có là 11.762 người, trong đó có 10.357 cán bộ, công chức làm chuyên môn nghiệp vụ kiểm sát, bao gồm: 165 Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 08 Điều tra viên cao cấp, 2.266 Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, 3.898 Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và 4.202 cán bộ, công chức làm nghiệp vụ kiểm sát (không phải là Kiểm sát viên, Điều tra viên) và 1.405 công chức chuyên môn nghiệp vụ khác. Trong số 10.357 công chức chuyên môn nghiệp vụ kiểm sát có 8.754 người có trình độ Cử nhân luật trở lên (trong đó có 21 Tiến sỹ, 109 Thạc sỹ) đạt 84,5%; 892 người có trình độ Cao đẳng kiểm sát, đạt 8,6%; số còn lại (711 người = 6,8%) đang theo học các khoá học tại chức Đại học luật và Cao đẳng kiểm sát. Về trình độ lý luận chính trị: có 1.608 người có trình độ cử nhân; cao cấp chính trị đạt 15,5%; 7.146 người có trình độ trung cấp chính trị, đạt 68,5%. Nhìn chung, Kiểm sát viên có trình độ cử nhân trở lên chiếm một tỷ lệ lớn (84,5%). Vẫn có 8,6% Kiểm sát viên có trình độ cao đẳng kiểm sát và 6,8% Kiểm sát viên đang theo học các khoá tại chức Đại học luật và Cao đẳng kiểm sát. Nhưng do những yếu tố khác nhau, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của nhiều Kiểm sát viên còn hạn chế nhất định. Qua số liệu trên cho thấy, số Kiểm sát viên chưa được đào tạo về chính trị chiếm một tỷ lệ lớn, nên nhận thức về chức năng, nhiệm vụ của ngành chưa đầy đủ, đặc biệt là trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự. Nhiều Kiểm sát viên cho rằng Viện kiểm sát chỉ là người đề nghị mức án còn Toà án mới là người ra quyết định và là người có trách nhiệm chính trong việc ra bản án. Do đó, mặc dù bản án có sự chênh lệch về mức án hoặc khác nhau về quan điểm đánh giá chứng cứ nhưng không được Kiểm sát viên đề xuất kháng nghị.

Số Kiểm sát viên có trình độ cử nhân luật đa số là do mới tuyển dụng vào ngành. Đây là lớp Kiểm sát viên được đào tạo bài bản, có trình độ. Tuy nhiên, do thiếu kinh nghiệm nghề nghiệp nên thường đề xuất mức án không chính xác dẫn đến sự chênh lệch về mức án giữa Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử, nên sau đó kháng nghị theo kiểu “cay cú” hoặc kháng nghị mang tính chủ quan, thể hiện sự “nóng vội” khi đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà khác với quan điểm của Hội đồng xét xử. Vì vậy, kháng nghị không được chấp nhận. Nhiều Kiểm sát viên chưa có cái nhìn bao quát, tổng thể, toàn diện đối với từng vụ án cụ thể; nghiên cứu hồ sơ không kỹ, bỏ lọt các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết thuộc về nhân thân bị cáo cũng nhận định không đúng. Vì vậy, nhiều bản kháng nghị không đạt được những yêu cầu về chất lượng do không phát hiện đúng các vi phạm của bản án sơ thẩm, kháng nghị chưa bám sát vào các căn cứ để kháng nghị như Toà án cấp sơ thẩm có những vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự về định tội danh, áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự, về định khung hình phạt, về áp dụng các biện pháp tư pháp, về án phí…; vi phạm về thủ tục tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; bản án hoặc quyết định sơ thẩm không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án; việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà không đầy đủ, chưa rõ ràng. Nội dung của kháng nghị chưa xác định chính xác những vi phạm pháp luật của bản án hoặc quyết định làm căn cứ để kháng nghị, chỉ đề cập một cách chung chung như: xét thấy án sơ thẩm chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội; hoặc hình phạt áp dụng đối với bị cáo là không tương xứng với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra; hoặc mức án sơ thẩm là chưa thoả đáng, án xử quá nặng hay quá nhẹ vân vân mà chưa phân tích rõ căn cứ, cơ sở của kháng nghị, không đưa ra được những căn cứ có tính thuyết phục. Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

Việc đào tạo kỹ năng cho Kiểm sát viên nói chung và kỹ năng kháng nghị phúc thẩm nói riêng còn nhiều hạn chế, chưa có bài bản và không chuyên sâu. Thực tế hiện nay, các Kiểm sát viên chủ yếu làm theo lối mòn và kinh nghiệm là chính. Do đó, Kiểm sát viên thiếu sâu sắc trong phát hiện các vi phạm của hoạt động xét xử hoặc chỉ chú ý phát hiện một số vấn đề liên quan đến việc chênh lệch về mức án, mà ít chú ý đến các vấn đề khác. Điều này lý giải vì sao có sự mất cân đối trong cơ cấu các bản kháng nghị (chủ yếu là kháng nghị về mức án đối với bị cáo, không có nhiều bản kháng nghị về các vi phạm tố tụng hoặc kháng nghị quyết định của Tòa án).

Việc quan tâm của lãnh đạo Viện ở một số tỉnh trong cả nước đối với công tác này còn ở mức độ nên chất lượng kháng nghị còn thấp. Việc nắm bắt quan điểm, đường lối xử lý đối với một số loại án còn chưa kịp thời, chưa bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị nói chung và ở mỗi tỉnh, huyện nói riêng nên có những trường hợp Toà án cấp sơ thẩm xử quá nhẹ nhưng Viện kiểm sát không kháng nghị. Bên cạnh đó, việc sử dụng quyền kháng nghị phúc thẩm để bảo vệ quan điểm truy tố ở cấp tỉnh, cấp huyện còn thiếu kiên quyết. Thực tế cho thấy, có những trường hợp Toà án cấp sơ thẩm xử không đúng tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị nhưng Viện kiểm sát không kháng nghị. Thông qua kháng cáo của người bị hại, cấp phúc thẩm đã cải sửa theo đúng tội danh Viện kiểm sát đã truy tố.

Tiểu kết Chương 2

Trong chương 2, tác giả đã chú trọng làm rõ được các quy định của pháp luật hiện hành (BLLTHS năm 2015) về kháng nghị phúc thẩm hình sự: về thẩm quyền, phạm vi, thời hạn, căn cứ, trình tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm hình sự, thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm, hậu quả pháp lý của kháng nghị phúc thẩm hình sự để làm nền tảng nghiên cứu thực tiễn hoạt động kháng nghị phúc thẩm hình sự từ thực tiễn địa phương Bình Định. Luận văn đã đi sâu nghiên cứu đánh giá thực trạng áp dụng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định từ năm 2015 đến năm 2019. Phân tích tình hình đặc điểm của việc chấp hành pháp luật và tội phạm có liên quan đến áp dụng kháng nghị phúc thẩm hình sự từ thực tiễn của tỉnh Bình Định. Những kết quả đạt được qua công tác áp dụng kháng nghị phúc thẩm hình sự của viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định. Đồng thời, luận văn cũng đánh giá những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của các tồn tại hạn chế trong hoạt động áp dụng kháng nghị phúc thẩm hình sự từ thực tiễn của tỉnh Bình Định. Từ kết quả nghiên cứu trên, có thể nói thời gian qua công tác kháng nghị phúc thẩm đã được viện kiểm soát nhân dân tỉnh Bình Định quan tâm và ban hành nhiều kháng nghị có chất lượng. Tuy nhiên, số lượng kháng nghị phúc thẩm không còn nhiều, nhiều kháng nghị còn hạn chế nên đem lại hiệu quả chưa cao đối với chính hoạt động kháng nghị phúc thẩm và để thúc đẩy nâng cao chất lượng của quá trình tố tụng hình sự mà viện kiểm soát là một chủ thể tiến hành. Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định

One thought on “Luận văn: Pháp luật kháng nghị phúc thẩm hình sự tỉnh Bình Định

  1. Pingback: Luận văn: Kháng nghị phúc thẩm hình sự tại tỉnh Bình Định

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464