Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ – từ thực tiễn Bộ Nội vụ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã luôn ý thức được rằng việc chăm lo xây dựng nguồn lực con người là quốc sách hàng đầu. Nguồn lực con người tuy không phải là yếu tố duy nhất, nhưng nó có tác dụng trực tiếp quyết định đến sự tồn vong của quốc gia, sự trường tồn và phát triển bền vững của dân tộc.

Phát huy được truyền thống và những phương sách dùng người của cha ông để lại, Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng Việt Nam.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Cán bộ, công chức là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, đem những chính sách của Đảng, Chính phủ đến với nhân dân, tuyên truyền, giáo dục và thuyết phục người dân thấm nhuần những mục đích, biện pháp của chính sách để tự giác, chủ động thực hiện. Đồng thời, cán bộ, công chức báo cáo với Đảng về tình hình đời sống dân sinh và những nguyện vọng thiết thực của nhân dân để hoạch định chính sách cho phù hợp. Trên thực tế, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều do cán bộ, công chức nghiên cứu, đề xuất, đồng thời cũng do cán bộ, công chức triển khai thực hiện đến người dân. Đường lối, chính sách của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành công hay không đều phụ thuộc vào cán bộ, công chức. Động lực của mọi cuộc cách mạng là quần chúng nhân dân, mà trong đó hạt nhân chủ yếu là đội ngũ cán bộ, công chức.

Kể từ khi có Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986), đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới với việc chuyển nền kinh tế phát triển theo hướng thị trường (KTTT), định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị nước ta nói chung, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ nói riêng càng trở nên cấp thiết.

Những năm gần đây, việc thực hiện chủ trương xây dựng đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở nước ta đã đạt được một số kết quả nhất định. Song trên thực tế, chất lượng xây dựng và phát triển đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần được tiếp tục nghiên cứu, giải quyết. Từ thực tế này, việc nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học về thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm cơ sở xây dựng, tạo lập một hành lang pháp lý hoàn thiện để tiếp tục hoạch định chiến lược xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ công chức nói chung, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ nói riêng có cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay và cho những năm tới.

Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ – từ thực tiễn Bộ Nội vụ” làm Luận văn cao học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến công vụ, công chức được công bố, trong đó, có thể kể đến như:

  • Tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ” của tác giả Bùi Đình Phong, Nxb Lao động, Hà Nội, 2002.
  • Tác phẩm “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức” các tác giả Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
  • Lương Thanh Cường (2008), “Hoàn thiện chế định pháp luật về công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Nguyễn Duy Phương (2009), “Hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về công vụ của công chức hành chính ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
  • Lê Như Thanh (2009), “Cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công chức Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
  • Nguyễn Thị Hồng Hải (2013), “Quản lý chiến lược nguồn nhân lực khu vực công: Lý luận và thực tiễn”, Học viện Hành chính Quốc gia.
  • Luận văn thạc sĩ Luật học “Pháp luật về tuyển dụng công chức trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam” tác giả Trương Hải Long, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện khoa học xã hội Việt Nam, 2010.
  • Luận văn Thạc sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luật về công chức hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, tác giả Phạm Minh Triết, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003.
  • “Công vụ, công chức”, GS.TS Phạm Hồng Thái (2004), Nxb Tư pháp, Hà Nội. Công trình này đã giới thiệu các khái niệm khác nhau về công vụ, xác định công vụ phải gắn với quyền lực nhà nước; bình luận các quy định pháp luật về công chức; đưa ra quan niệm về công chức; có những nhận xét, đánh giá khái quát pháp luật về công vụ, công chức ở nước ta từ năm 1945 đến năm
  • “Công chức và cải cách bộ máy hành chính nhà nước”, GS.TS Nguyễn Đăng Dung (2006), Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 9, năm Tác giả nêu những đặc điểm cần có của công chức như: Có chuyên môn, nghiệp vụ, thực thi công vụ liên tục, không phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, xã hội …
  • “Bàn về việc hoàn thiện thể chế công vụ và xây dựng khung của Luật Công vụ Việt Nam”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 8, năm 2006 của PGS.TS Phạm Hồng Thái, đưa ra những quan điểm khoa học về khung của Luật Công vụ: Xác định phạm vi điều chỉnh của Luật, các nguyên tắc của Luật, các quyền, nghĩa vụ của công chức, quản lý công chức, thanh tra công vụ. Nội dung của bài viết mới chỉ dừng ở mức độ đưa ra các luận điểm chung về Luật Công vụ, chưa có các kiến giải cụ thể, chi tiết. Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập đến vấn đề công chức, như: “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm (2001), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; “Nhận thức mới về vai trò, chức năng của nhà nước và mở cửa ở nước ta hiện nay“, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5, 2005 của PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh; “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức”, Thang Văn Phúc – Nguyễn Minh Phương (2005), Nxb Chính trị Quốc gia; “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nguyễn Bắc Sơn, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội …

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1. Mục đích

Mục đích của luận văn là đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

3.2. Nhiệm vụ

  • Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

Một là, phân tích, làm rõ thêm các vấn đề lý luận như: quan niệm về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, thực hiện pháp luật về quản lý công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ.

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ, qua đó thấy được những ưu điểm, những tồn tại, hạn chế và tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại đó.

Ba là, đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới từ thực tiễn Bộ Nội vụ.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

  • Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn của thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ.
  • Phạm vi nghiên cứu của luận văn về không gian được giới hạn ở Bộ Nội vụ.
  • Về thời gian, nghiên cứu thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ từ năm 2011 đến năm 2017.

5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử được sử dụng để tiếp cận giải quyết các nhiệm vụ của luận văn.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là: Phương pháp thống kê; Phương pháp so sánh; Phương pháp phân tích hệ thống; Phương pháp điều tra xã hội học…

Về nguồn số liệu luận văn, sử dụng số liệu thứ cấp từ các báo cáo của Bộ Nội vụ, một số Bộ, cơ quan ngang Bộ gửi Bộ Nội vụ để tổng hợp chung.

6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của Luận văn

Về lý luận, Luận văn góp phần bổ sung những tri thức về lý luận thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ.

Về thực tiễn, các kết luận của Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong thực tiễn bảo đảm thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ cũng như trong nghiên cứu, giảng dạy về thực hiện pháp luật.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày gồm 3 chương. Cụ thể như sau:

  • Chương 1. Lý luận thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ.
  • Chương 2. Thực trạng thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ.
  • Chương 3. Phương hướng, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ – Từ thực tiễn Bộ Nội vụ.

Chương 1 LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP VỤ

1.1. Công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ và pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

1.1.1. Công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

1.1.1.1 Khái quát về công chức

A. Một số quan niệm cơ bản

  • Công chức

Mặc dù chế độ công vụ đã tồn tại và phát triển trên 3 thế kỷ, tính từ thời điểm xuất hiện thuật ngữ công chức vào năm 1859 ở Anh, nhưng cho đến nay vẫn còn có những quan niệm khác nhau, chưa thống nhất về công chức (về phạm vi và đặc điểm của công chức) giữa các quốc gia trên thế giới. Nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật công vụ, công chức cho thấy, về phạm vi xác định là công chức có một số quan niệm chính như sau:

Quan niệm thứ nhất cho rằng, công chức là những người làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong bộ máy hành chính của các bộ thuộc Chính phủ. Như vậy, những đối tượng làm việc ở bộ thuộc Chính phủ nhưng không trực tiếp làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ theo chức năng quản lý của bộ và những người làm việc trong bộ máy của chính quyền địa phương thì không phải là công chức (Anh, Thái – lan, Xing-ga-po…); Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Quan niệm thứ hai cho rằng, công chức là những người thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính của các bộ (trung ương) và những người làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính thuộc chính quyền của các địa phương (Nga, Trung Quốc, Ba Lan, Hung-ga-ri…);

Quan niệm thứ ba cho rằng, công chức bao gồm cả những người thực thi công vụ tại các tổ chức cung ứng dịch vụ công hoặc cả trong ngành lập pháp, tư pháp (Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha…).

Theo Bách khoa toàn thư mở, công chức theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ, được hưởng lương và các khoản thu nhập từ ngân sách nhà nước. Công chức của một quốc gia thường là công dân, người có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế. Phạm vi làm việc của công chức là các cơ quan nhà nước, tuy nhiên pháp luật nhiều nước quy định công chức có thể làm việc không chỉ trong cơ quan nhà nước. [33]

Tại Việt Nam, ngày 29/5/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 188/SL quy định về chức danh viên chức nhà nước, gồm 5 hạng: Tá sự, cán sự, tham sự, kiểm sự và giám sự. Đây là văn bản đầu tiên tạo cơ sở cho việc xây dựng đội ngũ công chức sau này của nước ta.

Tiếp đó, ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 76/SL ban hành “Quy chế công chức Việt Nam”.

Điều 1 Sắc lệnh 76/SL xác định: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.

Như vậy, theo Sắc lệnh 76/SL thì công chức Việt Nam chỉ được xác định trong phạm vi các cơ quan Chính phủ, gồm ở trong nước và ở ngoài nước. Ngoài ra, Sắc lệnh giao cho Chính phủ quy định một số trường hợp ngoại lệ được xác định là công chức.

Ngày 25/5/1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 169/HĐBT về công chức nhà nước, tại Khoản 1 Điều 2 đã quy định công chức theo một phạm vi rộng hơn, theo đó công chức gồm những người làm việc trong:

  • Các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, ở các tỉnh, huyện và cấp tương đương;
  • Các đại sứ quán, lãnh sự quán của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;
  • Các trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước và nhận lương từ ngân sách; Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.
  • Những nhân viên dân sự làm việc trong các cơ quan Bộ Quốc phòng;
  • Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong bộ máy của các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát các cấp;
  • Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong bộ máy của Văn phòng Quốc hội, Hội đồng nhà nước, Hội đồng nhân dân các cấp;
  • Những trường hợp riêng biệt khác do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quy định”.

Năm 2008, Quốc hội ban hành Luật Cán bộ, công chức. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức được hiểu “là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật’’.

Từ những cơ sở trên cho thấy, tuy có nhiều quan niệm khác nhau về công chức, song khái quát lại có thể thấy, công chức có 04 đặc điểm căn bản sau:

  • Thứ nhất, tính nghề nghiệp. Tính nghề nghiệp thể hiện ở việc công chức thực hiện thường xuyên một công vụ theo nghiệp vụ chuyên môn mà công chức đó đảm nhiệm (kế toán, kiểm toán, văn thư…);
  • Thứ hai, tính quan liêu. Tính quan liêu trong thực thi công vụ thể hiện trên các phương diện khác nhau như: Không phụ thuộc vào bất kỳ một tác động nào khác của chính trị, kinh tế hay dân sự. Công chức thực hiện công vụ theo một quy trình công tác đã được pháp luật xác định và họ không có quyền thay đổi nếu không được pháp luật cho phép;
  • Thứ ba, tính thứ bậc. Công chức được chia thành những bậc, hạng khác nhau tuỳ theo tính chất, yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ của công việc và được bổ nhiệm vào vị trí công tác theo thứ bậc đó;
  • Thư tư, tính được nhà nước trả lương. Vì công chức thực thi công vụ do nhà nước ủy quyền, do vậy được hưởng lương từ ngân sách của nhà nước. Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Tựu chung lại, một người được xác định là công chức của một quốc gia nào đó nếu có đủ 05 đặc trưng sau đây:

  • Là công dân của quốc gia đó;
  • Được tuyển dụng và làm một việc trong cơ quan nhà nước;
  • Được xếp vào một ngạch, một ngành chuyên môn;
  • Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
  • Được quản lý thống nhất và được điều chỉnh bằng luật riêng.
  • Cán bộ

Khái niệm cán bộ ở nước ta được xác định trong Khoản 1, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, theo đó cán bộ “là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.

Ngoài ra, theo quy định của pháp luật hiện hành còn có cán bộ cấp xã (Điều 61, Khoản 1, Luật Cán bộ, công chức năm 2008). Theo đó, cán bộ cấp xã gồm có các chức vụ, chức danh sau đây: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

  • Viên chức

Về khái niệm viên chức, được xác định cụ thể tại Điều 2, Luật Viên chức năm 2010, cụ thể là:“Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.

Từ các quy định nêu trên, việc phân biệt cán bộ, công chức, viên chức được xác định theo 06 tiêu chí cơ bản sau [34]:

  • Phân loại công chức Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Phân loại công chức là yêu cầu tất yếu của công tác quản lý nguồn nhân lực. Phân loại công chức giúp cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển theo đúng yêu cầu về nội dung, vị trí công tác, ngạch công chức. Phân loại công chức cũng góp phần tạo lập cơ sở cho việc tuyển dụng người vào làm việc trong các cơ quan nhà nước.

Theo quy định tại Điều 34 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức được phân loại như sau:

Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân loại như sau:

  • Loại A, gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương. Là công chức chuyên môn, nghiệp vụ cao nhất trong hệ thống quản lý nhà nước, có chuyên môn nghiệp vụ cao nhất về ngành, lĩnh vực, thực hiện chức năng tham mưu giúp lãnh đạo bộ, ngành hoặc lãnh đạo UBND cấp tỉnh chỉ đạo và quản lý lĩnh vực công tác.
  • Loại B, gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương. Là công chức chuyên môn, nghiệp vụ trong hệ thống quản lý nhà nước, giúp lãnh đạo đơn vị cấu thành (bộ, ngành), lãnh đạo cấp tỉnh (UBND, Sở), lãnh đạo cấp huyện chỉ đạo, quản lý một lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ.
  • Loại C, gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương. Là công chức chuyên môn, nghiệp vụ trong hệ thống quản lý nhà nước, giúp lãnh đạo đơn vị cấu thành (Phòng, ban thuộc Bộ, ngành, cấp tỉnh, cấp huyện), lãnh đạo cấp xã chỉ đạo, quản lý một lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ.
  • Loại D, gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên.

Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại như sau:

  • Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là những người được bổ nhiệm vào một vị trí, một chức danh theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng quản lý, điều hành công việc đối với những công chức dưới quyền quản lý. Bao gồm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu của một cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống cơ quan nhà nước các cấp.

Trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, công chức lãnh đạo, quản lý là những người được bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh từ Phó trưởng phòng (hoặc tương đương) đến chức vụ Thứ trưởng (hoặc tương đương) tại các cơ quan ở Trung ương; ở cấp tỉnh, công chức lãnh đạo, quản lý bao gồm các công chức giữ các chức danh từ Phó trưởng phòng (hoặc tương đương) đến Giám đốc Sở (hoặc tương đương); ở cấp huyện, công chức lãnh đạo, quản lý bao gồm công chức giữ các chức danh từ Phó trưởng phòng (hoặc tương đương) trở lên đến Trưởng phòng (hoặc tương đương) cấp huyện; cấp xã không có công chức lãnh đạo, quản lý. Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

  • Công chức chuyên môn, nghiệp vụ

Công chức chuyên môn, nghiệp vụ là những người có học vấn nhất định, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch trong các cơ quan nhà nước để thực hiện một công việc nhất định theo vị trí việc làm phù hợp với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tiêu chuẩn chức danh.

Ngoài ra, công chức còn được phân loại theo trình độ đào tạo (Đại học, sau đại học; trung học;…) hoặc phân loại theo hệ thống cơ cấu tổ chức:

  • Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức trung ương;
  • Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức cấp tỉnh;
  • Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức cấp huyện;
  • Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức cấp xã.

1.1.1.2. Công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Điều 18, Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, xác định:

  1. Vụ là tổ chức thuộc Bộ, thực hiện chức năng tham mưu tổng hợp hoặc chuyên sâu về quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực hoặc tham mưu về công tác quản trị nội bộ của Bộ.
  2. Vụ không có tư cách pháp nhân, không có con dấu, không có tài khoản. Vụ trưởng được ký thừa lệnh Bộ trưởng các văn bản hướng dẫn, giải quyết, thông báo các vấn đề liên quan đến chuyên môn, nghiệp vụ thuộc chức năng, nhiệm vụ của vụ.
  3. Không tổ chức phòng trong vụ. Riêng trường hợp vụ có nhiều mảng công tác hoặc khối lượng công việc lớn, Bộ trình Chính phủ quyết định số lượng phòng trong vụ tại Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ. Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.
  4. Vụ hoạt động theo chế độ Thủ trưởng kết hợp với chế độ chuyên viên.
  5. Việc thành lập vụ phải đáp ứng đủ các tiêu chí sau (trừ các vụ tham mưu về công tác quản trị nội bộ của Bộ):
  6. Có chức năng, nhiệm vụ tham mưu về quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ;
  7. Có phạm vi, đối tượng quản lý theo ngành, lĩnh vực”.

Trong thực tế, còn có khái niệm “tương đương vụ”, là khái niệm chỉ tổ chức hành chính cấu thành Bộ, cơ quan ngang Bộ tương đương vụ gồm:

  • Cục thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ;
  • Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ;
  • Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ;
  • Vụ/Ban thuộc cơ quan thuộc Chính phủ;
  • Vụ thuộc Tổng cục thuộc Bộ;
  • Cục thuộc Tổng cục thuộc Bộ.

Ngoài ra, Vụ còn được tổ chức ở các cơ quan của Đảng ở Trung ương, cơ quan của Quốc hội; Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kiểm toán nhà nước… như:

  • Ban Tổ chức Trung ương: Vụ chính sách cán bộ; Văn phòng Ban Tổ chức Trung ương; Vụ Tổng hợp cán bộ;…
  • Văn phòng Quốc hội: Vụ phục vụ hoạt động Giám sát; Vụ Dân tộc; Vụ Pháp luật; Vụ Tư pháp; Vụ Kinh tế; Vụ Tài chính, ngân sách; Vụ Quốc phòng và An ninh; Vụ Văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Vụ Các vấn đề xã hội; Vụ Khoa học, công nghệ và môi trường; Vụ Đối ngoại; Vụ Dân nguyện; Vụ Công tác đại biểu; ….
  • Tòa án nhân dân tối cao: Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao; Vụ Tổ chức – Cán bộ; Vụ Tổng hợp; Vụ Thi đua – Khen thưởng; Vụ Giám đốc kiểm tra I; Cục Kế hoạch – Tài chính;…
  • Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Văn phòng; Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án an ninh; Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án trật tự xã hội; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp về hình sự; Cục thống kê tội phạm và công nghệ thông tin; Cục Kế hoạch – Tài chính …

Tóm lại, cấp vụ là một khái niệm chỉ vụ và các tổ chức tương đương vụ, có chức năng của vụ là tham mưu tổng hợp hoặc chuyên sâu về quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực hoặc tham mưu về công tác quản trị nội bộ của Bộ. Trong một số trường hợp, một số tổ chức tương đương (Cục thuộc Bộ) có chức năng tham mưu tổng hợp và giải quyết các vấn đề cụ thể trong một hoặc một số lĩnh vực, giúp Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật đối với chuyên ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ theo phân cấp, ủy quyền của Bộ trưởng. Cục có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; Cục trưởng được ban hành văn bản cá biệt, văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về chuyên ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của cục. Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Các chức danh lãnh đạo, quản lý cấp vụ thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, gồm:

  • Chánh/phó chánh Văn phòng Bộ;
  • Chánh/phó chánh thanh tra Bộ;
  • Vụ trưởng/phó vụ trưởng thuộc Bộ;
  • Cục trưởng/phó cục trưởng thuộc Bộ;
  • Vụ trưởng, phó vụ trưởng/Trưởng ban, phó trưởng thuộc Cơ quan thuộc Chính phủ;

Các chức danh lãnh đạo, quản lý cấp vụ thuộc Tổng cục thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, gồm:

  • Chánh/phó chánh Văn phòng Tổng cục;
  • Chánh/phó chánh thanh tra Tổng cục;
  • Vụ trưởng/phó vụ trưởng thuộc Tổng cục;
  • Cục trưởng/phó cục trưởng thuộc Tổng cục;

Công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ là bộ phận quan trọng, là lực lượng lao động nòng cốt trong tổ chức hành chính Bộ, ngành trung ương, trực tiếp tham mưu và tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước. Đây được xem là lực lượng đóng vai trò quyết định trong hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung, của Bộ, ngành nói riêng xét cho cùng phụ thuộc vào phẩm chất, trình độ, năng lực và hiệu quả hoạt động của đội ngũ công chức nói chung, trong đó có vai trò quan trọng của đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ.

Công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ là một bộ phận quan trọng của đội ngũ công chức nhà nước, là chủ thể của bộ máy hành chính nhà nước, được đào tạo, bổ nhiệm theo một hệ thống riêng và mang tính ổn định; thực hiện chức năng tham mưu, hoạch định sách sách quản lý nhà nước, bảo đảm thực thi quyền lực hành chính của Nhà nước đối với xã hội. Có vai trò quan trọng trong việc tham mưu, hoạch định ra chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, quyết định cá biệt, quản lý và hướng dẫn, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền.

Những công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ (như các chức danh nêu trên) là bộ phận cấu thành của công chức nói chung, theo đó ngoài các đặc điểm chung của công chức (như tính quan liêu, tính được trả lương), công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ còn có một số đặc điểm riêng. Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Về vai trò của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, qua tham khảo nghiên cứu của các công trình nghiên cứu có liên quan và từ thực tiễn cho thấy, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phải thể hiện được 10 vai trò chủ yếu sau: [4]

  • Vai trò đại diện

Người đứng đầu cấp vụ (hoặc cấp phó – khi được cấp trưởng ủy quyền) giữ vai trò là người đại diện cho tổ chức, đơn vị. Theo đó, phải thực hiện một số công việc có tính chất lễ nghi (như tiếp khách đến thăm và làm việc với cơ quan, đơn vị; đại diện tham dự và phát biểu ý kiến thể hiện chính kiến của cơ quan, tổ chức về những vấn đề liên quan; …).

  • Vai trò lãnh đạo

Công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ là người chịu trách nhiệm về tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của tổ chức, đơn vị và về công việc của những người thuộc quyền quản lý, chính các hành động thực hiện trách nhiệm này tạo nên vai trò lãnh đạo.

  • Vai trò liên hệ

Công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tạo lập các mối liên hệ trong nội bộ đơn vị thông qua hoạt động chỉ đạo, điều hành những người dưới quyền thực hiện nhiệm vụ; giữ vai trò liên hệ để gắn kết những người thuộc quyền quản lý để phát huy tinh thần đoàn kết, tạo động lực thực hiện nhiệm vụ; đồng thời cũng xác lập các mối liên hệ với bên ngoài để thu thập, tìm kiếm thông tin.

Nhiều nghiên cứu về công việc quản lý cho thấy, thời gian những người quản lý tiếp xúc với cấp dưới thuộc quyền quản lý ngang bằng với thời gian tiếp xúc với những người đồng cấp và những người ở các đơn vị khác. Thực tế cũng cho thấy, nguồn thông tin công chức lãnh đạo, quản lý thu thập được góp phần tạo lập hệ thống thông tin của riêng cá nhân nhà quản lý, dù không chính thức, không bằng văn bản, nhưng rất hiệu quả.

  • Vai trò theo dõi

Công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phải bao quát môi trường xung quanh để tìm kiếm thông tin, thăm dò các mối liên hệ và những người dưới quyền để thu nhận thông tin. Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

  • Vai trò thông báo

Thông tin mà công chức lãnh đạo, quản lý thu nhận được từ các mối liên hệ liên quan có thể cần thiết cho nội bộ tổ chức, đơn vị. Theo đó, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ chia sẻ và phân phối một số hoặc phần lớn thông tin thu nhận được trực tiếp cho những người dưới quyền quản lý của mình.

  • Vai trò người phát ngôn

Công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở mức độ nhất định phải chuyển các thông tin chỉ đạo, điều hành thuộc thẩm quyền của mình đến những cá nhân, tổ chức bên ngoài đơn vị mình, để hướng dẫn, giải thích… về những vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý.

  • Vai trò phát hiện và phát triển ý tưởng

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao, công chức lãnh đạo, quản lý luôn phải tìm cách đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động, tìm ra những giải pháp để thích ứng với điều kiện thực tiễn.

Với vai trò người theo dõi, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phải phát hiện các ý tưởng mới, xây dựng kế hoạch thực hiện, phát triển ý tưởng.

  • Vai trò giải quyết mâu thuẫn

Trong lãnh đạo, quản lý việc phát sinh mâu thuẫn là một yếu tố khách quan, khó tránh khỏi. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn có thể do công chức lãnh đạo, quản lý không lường hết được vấn đề trong thực tiễn thông qua hoạt động quản lý hoặc do người quản lý mắc sai lầm bỏ qua những tình huống nào đó. Với vai trò là người lãnh đạo, quản lý, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phải dành thời gian để tháo gỡ, giải quyết.

  • Vai trò phân bổ nguồn lực

Công chức lãnh đạo, quản lý nói chung, lãnh đạo, quản lý cấp vụ nói riêng là người chịu trách nhiệm chính trong việc bố trí, phân công nhiệm vụ cho những người thuộc quyền quản lý, bảo đảm phát huy năng lực, sở trường của từng cá nhân, phù hợp với vị trí, chức trách, nhiệm vụ của từng người thuộc quyền quản lý.

  • Vai trò đàm phán Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Đàm phán là công việc không thể thiếu của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, bởi chỉ họ mới có thẩm quyền thống nhất các nguồn lực của tổ chức, cơ quan, đơn vị, và chỉ họ mới có đủ thông tin cần thiết cho các cuộc thương lượng quan trọng đòi hỏi.

Tựu chung lại, có thể khẳng định công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ có vai trò quan trọng, là nhân tố chính góp phần thực hiện hoàn thành nhiệm vụ mà cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao. Theo đó, công chức lãnh đạo, quản lý có vai trò:

  • Là một trong những lực lượng thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong hoạch định chiến lược, kế hoạch, chủ trương, chính sách, bước đi, giải pháp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức nơi công chức lãnh đạo, quản lý đang công tác. Đồng thời, đây cũng chính là lực lượng lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung, nhiệm vụ, giải pháp… sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành.
  • Là lực lượng giữ vai trò chính trong việc xây dựng thể chế, chính sách, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, đóng vai trò chính trong quá trình nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.
  • Là lực lượng tham mưu cho Đảng, Nhà nước về công tác đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế – xã hội của đất nước, như: đổi mới chế độ công vụ, công chức; đổi mới công tác kế hoạch hóa, dự báo chiến lược, cải tiến hệ thống thuế, hải quan, xây dựng hệ thống ngân hàng thương mại, tín dụng…
  • Vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ còn thể hiện ở việc đề xuất các chủ trương, chính sách, pháp luật để thực hiện xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công, những vấn đề xã hội; đồng thời giúp Nhà nước tổ chức kiểm tra, kiểm soát, tạo điều kiện để xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tóm lại, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ là công chức được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý vụ (và tổ chức tương đương), có chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý vụ (và tổ chức tương đương), chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Bộ trưởng (và tương đương) về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của vụ (và tương đương), đồng thời trực tiếp tham mưu về chính sách, pháp luật theo phạm vi được phân công.

1.1.2. Nội dung chủ yếu của pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

1.1.2.1 Quy định về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

A. Tiêu chuẩn công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Tiêu chuẩn chung:

  • Tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống;
  • Tiêu chuẩn về hiểu biết.

Tiêu chuẩn cụ thể:

  • Về vị trí và chức trách;
  • Về năng lực và kinh nghiệm công tác;
  • Về trình độ nghiệp vụ, chuyên môn.

B. Nhiệm vụ, quyền hạn của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

  • Về nhiệm vụ, quyền hạn:

Ngoài việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của công chức nói chung đối với Đảng, nhà nước và nhân dân; nghĩa vụ trong thực thi công vụ; nghĩa vụ thực hiện các quy định về đạo đức, văn hóa giao tiếp của cán bộ, công chức; nghĩa vụ tuân thủ và thực hiện những việc công chức không được làm (liên quan đến đạo đức công vụ; liên quan đến sản xuất, kinh doanh; liên quan đến bí mật nhà nước), công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ còn phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

  • Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao phụ trách;
  • Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của công chức thuộc quyền quản lý;
  • Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý;
  • Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao phụ trách; xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân, tổ chức;
  • Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo đúng thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức; Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.
  • Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Hiến pháp, pháp luật.

1.1.2.2 Quy định về quản lý công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Việc quản lý công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ được thực hiện theo các quy định của Đảng và nhà nước, bao gồm các nội dung về: Tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Điều động, luân chuyển, biệt phái, đề bạt, bổ nhiệm; Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Sử dụng, đánh giá công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Khen thưởng, kỷ luật công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ,…

  • A. Tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Là một trong các nội dung của quản lý công chức, việc tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ. Theo đó, công chức được xem xét, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp vụ phải đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn chung về trình độ chuyên môn; về phẩm chất đạo đức, lối sống;.. đồng thời phải có các điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể đối với từng vị trí, chức danh lãnh đạo, quản lý do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, công chức được xem xét, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý khi đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn sau:

  • Đạt tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ, chức danh được bổ nhiệm theo quy định của cơ quan có thẩm quyền;
  • Có đầy đủ hồ sơ cá nhân được cơ quan có thẩm quyền xác minh rõ ràng, có bản kê khai tài sản theo quy định;
  • Trong độ tuổi bổ nhiệm theo quy định;
  • Có đủ sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ và chức trách được giao;
  • Không thuộc các trường hợp bị cấm đảm nhiệm chức vụ theo quy định của pháp luật.

B. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Đảng ta xác định, quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý là công tác phát hiện sớm nguồn cán bộ trẻ có đức, có tài, có triển vọng về khả năng lãnh đạo, quản lý, đưa vào quy hoạch để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý, đáp ứng nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài của từng địa phương, cơ quan, đơn vị và của đất nước.

Đề án quy hoạch cán bộ là kế hoạch tổng thể, dài hạn về đội ngũ cán bộ có triển vọng đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng số cán bộ đó theo quy hoạch.

Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tế đội ngũ cán bộ; phải gắn với các khâu khác trong công tác cán bộ, bảo đảm sự liên thông quy hoạch của cả đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị:

Để quy hoạch cán bộ sát với thực tiễn và có tính khả thi, phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ để xác định tiêu chuẩn, cơ cấu đội ngũ cán bộ trong quy hoạch (trình độ, ngành nghề, lĩnh vực công tác, độ tuổi, nam, nữ, dân tộc…); phải nắm chắc đội ngũ cán bộ hiện có, dự báo được nhu cầu cán bộ trước mắt và lâu dài, trên cơ sở đó mới tiến hành lựa chọn, giới thiệu cán bộ vào quy hoạch, đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ theo quy hoạch. Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý phải được xây dựng trên cơ sở quy hoạch cấp ủy đảng các cấp, lấy quy hoạch cấp dưới làm cơ sở cho quy hoạch ở cấp trên, bảo đảm sự liên thông, gắn kết giữa quy hoạch của các địa phương, ban, bộ, ngành với nhau.

Việc đào tạo, bồi dưỡng công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ được cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện để bổ sung kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực phụ trách; đào tạo về lý luận chính trị; trang bị kỹ năng, kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý;… qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ được giao.

Việc đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào tiêu chuẩn ngạch công chức; tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; vị trí việc làm; gắn với công tác sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị.

Thực hiện phân công, phân cấp trong tổ chức bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý;

Đề cao ý thức tự học và việc lựa chọn chương trình bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm của công chức; Bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả.

Việc đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện thường xuyên, tại những thời điểm phù hợp để thực hiện những mục đích, yêu cầu trong công tác quản lý, sử dụng cán bộ, như: Đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý… Điều này tùy thuộc vào yêu cầu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của công chức lãnh đạo, quản lý, theo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của cơ quan, đơn vị nơi công chức công tác; tùy thuộc vào kế hoạch, quy hoạch đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý của từng cơ quan, đơn vị, trong từng giai đoạn và yêu cầu của thực tiễn, nhưng phải tuân thủ theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về công tác cán bộ. Việc đào tạo, bồi dưỡng có thể được thực hiện ở trong nước hoặc ở ngoài nước.

  • C. Sử dụng, đánh giá công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Sử dụng, đánh giá công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ là nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý công chức, công vụ. Công tác đánh giá cán bộ, công chức là khâu tiền đề, có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở quan trọng để thực hiện các khâu khác (đề bạt, bổ nhiệm…). Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Đánh giá công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ để ghi nhận những kết quả, thành quả đạt được trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo; chỉ ra những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó và đề ra giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế. Kết quả việc đánh giá công chức lãnh đạo, quản lý bằng việc chỉ ra những tồn tại, hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân tạo điều kiện cho công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tự nhìn lại mình để sửa chữa, khắc phục kịp thời những yếu kém, tồn tại, hạn chế. Việc đánh giá công chức lãnh đạo, quản lý phải công tâm, khách quan, mang tinh thần xây dựng, vì mục đích nâng cao chất lượng đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ được giao của đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý.

Việc đánh giá được thực hiện định kỳ hàng năm để kiểm điểm tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của công chức lãnh đạo, quản lý.

Việc đánh giá cũng được thực hiện đột xuất khi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phát hiện những vấn đề cần phải kịp thời khắc phục, nếu không sẽ gây hậu quả xấu. Điều này góp phần tránh hoặc hạn chế hậu quả xấu xảy ra trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị được giao phụ trách.

  • D. Khen thưởng, kỷ luật công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Việc đánh giá cũng là cơ sở, tiền đề để cấp có thẩm quyền xem xét, khen thưởng hoặc kỷ luật công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ.

Theo đó, việc khen thưởng được thực hiện đối với cá nhân, tổ chức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, bảo đảm tiến độ, chất lượng; các đề xuất, kiến nghị do công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ đưa ra bảo đảm tính khả thi, phù hợp với tình hình thực tiễn. Công tác khen thưởng được thực hiện thường niên hàng năm, trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, các nhiệm vụ phát sinh, đột xuất được cấp có thẩm quyền giao bổ sung.

Bên cạnh việc khen thưởng thường niên hàng năm đối với công chức lãnh đạo, quản lý hoàn thành tốt nhiệm vụ, việc khen thưởng cũng được thực hiện đột xuất hoặc khen theo chuyên đề nhằm kịp thời động viên, khích lệ những kết quả, thành tích của cá nhân hoặc tập thể thuộc quyền quản lý của công chức lãnh đạo, quản lý.

Đối với những trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ hoặc có vi phạm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ được giao sẽ bị xem xét, xử lý kỷ luật tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm.

Công tác khen thưởng, kỷ luật phải bảo đảm kịp thời, chính xác, khách quan, công bằng; khen thưởng bảo đảm theo đúng tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định; hình thức, biện pháp xử lý kỷ luật theo đúng theo quy định của pháp luật. Có như vậy mới động viên, khích lệ tinh thần hăng say làm việc; đồng thời cũng kịp thời răn đe, cảnh tỉnh những cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm các quy định của Đảng và của Pháp luật.

1.2. Thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

1.2.1. Quan niệm thực hiện pháp luật về công chức, lãnh đạo quản lý cấp vụ

Theo nghĩa chung thì thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm biến những quy phạm pháp luật thành những hành vi, xử sự hợp pháp của các chủ thể pháp luật trong thực tế.[17]

Như vậy, thực hiện pháp luật là hoạt động mang tính tự giác của con người, được thực hiện bởi những chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi (có năng lực chủ thể pháp luật);

Hành vi thực hiện pháp luật là hành vi phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật; Đây là hành vi có ích cho xã hội.

Theo cách tiếp cận trên, thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ là quá trình hoạt động của người có thẩm quyền (chủ thể pháp luật) nhằm đưa các quy định của pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ đi vào thực tiễn hoạt động của cơ quan, tổ chức. Thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ là đưa các quy định của pháp luật về tuyển chọn, bổ nhiệm, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật; đánh giá, phân loại … công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ vào thực tiễn.

Việc thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phải bảo đảm thực tài, thực chất, tức là tuyển chọn được người có đức, có tài, thông qua đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ. Đây là điều kiện căn bản, là cơ sở quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cá nhân công chức lãnh đạo, quản lý cũng như của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi công chức lãnh đạo, quản lý đang làm việc, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan hành chính nhà nước nói riêng.

1.2.2. Các hình thức thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Có 04 hình thức thực hiện pháp luật nói chung, gồm: (i) Tuân thủ pháp luật; (ii) Thi hành (chấp hành) pháp luật; (iii) Sử dụng pháp luật và (iv) Áp dụng pháp luật. Trên cơ sở các hình thức thực hiện pháp luật theo nghĩa chung đó, có 04 hình thức thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, đó là:

Thứ nhất, tuân thủ pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, là việc các chủ thể pháp luật không thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm liên quan đến pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ.

Ví dụ: Quy định tuổi bổ nhiệm lần đầu không quá 55 tuổi đối với nam, không quá 50 tuổi đối với nữ; hay quy định người được xem xét, bổ nhiệm không trong thời gian bị thi hành kỷ luật từ hình thức khiển trách đến cách chức.

Thứ hai, thi hành (chấp hành) pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, là việc các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ một cách chủ động, tích cực.

Ví dụ: Thực hiện quy định về báo cáo, xin ý kiến của cấp ủy đảng có thẩm quyền cho chủ trương về bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; về việc kê khai tài sản khi xem xét, bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;…

Thứ ba, sử dụng pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ là việc các chủ thể pháp luật thực hiện các quyền chủ thể của mình theo quy định của pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ.

Ví dụ: Cơ quan, đơn vị có chức năng tham mưu về công tác tổ chức căn cứ thực trạng công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ của cơ quan, đơn vị để tham mưu, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét việc bổ sung, kiện toàn đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ.

Thứ tư, áp dụng pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, là việc cơ quan nhà nước, những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật căn cứ quy định của Đảng, của pháp luật và của cơ quan, đơn vị về công chức lãnh đạo, quản lý để xem xét, giải quyết những việc cụ thể. Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Trong các hình thức thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật là hình thức quan trọng nhất, chủ thể thực hiện hình thức này được pháp luật quy định cụ thể và chỉ những chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới được tiến hành thực hiện.

Ví dụ: Theo quy định của pháp luật, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền bổ nhiệm công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ. [17]

1.2.3. Các giai đoạn thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Để quy định của pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ đi vào thực tế, có các giai đoạn thực hiện pháp luật sau:

Thứ nhất, ban hành văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ (Ban hành văn bản quy định về điều kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý; Ban hành văn bản quy định về trình tự, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, biệt phái, điều động, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Ban hành văn bản quy định về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Ban hành văn bản xử lý vi phạm trong thực hiện pháp luật về công chức nói chung, công chức lãnh đạo, quản lý nói riêng…).

Thứ hai, phổ biến, tập huấn, giáo dục pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ (Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ cho những đối tượng liên quan; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ cho những đối tượng liên quan…).

Thứ ba, thực hiện trong thực tế nội dung pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Căn cứ quy định của pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, chủ thể pháp luật triển khai các hình thức thực hiện pháp luật để đưa nội dung pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ vào thực tiễn. Theo đó, tùy tình hình thực tiễn, chủ thể có thẩm quyền áp dụng các quy định của pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ về: Quy hoạch công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Điều kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Điều động, luân chuyển, biệt phái công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Quy trình, thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Đào tạo, bồi dưỡng công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Đánh giá, phân loại công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Khen thưởng, kỷ luật công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ.

Đồng thời, căn cứ quy định của pháp luật liên quan, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trực tiếp thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình (có thể tuân thủ, sử dụng, thi hành, áp dụng) tùy theo trường hợp cụ thể.

Thứ tư, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Để bảo đảm các quy định của pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định trên thực tiễn, chủ thể pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phải xây dựng kế hoạch để thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra, đánh giá việc thực hiện. Thông qua công tác kiểm tra để theo dõi, giám sát tình hình thực hiện pháp luật trên thực tế, kịp thời xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, hoặc chấn chỉnh hành vi thực hiện chưa nghiêm túc quy định về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý; vi phạm quy trình, thủ tục điều động, bổ nhiệm;… Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Đồng thời, qua hoạt động kiểm tra cũng giúp phát hiện những quy định của pháp luật không còn phù hợp, không bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ hoặc không khả thi để tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, bất hợp lý và kịp thời đề xuất cấp có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ; hoặc chủ động tham mưu với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ đối với các nội dung quy định thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của chủ thể pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý.

Thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ và kịp thời đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền hoặc theo thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định không còn phù hợp, thiếu tính khả thi sẽ góp phần hoàn thiện thể chế về vấn đề này, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; đây là cơ sở và điều kiện quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành thực thi nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị và của các cơ quan nhà nước.

1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

1.3.1. Mức độ hoàn thiện của pháp luật về công vụ, công chức

Về nguyên tắc, khi hệ thống pháp luật về công vụ, công chức nói chung, trong đó có pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý được hoàn thiện, bảo đảm có đủ các quy phạm pháp luật điều chỉnh tất cả các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực công vụ, công chức; nội dung các quy phạm phù hợp với thực tiễn, có khả năng dự liệu, có chế tài nghiêm minh, phù hợp … thì việc thực hiện pháp luật trên thực tiễn phát huy hiệu lực, hiệu quả.

Ở đây cũng cần hiểu rằng, mức độ hoàn thiện của pháp luật về công vụ, công chức không chỉ nhìn ở góc độ số lượng quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật và các quan hệ xã hội được điều chỉnh.

Dưới một góc độ khác, các quy định phải phù hợp với điều kiện thực tế về năng lực, trình độ của nền công chức, công vụ; tính phổ quát về trình độ, năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức nói chung, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ nói riêng; về khả năng của nền công vụ trong việc đáp ứng những điều kiện thiết yếu để đội ngũ công chức thực thi công vụ. Vấn đề này được hiểu là các quy phạm pháp luật quy định về điều kiện, tiêu chuẩn của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ – dưới góc độ thượng tầng kiến trúc – phải phù hợp với hạ tầng cơ sở, thực tiễn cuộc sống mới bảo đảm tính khả thi, tạo động lực thúc đẩy phát triển, bảo đảm phát huy hiệu lực, hiệu quả trong quá trình triển khai thực hiện trên thực tiễn.

1.3.2. Ý thức công vụ, năng lực của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Ý thức công vụ là cách nghĩ, cách nhìn nhận và cách hành động trước một vấn đề hay một tình huống cụ thể trong công vụ, gồm cả tình cảm, thái độ và nhận thức của công chức về công vụ. Công chức có thể yêu/ghét, thích hay không thích, quan tâm hay thờ ơ đối với nhiệm vụ, công vụ được giao.., từ đó ảnh hưởng tới hành vi công vụ của họ. Thông thường nếu có thái độ tích cực thì hành vi tích cực. Nếu công chức có ý thức công vụ khác nhau thì sẽ có cách hành xử khác nhau, mang lại kết quả trong công vụ khác nhau. Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Công chức có ý thức công vụ phù hợp, trách nhiệm, hợp tác, chia sẻ và quyết đoán sẽ giải quyết công việc được nhanh chóng và thấu tình đạt lý. Người có tinh thần, thái độ làm việc qua loa chiếu lệ và đối phó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công việc. Ngược lại, công chức đam mê, trách nhiệm với công vụ, am hiểu sâu sắc pháp luật thì luôn có khả năng thực hiện công việc với chất lượng cao hơn.

Trong quá trình thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ thì ý thức trách nhiệm là rất quan trọng, tác động trực tiếp tới hiệu lực, hiệu quả thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ. Nhiều công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ có trình độ, kiến thức tốt, kỹ năng vững vàng nhưng không hoàn thành nhiệm vụ do thiếu trách nhiệm, thiếu bản lĩnh chính trị, cơ hội. Vì vậy, khi thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phải có ý thức trách nhiệm trước pháp luật, trước Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có sự nỗ lực, cố gắng, nhiệt tình đối với công vụ.

Trong một số trường hợp, tuy người công chức còn có những thiếu hụt nhất định về kiến thức, kỹ năng nhưng nếu có thái độ tích cực, trách nhiệm trong thực hiện công vụ thì có thể bù đắp những thiếu hụt đó. Nhưng nếu không có trách nhiệm, bản lĩnh và sự đam mê trong hoạt động thực hiện pháp luật thì dù có kiến thức và kỹ năng tốt cũng không phát huy hết năng lực làm việc, do vậy, hiệu lực, hiệu quả thực hiện pháp luật sẽ thấp.

Để pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ được thực hiện tốt, người công chức cần có: (i) Ý thức chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế làm việc của cơ quan; (ii) tinh thần, ý thức trách nhiệm, bản lĩnh chính trị đối với việc thực thi công vụ; (iii) Ba là tinh thần hợp tác, chia sẻ, tôn trọng nhân dân, thái độ phục vụ nhân dân ở mức độ cao nhất.

1.3.3. Môi trường thực hiện pháp luật về công chức, lãnh đạo, quản lý cấp vụ Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Pháp luật về công chức, lãnh đạo, quản lý cấp vụ được thực hiện không phải trong một môi trường vô tính, mà nó chịu sự tác động rất lớn của môi trường chính trị – kinh tế – xã hội, mà trực tiếp là:

  • Sự lãnh đạo của cấp ủy đảng;
  • Sự chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
  • Sự phối hợp, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ, thông qua hoạt động phối hợp công tác, hợp tác quốc tế…

Một môi trường minh bạch, phân định rõ ràng trách nhiệm, được hiện đại hóa và thân thiện với con người sẽ có tác động tích cực đến thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ.

Tiểu kết chương 1

Chương 1 đã trình bày những nội dung cơ bản về công chức và công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ. Là bộ phận cấu thành của công chức nhà nước, ngoài những đặc điểm chung của công chức về tiêu chuẩn, điều kiện; nhiệm vụ, quyền hạn của công chức, đó là nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc, thực hiện chức trách, nhiệm vụ trong phạm vi và theo đúng quy định của pháp luật;..; công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ có những đặc điểm riêng với những yêu cầu khác so với công chức nói chung, đó là tính đại diện cho cơ quan, đơn vị được giao quản lý; tính chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức thuộc quyền quản lý; …

Đồng thời, chương 1 cũng đã đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản của thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, trong đó, tập trung vào nghiên cứu, phân tích nội dung thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, đó là việc ban hành văn bản về quản lý công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; các hình thức thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, gồm thi hành pháp luật; tuân thủ pháp luật; áp dụng pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ…; các giai đoạn thực hiện pháp luật; các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, gồm yếu tố về môi trường thực hiện pháp luật; mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; ý thức, trách nhiệm công vụ, công chức của đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ… Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ

One thought on “Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464