Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn quyết định hình phạt trong đồng phạm hiện nay và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong đồng phạm dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Thực tiễn quyết định hình phạt trong đồng phạm hiện nay
3.1.1 Kết quả quyết định hình phạt trong đồng phạm ở Việt Nam hiện nay
Trong 5 năm trở lại đây (2014 – 2018), tình hình an ninh, chính trị của nước ta được giữ vững và có tính ổn định cao. Nền kinh tế thị trường được hình thành đã có sự phát triển mạnh mẽ và đem lại những hiệu quả thiết thực cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường và những yếu tố tiêu cực khác đã có tác động không nhỏ đến sự gia tăng và tính chất phức tạp của tình hình tội phạm. Mặc dù Toà án các cấp đã có nhiều cố gắng nhằm giải quyết tốt các vụ án hình sự (đảm bảo thời hạn xét xử theo quy định của pháp luật; số lượng các bản án, quyết định của Toà án có sai phạm và số người bị kết án oan ngày càng giảm mạnh; công tác tổng kết, hướng dẫn xét xử được chú trọng và tăng cường hơn; trình độ nghiệp vụ, chuyên môn, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ ngành Toà án nói chung được tiếp tục được củng cố và nâng cao; cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của Toà án ngày càng được cải thiện phù hợp với tình hình thực tế…) nhưng công tác xét xử các vụ án hình sự vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều vụ án trọng điểm trong 5 năm qua như vụ án Đinh La Thăng và đồng bọn, vụ án Huỳnh Thị Huyền Như ở thành phố Hồ Chí Minh, các vụ án ma tuý ở Quảng Ninh do Nguyễn Thị Bích Ngọc cầm đầu; các vụ án kinh tế lớn do Hà Văn Thắm, Nguyễn Đức Kiên, Hứa Thị Phấn, Trịnh Xuân Thanh, vụ án đánh bạc qua mạng quy mô cực lớn do Nguyễn Văn Dương, Phan Sào Nam cầm đầu có sự giúp đỡ đắc lực của các quan chức công an như: Phan Văn Vĩnh, Nguyễn Thanh Hóa…đã được đưa ra xét xử nghiêm minh nhưng tình hình tội phạm hình sự vẫn diễn biến với tính chất hết sức phức tạp, đa dạng, gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho xã hội. Một số loại tội phạm cụ thể, xảy ra phổ biến trong các năm trước như giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, chứa chấp và môi giới mại dâm, các tội vi phạm quy định về an toàn giao thông, các tội phạm về ma tuý…. vẫn không giảm bớt mà còn có chiều hướng gia tăng (đặc biệt là các hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng thuốc lắc tại các vũ trường, quán bar phát triển rất mạnh trong các năm 2016, 2017), đã gây bất ổn về trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân. Các tội phạm về kinh tế như buôn lậu, buôn bán hàng cấm, hàng giả, xâm phạm tài nguyên rừng… đã cản trở sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Đặc biệt, một số loại tội phạm mới xuất hiện như gian lận, chiếm đoạt tiền của Nhà nước trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng, trộm cắp cước viễn thông, thủ đoạn phạm tội tinh vi, xảo quyệt đã làm cho công tác xét xử gặp nhiều khó khăn và kéo dài. Tham nhũng trong các lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai, thương mại, dầu khí, bảo hiểm, xây dựng cơ bản, các hành vi cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế gây thất thoát tiền, tài sản với số lượng và giá trị lớn của Nhà nước… đã trở thành vấn đề xã hội bức xúc hiện nay nhưng công tác đấu tranh phòng, chống chưa thực sự đạt được hiệu quả như mong đợi. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Nhìn chung, tuy tình hình tội phạm hình sự vẫn còn diễn biến phức tạp nhưng không thể phủ nhận những kết quả rất to lớn của ngành Toà án trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các Toà án đã cố gắng nỗ lực để hoàn thành phương hướng nhiệm vụ công tác năm đề ra, nhiều Toà án đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch. Cụ thể, trong vòng 5 năm (từ 2014 đến 2018):
- Bảng 3.1. Kết quả xét xử các vụ án hình sự của Tòa án cấp sơ thẩm trên địa bàn cả nước trong giai đoạn 2014- 2018
Từ bảng số liệu trên có thể thực hiện biểu đồ tình hình thụ lý và xét xử vụ án hình sự trên địa bàn cả nước như sau:
- Biểu đồ 3.1. Tổng số thụ lý vụ án và bị cáo của Tòa án các cấp giai đoạn 2014-2018
Số vụ án hình sự và bị can đã xét xử của Tòa án nhân dân các cấp, được thể hiện qua biểu đồ sau:
- Biểu đồ 3.2. Tổng số vụ án hình sự và bị cáo đã xét xử của Tòa án các cấp giai đoạn 2014-2018
Qua số liệu thống kê trên ta thấy trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018 tổng số vụ án hình sự mà Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý giải quyết 325.121 vụ án hình sự các loại với 573.187 bị cáo các loại, tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết 319.759 vụ án hình sự các loại với 560.545 bị cáo đạt tỉ lệ 98.3% tổng số vụ án. Diễn biến tình hình số vụ và số bị cáo trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018 có nhiều diễn biến phức tạp. Số vụ án hình sự và số bị cáo đã xét xử trong giai đoạn có xu hướng giảm, trong đó năm 2017 giảm sâu xuống còn 61.025 vụ án các loại. Điều này xuất phát từ nguyên nhân là do bộ luật hình sự năm 2015 bị hoãn hiệu lực thi hành nên việc áp dụng trong giai đoạn này có nhiều phức tạp.
Đánh giá chung, công tác xét xử các vụ án hình sự của ngành Toà án dù còn nhiều khó khăn nhưng số lượng các vụ án hình sự được đưa ra xét xử ngày càng nhiều, năm sau cao hơn năm trước. Các Toà án đã áp dụng đúng quy định của bộ luật hình sự và BLTTHS để xét xử đúng người, đúng tội, hạn chế đến mức thấp nhất việc xét xử oan và bỏ lọt tội phạm. Nhiều Toà án hoàn thành và vượt chỉ tiêu xét xử. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Trong công tác xét xử các vụ án hình sự, các Toà án đã triển khai thực hiện đúng Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị, đặc biệt là việc đổi mới một bước thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên toà trên cơ sở các quy định của BLTTHS năm 2015 và theo tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã đề ra. Việc quyết định hình phạt của các Toà án đã căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ các chứng cứ của vụ án hình sự. Các Hội đồng xét xử đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, thận trọng, tỷ mỷ khi xem xét và áp dụng pháp luật hình sự trong từng trường hợp phạm tội cụ thể để quyết định hình phạt nghiêm minh, đúng đắn. Các Toà án đã đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc xử lý nghiêm trị những người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, đồng thời khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra… Vì vậy, hình phạt được áp dụng đối với người bị kết án đã thể hiện được tính giáo dục, phòng ngừa chung, đáp ứng tốt yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện hiện nay.
QĐHP là công việc hết sức quan trọng và nặng nề trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Hình phạt được quyết định đúng pháp luật, công minh, tương xứng với tội danh là tiêu chí để đánh giá chất lượng của hoạt động xét xử vụ án hình sự và tính nghiêm minh của pháp luật hình sự. Tuy nhiên, qua kết quả xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục phúc thẩm lại cho thấy hoạt động quyết định hình phạt trong thực tiễn còn nhiều sai sót, làm ảnh hưởng đến chất lượng của công tác xét xử các vụ án hình sự. Mặc dù những sai sót này đã được báo cáo tổng kết công tác của ngành Toà án năm 2000 chỉ rõ nguyên nhân “Việc quyết định hình phạt không đúng có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là do không thực hiện đúng các quy định tại Điều 37 bộ luật hình sự 1985 và Điều 45 bộ luật hình sự 1999”.
Việc quyết định hình phạt trong đồng phạm xuất phát từ các vụ án có đồng phạm tham gia.
- Bảng 3.2. Kết quả xét xử vụ án hình sự có đồng phạm năm 2014 đến năm 2018
Từ bảng số liệu trên ta thực hiện biểu đồ về tổng số vụ án hình sự được thực hiện bằng đồng phạm trong tổng số vụ án hình sự đã thụ lý như sau: Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
- Biểu đồ 3.3. Số vụ án hình sự và số vụ án đồng phạm trong giai đoạn 2014-2018
Trên cơ sở đó, phân tích số liệu tỉ lệ vụ án hình sự có đồng phạm trong tổng số vụ án hình sự đã xét xử như sau:
- Biểu đồ 3.4. Tỉ lệ vụ án đồng phạm trong tổng số vụ án hình sự giai đoạn 2014-2018
Qua phân tích số liệu vụ án hình sự có đồng phạm trong giai đoạn 2014-2018 trên địa bàn cả nước cho thấy trong tổng số 325.121 vụ án hình sự Tòa án các cấp đã thụ lý có tổng cộng 81.876 vụ án được thực hiện dưới hình thức đồng phạm chiếm tỉ lệ 25,1% tổng số vụ án hình sự. Điều này cho thấy trong tổng số vụ án hình sự đã thụ lý thì có đến ¼ vụ án được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, và thực hiện hoạt động quyết định hình phạt phải theo hình thức đồng phạm.
Như vậy, vụ án có đồng phạm chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng số các vụ án. Sự tập trung sức lực, trí tuệ, sự phố hợp, tương trợ lẫn nhau giữa những kẻ phạm tội trong đồng phạm cho phép chúng không chỉ thực hiện tội phạm một cách thuận lợi mà trong nhiều trường hợp có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng hơn, dễ dàng che dấu vết của tội phạm để tránh khỏi sự điều tra, phá án của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Trước tình hình này, tòa án các cấp đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn, đẩy mạnh tiến độ xét xử các vụ án hình sự, đặc biệt là các vụ án có đồng phạm, chất lượng xét xử được nâng cao, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế những sai sót. Các tòa án cấp sơ thẩm đã đưa hầu hết các vụ án ra xét xử đúng thời hạn luật định, chỉ trừ một số trường hợp đặc biệt, có lý do chính đáng. Nhiều tòa án đã tổ chức các phiên tòa xét xử tại nơi xảy ra tội phạm nhằm tuyên truyền, giáo dục pháp luật; tổ chức xét xử các vụ án lớn, trọng điểm, đặc biệt nghiêm trọng, rất phức tạp, kéo dài nhiều ngày. Các tòa án đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 49 -NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; đảm bảo dân chủ đối với người tham gia tố tụng; việc ra bản án đã căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và có chất lượng tốt hơn; trách nhiệm của hội đồng xét xử và của thẩm phán chủ tọa phiên tòa được nêu cao hơn trước. Bên cạnh những ưu điểm mà tòa án các cấp đã đạt được vẫn còn thiếu sót khi quyết định hình phạt, nhiều sai lầm nghiêm trọng khi quyết định hình phạt dẫn tới các vụ án bị hủy để xét xử lại theo trình tự giám đốc thẩm theo đúng quy của pháp luật. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Theo bảng số liệu trên, đối với các tội có tính chất đặc biệt nghiêm trọng thì xu hướng có đồng phạm càng nhiều, thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội càng cao. Đòi hỏi việc cá thể hóa hình phạt và cá thể hóa tội phạm phải chính xác.
QĐHP đúng không chỉ có tác dụng đối với người phạm tội mà còn thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời còn đề cao được tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung. Nhìn chung, khi quyết định hình phạt, đặc biệt là quyết định hình phạt trong đồng phạm các Hội đồng xét xử đã nâng cao tinh thần trách nhiệm khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, động cơ, mục đích, hoàn cảnh, điều kiện và nhân thân người phạm tội để quyết định hình phạt tương xứng. Chính vì vậy, các vụ án hình sự có kháng cáo, kháng nghị ngày càng có chiều hướng giảm. Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp quyết định hình phạt không đúng, trong đó đại đa số là quyết định hình phạt quá nhẹ và cho hưởng án treo không đúng quy định của pháp luật, số vụ án quyết định hình phạt quá nặng không nhiều. Việc xét xử quá nhẹ, cho hưởng án treo không đúng pháp luật cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tỷ lệ các vụ án có kháng cáo giảm. Việc quyết định hình phạt không đúng có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là không thực hiện đúng các quy định của bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt, nhiều Tòa án đã không chú ý đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà chỉ chú ý đến các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng. Đáng lưu ý là việc áp dụng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cũng thiếu căn cứ, không chính xác, nhiều Tòa án đã xác định cả những tình tiết không phải là tình tiết giảm nhẹ và không được quy định trong điều luật cũng như các văn bản hướng dẫn.
Một trong những thiếu sót khi quyết định hình phạt là áp dụng hình phạt quá nặng. Áp dụng hình phạt quá nặng đối với người phạm tội nói chung không phổ biến bởi bản chất của pháp luật hình sự là nhân đạo, hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội không nhằm mục đích gây nên những đau đớn về thể xác và hạ thấp nhân phẩm của con người. Tuy nhiên, trong một số trường hợp Tòa án đã đánh giá không đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án dẫn đến bỏ sót một số tình tiết giảm nhẹ TNHS, không nghiên cứu kỹ các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự nên Tòa án đã áp dụng hình phạt quá nghiêm khắc đối với người phạm tội.
Qua đọc và nghiên cứu 139 bản án xét xử các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm thì thấy: về cơ bản Tòa án đã tuân thủ đầy đủ các căn cứ quyết định hình phạt chung cũng như căn cứ quyết định hình phạt riêng đối với trường hợp đồng phạm. Hầu hết các bản án đã đánh giá tính chất của đồng phạm, đánh giá vai trò của từng bị cáo trong vụ án đồng phạm cũng như cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với từng bị cáo để quyết định một hình phạt công bằng, hợp lý và phù hợp pháp luật. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Ví dụ: Bản án số 46/2014/HSST ngày 21/8/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai có nội dung vụ án như sau: Vào khoảng 19 giờ ngày 02/3/2014; Trần Ngọc Sang, Ngần Văn Hoàng và Nguyễn Cao Phong cùng nhau uống rượu tại phòng trọ của bạn gái Nguyễn Thị Thúy Kiều, Nguyễn Thị Mỹ Trinh, Nguyễn Thị Hiền Phương, Trương Thị Lê Vi đang thuê tại tổ 7, phường An Tân, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì Kiều, Trinh, Phương và Vi đi ngủ còn Sang, Hoàng và Phong tiếp tục uống rượu. Trong lúc uống rượu, Sang nói: “tí nữa uống rượu xong đi tìm thằng Lê Tuấn Anh (Chì) đánh vì hôm trước nó đánh tao và thằng Luân” nghe vậy, Hoàng và Phong đồng ý. Đến khoảng 01 giờ sang ngày 03/3/2014, cả ba người uống hết rượu, Sang bảo: “bây giờ đi tìm thằng Lê Tuấn Anh đánh”. Do đi xuống khu vực của Lê Tuấn Anh sợ bị đánh nên Hoàng đã đi đến nhà của ông Trần Đình Đen ở tổ 8, phường An Phú, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai lấy 02 cây sắt hộp màu xanh có kích thước 2x2cm, dài 1,50m. Sau đó Hoàng đi về nhà lấy một biển số xe máy mang số 60S còn các số sau không xác định, đem đến thay vào xe mô tô biển số 77M6 – 8692 Hoàng đang sử dụng để tránh bị phát hiện và Hoàng lấy một con dao Thái Lan cất vào trong túi áo khoác. Chuẩn bị hung khí và thay biển số xe xong, Ngần Van Hoàng đưa cho Sang một cây sắt thì Sang nói “tao lái xe, không cầm được, mày đưa cho Phong cầm”. Sang điều khiển xe chở Phong ngồi giữa, Hoàng ngồi sau cầm theo hung khí đi xuống khu vực ngã 5 thuộc tổ 2, phường An Tân, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai tìm Lê Tuấn Anh nhưng không thấy, thì Sang điều khiển xe ra khu vực ngã ba Đồng Găng để về. Khi ra đến quốc lộ 19 chạy về hướng thành phố Pleiku thì thấy phía trước có một xe môt tô biển số 81K4 – 6343 do anh Trần Ngọc Thạo điều khiển, chở sau anh Võ Thanh Xinh đang chạy phía trước cách khoảng 30 m thì Hoàng hô “nó kìa, nó kìa”, Trần Ngọc Sang điều khiển xe đuổi theo và ép làm cho xe của anh Thạo bị ngã trên vỉa hè bên phải hướng về thành phố Pleiku. Bị ép làm ngã xe, anh Thạo đứng dậy chạy về hướng thành phố Pleiku còn anh Xinh chạy về hướng tỉnh Bình Định. Thấy vậy Ngần Văn Hoàng và Nguyễn Cao Phong liền cầm cây sắt đuổi theo anh Thạo, Hoàng chạy trước, Phong chạy theo sau. Phong đuổi theo khoảng 50m thì không đuổi kịp nên cầm cây sắt quay lại, lúc này Phong thấy Sang đang điều khiển xe đuổi theo anh Xinh và tong thẳng xe mô tô vào người anh Xinh, Phong chạy theo đến chỗ anh Xinh đang đứng vung cây sắt lên định đánh anh Xinh, thì anh Xinh nói “coi chừng đánh nhầm người”, nghe Xinh nói, Phong nhận ra anh Xinh là người quen nên dừng lại không đánh và nói với Sang “người này tao quen” nên Sang xin lỗi anh Xinh và cả ba đứng lại. Lúc này Ngần Văn Hoàng cầm cây sắt đuổi theo anh Thạo về hướng thành phố Pleiku được khoảng 150m thì đuổi kịp. Hoàng vung cây sắt đánh ngang một cái trúng vào vùng chẩm phải phía sau đầu anh Thạo làm anh Thạo ngã sấp xuống đường.
Hoàng đánh liên tiếp thì bị anh Thại dung chân phải đạp, đỡ thì Hoàng đánh tiếp hai cái trúng vào cẳng chân phải làm anh Thạo nằm gục xuống đường, hai tay ôm đầu. Lúc này Hoàng tiếp tục dung cây đánh tiếp ba cái nữa, một cái trúng vào cổ tay phải, hai cái vào vùng chẩm ở đầu, rồi Hoàng lấy con dao Thái Lan giấu trong túi áo khoác đâm một nhát trúng vào đầu và một nhát trúng vào cẳng tay phải anh Thạo. Thấy anh Thạo nằm im bất tỉnh thì Hoàng cầm cây đi đến chỗ Phong và Sang thì biết là đánh nhầm người. Nên Hoàng, Phong và Sang cùng với anh Xinh đi đến chỗ anh Thạo bị đánh và đưa Thạo đi cấp cứu tại Bệnh viện thị xã An Khê, Sau đó, Thạo được gia đình chuyển đến bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định tiếp tục cấp cứu đến 22 giờ cùng ngày 03/3/2014 thì anh Thạo chết do vết thương quá nặng. Với nội dung vụ án như trên, bản án số 46/2014/HSST ngày 21.8.2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Ngần Văn Hoàng, Trần Ngọc Sang, Nguyễn Cao Phong phạm tội “Giết người”. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 bộ luật hình sự đối với các bị cáo Ngần Văn Hoàng và Trần Ngọc Sang; Áp dụng thêm khoản 2 Điều 46 đối với bị cáo Trần Ngọc Sang; Áp dụng các điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Cao Phong, xử phạt bị cáo Ngần Văn Hoàng tù chung thân; xử phạt bị cáo Trần Ngọc Sang 18 năm tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Phong 13 năm tù.
3.1.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Thực tiễn áp dụng bộ luật hình sự năm 1999 và hiện nay là trong bộ luật hình sự năm 2015 trong những năm qua đã cho thấy tình trạng quyết định hình phạt không đúng vẫn còn tồn tại và là một trong những nhược điểm lớn trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Toà án. Qua tìm hiểu thực tiễn xét xử các vụ án hình sự của Toà án trong 5 năm trở lại đây (từ năm 2014 đến năm 2018) đã cho thấy tình trạng quyết định hình phạt không đúng vẫn xảy ra là do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nguyên nhân chủ yếu nhất lại xoay quanh vấn đề tuân thủ và áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt. Mặc dù các căn cứ quyết định hình phạt đã được quy định rất rõ tại Điều 45 bộ luật hình sự năm 1999 nay là Điều 50 bộ luật hình sự năm 2015 và được hướng dẫn khá tỷ mỷ trong các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao nhưng việc áp dụng khi quyết định hình phạt vẫn có những sai sót đáng kể. Cụ thể:
- Thứ nhất: Sai sót trong việc áp dụng các quy định của bộ luật hình sự.
Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục phúc thẩm cho thấy việc quyết định hình phạt của Toà án cấp sơ thẩm còn sai sót trong việc áp dụng các quy định của bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật hình sự năm 1999. Sai sót chủ yếu là không áp dụng hoặc áp dụng không đúng các tình tiết định khung hình phạt. Đây là một trong những nguyên nhân của việc cải sửa bản án cấp sơ thẩm. Một số tình tiết định khung hình phạt (chủ yếu là định khung tăng nặng) thường áp dụng không đúng là: tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ, phạm tội nhiều lần, phạm tội đối với trẻ em dưới 13 tuổi…
Thứ hai: Sai sót trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội. Nguyên nhân của những sai sót này không phải là do quy định của bộ luật hình sự không rõ ràng hay thiếu hướng dẫn của TAND tối cao mà do Hội đồng xét xử chưa thực sự tuân thủ các hướng dẫn của TAND tối cao, chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án nên đã không đánh giá đầy đủ, toàn diện các tình tiết của vụ án hoặc bỏ sót các tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
QĐHP quá mức nghiêm khắc đối với người phạm tội. Ví dụ: Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2003, Phan Viết Thắng có 4 lần hiếp dâm cháu Lê Thị Phương sinh năm 1993. Thắng có một tiền án 2 năm tù về tội trộm cắp tài sản nên trong lần phạm tội này được xác định là tái phạm. VKSND cấp sơ thẩm đề xuất mức hình phạt từ 18 đến 20 năm tù nhưng Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 4 Điều 112, điểm g khoản 1 Điều 48 bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt tù chung thân đối với Phan Viết Thắng. Qua nghiên cứu hồ sơ cho thấy khám nghiệm y tế xác định cháu Phương không bị rách màng trinh, bộ phận sinh dục không bị tổn thương, các biểu hiện về tâm, sinh lý của cháu Phương vẫn bình thường. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã nhận định trong trường hợp này việc áp dụng mức hình phạt tù chung thân là quá nghiêm khắc, do đó đã giảm án cho bị cáo xuống 20 năm tù.
Quyết định mức hình phạt quá nhẹ đối với người phạm tội, chưa đủ tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm. Ví dụ: Tại bản án hình sự số 70/HSST ngày 8/6/2004, bị cáo Bùi Hồng Nhân đã bị TAND tỉnh Bến Tre áp dụng khoản 2 Điều 93 bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 13 năm tù về tội giết người. Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện gia đình người bị hại kháng cáo yêu cầu tăng bồi thường và tăng án đối với bị cáo, Viện trưởng VKSND tỉnh Bến Tre có quyết định kháng nghị yêu cầu xử bị cáo theo khoản 1 Điều 93. Khi giải quyết vụ án, Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét thấy chỉ vì có mâu thuẫn với anh Phương (nạn nhân), Bùi Hồng Nhân đã vào nhà chị Hoàng lấy 2 con dao, cầm trên tay đi tìm Phương. Lúc gặp nhau, anh Phương có cầm be gỗ đánh Nhân làm rớt 1 con dao. Nhân sử dụng con dao còn lại đuổi theo Phương. Khi Phương chạy bị vấp ngã liền bị Nhân đâm 1 nhát vào sườn bên phải, lưới dao xuyên vào lồng ngực làm thủng thuỳ phổi và gan gây mất máu dẫn đến tử vong. Do hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ, xem thường tính mạng người khác nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93 bộ luật hình sự năm 1999 tuyên phạt Bùi Hồng Nhân 20 năm tù về tội giết người. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Thứ ba: Sai sót chủ yếu và có tính phổ biến trong việc quyết định hình phạt là không áp dụng, áp dụng không đúng hoặc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS một cách tuỳ tiện, thiếu căn cứ. Thực trạng này có một phần nguyên nhân từ năng lực, trình độ của những người tiến hành tố tụng còn hạn chế trong công tác thu thập, đánh giá, xác minh chứng cứ, khám nghiệm hiện trường, giám định… và cũng do một số tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chưa được giải thích rõ ràng. Có Thẩm phán còn phụ thuộc nhiều vào hồ sơ của cơ quan điều tra: “Cứ bám sát hồ sơ cơ quan điều tra đã lập sẽ an toàn hơn là việc cải sửa, chẳng biết đâu đấy lại mang vạ vào thân” [53, tr.33]. Vì vậy, một số tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS thường bị áp dụng sai là: tình tiết người phạm tội tự thú, đầu thú; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm… Hậu quả pháp lý của việc không áp dụng hoặc áp dụng không đúng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS đã dẫn đến việc quyết định hình phạt hoặc là quá nhẹ, hoặc là quá nặng so với hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội. Ngoài ra, việc áp dụng tuỳ tiện các tình tiết giảm nhẹ TNHS còn làm cho việc quyết định hình phạt theo Điều 47 hoặc theo Điều 60 bộ luật hình sự năm 1999 không có căn cứ và vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình sự.
Ví dụ 1: Năm 2013, Phan Sỹ Quốc Vỹ là người khởi xướng vụ cướp cùng đồng bọn. Vỹ là người dùng dao nhọn uy hiếp người bị hại để cướp tài sản. Vụ án bị phát hiện, 2 tên đồng bọn của Vỹ bị bắt còn Vỹ thì bỏ trốn, sau đó mới ra đầu thú. TAND huyện S, Thành phố H áp dụng điểm o, khoản 1 Điều 46 bộ luật hình sự năm 1999 đối với Vỹ là không chính xác. Theo Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 về giải đáp các vấn đề nghiệp vụ, phải áp dụng khoản 2 Điều 46 để giảm nhẹ TNHS cho Vỹ mới đúng.
Ví dụ 2: Mai Thị Phượng cùng hai con là Lý Thị Thắm và Lý Văn Thế bàn với nhau móc nối với người nước ngoài mang cháu Đàm Văn Huấn sinh ngày 25/10/1998 là con anh chồng của Thắm sang Trung Quốc bán. Sau thời gian bán cháu Huấn trọt lọt, Ma Thị Phượng lại cùng Lý Thị Thắm đưa chị Hoàng Thị Luyến sang Trung Quốc bán. Án sơ thẩm áp dụng điểm d khoản 2 Điều 119; điểm đ khoản 2 Điều 120; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm n,g khoản 1 Điều 48 bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Lý Thị Thắm 15 năm tù về tội mua bán trẻ em, 5 năm tù về tội mua bán phụ nữ; Ma Thị Phượng 12 năm tù về tội mua bán trẻ em và 6 năm tù về tội mua bán phụ nữ.
Trong vụ án này, các bị cáo Phượng và Thắm phạm hai tội là mua bán trẻ em và mua bán phụ nữ, mỗi tội Phượng và Thắm chỉ phạm 1 lần. Việc Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm cho rằng các bị cáo Phượng và Thắm phạm tội đối với cháu Huấn và chị Luyến là tình tiết phạm tội nhiều lần và áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 48 bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử đối với các bị cáo là không chính xác. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Sai sót trong xác định những người tham gia trong trường hợp phạm tội bằng đồng phạm không đúng, từ đó quyết định hình phạt nhẹ hơn nhiều so với tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo trong đồng phạm.
Ví dụ: Vụ án “Cố ý gây thương tích” tại Bình Thuận. Nội dung vụ án như sau: Do có mâu thuẫn trước đó với nhóm thanh niên ở phường Thống Nhất, thành phố Bình Thuận, tỉnh Bình Thuận nên vào khoảng 23 giờ ngày 17 tháng 03 năm 2013, Phạm Ngọc Văn rủ Trương Hoàng Mỹ, Nguyễn Thế Vũ, Đào Ngọc Thuận, Đào Duy Bình và Trần Nguyễn Anh Tài (Tên gọi khác: Tài lộ – Sinh năm: 1987, trú tại: Tổ 6, phường Yên Đỗ, thành phố Bình Thuận) đi tìm để đánh trả thù. Nghe Văn rủ, tất cả đồng ý nên Văn về nhà ở số 20 đường Thi Sách, Tổ 4, phường Diên Hồng, thành phố Pleiku lấy 01 cây đao tự tạo dài khoảng 1,2 mét, 01 cây đao tự tạo dài khoảng 80cm, 01 cây mác dài khoảng 60 và 01 cây kiếm tự tạo dài khoảng 60cm có đầu nhọn bỏ lên xe ô tô hiệu Fortuner màu đen loại 7 chỗ ngồi (Hiện không xác định biển số) do Đào Duy Bình điều khiển. Sau đó, Đào Duy Bình điều khiển xe chở Phạm Ngọc Văn, Trần Nguyễn Anh Tài, Trương Hoàng Mỹ, Đào Ngọc Thuận và Nguyễn Thế Vũ đi dạo tìm đám thanh niên ở phường Thống Nhất, thành phố Pleiku để đánh nhưng không thấy nên quay về lại bến xe chợ Nhỏ, thành phố Pleiku để uống cà phê. Đến khoảng 01 giờ ngày 18 tháng 3 năm 2013, Phạm Ngọc Văn nói cả nhóm tiếp tục đi tìm đám thanh niên ở phường Thống Nhất, thành phố Bình Thuận để đánh. Lúc này, Văn điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter mang biển số 47T1-023.74 mượn của Phan Minh Đức (Sinh năm: 1989, trú tại: Tổ 8, phường Văn Tâm, thành phố Bình Thuận) chở Tài đi trước, còn Bình điều khiển xe ô tô Fortuner màu đen loại 7 chỗ ngồi chở Mỹ, Vũ và Thuận đi sau, theo đường Trần Phú, hướng từ siêu thị Tam Ba đến đường Đinh Tiên Hoàng, thành phố Pleiku, sau đó đi vòng lại theo đường Trần Phú, hướng từ đường Đinh Tiên Hoàng đến siêu thị Tam Ba. Lúc này, Bình điều khiển xe ô tô chở Mỹ, Vũ và Thuận đi trước, còn Văn điều khiển xe mô tô chở Tài đi sau. Khi đi đến ngã ba giữa đường Trần Phú với đường Võ Thị Sáu, thành phố Bình Thuận thì Văn và Tài bị một nhóm thanh niên (Hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) cầm hung khí đuổi đánh nên Văn điện thoại cho Bình chở Mỹ, Thuận và Vũ ra đánh lại, đồng thời Văn cùng Tài vứt xe mô tô 47T1-023.74 lại tại đó và bỏ chạy qua đường Võ Thị Sáu. Sau khi nhận điện thoại của Văn, Bình dừng xe ô tô lại để Mỹ cầm kiếm tự tạo dài khoảng 60 cm, Thuận cầm một cây đao tự tạo dài khoảng 1,2 mét, Vũ cầm một cây đao tự tạo dài khoảng 80 cm từ trên xe ô tô nhảy xuống và rượt đuổi để đánh nhóm thanh niên đã đánh Văn và Tài. Nhóm thanh niên đang đuổi theo để đánh Văn và Tài thấy Thuận, Mỹ và Vũ chạy đến nên bỏ chạy đến quán phở của bà Phùng Thị Kim Oanh tại 52/1 đường Trần Phú, Tổ 4, phường Diên Hồng, thành phố Bình Thuận nên Mỹ, Thuận và Vũ đuổi theo thì gặp các anh Đoàn Văn Minh (Sinh năm: 1989, trú tại: Tổ 11, phường Thống Nhất, thành phố Bình Thuận và Đoàn Văn Nhật (Sinh năm 1990, trú tại: Tổ 11, phường Thống Nhất, thành phố Bình Thuận) đi ăn phở đêm tại quán bà Oanh. Do lầm tưởng các anh Đoàn Văn Minh và Đoàn Văn Nhật là những người đã cùng trong nhóm vừa đuổi đánh Phạm Ngọc Văn nên Mỹ, Thuận và Vũ đã đuổi đánh các anh Đoàn Văn Minh và Đoàn Văn Nhật. Tại đây, anh Đoàn Văn Nhật bị Mỹ và Vũ dùng đao và kiếm tự tạo chém 02 nhát vào vai và 01 nhát vào lưng thì anh Nhật bị vấp ngã, Mỹ đâm tiếp một nhát vào phía sau đùi phải của anh Nhật. Sau khi đâm chém anh Đoàn Văn Nhật xong, Mỹ cùng Thuận và Vũ bỏ đi đến siêu thị Tam Ba thì gặp Văn và Tài nên tất cả lên xe ô tô để Bình chở về nhà của Thuận ở Thôn 3, xã Diên Phú, thành phố Bình Thuận cất giấu hung khí. Riêng bị hại Đoàn Văn Nhật sau đó được đưa đến bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận cấp cứu. Đến ngày 20 tháng 3 năm 2013, Phạm Ngọc Văn nói Nguyễn Thế Vũ và Đào Ngọc Thuận đi về nhà lại Thuận lấy hung khí mang về nhà Văn cất giấu rồi bỏ trốn. Đến ngày 25 tháng 10 năm 2013, Phạm Ngọc Văn bị bắt theo lệnh truy nã. Ngày 10 tháng 01 năm 2014, Đào Duy Bình ra đầu thú. Ngày 15 tháng 01 năm 2014, Trương Hoàng Mỹ ra đầu thú. Ngày 16 tháng 01 năm 2014, Nguyễn Thế Vũ ra đầu thú. Ngày 19 tháng 02 năm 2014, Đào Ngọc Thuận ra đầu thú. Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 18/2014/HSST ngày 24/9/2014 TAND tỉnh Bình Thuận đã quyết định: Tuyên bố Phạm Ngọc Văn, Trương Hoàng Mỹ, Nguyễn Thế Vũ, Đào Ngọc Thuận, Đào Duy Bình phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Và Xử phạt Phạm Ngọc Văn 39 tháng tù, các bị cáo còn lại mức án từ 12 đến 33 tháng tù. Vụ án này tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng. các bị cáo không chỉ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây xôn xao dư luận ảnh hưởng đến tâm lý lo sợ trong nhân dân. Hình phạt cho các bị cáo là quá nhẹ so với hành vi, vụ án này chưa làm rõ trách nhiệm cụ thể của từng bị cáo.
Về việc xét đến tính chất của đồng phạm, Điều 58 bộ luật hình sự 2015 đã quy định: Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm. Qua thống kê 139 bản án thì có nhiều bản án không đánh giá tính chất của đồng phạm là đồng phạm giản đơn, đồng phạm phức tạp hay phạm tội có tổ chức. Việc không đánh giá tính chất của đồng phạm thì không phân tích đánh giá chính xác được tội phạm được thực hiện với hình thức gì, là đồng phạm giản đơn hay đồng phạm phức tạp… từ đó, đánh giá về mức độ nguy hiểm cho xã hội mà tội phạm đã xâm phạm đến để có quyết định hình phạt phù hợp. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Về việc xét đến tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm chưa đúng, từ đó xác định vai trò của những người đồng phạm chưa chính xác. Do vậy, quyết định hình phạt đối với họ chưa đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà họ đã tham gia thực hiện tội phạm.
Một số trường hợp bỏ lọt tội phạm do xác định đồng phạm không đúng hoặc thiếu; do quy định của BLTTHS về giới hạn xét xử của tòa án (quy định tại Điều 196 BLTTHS) đã làm cho Tòa án xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo không đúng.
Ví dụ: Nội dung vụ án như sau: Trần Thanh Minh, sinh năm 1971 tại Mỏ cày, Bến Tre, tên gọi khác là Trần Thanh Dũng, tạm trú tại nhà nghỉ An Tiên, đường Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Từ năm 2009 đến năm 2010, Minh chung sống như vợ chồng với chị Trương Thị Tám tên gọi khác là Hạnh, sinh năm 1978 trú tại 31 Nguyễn Thái Học, thành phố Hà Nội nhưng do chị Tám bị bệnh không có con nên Minh thấy chán nản, đã quen và yêu Nguyễn Thị Hồng Nga, sinh năm 1976 tại tổ 4, phường Hội Thương, thành phố Hà Nội. Do vậy đã xảy ra mâu thuẫn với chị Tám. Ngày 07/01/2011 khi chị Tám ghe tuông và có hành vi xúc phạm Trần Thanh Minh, Minh đã ngay lập tức dung tay đánh mạnh vào gáy làm gãy xương cổ của chị Tám và mặc dù biết chị Tám chưa chết nhưng để giết cho được chị Tám, Minh đã kéo chị Tám vào đám cỏ khô và đốt lửa để thiêu chết chị Tám. Đối với Nguyễn Thị Hồng Nga, sau khi Minh bị triệu tập đến để lấy lời khai, Nga đã khai gian dối trong khoản thời gian xảy ra vụ án, tuy nhiên lại không truy tố Nga về tội “Khai báo gian dối” là bỏ lọt tội đối với Nga.
- Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót
Những tồn tại, hạn chế đã nêu ở phần trên do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, thể hiện ở một số điểm như sau:
Các quy định hiện hành của bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn còn rất chung chung, dẫn đến những khó khăn lúng túng trong thực tế áp dụng. Thế nào là tính chất của đồng phạm; tính chất, mức độ tham gia đồng phạm của người phạm tội có khi hoàn toàn phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của những người tiến hành tố tụng. Chính vì quy định không cụ thể nên rất dễ dẫn đến tình trạng tùy tiện, cùng một vụ án có thể có những đánh giá khác nhau. bộ luật hình sự hiện hành chưa đưa ra nguyên tắc xử lý cụ thể đối với các loại tội phạm được thực hiện bằng đồng phạm thông thường, tức là khi xét xử và quyết định hình phạt đối với đồng phạm loại này thì người phạm tội có bị xử lý nghiêm khắc hơn các trường hợp phạm tội đơn lẻ không, do đó dẫn đến tình trạng việc quyết định hình phạt trong một số trường hợp đồng phạm thông thường giống như phạm tội đơn lẻ, thậm chí có trường hợp còn thấp hơn bình thường. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Những hạn chế, trong quy định của bộ luật hình sự năm 2015 về chế định đồng phạm. (i) về nội dung điều luật định nghĩa người đồng phạm (Điều 17 bộ luật hình sự năm 2015): Vẫn còn đơn giản và chưa đầy đủ, cần bổ sung thêm, cụ thể như sau: Dạng người thực hiện tội phạm thông qua người khác mà người này không phải chịu TNHS đã có trong lý luận khoa học và thực tiễn pháp luật hình sự Việt Nam cũng như trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới, nhưng chưa chính thức được ghi nhận trong định nghĩa về người thực hành. Trong bộ luật hình sự cũng chưa ghi nhận thuật ngữ “người đồng thực hiện” trong khi đó đây là loại người đồng phạm xảy ra tương đối phổ biến trong thực tiễn. Định nghĩa người tổ chức: Khoản 3 Điều 17 bộ luật hình sự 2015 liệt kê các dạng người tổ chức, nhưng tên gọi trừu tượng và cũng không được định nghĩa chính thức trong bộ luật hình sự – chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy. Nhà làm luật đã sử dụng những thuật ngữ không rõ để định nghĩa cho thuật ngữ chưa biết. Định nghĩa người xúi giục : Khoản 3 Điều 17 bộ luật hình sự 2015 liệt kê một số thủ đoạn của người xúi giục có thể thực hiện: Kích động, dụ dỗ, thúc đẩy. Việc liệt kê như vậy chưa khái quát được các dấu hiệu cơ bản của người xúi giục mà chỉ phản ánh được một số biểu hiện cụ thể. (ii) về thuật ngữ luật hình sự của chế định đồng phạm và phân hóa TNHS trong đồng phạm: Thuật ngữ “người thực hành” cần được sửa đổi thành “người thực hiện”. Bởi vì, thực hành có thể được hiểu theo hai nghĩa: Áp dụng lý thuyết vào thực tế và nghĩa vụ thực hiện. Thuật ngữ “người thực hành” theo bộ luật hình sự được hiểu theo nghĩa “người thực hiện”. Do đó, việc sửa đổi thuật ngữ “người thực hành” thành “người thực hiện” làm cho thuật ngữ rõ ràng hơn. Thuật ngữ “phạm tội có tổ chức” cần được sửa đổi thành “đồng phạm có tổ chức”, bởi vì phạm tội có tổ chức là một trường hợp đặc biệt của hình thức phạm tội là đồng phạm. (iii) về TNHS của các loại người tham gia thực hiện tội phạm thì hiện chưa có quy định về mức độ TNHS của từng loại người đồng phạm. Theo học viên, cần khẳng định người xúi giục phải chịu TNHS như người thực hiện tội phạm; người giúp sức được giảm nhẹ TNHS hơn người thực hiện tội phạm; người tổ chức chịu trách nhiệm cao hơn người thực hiện tội phạm. (iv) chưa có điều luật quy định về tổ chức tội phạm cũng như trách nhiệm của người thành lập và tham gia tổ chức tội phạm. Trong khi đó, ở Việt Nam, thực tiễn đấu tranh chống tội phạm nói chung và đặc biệt tội phạm do các băng, nhóm tội phạm gây ra ngày càng tăng. Bên cạnh đó, với trách nhiệm của quốc gia thành viên Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Việt Nam không thể đi ngược với xu hướng chung của thế giới là tăng cường đấu tranh chống tội phạm có tổ chức bằng việc đưa vào bộ luật hình sự quy định tổ chức tội phạm trong Phần chung, bổ sung tội danh thành lập và tham gia tổ chức tội phạm trong Phần các tội phạm, tại Chương quy định các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Theo đó, người thành lập, người tham gia tổ chức tội phạm phải chịu TNHS về hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức tội phạm được quy định trong Phần các tội phạm của bộ luật hình sự. Ngoài ra, người thành lập, tham gia tổ chức tội phạm còn phải chịu TNHS về tội phạm cụ thể do tổ chức tội phạm đó thực hiện; (v) chưa có điều luật quy định về mặt lập pháp hình sự: Các nguyên tắc xác định TNHS trong đồng phạm, bao gồm: Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm trong đồng phạm: Tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm trong đồng phạm, đều bị xét xử về cùng một tội phạm tương ứng của bộ luật hình sự, chịu trách nhiệm về những tình tiết tăng nặng liên quan đến hành vi phạm tội chung nếu họ cùng cố ý thực hiện. Những nguyên tắc chung về truy cứu TNHS, quyết định hình phạt, về thời hiệu quy định đối với tội phạm tương ứng thực hiện bằng đồng phạm được áp dụng cho tất cả những người đồng phạm. Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về hành vi tham gia thực hiện tội phạm trong đồng phạm: Những người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá ý định phạm tội chung của người đồng phạm khác; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, miễn TNHS thuộc về riêng người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với người đồng phạm đó; việc miễn TNHS hoặc miễn hình phạt đối với người đồng phạm này không loại trừ TNHS cho những người đồng phạm khác. Nguyên tắc cá thể hóa TNHS của những người đồng phạm: việc xác định TNHS đối với người đồng phạm phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của mỗi người đồng phạm, phù hợp với đặc điểm nhân thân của người đồng phạm.
Quy định tại Điều 196 BLTTHS về giới hạn của việc xét xử đó là Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà viện kiểm sát tuy tố, tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác trong điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố. Trong trường hợp Tòa án thấy rằng bị cáo phạm tội khác nặng hơn hoặc vụ án còn có người phạm tội khác nhưng khi Tòa án trả hồ sơ để điều tra, truy tố VKS không đồng ý với quan điểm của tòa án, quy định này buộc Tòa án vẫn phải xét xử mặc dù biết việc xét xử và quyết định hình phạt đó là sai. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Hầu hết các điều luật trong phần các tội phạm của bộ luật hình sự đều có khung hình phạt rất dài, điều này tạo nên những bất cập trong việc quyết định hình phạt, đó là mức độ đến đâu thì xử phạt bị cáo mức 07 năm tù, mức 10 năm tù hay 15 năm tù. Điều này cũng dễ gây nên tùy nghi trong việc quyết định hình phạt.
Với số lượng án lớn mà mỗi thẩm phán phải giải quyết, việc dành đủ thời gian để nghiên cứu sâu về các văn bản pháp luật liên quan đến vụ án là yêu cầu khó có thể được đáp ứng trong thực tế. Vì vậy, có những trường hợp thẩm phán giải quyết vụ án trên cơ sở hiểu biết không đầy đủ hoặc thiếu chính xác về quy định của pháp luật có liên quan.
Có những vụ án liên quan đến các lĩnh vực đòi hỏi hiểu biết về kiến thức chuyên ngành phức tạp như tin học, tài chính, kế toán… mà thẩm phán không thể dễ dàng có được.
Nhận thức của những người tiến hành tố tụng về đồng phạm, các loại người đồng phạm nhiều khi chưa chính xác, còn có sự nhầm lẫn giữa khái niệm người giúp sức với ý nghĩa là một loại người trong đồng phạm với từ giúp sức, trợ giúp thông thường (giữa những người đồng phạm đều có sự trợ giúp lẫn nhau). Nguyên tắc cá thể hóa TNHS và hình phạt; các căn cứ quyết định hình phạt chung cũng như các căn cứ quyết định hình phạt đặc thù đối với trường hợp đồng phạm cũng chưa được nhận thức đầy đủ dẫn đến việc áp dụng còn tùy tiện. Công tác đào tạo, tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho Thẩm phán và HTND trong những năm gần đây mặc dù đã được quan tâm đẩy mạnh nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm phát sinh hàng loạt các vấn đề xã hội theo hướng tiêu cực cũng ảnh hưởng đến hoạt động quyết định hình phạt, chính sách khen thưởng, bồi dưỡng đối với cán bộ công tác trong ngành pháp luật còn chưa được coi trọng đúng mức, chế độ lương, chế độ thưởng và các chế độ phụ cấp khác cho những người hoạt động trong ngành pháp luật còn thấp.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam tương lai Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự
Một trong những nguyên nhân dẫn đến những vấn đề hạn chế còn tồn tại trong việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm là do những quy định về việc quyết định hình phạt trong đồng phạm trong bộ luật hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn có liên quan có những nội dung không đầy đủ. Điều đó ảnh hưởng đến kết quả áp dụng pháp luật khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, một số bản án quyết định mức hình phạt không chính xác đã ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đặt ra yêu cầu pháp luật phải được áp dụng công bằng, nhất quán, pháp luật phải bảo đảm tính công khai, sự minh bạch, dễ tiếp nhận, pháp luật phải cụ thể, rõ ràng.
- Một là về Điều 17 và Điều 58 bộ luật hình sự năm 2015.
Trong bộ luật hình sự Việt Nam, đồng phạm được quy định tại Điều 17 và Điều 58 bộ luật hình sự năm 2015 không chỉ rõ mức độ TNHS của từng loại người đồng phạm. Điều 58 bộ luật hình sự năm 2015 quy định việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm nhưng không xác định sự khác nhau về mức độ TNHS giữa những người tham gia thực hiện tội phạm với người thực hiện tội phạm. Theo Điều 58 bộ luật hình sự năm 2015 thì khi quyết định hình phạt, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia của từng người đồng phạm. Tính chất của đồng phạm thể hiện ở chỗ đó là trường hợp đồng phạm giản đơn hay đồng phạm phức tạp? có dự mưu trước hay không..v.v. Tính chất tham gia phạm tội của mỗi người thể hiện người phạm tội tham gia thực hiện tội phạm với vai trò gì? Người tổ chức hay người xúi giục? người giúp sức hay người thực hành?…. Mức độ tham gia của người đồng phạm thể hiện ở chỗ người đồng phạm tham gia đầy đủ các giai đoạn từ khi chuẩn bị phạm tội đến khi tội phạm hoàn thành hay chỉ tham gia một giai đoạn nào đó…nhưng vấn đề này chưa được Điều 58 bộ luật hình sự năm 2015 quy định chi tiết để áp dụng cho chính xác. Đối chiếu các quy định về đồng phạm trong bộ luật hình sự Việt Nam với các quy định trong luật hình sự một số nước khác, chúng tôi thấy rằng cách quy định này chỉ tương tự như cách quy định trong bộ luật hình sự Liên bang Nga và Trung Quốc. Một số bộ luật hình sự khác đều không quy định vấn đề này như cách của Việt Nam. Ví dụ: Trong chương XI bộ luật hình sự Nhật Bản, nhà làm luật quy định ngay người đồng thực hiện tại Điều 60, người xúi giục tại Điều 61 và người giúp sức tại Điều 62 mà không có quy định về hình thức phạm tội đồng phạm. Trong các quy định này, nhà làm luật không chỉ mô tả dấu hiệu pháp lý của người đồng phạm thực hiện, người xúi giục và người giúp sức mà còn xác định mức độ TNHS của họ. Người xúi giục chịu TNHS như người thực hiện. Người giúp sức chịu trách nhiệm nhẹ hơn người thực hiện (Điều 63). Như vậy, bộ luật hình sự Nhật Bản không quy định hình thức phạm tội đồng phạm như bộ luật hình sự Việt Nam mà quy định thẳng TNHS của từng loại người tham gia thực hiện tội phạm cũng như của người đồng thực hiện. Trong bộ luật hình sự Cộng hòa liên bang Đức, vấn đề này cũng được quy định tương tự như cách quy định trong bộ luật hình sự Nhật Bản. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Do nội dung Điều 58 bộ luật hình sự năm 2015 có quan hệ chặt chẽ với nội dung Điều 17 bộ luật hình sự năm 2015 nên khi sửa đổi, bổ sung Điều 58 bộ luật hình sự năm 2015 thì cần phải nghiên cứu sửa đổi bổ sung Điều 17 bộ luật hình sự năm 2015 mới bảo đảm tính đồng bộ thống nhất, tạo cơ sở pháp lý để phân loại TNHS và hình phạt giữa các đồng phạm. Nghiên cứu Điều 17 bộ luật hình sự năm 2015 hiện nay thấy rằng, nội dung của điều luật này mới chỉ đề cấp đến các khái niệm: Thế nào là đồng phạm? thế nào là người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức và thế nào là phạm tội có tổ chức? mà chưa đề cập đến TNHS và phân loại TNHS của từng người đồng phạm. Chúng tôi cho rằng trong điều luật này cần xác định rõ TNHS của từng người đồng phạm căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do mỗi đồng phạm thực hiện và vai trò của họ theo nguyên tắc xử lý được quy định tại Điều 3 bộ luật hình sự năm 2015 (nghiêm trị kẻ chủ mưu, cầm đầu,..). Theo đó, trong vụ án đồng phạm người chỉ huy cầm đầu, người tổ chức, chủ mưu luôn phải chịu TNHS nặng nhất, tiếp theo là người thực hành và người xúi giục, người giúp sức chịu TNHS nhẹ hơn người thực hành.Với những phân tích trên, chúng tôi cho rằng cần phải sửa đổi Điều 17 bộ luật hình sự năm 2015 theo hướng quy định về đồng phạm là xác định trách nhiệm của cá nhân về hành vi thực hiện hoặc hành vi tham gia thực hiện tội phạm. Việc xác định hình thức phạm tội đồng phạm chỉ được coi là nội dung thứ hai có liên quan đến vấn đề TNHS trong trường hợp đồng phạm đặc biệt – phạm tội có tổ chức. Trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Điều 17 bộ luật hình sự năm 2015 như trên, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều 58 bộ luật hình sự năm 2015 về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm theo nguyên tắc sau: Việc quyết định hình phạt đối với mỗi người đồng phạm phải căn cứ vào tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Hình phạt đối với người tổ chức trong mọi trường hợp phải cao hơn người thực hành. Hình phạt đối với người xúi giục thì từng trường hợp, có thể cao hơn, bằng hoặc thấp hơn người thực hành. Hình phạt đối với người giúp sức trong mọi trường hợp phải thấp hơn người thực hành.
- Hai là về cơ chế lựa chọn hình phạt: Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Lựa chọn hình phạt chính xác, phù hợp với tính chất của tội phạm có ý nghĩa hết sức quan trọng, quyết định một hình phạt chính xác sẽ phát huy được hiệu quả giáo dục, đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hệ thống hình phạt trong bộ luật hình sự Việt Nam bao gồm 7 hình phạt chính và 7 hình phạt bổ sung. Việc lựa chọn một hình phạt chính xác và phù hợp với từng người, từng trường hợp là việc làm không đơn giản, bởi vì chưa có quy định của bộ luật hình sự cũng như chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề này. Trong các vụ án có đồng phạm, việc lựa chọn hình phạt để áp dụng đối với từng người đồng phạm là vấn đề rất phức tạp, có phải tất cả những người đồng phạm đều phải chịu loại hình phạt như nhau. Theo chúng tôi để lựa chọn loại hình phạt cho chính xác cần quy định cụ thể; trường hợp chưa cụ thể được cần có án lệ để Hội đồng xét xử căn cứ vào đó để lựa chọn.
- Ba là, Pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định khung hình phạt rất rộng, vì vậy việc lựa chọn hình phạt rất khó khăn.
Về vấn đề này, PGS-TS Phạm Văn Tỉnh đã đưa ra đề xuất xác định cho được một đại lượng hình phạt phù hợp để đo lường các loại tội phạm trong bộ luật hình sự, cũng như để quy định với từng tội danh khi xét xử, đó là khái niệm “mức phạt tương thích”, đại lượng chung và nhỏ hơn cả của hình phạt chính, được dùng để đo lường mức độ nguy hiểm cụ thể đối với từng tội danh. Số lượng mức phạt tương thích trong bộ luật hình sự hiện hành là 10 mức. Để đảm bảo giá trị vốn có của luật hình sự Việt Nam, khi thiết kế cho từng tội danh nhà làm luật chỉ nên lựa chọn các mức phạt tương thích đang hiện hành để quy định nhất quán, không nên quy định kiểu phá mức( tùy nghi). Theo chúng tôi, khái niệm “mức phạt tương thích” là khái niệm mới đáp ứng yêu cầu “cá thể hóa hình phạt”, đảm bảo tính công bằng và tránh sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật, thu hẹp được tính tùy nghi mà vẫn đảm bảo được sự năng động của hoạt động áp dụng pháp luật, trong các khung hình phạt ở mỗi tội phạm trong Phần các tội phạm của bộ luật hình sự có giới hạn mức cao nhất và mức thấp nhất của khung hình phạt có sự chênh lệch rất lớn, ví dụ ở tội “cướp tài sản” Điều 168 bộ luật hình sự năm 2015 quy định: người nào dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm. Như vậy, một hoặc một số người phạm tội này đến mức nào thì bị xử phạt 3 năm, 10 năm chưa được quy định cụ thể mà do Hội đồng xét xử cân nhắc quyết định. Theo chúng tôi, luật càng cụ thể, chi tiết càng dễ áp dụng và tránh được sự tùy tiện. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị quá trình xây dựng pháp luật chúng ta nên điều chỉnh khoảng cách tùy nghi trong khung hình phạt theo hướng thu hẹp dần; thu hẹp khoản cách tùy nghi trong cơ cấu dự liệu hình phạt trong bộ luật hình sự.
- Bốn là sửa đổi bộ luật hình sự theo hướng giảm các hình phạt tù ở một số tội phạm ít nghiêm trọng.
Thực tiễn xét xử cũng cho thấy, hầu hết các bị cáo phạm tội trong trường hợp có đồng phạm bị xử phạt tù có thời hạn. Hiện nay, yêu cầu của Đảng ta về hoàn thiện pháp luật hình sự theo hướng giảm hình phạt tù Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị ghi rõ “Giảm hình phạt tù , mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số tội phạm…”. Do vậy, cần nghiên cứu, sửa đổi các điều luật theo hướng mở rộng hình phạt không phải là tù.
- Năm là triển khai thực hiện các quy định của Luật tổ chức tòa án sửa đổi năm 2014 Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Trong đó thực hiện việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm theo án lệ. Một giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đó là phát triển án lệ. Theo tinh thần quy định tại điểm c khoản 2 Điều 22 của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì các Thẩm phán, HTND phải nghiên cứu, áp dụng án lệ trong xét xử; về nguyên tắc, việc nghiên cứu, áp dụng án lệ trong xét xử là yêu cầu bắt buộc nếu không áp dụng thì phải nói rõ lý do. Tuy nhiên, hiện nay phát triển án lệ về các vụ án hình sự được công bố không nhiều trên thực tế( từ năm 2015 đến hết năm 2019 mới công bố được 06 án lệ về hình sự, trong đó mới có 01 án lệ về đồng phạm); do vậy, để phát triển án lệ làm cơ sở cho các Thẩm phán, Hội thẩm áp dụng trong hoạt động xét xử án hình sự. Tòa án nhân dân tôi cao cần phải thường xuyên tổng kết công tác thực tiễn xét xử và phát triển án lệ trong lĩnh vực án hình sự để đảm bảo việc áp dụng thống nhất pháp luật. Nguyên tắc này đã được bổ sung vào các quy định Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi.
3.2.2. Nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ Thẩm phán ngành Tòa án nhân dân
Thẩm phán là nhân vật trung tâm, quyết định việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Tòa án – công tác xét xử. Chất lượng đội ngũ thẩm phán là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án và thực trạng quyết định hình phạt. Để nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt trong đồng phạm nói riêng trước hết chúng ta cần quan tâm đến chất lượng của đội ngũ Thẩm phán và chất lượng hoạt động của họ. Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán được xem là nhiệm vụ then chốt có vai trò quyết định hiệu quả của hoạt động xét xử nói chung và hoạt động quyết định hình phạt nói riêng. Để nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán nói chung đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cần quán triệt các quan điểm sau:
- Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán trên cơ sở nâng cao chất lượng hoạt động xét xử, lấy hoạt động xét xử làm trung tâm
Cải cách Tòa án, nâng cao chất lượng hoạt động xét xử là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp. Trong đó, để tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, mang tính đột phá trong công tác cải cách tư pháp thì vấn đề cơ bản là nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán. Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhấn mạnh: “Trọng tâm là xây dựng hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân”. Tiếp đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng lại tiếp tục khẳng định: Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm… Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của TAND theo hướng:
Tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: tòa án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; tòa án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; tòa thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm. Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Việc thành lập tòa chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp tòa án, từng khu vực. Đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn với đội ngũ thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành.
Nghị quyết cũng xác định rõ nhiệm vụ của cải cách tư pháp trong hoạt động tố tụng là tăng quyền hạn, trách nhiệm cho Thẩm phán đề họ thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình. Việc đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán cần phải gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ cải cách, đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành TAND kể trên.
- Nâng cao chất lượng Thẩm phán nhằm bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người và bảo vệ pháp chế XHCN
Một trong những yêu cầu của cải cách tư pháp là “các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế XHCN, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm”[23]. Trong hoạt động xét xử muốn bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ pháp chế XHCN thì Thẩm phán phải độc lập trong hoạt động của mình. Để thực sự độc lập trong hoạt động xét xử, Thẩm phán phải thực sự có đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
- Nâng cao chất lượng thẩm phán trên cơ sở nâng cao tiêu chuẩn đạo đức, phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn và kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Một trong những nội dung rất quan trọng của cải cách bộ máy nhà nước nói chung, cải cách bộ máy các cơ quan tư pháp nói riêng, đó chính là vấn đề con người. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, xét cho cùng, được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công việc của đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp.
Xuất phát từ địa vị pháp lý và yêu cầu đối với hoạt động của Thẩm phán như vậy. Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02/1/2002 về Nhiệm vụ trọng tâm của công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ “Nâng cao tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức và nghề nghiệp chuyên môn của các cán bộ tư pháp…” [21]. Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng đã đề ra một trong bốn phương hướng lớn để cải cách nền tư pháp nước nhà đó là:
Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ; tiến tới thực hiện chế độ thi tuyển đối với một số chức danh.
Trong hệ thống chức danh tư pháp, Thẩm phán là nhân vật trung tâm giữ vai trò quan trọng, quyết định hiệu quả của hoạt động quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của bộ luật hình sự nói riêng. Vì vậy, chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán trên cơ sở về đạo đức nghề nghiệp, phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn của Thẩm phán.
3.2.3 Hoàn thiện quy trình đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm đội ngũ Thẩm phán
Lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong ngành Tòa án phải thấm nhuần các nghị quyết của Đảng, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ. Xây dựng đội ngũ Thẩm phán, dự báo đúng tình hình, bám sát yêu cầu của nhiệm vụ chính trị để quy hoạch, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán, chuẩn bị cho trước mắt và lâu dài, đồng thời phải đề phòng nguy cơ sai lầm về đường lối cán bộ; thường xuyên chỉ đạo, nắm bắt tình hình, tranh thủ ý kiến của cấp ủy, chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan giải quyết kịp thời những vướng mắc trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ Thẩm phán hoặc có báo cáo đề xuất với cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Trong đó công tác đào tạo nguồn Thẩm phán cần hết sức chú trọng. Bởi đây là yếu tố quyết định đến vấn đề trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo đức của đội ngũ Thẩm phán. Việc xây đưa đội ngũ nguồn Thẩm phán đi đào tạo nghiệp vụ tại Học viện Tư pháp cần được đổi mới, có thể giao cho Trường Cán bộ Tòa án của TANDTC đào tạo để đảm bảo tính nghề nghiệp chuyên sâu cao, đồng thời bắt kịp được với yêu cầu chính trị của ngành. Đối với những Thẩm phán đã được bổ nhiệm cần thường xuyên cho đi dự các lớp bồi dưỡng chuyên sâu về xét xử hình sự, điều này sẽ đảm bảo đội ngũ này thường xuyên cập nhật các thông tin mới, các văn bản mới cũng nhưng rèn luyện được kỹ năng xét xử trong tình hình mới. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
3.2.4. Nâng cao năng lực, chất lượng của đội ngũ hội thẩm nhân dân trong xét xử hình sự
Theo các quy định của pháp luật hiện hành, thì việc xét xử ở cấp sơ thẩm phải có sự thẩm tham gia của HTND, và khi xét xử HTND ngang quyền với Thẩm phán. Vì vậy, đội ngũ HTND cũng có một vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng của hoạt động quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt trong đồng phạm nói riêng. Để nâng cao năng lực và chất lượng của đội ngũ HTND cần thực hiện triệt để các vấn đề sau:
HTND cần hiểu rằng, trong quá trình xét xử, Hội thẩm và Thẩm phán xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Để giải quyết được tốt vấn đề này, thì Ngành Tòa án hàng năm cần phải có kế hoạch quan tâm đầu tư kinh phí để bồi dưỡng nâng cao trình độ pháp lý cho đội ngũ Hội thẩm. Vì khi HTND có sự am hiểu pháp lý như thẩm phán, thì chắc chắn rằng, trong quá trình giải quyết vụ án, hội thẩm sẽ không lúng túng, khi phán quyết bản án sẽ khách quan, khoa học. Có như vậy, mới giải quyết tốt vấn đề pháp luật đặt ra là thẩm phán và HTND ngang quyền nhau trong quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, cần tách bạch giữa HTND tham gia xét xử hình sự và HTND tham gia xét xử những vụ án không phải án hình sự. Để đảm bảo tính chuyên môn hóa cao, am hiểu các quy định của luật hình sự và luật tố tụng hình sự từ đó mới có thể xét xử đúng, đặc biệt là quyết định hình phạt chính xác được.
Cần quy định rõ ràng hơn về tiêu chuẩn lựa chọn HTND, vì điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xét xử; quy định rõ về cách thức lựa chọn, cách thức thành lập đoàn hội thẩm, quy định trách một cách rõ ràng quyền và nghĩa vụ pháp lý cho Hội thẩm; sáu tháng hoặc một năm, TAND cần có hội nghị tổng kết tình hình xét xử của Hội thẩm. Thông qua các cuộc hội nghị để đánh giá chất lượng hoạt động của Hội thẩm, Đoàn hội thẩm, từ đó Ngành Tòa án cần có hướng giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của HTND. Chánh án TAND địa phương cần có mối liên hệ với cơ quan, đơn vị có cán bộ, công chức tham gia Hội thẩm ở Tòa án mình. Để qua đó, có thông tin về ý thức, trách nhiệm hoạt động của Hội thẩm tại Tòa án mình với cơ quan, tổ chức. Cần có quy định thêm về tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, công chức là HTND trong nhiệm kỳ của mình hoạt động đúng pháp luật có thể được tăng lương trước thời hạn. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Pháp luật cần quy định trước thời gian khai mạc phiên tòa yêu cầu HTND phải có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án ít nhất một tuần mới được tham gia xét xử vụ án. Để tránh những trường hợp Hội thẩm không đọc hồ sơ vụ án cũng tham gia xét xử, đồng thời tránh được trường hợp “chữa cháy” hội thẩm, chủ tọa phải phải thay thế bằng hội thẩm khác, trong khi đó, quyết định vụ án đem ra xét xử không có tên Hội thẩm tham gia theo quyết định và chủ tọa phiên tòa lại phải giải thích cho các đương sự về bổ sung Hội thẩm mới. Làm như vậy rất lúng túng cho hội thẩm nếu các đương sự không đồng ý các hội thẩm được bổ sung không theo quyết định mà đương sự đã nhận được.
Trong điều kiện Nhà nước ta đang xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, thì một trong những vấn đề nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án trong quá trình áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án đang được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt. Do vậy, các chức danh trong hội đồng xét xử như Thẩm phán và HTND trong các phiên tòa càng phải thể hiện hết sức vai trò và trách nhiệm của mình. Vì hoạt động của các chức danh này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng xét xử. Những tiêu chuẩn bắt buộc đối với hội thẩm là hội tụ điều kiện về chuyên môn nghiệp vụ, tư cách đạo đức, lối sống, ngoài ra, các hội thẩm cần phải có nhiệt huyết với công việc, có như vậy mới hoàn thành được trách nhiệm xét xử của mình.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Từ việc nghiên cứu thống kê kết quả xét xử và phân tích một số trường hợp cụ thể về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, ta có thể rút ra một số kết luận sau:
Một là, việc áp dụng quy định về đồng phạm và quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm trong thực tiễn xét xử đã đạt được những kết quả tích cực, thể hiện tình đúng đắn, tiến bộ của hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm vẫn còn tồn tại nhiều khuyết điểm, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới, đặt ra vấn đề hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng giải quyết trong thời gian tới. Trong những năm vừa qua Tòa án nhân dân các cấp đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật hình sự về quyết định hình phạt trong đồng phạm nhằm giải quyết nhiều vụ án khác nhau trong đó có những vụ án hình sự phức tạp khác nhau. Trong đó, hoạt động quyết định hình phạt trong đồng phạm thể hiện chi tiết sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm.
Hai là, để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm cần có một hệ giải pháp đồng bộ, căn cơ tập trung vào ba nội dung:
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, khắc phục những khuyết điểm, hạn chế trong hệ thống pháp luật. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật bao gồm hoàn thiện quy định về đồng phạm, ví dụ như quy định cụ thể về những người đồng phạm trong đồng phạm, cũng như quy định về trách nhiệm hình sự của người vượt quá trong đồng phạm. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng pháp luật hình sự trong thực tế Ngoài ra còn cần thực hiện việc hoàn thiện quy định về phạm tội có tổ chức trong đồng phạm. Kế tiếp là hoàn thiện quy định chung về quyết định hình phạt trong đồng phạm, trong đó có những quy định về quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt trong đồng phạm.
Thứ hai về giải pháp liên quan đến tổ chức và thực hiện bao gồm: giải pháp về nâng cao chất lượng xét xử tại Tòa án bằng việc tập trung nâng cao chất lượng Thẩm phán nhằm thực hiện tốt việc quyết định hình phạt đối với đồng phạm trong thực tiễn. Thẩm phán là đội ngũ cán bộ tòa án có vai trò quan trọng nhất trong hoạt động quyết định hình phạt trong đồng phạm.
Thứ ba là giải pháp nâng cao chất lượng của đội ngũ Hội thẩm nhân dân trong hoạt động quyết định hình phạt trong đồng phạm.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
Trong 5 năm trở lại đây (2014 – 2018), tình hình tội phạm vẫn diễn biến hết sức phức tạp, một số loại tội phạm mới xuất hiện với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt… đã làm cho công tác xét xử của Toà án gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả giải quyết các vụ án hình sự mà ngành Toà án đã đạt được trong những năm qua, có thể khẳng định chất lượng, hiệu quả của hoạt động xét xử các vụ án hình sự đã được nâng lên rõ rệt. Nhiều vụ án lớn, tính chất phức tạp đã được Toà án đưa ra xét xử đúng thời hạn, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đáp ứng được đòi hỏi chung của toàn xã hội. Số lượng các bản án, quyết định của Toà án có sai phạm và số người bị kết án oan ngày càng giảm mạnh… đã khẳng định sự cố gắng nỗ lực của các Toà án trong việc thực hiện mục tiêu xét xử đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Đồng phạm và một hình thức thực hiện tội phạm đặc biệt mà trong đó hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm. Do đó, khi tội phạm được thực hiện bởi đồng phạm thì tội phạm đó thay đổi về chất và mang tính nguy hiểm cao hơn tội phạm riêng lẻ. Vì vậy, quyết định hình phạt trong đồng phạm là trường hợp quyết định hình phạt đặc biệt, vừa phải tuân thủ quy định chung của chế định quyết định hình phạt, vừa phải tuân thủ quy định đặc thù của trường hợp đồng phạm. Việc nắm vững bản chất pháp lý của quyết định hình phạt sẽ giúp tòa án các cấp quyết định hình phạt trong thực tế được đúng. quyết định hình phạt trong đồng phạm là việc tòa án lựa chọn một loại và mức hình phạt cụ thể với mức độ cụ thể không chỉ cho một bị cáo mà cho nhiều bị cáo trong vụ án về một hoặc nhiều tội mà họ cùng phạm. quyết định hình phạt trong đồng phạm đúng không chỉ là cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt cũng như nâng cao hiệu quả của hình phạt mà còn góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật XHCN. Do tính chất đặc thù của đồng phạm là một hình thức thực hiện tội phạm đặc biệt mà trong đó hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm nên nguyên tắc xác định TNHS và quyết định hình phạt không giống với các trường hợp phạm tội riêng lẻ. Khi quyết định hình phạt đối với những người phạm tội trong vụ án đồng phạm, ngoài việc tuân theo các nguyên tắc quyết định hình phạt trong đồng phạm, tòa án còn phải dựa vào các căn cứ quyết định hình phạt được quy định trong bộ luật hình sự để tạo cơ sở pháp lý cho tòa án quyết định hình phạt được đúng đắn. Các căn cứ quyết định hình phạt là cơ sở pháp lý được quy định trong bộ luật hình sự mà Tòa án tuân thủ khi quyết định hình phạt cho người phạm tội. Các căn cứ này bao gồm: tính chất của đồng phạm; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, mức độ tham gia của từng người đồng phạm; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của riêng từng đồng phạm. Qua thực tiễn áp dụng quy định về quyết định hình phạt trong đồng phạm cho thấy khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội nói chung và đối với từng người đồng phạm nói riêng vẫn có nhiều thiếu sót như quyết định hình phạt còn quá nhẹ, áp dụng chế định án treo không đúng quy định pháp luật… Để nâng cao hiệu quả hoạt động quyết định hình phạt của tòa án thì công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như cải tiến phương pháp làm việc của các cán bộ xét xử giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Mặt khác, công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật trong quần chúng nhân dân để nhân dân hiểu và tự giác tuân thủ pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho hoạt động xét xử của Tòa án thật sự có hiệu quả.
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, pháp luật và thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn cả nước, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm như: hoàn thiện quy định của bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự về đồng phạm theo hướng tạo cơ chế cho phép Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với người đồng phạm phù hợp với vai trò và mức độ tham gia đồng phạm của họ; kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật liên quan đến quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm; triển khai thực hiên án lệ, tăng cường nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ làm công tác xét xử, tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động xét xử…Chúng tôi tin rằng những giải pháp này không chỉ phù hợp với tình hình Việt Nam hiện nay góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự ở nước ta. Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm