Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn và một số giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Thực trạng về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự ở Việt Nam hiện nay

3.1.1. Thực tiễn về cơ cấu tội phạm xác định trên cơ sở phân nhóm tuổi chịu Trách nhiệm hình sự

Nghiên cứu tình hình tội phạm ở nước ta từ năm 2015 đến nay cho thấy, phạm tội do đối tượng là người chưa thành niên có chiều hướng gia tăng, tính chất tội phạm của những người dưới 18 tuổi ngày càng nghiêm trọng.

Theo Thượng tướng Lê Quý Vương – Thứ trưởng Bộ Công an: Năm 2018, toàn quốc xảy ra hơn 40.000 vụ tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự xã hội, tính chất vẫn nghiêm trọng, mức độ bạo lực gia tăng. Tội phạm có xu hướng ngày càng trẻ hóa, số vụ thanh, thiếu niên phạm tội tăng, tình trạng bạo hành, xâm phạm trẻ em, nhất là hiếp dâm trẻ em xảy ra trên nhiều địa phương. Theo thống kê, 1/3 số lượng tội phạm do người chưa thành niên gây ra trong các vụ phạm tội. Hàng năm có khoảng 15.000 người chưa thành niên vi phạm pháp luật bị xử lý, 2.000 người bị đưa vào trường giáo dưỡng và khoảng 1.200 người phải chấp hành án hình sự tại các trại giam[53]

Lựa chọn ngẫu nhiên một tỉnh để khảo sát số liệu thì, theo số liệu thống kê báo cáo của Ngành Kiểm sát tỉnh Gia Lai [54] thì số bị can trong khoảng từ năm 2016 đến 6 tháng đầu năm 2018 như sau:

  • Bảng 3.1. Bảng thống kê số bị can tỉnh Gia Lai từ 2016 đến 2018

Qua số liệu thống kê cho ta thấy người chưa thành niên phạm tội liên tục tăng trong những năm qua. Đây là một yếu tố đáng báo động, bởi những năm gần đây, việc người chưa thành niên phạm tội khá là phổ biến.

Một yếu tố nữa cũng cần phải chú ý là tính chất của tội phạm do những người ở độ tuổi này thực hiện. Năm 2015, trong số các bị can bị khởi tố, thống kê của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về độ tuổi của bị can [49] như sau:

  • Số bị can từ 14 đến dưới 16 tuổi: 421 người, chiếm 0,383% tổng số bị can bị khởi tố của cả nước, chiếm 7,2% tổng số bị can là NCTN bị khởi tố.
  • Số bị can từ 16 đến dưới 18 tuổi: 443 người, chiếm 4,954% tổng số bị can bị khởi tố của cả nước, chiếm 92,8% tổng số bị can là NCTN bị khởi tố.

3.1.2. Thực trạng quy định pháp luật hình sự về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Thứ nhất, tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là một chế định quan trọng và xuyên suốt trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên cho đến nay, chế định này vẫn chưa được định nghĩa trong Bộ luật hình sự. Điều này sẽ gây ra khó khăn trong việc áp dụng pháp luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, về cách diễn đạt các thuật ngữ trong Bộ luật hình sự 2015 vẫn còn chưa thống nhất. Ví dụ như: Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định ở điểm b khoản 2 là “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội…”, nhưng cũng trong điều 91 khoản 7 lại quy định là: “Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội…”. Một số Điều luật còn diễn đạt chung chung dẫn đến nhiều cách hiểu. Ví dụ như trường hợp miễn Trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 2 Điều 91 quy định như sau: “ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 123…” sẽ dẫn đến 2 cách hiểu. Cách hiểu thứ nhất là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định… Cách hiểu thứ hai là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều… mà không phân biệt loại tội phạm [46,tr16]. Ngoài ra cách diễn đạt vẫn còn điểm chưa hợp lý, ví dụ về quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác)…”. Mà khoản 6 Điều 134 quy định: “ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân”, như vậy khoản 6 là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, việc đưa khoản 6 vào là không cần thiết. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, về quy định tổng hợp hình phạt của người dưới 18 tuổi phạm tội, điểm a khoản 3 Điều 103 Bộ luật hình sự 2015 quy định: “Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 1 Điều này”(theo khoản 1 mức cao nhất là 18 năm tù). Nhìn chung có sự khoan hồng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, tuy nhiên quy định này còn có sự bất hợp lí. Ví dụ trong trường hợp sau đây: A (17 tuổi) phạm tội giết người đặc biệt nghiêm trọng với khung hình phạt cao nhất là tử hình, nhưng vì chưa đủ 18 tuổi nên A chỉ phải chịu mức hình phạt là 18 năm tù (theo khoản 1 Điều 103). Sau đó A lại có hành vi cố ý gây thương tích với mức hình phạt 15 năm. Như vậy, nếu theo điểm a khoản 3 Điều 103 thì mức hình phạt sẽ theo mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi A đủ 18 tuổi tức là A chỉ phải chịu mức hình phạt là 18 năm tù. Sau đó, trong tù A lại phạm tội cướp tài sản với mức án 10 năm tù nhưng theo Điều 104 thì: “Hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 103 của Bộ luật này”, tức là A vẫn chỉ bị áp dụng mức hình phạt 18 năm tù. Đối với những trường hợp như trên, nếu cứ tái phạm như vậy sẽ gây hậu quả nghiêm trọng. Trong trường hợp này liệu việc khoan hồng có tác dụng không. Việc quy định như vậy sẽ không đảm bảo được tính nghiêm khắc của pháp luật, sẽ có một số đối tượng vì thế mà coi thường pháp luật. Tương tự điểm a khoản b Điều 103 cũng có điều bất cập như vậy.

Thứ tư, hiện nay tình trạng người chưa thành niên nói chung và người dưới 14 tuổi nói riêng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và mức độ nguy hiểm. Thậm chí có nhiều trường hợp người chưa đủ 14 tuổi nhưng đã thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng gây bức xúc và hoang mang dư luận. Chính sách khoan hồng cho người dưới 18 tuổi rất nhiều, tuy nhiên một số trường hợp không hối cải và còn tái phạm, hoặc một số trường hợp phạm tội giết người gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Câu hỏi đặt ra là việc khoan hồng với những trường hợp cá biệt như vậy thì có đảm bảo được tính nghiêm khắc của pháp luật hay không. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Thứ năm, theo xu hướng chung của thế giới quyền con người ngày càng được nâng cao và chú trọng, đặc biệt là với những đối tượng là người chưa thành niên hay người cao tuổi. Theo quy định tại Điều 2, Luật người cao tuổi 2009, thì người cao tuổi được hiểu là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Ở lứa tuổi này hoạt động nhận thức bao gồm nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác) và nhận thức lý tính (tư duy, tưởng tượng) có một sự thay đổi quan trọng: chất lượng hiệu quả nhận thức cảm tính ở người cao tuổi có sự giảm sút rõ rệt, cảm giác tri giác kém nhạy cảm, kém chính xác và trọn vẹn. Về nhận thức lý tính: trừ những người tích cực hoạt động (chân tay và trí óc), còn lại đa số người cao tuổi đều có sự giảm sút khác nhau về khả năng hoạt động tư duy. Người cao tuổi gặp khó khăn khi tiếp thu những khái niệm mới, trừu tượng, cùng với đó là sự giảm sút về trí nhớ rõ rệt [43,tr53]. Có thể thấy, người cao tuổi về cả thể chất lẫn tinh thần đều có sự giảm sút, ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ. Tuy vậy, Bộ luật hình sự 2015 chỉ có những quy định riêng đối với người dưới 18 tuổi mà chưa có quy định riêng dành cho những người cao tuổi.

3.1.3. Thực trạng áp dụng pháp luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự

  • Cách tính và thời điểm xác định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

Về cách tính tuổi: cơ bản cách tính tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự 2015 là áp dụng tính tuổi đủ, tuổi tròn.

Về thời điểm tính tuổi: hành vi phạm tội đã xảy ra vào thời điểm nào thì sẽ lấy thời điểm đó để xác nhận độ tuổi của người phạm tội. Trong các trường hợp sẽ có cách xác định như sau: trong trường hợp một người thực hiện hành vi phạm tội kéo dài và liên tục, có nhiều hành vi được thực hiện ở các thời điểm khác nhau, và khi xác định độ tuổi thực hiện hành vi phạm tội có thể gặp trường hợp có hành vi thực hiện khi chưa đủ tuổi, có hành vi thực hiện khi đã đủ tuổi thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ lấy độ tuổi ở hành vi cuối để xem xét Trách nhiệm hình sự của họ. Còn những trường hợp khi xác định độ tuổi của người phạm tội có tính chất “giáp ranh” thì các cơ quan tư pháp cần tách các hành vi phạm tội của người đó ở từng độ tuổi để xem xét và sẽ tính tuổi theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Về căn cứ xác định tuổi: Tuổi của một người được xác định từ thời điểm người đó được sinh ra. Theo hướng dẫn tại thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21 tháng 12 năm 2018, các cơ quan tư pháp sẽ căn cứ vào các loại giấy tờ có giá trị pháp lý gắn với nhân thân của người đó gồm: giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, sổ hộ khẩu, hộ chiếu(khoản 1 Điều 6) để xác định độ tuổi của một người. Trường hợp các giấy tờ, tài liệu này có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu này thì cơ quan có thẩm quyền phải phối hợp với gia đình, người đại diện, người thân thích, nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh…. Còn những trường hợp không thu thập được, hoặc không xác nhận được cơ sở pháp lý của các loại giấy tờ của người phạm tội, thì các cơ quan tư pháp sẽ phải xác định ngày sinh của họ theo nguyên tắc có lợi cho họ căn cứ vào khoản 2 Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của người bị buộc tội, thì sẽ xác định tuổi trong 5 trường hợp như sau:

  • Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.
  • Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.
  • Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.
  • Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.
  • Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

Cách xác định độ tuổi của người bị buộc tội và người bị hại là như nhau. Quy định như vậy đã bảo đảm được sự công bằng giữa người bị buộc tội với người bị hại theo nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự là “bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật”. Tuy nhiên, nếu xác định tuổi của người bị hại nhằm truy cứu Trách nhiệm hình sự và xác định mức độ Trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội theo quy định như trên thì sẽ gây bất lợi cho người bị buộc tội vì trong một số trường hợp, tuổi của người bị hại là căn cứ cho việc quyết định bị cáo có phạm tội hay không phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc phân biệt các tội danh với nhau hoặc có ý nghĩa định khung hình phạt, quyết định hình phạt.

  • Trong công tác xác định tuổi của người phạm tội là người dưới 18 tuổi còn một số khó khăn, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về quy định tại Điều 147 về xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi. Về những trường hợp không xác định chính xác ngày sinh tháng năm sinh theo quy định ở khoản 2 thường là những trường hợp không có các loại giấy tờ để chứng minh, hay các loại giấy tờ xác minh có ngày tháng năm sinh khác nhau hoặc chỉ ghi tháng, năm sinh. Có những trường hợp tuổi được xác định theo một sự kiện lớn của tự nhiên hoặc xã hội. Những thông tin này chủ yếu từ lời khai của người bị buộc tội hoặc những người thân trong gia đình. Nếu xét về độ tin cậy, chúng không thể bằng kết luận giám định được.

Thứ hai, nhiều trường hợp đăng ký khai sinh không đúng với ngày tháng, năm sinh, giấy khai sinh bị tẩy xóa, mâu thuẫn với các giấy tờ tài liệu có liên quan. Điển hình vụ: Triệu Tạ Hin cùng Phưởng Vần Quyên đều trú tại thôn Đoàn Kết, xã Ia Piơ, huyện ChưPrông, tỉnh Gia Lai có hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe máy trị giá 3.200.000đồng. Hành vi của Triệu Tạ Hin có đủ dấu hiệu phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Căn cứ giấy khai sinh và sổ hộ khẩu thì Triệu Tạ Hin sinh ngày 01/01/1999, tính đến thời điểm phạm tội Hin đã 16 tuổi 8 tháng 2 ngày đủ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Qua nghiên cứu tài liệu xác định tuổi phát hiện giấy khai sinh có dấu hiệu bị tẩy xóa, sửa năm sinh từ 1994 thành 1999, Viện kiểm sát huyện Chư Prông đã yêu cầu xác minh, kết quả đã thu thập 01 bản sao giấy khai sinh do Ủy ban nhân dân xã Ca Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng cấp năm 2006 xác định Tạ Triệu Hin sinh ngày 01/01/1994. Tuy nhiên, tại Phiên tòa sơ thẩm, mẹ bị cáo Tạ Triệu Hin lại cung cấp 01 sổ hộ khẩu do Công an huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng cấp năm 2002, ghi Triệu Tạ Hin sinh năm 1999. Viện Kiểm sát đã yêu cầu trưng cầu giám định tuổi đối với Triệu Tạ Hin, kết quả giám định tuổi xác định Triệu Tạ Hin từ 16 năm 9 tháng đến 17 năm 3 tháng, đủ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Vụ án đã truy tố, xét xử xong[54]. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, có những trường hợp đăng ký giấy khai sinh không đúng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn được cấp bản sao giấy khai sinh., trong quá trình cấp bản chính và bản sao trong thực tiến không giống nhau nên dẫn đến nhiều sai sót. Điển hình vụ: Mai Anh Mạnh, Đặng Thanh Tâm cùng đồng phạm thực hiện vụ “Cướp tài sản” xay ra ngày 09/7/2017 tại thôn Chư Bồ 2, xã Ia Kla, huyện Đức Cơ. Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Cơ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với một số đối tượng để điều tra về tội “Cướp tài sản” và “Không tố giác tội phạm”. Riêng Mai Anh Mạnh và Đặng Thành Tâm qua xác minh xác định các giấy tờ liên quan có mâu thuẫn và khó khăn trong việc xác định ngày, tháng, năm sinh của hai đối tượng. Cụ thể: đối với Mai Anh Mạnh, theo giấy khai sinh không ghi số, không ghi quyển đăng ký khai sinh ngày 04/02/2000, ghi Mạnh sinh ngày 28/02/2000 (tức đăng ký khai sinh trước khi sinh 24 ngày) do Ủy ban nhân dân xã Ia Dom, huyện Đức Cơ cấp. Sổ hộ khẩu cấp ngày 27/12/2007 ghi Mạnh sinh ngày 28/02/2000. Xác minh tại Ban tư pháp xã Ia Dom, xác định giấy khai sinh của Mai Anh Mạnh không được đăng ký tại sổ lưu trữ của Tư pháp xã Ia Dom. Tương tự, Đặng Thanh Tâm có giấy khai sinh ghi ngày sinh là ngày 25/12/2000 do Ủy ban nhân dân xã Kla cấp ngày 04/02/2000. Tuy nhiên, giấy khai sinh không ghi số, không ghi quyển đăng ký, xác minh tại Ban tư pháp xã Kla xác định giấy khai sinh của Đặng Thanh Tâm không đăng ký theo đúng quy định pháp luật, không có tên trong sổ bộ đăng ký khai sinh do tư pháp xã quản lý. Mặc dù đăng ký khai sinh không hợp pháp, không có trong sổ bộ nhưng trước đó vào ngày 07/4/2009, Đặng Thanh Tâm vẫn được cấp bản sao giấy khai sinh. Do vậy, Viện kiểm sát huyện Đức Cơ đã yêu cầu trưng cầu giám định xác định tuổi của các đối tượng trước khi khởi tố nhằm đảm bảo quyền lợi của các bị can khi tham gia tố tụng[54].

  • Những nguyên nhân vẫn còn những vướng mắc như trên vì:

Thứ nhất, bản thân gia đình của người dưới 18 tuổi chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi và trách nhiệm trong việc đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, đặc biệt là người đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, -nên chưa quan tâm đến việc đăng ký khai sinh cho con theo đúng quy định, chỉ khi cần giải quyết các chế độ chính sách; con đến tuổi đi học hoặc chính quyền tổ chức các đợt vận động đăng ký khai sinh, hộ tịch, hộ khẩu tập trung mới đi đăng ký dẫn đến tình trạng nhiều trường hợp đăng ký khai sinh quá hạn, không đảm bảo thủ tục vẫn được cấp giấy khai sinh.

Thứ hai, công tác tuyên truyền, vận động của các cấp chính quyền, đoàn thể ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa chưa tốt trong việc kê khai, đăng ký, quản lý hộ tịch, hộ khẩu còn bị buông lỏng dẫn đến việc các cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn trong khi xác định tuổi thật của bị can, bị cáo, người bị hại dưới 18 tuổi.

Thứ ba, các cơ quan quản lý Nhà nước về hộ tịch, hộ khẩu nhiều nơi, đặc biệt là những vùng kinh tế kém phát triển, vùng sâu, vùng xa vẫn chưa nhận thức đầy đủ về giá trị của các loại giấy tờ mà mình có trách nhiệm cấp cho công dân, dẫn đến việc cấp tùy tiện không theo đúng trình tự thủ tục, không có căn cứ. Một số Điều tra viên, Kiểm sát viên vẫn còn chủ quan, chưa làm hết trách nhiệm trong việc thu thập, đánh giá các tài liệu dùng làm căn cứ xác định tuổi của người dưới 18 tuổi.

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện PLHS Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Trên cơ sở các vấn đề của thực trạng về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự đã được phân tích trên đây, tác giả đưa ra một số đề xuất như sau:

Thứ nhất, cần điều chỉnh định nghĩa pháp luật của khái niệm tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Về mặt lập pháp, khái niệm về “người đủ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự” vẫn chưa được các nhà làm luật điều chỉnh trong Bộ luật hình sự. Tại Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 chỉ quy định: “người từ đủ 16 tuổi trở lên phái chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm…” và “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng,…”. Tuy nhiên, khái niệm về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự lại không được quy định trong Điều luật này, điều này có thể dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng quy phạm phát luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Tác giả kiến nghị thêm định nghĩa về khái niệm tuổi chịu Trách nhiệm hình sự vào Điều 12 như sau:

Điều 12. Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự

  1. Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là khoảng thời gian tối thiểu kể từ khi chào đời cho đến một thời điểm nào đó để một cá nhân được nhà nước thừa nhận là có khả năng gánh chịu hậu quả pháp lý do hành vi phạm tội gây ra.
  2. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
  3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 304 của Bộ luật này.

Thứ hai, cần điều chỉnh lại các thuật ngữ về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự một cách thống nhất, cần thống nhất cách diễn đạt “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi”, “người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi”, và “người từ đủ 18 tuổi”. Đồng thời cần xem xét, đưa ra những hướng dẫn cụ thể để tránh nhầm lẫn đối với những điều luật vẫn còn quy định chung chung dẫn đến nhiều cách hiểu như khoản 3 Điều 103, điểm b khoản 2 Điều 91,… cần có những chỉnh sửa, ban hành những văn bản hướng dẫn kịp thời để đảm bảo tính hợp lý, khoa học và thống nhất của Bộ luật hình sự. Thứ ba, về quy định tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên, cần được xem xét, điều chỉnh lại cho phù hợp với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Cần điều chỉnh lại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 của Điều 103 để đảm bảo sự nghiêm khắc của pháp luật.

Thứ tư, cần xem xét, điều chỉnh loại và mức Trách nhiệm hình sự cho các lứa tuổi. Về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên. Qua những vụ án đặc biệt nghiêm trọng do người chưa thành niên thực hiện xảy ra trong thời gian qua, mặc dù hậu quả gây ra cho xã hội là đặc biệt lớn nhưng Trách nhiệm hình sự mà họ phải gánh chịu chỉ là tối đa 12 năm tù hoặc 18 năm tù đã gây bức xúc rất lớn cho xã hội. Để đảm bảo tính răn đe và tác giả kiến nghị trong thời gian tới cần nâng mức hình phạt tù đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi lên đến 30 năm tù. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Thứ năm, Bộ luật hình sự 2015 cần cân nhắc bổ sung quy định miễn, giảm Trách nhiệm hình sự đối với người cao tuổi để thể hiện rõ ràng hơn nữa tính nhân đạo của pháp luật hình sự. Bởi vì xu hướng chung của thế giới hiện nay là dần bỏ án tử hình, quyền con người ngày càng được nâng cao và chú trọng, đặc biệt là với những đối tượng là người chưa thành niên hay người cao tuổi. Do đó, tác giả cho rằng nên quy định bổ sung một khoản tại Điều 12 về độ tuổi tối đa phải chịu Trách nhiệm hình sự và miễn giảm Trách nhiệm hình sự đối với người từ 60 tuổi trở lên.

Cuối cùng, mặc dù hiện tượng người dưới 18 tuổi phạm tội đang có chiều hướng gia tăng và tội phạm do họ thực hiện ngày càng nguy hiểm, nhưng tác giả nhận thấy nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này xuất phát từ nhiều phía, trong đó có môi trường sống có nhiều cám dỗ, sự quản lý xã hội chưa tốt của các cơ quan chức năng, sự thiếu quan tâm của gia đình và nhà trường…. Hơn nữa hiện tượng tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện chưa đủ phổ biến để cần thiết phải hạ thấp tuổi chịu Trách nhiệm hình sự theo một số luồng ý kiến được đưa ra thảo luận tại các kỳ họp Quốc hội và được các phương tiện truyền thông đưa tin. Vì vậy quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành là đang phù hợp và không cần thiết phải hạ xuống thấp hơn.

Tác giả tán thành quan điểm của Trưởng đại diện UNICEF tại Việt Nam khi cho rằng trừng phạt khắc nghiệt đối với trẻ em vi phạm pháp luật không ngăn chặn được tình hình tội phạm. Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng do trẻ em còn đang trong giai đoạn phát triển, việc gán cho trẻ em và đối xử với trẻ em như những tội phạm ở độ tuổi nhỏ có thể tác động tiêu cực nghiêm trọng đến sự phát triển và khả năng cải tạo, phục hồi thành công của trẻ. Mặt khác, trong bối cảnh Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia đi đầu về thực hiện quyền trẻ em thì việc kiến nghị sửa đổi Bộ luật hình sự theo hướng giảm tuổi chịu Trách nhiệm hình sự có thể được coi là một bước lùi trong công tác bảo vệ quyền trẻ em[55].

3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Thứ nhất, cần lựa chọn, ban hành án lệ liên quan đến xác định độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội, Án lệ nói chung, án lệ hình sự nói riêng từ lâu đã trở thành nguồn pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các hành vi vi phạm pháp luật ngày càng có xu hướng diễn biến phức tạp và tinh vi. Do đó, Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã xác định “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm…”. Án lệ chính thức được thừa nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam ngày 06/4/2016, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 220/QĐ-TANDTC công bố 06 án lệ đầu tiên của Việt Nam. Trong 3 năm từ 2015 đến 2018 đã có 04 án lệ hình sự được ban hành. Đây là bước ngoặt quan trọng, đánh dấu sự đột phá của tiến trình cải cách tư pháp.

Án lệ không chỉ giúp cho pháp luật ngày càng dễ hiểu gắn liền với thực tiễn mà còn giải quyết các vụ việc một cách nhanh chóng hơn khi chưa có luật thành văn điều chỉnh, đồng thời tạo sự thống nhất trong công tác xét xử giữa các cấp toà án. Do đó, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần xem xét, lựa chọn để đưa ra các Nghị quyết ban hành những án lệ liên quan đến xác định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự đối với những trường hợp khó xác định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự, đặc biệt đối với những người sinh sống những vùng điều kiện kinh tế – xã hội còn chậm phát triển, miền núi, biên giới, hải đảo xa xôi hoặc đồng bào dân tộc thiểu số để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, cần xem xét, điều chỉnh lại các quy định phục vụ công tác xác định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Về quy định các giấy tờ trong xác định độ tuổi người bị buộc tội, người bị hại, cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào một trong những loại giấy tờ, tài liệu sau: giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, sổ hộ khẩu, hộ chiếu. Theo ý kiến cá nhân của tác giả, trong quá trình xác minh tuổi, trước hết người có thẩm quyền cần lấy lý lịch cá nhân từ chính quyền cơ sở nơi người đó cứ trú, lấy lời khai, đồng thời kiểm tra các giấy tờ trên theo thứ tự, không có loại thứ nhất mới sử dụng đến loại thứ hai, không có loại thứ nhất, thứ hai mới dùng loại thứ 3… Thứ tự ưu tiên được sử dụng của các loại giấy tờ như sau:

  1. Giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân
  2. Hộ chiếu
  3. Giấy khai sinh gốc
  4. Giấy khai sinh bản sao
  5. Sổ hộ khẩu
  6. Giấy chứng sinh

Về quy định tại Điều 147 về xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi. Về những trường hợp không xác định chính xác ngày sinh tháng năm sinh theo quy định ở khoản 2 thường là những trường hợp không có các loại giấy tờ để chứng minh, hay các loại giấy tờ xác minh có ngày tháng năm sinh khác nhau hoặc chỉ ghi tháng, năm sinh. Có những trường hợp tuổi được xác định theo một sự kiện lớn của tự nhiên hoặc xã hội. Những thông tin này chủ yếu từ lời khai của người bị buộc tội hoặc những người thân trong gia đình. Nếu xét về độ tin cậy, chúng không thể bằng kết luận giám định được. Mặt khác, hiện nay khoa học đã cho phép việc giám định tuổi ở Việt Nam chỉ chênh lệnh với ngày sinh thực tế dao động trong phạm vi 3 tháng. Như vậy, theo quan điểm của tác giả giám định phải được ưu tiên hàng đầu trong những trường hợp không xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, cần nâng cao chất lượng đội ngũ người tiến hành tố tụng. Các cơ quan tiến hành tố tụng cần chủ động phối hợp với các cơ quan hữu quan để thu thập đầy đủ các tài liệu nhằm xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh của người thực hiện tội phạm. Đối với các vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là ngưới dưới 18 tuổi, Lãnh đạo Viện Kiểm sát các cấp cần phân công cán bộ, kiểm sát viên có năng lực, có kinh nghiệm trong việc giải quyết đối với loại tội phạm này. Quá trình giải quyết vụ án, Lãnh đạo Viện cần thường xuyên theo dõi, đôn đốc cán bộ, Kiểm sát viên được phân công nhiệm vụ để nắm bắt tiến độ giải quyết án, kịp thời có ý kiến chỉ đạo đối với những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ quan được giao nhiệm vụ và cơ quan tiến hành tố tụng nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi.

Thứ tư, nâng cao chất lượng cán bộ tư pháp – hộ tịch. Để nâng cao chất lượng cán bộ tư pháp – hộ tịch, tác giả kiến nghị một số biện pháp như sau: xây dựng và chuẩn hóa chức danh Hộ tịch viên cho các cán bộ làm công tác hộ tịch từ cấp xã trở lên. Hộ tịch viên phải là người có trình độ tối thiểu phải từ trung cấp luật trở lên và được tuyển dụng theo chế độ thi tuyển công chức của Nhà nước. Hơn nữa, cơ quan quản lý Nhà nước các cấp cũng cần tăng cường công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu; việc cấp giấy khai sinh của chính quyền địa phương các cấp cần đảm bảo mỗi trẻ em sinh ra đều được cấp giấy khai sinh đúng quy định; việc quản lý hồ sơ hộ tịch, hộ khẩu cần đầy đủ, kịp thời và thống nhất.

Thứ năm, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về những quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Hiện nay, vẫn còn nhiều trường hợp người đã đủ 14 tuổi nhưng họ vẫn chưa biết rằng mình đã đến tuổi chịu Trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm mà pháp luật quy định. Do đó, tác giả kiến nghị một số biện pháp như sau: đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến về quy định pháp luật hình sự nói chung và quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự nói riêng ở trong nhà trường, gia đình đoàn thanh niên,… Hơn nữa, cần nâng cao công tác tuyên truyền, vận động của các cấp chính quyền, đoàn thể, đặc biệt là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa trong việc kê khai, đăng ký, quản lý hộ tịch, hộ khẩu.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Luật hình sự của các quốc gia trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng đều quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là một vấn đề pháp lý quan trọng trong việc làm sáng tỏ trách nhiệm pháp lý của người phạm tội. Qua từng thời kỳ lịch sử, những quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự ngày càng được hoàn thiện. Song do sự phát triển không ngừng của kinh tế – xã hội, sự thay đổi trong quan điểm chính trị và nhiều lí do khác, quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn một số những hạn chế. Từ những vấn đề trên, trong quá trình nghiên cứu, tác giả tập trung làm rõ những vấn đề:

Làm rõ được những vấn đề lý luận cơ bản về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự và đặc điểm của tuổi chịu Trách nhiệm hình sự có sự khác nhau đối với từng quốc gia và từng giai đoạn lịch sử. Tập trung phân tích những cơ sở để quy định độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.

Phân tích về việc quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự theo kiểu “phân tầng”. Phân tích làm rõ quy định hiện hành về từng nhóm tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của Bộ luật hình sự 2015, so sánh về Trách nhiệm hình sự trong các nhóm tuổi trong Bộ luật hình sự hiện hành đồng thời phân tích Bộ luật hình sự 2015 đã có những điểm mới và giải quyết được bất cập của Bộ luật 1999.

Phân tích những số liệu, bản án liên quan đến thực trạng tuổi chịu Trách nhiệm hình sự như: tình hình vi phạm pháp luật của người dưới 18 tuổi, việc xác định tuổi của người phạm tội. Đồng thời tác giả đánh giá được những tồn tại bất cập tại quy định hiện hành dẫn đến vướng mắc, khó khăn trên thực tế khi áp dụng chế định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Từ đó luận văn đưa ra các kiến nghị đề xuất liên quan đến sửa đổi quy định của Bộ luật hình sự hiện hành bao gồm: thêm khái niệm về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự; điều chỉnh lại các quy định chồng chéo, chưa thống nhất, rõ ràng; điều chỉnh lại quy định về tổng hợp hình phạt; điều chỉnh loại và mức Trách nhiệm hình sự cho các lứa tuổi và điều chỉnh lại các quy định phục vụ công tác xác định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Và một số biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự gồm: kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao cần sớm đưa ra những án lệ liên quan đến xác định độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội phục vụ công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm; Nâng cao chất lượng trình độ của các cán bộ tư pháp, hộ tịch và người tiến hành tố tụng đồng thời nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự

One thought on “Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự

  1. Pingback: Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464