Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quyết định hình phạt trong đồng phạm theo bộ luật hình sự năm 2015 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về quyết định hình phạt nói chung và Quyết định hình phạt trong đồng phạm nói riêng, các Tòa án nhân dân đã áp dụng triệt để các quy định này nhằm đảm bảo hiệu quả của quyết định hình phạt. Tuy nhiên, trên thực tế trong thời gian vừa qua, cùng với sự thay đổi quy định của pháp luật có liên quan, việc quyết định hình phạt trong đồng phạm vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, cần được giải quyết ví dụ như: việc xác định vị trí, vai trò của những người đồng phạm, nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, hay vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp người thực hành, thực hiện hành vi vượt quá. Khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, nhiều Tòa án đã gặp không ít khó khăn do một số quy định về quyết định hình phạt còn mang tính khái quát cao, chưa chặt chẽ, một số quy định khác còn chưa theo kịp tiến trình phát triển của đời sống kinh tế xã hội… Chính những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao hiệu quả của hình phạt. Từ những phân tích nêu trên, việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống đề tài: “Quyết định hình phạt trong đồng phạm theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015”, làm rõ hơn về mặt lý luận, nhằm góp phần vào việc hoàn chỉnh hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam là yêu cầu cấp thiết, đáp ứng quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế, đặt biệt là khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nội dung liên quan đến chế định đồng phạm, chế định Quyết định hình phạt. Đáng chú ý là những công trình sau:
- Bản chất pháp lý của quy phạm “Nguyên tắc quyết định hình phạt” tại Điều 37 Bộ luật hình sự Việt Nam (Một số vấn đề lý luận thực tiễn và hoàn thiện pháp luật), của Lê Cảm, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1 +2/1989.
- Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Chương VII “Quyết định hình phạt”, trong sách “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999- Tập 1 phần chung” do TS. Uông Chu Lưu chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, 2001.
- Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, của Dương Tuyết Miên, Luận án Tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003. Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
- Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Mục VI, Chương XIII” Quyết định hình phạt”, trong sách “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999- Phần chung”, của ThS. Đinh Văn Quế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.
- Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Mục VI, Chương XIX “Quyết định hình phạt”, trong sách: “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung” của Trung tâm đào tạo từ xa- Đại học Huế, do TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Giáo dục, 2001.
- Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Chương XVI “Quyết định hình phạt”, của ThS. Trịnh Quốc Toản, trong sách: “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung” (tái bản lần thứ nhất), do TSKH. Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2003.
- Dương Tuyết Miên. Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003.
- Nguyễn Thị Thu Hòa. “Người thực hành trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, 2011.
- Nguyễn Thị Liên.“Các hình thức đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội,
- Lê Thị Loan. “Người giúp sức trong đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội,
- Nguyễn Thị Tuyết Mai. “Người tổ chức trong đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, 2011.
- Nguyễn Thị Bình. Quyết định hình phạt trong đồng phạm, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, 2010.
- Trần Quang Tiệp. Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2000.
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đề cập và giải quyết nhiều vấn đề bức xúc lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đặt ra. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dựng lại ở việc nghiên cứu chế định đồng phạm, chế định Quyết định hình phạt một các riêng lẻ. Có một số công trình đề cập đến mối liên hệ giữa hai chế định này nhưng chỉ được xem xét mối liên hệ giữa hai chế định này như khối kiến thức cơ bản ở một phần, một mục trong các giáo trình giảng dạy, một chương của sách chuyên khảo hay một phần của luận văn, luận án mà chưa có công trình nào đề cập đến việc nghiên cứu với đúng lên gọi là “Quyết định hình phạt trong đồng phạm theo Bộ luật hình sự năm 2015” một các có hệ thống, toàn diện ở cấp độ một luận văn thạc sỹ luật học.
Là một người công tác trong ngành Tòa án, có điều kiện nắm bắt tình hình tội phạm cũng như thực tiễn làm công tác xét xử, tôi thấy tình hình tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm có diễn biến phức tạp và xu hướng ngày càng gia tăng không chỉ về số vụ mà cả về tính chất, mức độ nghiêm trọng, hậu quả thiệt hại….gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự và an toàn xã hội, cụ thể lổi cộm trong thời gian vừa qua ngành Tòa án đã tiến hành xét xử các loại tội về tham nhũng về lĩnh vực quản lý kinh tế, dầu khí, tài chính, ngân hàng,đánh bạc, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước nhiều nghìn tỷ đồng được dư luận đặc biệt quan tâm. Bởi vậy, tôi đã chọn đề tài: “Quyết định hình phạt trong đồng phạm theo Bộ luật hình sự năm 2015” để viết luận văn thạc sỹ.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
3.1. Mục đích của luận văn
Trước yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm chung. Đặc biệt là những tội phạm được thực hiện bằng hình thức đồng phạm.
Luận văn này nhằm mục đích làm rõ hơn, cụ thể hơn về mặt lý luận những vấn đề Quyết định hình phạt trong vụ án đồng phạm, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của Quyết định hình phạt trong vụ án hình sự có đồng phạm.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Một là, nghiên cứu những vẫn đề lý luận về Quyết định hình phạt trong đồng phạm như khái niệm đồng phạm, khái niệm Quyết định hình phạt trong đồng phạm, các đặc điểm, các nguyên tắc và căn cứ Quyết định hình phạt trong đồng phạm.
- Hai là, nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Quyết định hình phạt trong đồng phạm.
- Ba là, nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về Quyết định hình phạt trong đồng phạm.
- Bốn là, nghiên cứu tình hình Quyết định hình phạt đối với đồng phạm trên phạm vi cả nước. Từ đó xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả Quyết định hình phạt trong đồng phạm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đó là những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quyết định hình phạt và đặc biệt là Quyết định hình phạt trong đồng phạm, từ đó có nghiên cứu đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những quan điểm, những quy định về Quyết định hình phạt trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là trong Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về không gian đề tài nghiên cứu thực tiễn Quyết định hình phạt trong đồng phạm trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 05 năm, từ năm 2014 đến năm 2018.
Trong luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về Quyết định hình phạt đối với cá nhân, không đề cập đối với pháp nhân thương mại vì thực tiễn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội chưa có.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm, về tính nhân đạo của pháp luật, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: Lịch sử pháp luật, lý luận về nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự và triết học, những quan điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự.
Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê.
6. Tính mới và những đóng góp của luận văn Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định mới trong phần Quyết định hình phạt, cụ thể bổ sung mới nội dung tại khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015: “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể” đây là điểm bổ sung rất mới và hết sức cần thiết, thể hiện được bản chất nhân đạo của nhà nước.
Kết quả của đề tài góp phần làm phong phú thêm cho lý luận của khoa học luật hình sự về Quyết định hình phạt trong đồng phạm. Luận văn góp phần vào việc Quyết định hình phạt trong đồng phạm của cơ quan Tòa án, cũng như đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của chế định Quyết định hình phạt trong vụ án hình sự có đồng phạm trong lĩnh vực lập pháp, cũng như việc áp dụng chúng trong thực tiễn; góp phần cá thể hóa hình phạt và cá thể hóa tội phạm.
Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo trong lĩnh vực pháp luật, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các cán bộ đang làm công tác thực tiễn trong các cơ quan tiến hành tố tụng, các cán bộ nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành tư pháp, luật hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 03 chương cụ thể như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đồng phạm và quyết định hình phạt trong đồng phạm
- Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự thực định về quyết định hình phạt trong đồng phạm
- Chương 3: Thực tiễn quyết định hình phạt trong đồng phạm hiện nay và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong đồng phạm.
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỒNG PHẠM VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1. Vài nét về đồng phạm trong luật hình sự
1.1. Khái niệm, các đặc điểm và ý nghĩa của đồng phạm
1.1.1. Khái niệm đồng phạm Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Dưới góc độ khoa học, khái niệm đồng phạm cũng được các tác giả quan tâm, làm rõ. Hiện nay đang có nhiều quan điểm về khái niệm đồng phạm. Hầu hết các quan điểm đều có điểm chung là đưa ra khái niệm đồng phạm dựa trên các dấu hiệu của đồng phạm (mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể). Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những quan điểm khác cho rằng khái niệm đồng phạm không những phải phản ánh được các dấu hiệu đặc trưng của đồng phạm mà còn phải phản ánh được các loại người đồng phạm cũng như sự tham gia của họ vào việc thực hiện tội phạm. Do đó, có thể phân thành hai nhóm quan điểm sau:
- Nhóm quan điểm thứ nhất: Dựa vào các dấu hiệu của đồng phạm: Theo nhóm quan điểm này thì có 3 dạng khái niệm phổ biến là:
Thứ nhất: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Theo khái niệm này thì số lượng người tham gia thực hiện tội phạm phải từ hai người trở lên và những người này phải cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Ở đây, khái niệm này được xây dựng dựa vào dấu hiệu khách quan của đồng phạm. Đây là khái niệm được quy định tại khoản 1, Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điểm hạn chế của quan điểm này là sử dụng thuật ngữ “cùng thực hiện một tội phạm” nên mới chỉ đề cập được một trường hợp đồng phạm giản đơn, chỉ có người thực hành mà không đề cập đến trường hợp đồng phạm phức tạp còn có người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức. Do vậy, thuật ngữ “cùng thực hiện một tội phạm” không phản ánh hết được bản chất cũng như các trường hợp đồng phạm.
Thứ hai: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm. [39, tr.76] Theo quan điểm này thì số lượng người tham gia thực hiện tội phạm cũng là từ hai người trở lên và những người này phải thỏa mãn các điều kiện về chủ thể của tội phạm như: họ phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và phải có năng lực trách nhiệm hình sự; Ngoài ra, những người này phải cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm với nhau thì mới được coi là đồng phạm. Có thể thấy, quan điểm này nhấn mạnh vào dấu hiệu mặt khách quan của đồng phạm và dùng thuật ngữ “tham gia thực hiện tội phạm” thay vì thuật ngữ “thực hiện tội phạm” như ở quan điểm thứ nhất. Quan điểm này không những nói rõ về số lượng người tham gia thực hiện tội phạm mà còn nêu rõ điều kiện chủ thể của tội phạm đối với những người này. Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Thứ ba: Đồng phạm là sự cố ý cùng tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện tội phạm do cố ý [2, tr.16]. Quan điểm này giống với hai quan điểm trên ở dấu hiệu mặt khách quan của đồng phạm (số lượng người tham gia, mối liên hệ giữa những người đồng phạm), ngoài ra cũng dùng thuật ngữ “tham gia” như quan điểm thứ hai. Tuy nhiên, quan điểm này có thêm dấu hiệu mặt chủ quan của đồng phạm là những người đồng phạm thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.
Quan điểm này có cách diễn giải hơi lủng củng và gây khó hiểu cho người đọc. Quan điểm này muốn nói rằng: những người đồng phạm phải có lỗi cố ý khi tham gia vào việc thực hiện tội phạm và họ phải cố ý cùng thực hiện tội phạm, tức là họ phải có sự liên hệ với nhau trong quá trình thực hiện tội phạm. Và nói “Đồng phạm là sự cố ý …” là không đúng, khái niệm này nên diễn đạt theo ý là: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm do cố ý. Nói như vậy người đọc sẽ dễ hiểu hơn và câu từ cũng không bị lủng củng.
Nhóm quan điểm thứ hai: Dựa vào các dấu hiệu của đồng phạm và các loại người đồng phạm. Theo đó, đồng phạm là hình thức phạm tội có hai người trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm do cố ý với vai trò là người thực hiện, người xúi giục, người giúp sức hoặc người tổ chức [32, tr.53]. Quan điểm này giống với các quan điểm ở trên về số lượng người tham gia thực hiện tội phạm, lỗi, mối liên hệ giữa những người đồng phạm. Tuy nhiên khái niệm đồng phạm ở quan điểm này phản ánh được những loại người đồng phạm (người thực hiện, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức). Quan điểm này không chỉ nêu lên được trong một vụ đồng phạm có những loại người đồng phạm nào mà còn sử dụng thuật ngữ “người thực hiện” thay cho thuật ngữ “người thực hành” – thuật ngữ đang được sử dụng trong bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành; nêu rõ được các dấu hiệu của đồng phạm mà còn phản ánh được các loại người đồng phạm cũng như các trường hợp đồng phạm. Ngoài ra, quan điểm này đã dùng thuật ngữ “người thực hiện” thay cho thuật ngữ “người thực hành” Vì thực hành có thể được hiểu theo hai nghĩa: Áp dụng lý thuyết vào thực tế và nghĩa vụ thực hiện. Thuật ngữ “người thực hành” được sử dụng để chỉ một loại người đồng phạm được hiểu theo nghĩa “người thực hiện”. Do đó, việc sửa đổi thuật ngữ “người thực hành” thành “người thực hiện” làm cho thuật ngữ rõ ràng hơn.
Như vậy, qua việc nghiên cứu các quan điểm khoa học về khái niệm đồng phạm em đưa ra khái niệm đồng phạm như sau: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm do cố ý với vai trò là người thực hiện, người xúi giục, người giúp sức hoặc người tổ chức.
1.1.2 Các đặc điểm của đồng phạm Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
- Dấu hiệu thuộc mặt khách quan
Trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm thì những vấn đề liên quan phải được xem xét dưới góc độ là kết quả tổng hợp từ hành vi của nhiều người. Để hiểu rõ hơn về bản chất của đồng phạm thì cần bắt đầu từ việc nghiên cứu dấu hiệu về mặt khách quan của đồng phạm. Từ khái niệm về đồng phạm, có thể thấy, về mặt khách quan, đồng phạm luôn có những dấu hiệu bắt buộc là:
- Dấu hiệu thứ nhất: Có từ hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm;
Số lượng người tham gia vào việc thực hiện tội phạm là một trong những yếu tố đầu tiên cần xem xét để xác định đây có phải là vụ án đồng phạm hay không. Bởi đây là yếu tố khách quan bắt buộc và không thể thiếu của đồng phạm. Quan điểm phổ biến và được công nhận hiện nay đó là số lượng người tham gia vào việc thực hiện tội phạm trong vụ án đồng phạm là từ hai người trở lên [29, tr.27]. Điều này cũng có nghĩa số lượng người tham gia vào vụ án đồng phạm không bị giới hạn ở mức tối đa. Đây là một quan điểm linh hoạt và phù hợp với thực tiễn, bởi không có một giới hạn chính xác nào có thể đặt ra cho mức tối đa số lượng người tham gia vào vụ án đồng phạm cả. Mà số lượng ít hay nhiều người tham gia vào việc thực hiện một tội phạm phụ thuộc vào tính chất, quy mô, mục đích hay loại tội phạm mà họ hướng đến.
Từ việc số lượng người tham gia vào vụ án đồng phạm là từ hai người trở lên, tức là sẽ có nhiều người cùng nhau bàn bạc, thống nhất ý chí, chung sức để phối hợp với nhau cùng thực hiện một tội phạm. Do vậy, so với trường hợp phạm tội đơn lẻ thì đồng phạm sẽ gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội hơn và có tính chất nghiêm trọng hơn.
Tuy nhiên, không phải tất cả mọi trường hợp có nhiều người tham gia vào việc thực hiện một tội phạm đều là đồng phạm. Bởi ngoài dấu hiệu về số lượng người tham gia thì những người đồng phạm còn phải thỏa mãn cả dấu hiệu về điều kiện của chủ thể của tội phạm [39, tr.56]. Cụ thể, chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định. Người có năng lực TNHS theo luật hình sự Việt Nam là người đã đạt độ tuổi chịu TNHS theo Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và không thuộc trường hợp ở tình trạng không có năng lực TNHS theo Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 . Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Trong một số trường hợp, chủ thể của tội phạm đòi hỏi phải có thêm một số dấu hiệu đặc biệt khác vì chỉ khi thỏa mãn những dấu hiệu đó những người thực hiện hành vi phạm tội mới được coi là chủ thể của tội phạm. Dấu hiệu chủ thể đặc biệt không đòi hỏi phải có ở tất cả những người đồng phạm mà chỉ đòi hỏi ở người thực hành [29, tr.34].
- Về dấu hiệu thứ hai: Những người này phải cùng thực hiện một tội phạm (cố ý).
Trong vụ án đồng phạm đòi hỏi những người đồng phạm phải có sự liên kết hành động với nhau nhằm cùng tham gia vào việc thực hiện một tội phạm. Nếu thỏa mãn dấu hiệu về số lượng người tham gia và dấu hiệu chủ thể của những người này mà họ không cùng nhau tham gia vào việc thực hiện một tội phạm thì đó không phải là đồng phạm, mà chỉ được coi là đồng phạm nếu những người này cùng thực hiện một tội phạm.
“Cùng tham gia vào việc thực hiện một tội phạm” được hiểu là những người đồng phạm hành động phối hợp với nhau để đạt được kết quả chung. Hành vi của những người đồng phạm có sự tác động qua lại lẫn nhau, họ hỗ trợ và thúc đẩy nhau thực hiện tội phạm [39, tr.76]. Và mỗi người đồng phạm tham gia vào tội phạm với một hoặc một số hành vi sau: hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức. Trong một vụ đồng phạm có thể có cả bốn loại hành vi nhưng cũng có thể chỉ có một trong bốn loại hành vi trên. Những người đồng phạm có thể tham gia với một loại hành vi cũng có thể tham gia với nhiều loại hành vi khác nhau. Họ có thể tham gia vào vụ án ở bất cứ giai đoạn nào, từ giai đoạn chuẩn bị, trong quá trình thực hiện tội phạm, trước khi tội phạm hoàn thành hoặc sau khi tội phạm hoàn thành nhưng chưa kết thúc [26, tr.25].
Hành vi của mỗi người là điều kiện cần thiết cho hoạt động phạm tội chung. Trong đó hành vi của người thực hành trực tiếp làm phát sinh hậu quả, còn các hành vi của những người đồng phạm khác như người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức không trực tiếp làm phát sinh hậu quả mà gây ra hậu quả thông qua hành vi của người thực hành.
Như vậy, tìm hiểu dấu hiệu thuộc mặt khách quan của đồng phạm ta cần phải xác định được những vấn đề sau: số lượng những người tham gia thực hiện tội phạm phải từ hai người trở lên, những người này phải có đủ điều kiện của một chủ thể tội phạm và những người đó phải cùng tham gia cố ý thực hiện một tội phạm.
- Dấu hiệu về mặt chủ quan Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Vì đồng phạm là hình thức phạm tội đặc biệt nên mặt chủ quan của đồng phạm cũng có những dấu hiệu khác so với tội phạm thông thường là những người cùng thực hiện một tội phạm đều phải có lỗi cố ý. Tùy theo từng cấu thành tội phạm tương ứng nếu có quy định dấu hiệu động cơ hoặc dấu hiệu mục đích thì đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm phải có cùng động cơ hoặc có cùng mục đích phạm tội.
Từ sự khái quát trên ta có thể xem xét các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của đồng phạm như sau:
- Dấu hiệu lỗi:
Các quan điểm hiện nay đều cho rằng đồng phạm chỉ được thực hiện với lỗi cố ý, cụ thể là gồm cả lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp [29, tr.27-33]. Lỗi cố ý trong đồng phạm được thể hiện trên hai mặt đó là mặt lý trí và mặt ý chí. Mặt lý trí được thể hiện ở trong nhận thức của những người đồng phạm đều phải biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, đồng thời họ cũng phải biết rằng người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. Ngoài ra, họ đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện. Mặt ý chí thể hiện ở việc những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hậu quả xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng cùng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Hiện nay, có nhiều quan điểm cho rằng có trường hợp những người đồng phạm đều có lỗi cố ý trực tiếp hoặc đều có lỗi cố ý gián tiếp; Nhưng cũng có trường hợp có người đồng phạm có lỗi cố ý trực tiếp, còn những người đồng phạm khác lại có lỗi cố ý gián tiếp. Có thể chia thành các trường hợp như sau: Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Thứ nhất: Trường hợp tất cả những người đồng phạm đều có lỗi cố ý trực tiếp. Trong trường hợp này, những người tham gia thực hiện một tội phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và biết người khác có hành vi nguy hiểm cùng với mình, họ đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện, đồng thời họ cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hậu quả xảy ra.
Thứ hai: Trường hợp tất cả những người đồng phạm đều có lỗi cố ý gián tiếp. Đây là trường hợp những người tham gia thực hiện tội phạm đều nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và biết người khác có hành vi nguy hiểm cùng với mình, họ đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện, họ cùng mong muốn có hoạt động chung và tuy không mong muốn nhưng cùng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Thứ ba: Trường hợp trong số những người đồng phạm có người có lỗi cố ý trực tiếp, có người có lỗi cố ý gián tiếp. Tức là những người đồng phạm đều nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và biết người khác có hành vi nguy hiểm cùng với mình, họ đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện, họ cùng mong muốn có hoạt động chung, tuy nhiên họ lại khác nhau về thái độ đối với hậu quả: Có người mong muốn hậu quả xảy ra, bên cạnh đó lại có người tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Bên cạnh dấu hiệu lỗi cùng cố ý thì đối với những tội phạm có cấu thành tội phạm mà điều luật quy định dấu hiệu động cơ hoặc dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc thì ta cần xem xét thêm dấu hiệu động cơ, mục đích trong mặt chủ quan của đồng phạm.
- Dấu hiệu động cơ, mục đích:
Về dấu hiệu mục đích phạm tội và động cơ phạm tội trong đồng phạm đều không phải là dấu hiệu bắt buộc. Tuy nhiên, trong một số cấu thành tội phạm có quy định dấu hiệu mục đích phạm tội, động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt buộc thì để xác định có đồng phạm của tội phạm đó đòi hỏi phải xác định được tất cả những người đồng phạm đều có chung mục đích phạm tội, động cơ phạm tội hoặc nếu không có cùng mục đích, động cơ phạm tội thì cũng phải biết và có sự tiếp nhận mục đích, động cơ phạm tội của nhau [30, tr.136].
Tóm lại, khi nghiên cứu về dấu hiệu của đồng phạm thì ta cần nghiên cứu những dấu hiệu về mặt khách quan và những dấu hiệu về mặt chủ quan của đồng phạm để có thể nhận thức về đồng phạm một cách toàn diện và đầy đủ nhất.
1.1.3 Ý nghĩa của khái niệm đồng phạm Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Trong đồng phạm, những người phạm tội có mối liên kết để thực hiện hoạt động phạm tội, với nhiều trường hợp diễn ra rất phức tạp, đa dạng. Trên cơ sở xác định đúng hình thức đồng phạm, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử sẽ nhận diện được đầy đủ hơn, chính xác hơn mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và cá thể hóa TNHS của từng người đồng phạm. Cơ sở để phân loại các hình thức đồng phạm là căn cứ phản ánh tính chất, mức độ quan hệ liên kết trong đồng phạm khi những người đồng phạm chia sẻ ý định phạm tội, kế hoạch hóa và hiện thực hóa hành vi phạm tội. Vì vậy, việc phân loại các hình thức đồng phạm là phương pháp để nhận thức đúng các hình thức đồng phạm. Hình thức đồng phạm cũng như bất kỳ một hình thức nào đều phải dựa trên những căn cứ phân loại nhất định.
Phân loại các hình thức đồng phạm là việc chia các hình thức đồng phạm thành các nhóm khác nhau dựa trên cơ sở một căn cứ xác định nhằm vào những mục đích nhất định. Phân loại theo căn cứ nào cho phù hợp phụ thuộc vào mục đích của sự phân loại chứ không nhất thiết phải trên cơ sở một căn cứ nhất định. Trong khoa học luật hình sự trên thế giới cũng như Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau về các hình thức đồng phạm. Việc chia hình thức đồng phạm thành những dạng khác nhau là bởi những căn cứ phân loại chúng không giống nhau. Mỗi cách phân loại lại dựa trên một căn cứ, một mục đích nhất định và cách lý giải cho sự phân loại đó cũng có sự hợp lý riêng của nó.
Khoa học luật hình sự nhiều nước Tây Âu cũng đã có nhiều nghiên cứu về việc phân loại các hình thức đồng phạm. Đánh giá về cách phân loại này, TS. Trần Quang Tiệp cho rằng: Do không muốn làm rõ bản chất của tội phạm là hành vi nguy hiểm, xâm phạm đến lợi ích của giai cấp tư sản thống trị, nên các nhà hình sự khoa học tư sản không đưa ra căn cứ phân loại mà chia các hình thức đồng phạm thành các loại: hình thức đồng phạm chủ động, hình thức đồng phạm thụ động; hình thức đồng phạm cần thiết, hình thức đồng phạm lựa chọn; hình thức đồng phạm trước, hình thức đồng phạm sau [56, tr.72].
Tại Việt Nam, các hình thức đồng phạm thường được chia thành: đồng phạm không có thông mưu trước và đồng phạm có thông mưu trước hay đồng phạm giản đơn (đồng phạm đồng thực hành) và đồng phạm phức tạp (đồng phạm có sự thực hiện các vai trò khác nhau). Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
1.1.4. Những loại người đồng phạm
Những loại người đồng phạm bao gồm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức.
- Người thực hành
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Các quan điểm khoa học hiện nay đều cho rằng hành vi “trực tiếp thực hiện tội phạm” của người thực hành được hiểu là người thực hành tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm (CTTP) hoặc là người thực hành thực hiện hành vi đó thông qua hành vi của người khác mà người này không phải chịu TNHS vì những lý do khác nhau [29, tr.31].
Người thực hành thường là người giữ vai trò quan trọng trong vụ án đồng phạm, hành vi của người thực hành quyết định đến việc hậu quả của tội phạm có xảy ra hay không, có đạt được mục đích mà những người đồng phạm hướng đến hay không. Do vậy về mặt pháp lý, hành vi của người thực hành được coi là vị trí trung tâm vì nhiều vấn đề về định tội và quyết định hình phạt được giải quyết căn cứ vào hành vi đó [29, tr.22].
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về người thực hành như sau: Người thực hành là người trực tiếp thực hiện, tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc thực hiện tội phạm bằng thủ đoạn cố ý tác động đến người khác để người này thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP, nhưng những người này theo quy định của bộ luật hình sự thì không phải chịu TNHS.
- Người tổ chức Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Người chủ mưu là người đề xuất ra những âm mưu, vạch ra phương hướng hoạt động của nhóm đồng phạm [36, tr.27]. Hoạt động phạm tội của người chủ mưu thể hiện ở hành vi bày mưu, tính kế, vạch kế hoạch tiến hành tội phạm, đưa ra kế hoạch để cho những người đồng phạm khác thực hiện theo. Hay nói cách khác những người đồng phạm khác sẽ dựa vào những kế hoạch được vạch ra bởi người chủ mưu để thực hiện hành vi phạm tội.
Người chủ mưu có thể tham gia trực tiếp vào việc thực hiện tội phạm hoặc cũng có thể không tham gia vào tổ chức mà đứng ngoài tổ chức. Nhưng người chủ mưu luôn mong muốn đồng bọn thực hiện tội phạm theo kế hoạch của mình để gây ra hậu quả. Trong mọi trường hợp người chủ mưu luôn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp [26, tr.25].
Người cầm đầu là người đứng đầu tổ chức phạm tội, là người trực tiếp đứng ra thành lập nhóm đồng phạm hoặc tham gia lập kế hoạch phạm tội, phương hướng hoạt động cũng như đôn đốc, phân công, giao trách nhiệm và điều khiển hoạt động của nhóm đồng phạm. Người cầm đầu có thể là người tham gia vào nhóm đầu tiên thông qua việc thành lập nhóm đồng phạm rồi lôi kéo những người khác vào nhóm, cũng có thể tham gia vào nhóm sau khi nhóm đã được thành lập nhưng do “uy tín” nên được giữ vị trí cầm đầu của băng nhóm. Người chủ mưu có thể đứng trong hoặc ngoài tổ chức nhưng người cầm đầu thì luôn phải đứng trong tổ chức để trực tiếp điều khiển hoạt động chung của tổ chức đó.
Người chỉ huy là người điều khiển trực tiếp của nhóm đồng phạm có vũ trang hoặc bán vũ trang [26, tr.23]. Người chỉ huy được giao nhiệm vụ đôn đốc, điều khiển đồng bọn thực hiện kế hoạch phạm tội một cách có hiệu quả.
Thông thường chỉ trong đồng phạm phức tạp hoặc phạm tội có tổ chức mới xuất hiện người chỉ huy.
Như vậy, sự phân biệt ba loại người “chủ mưu”, “cầm đầu” và “chỉ huy” chỉ là tương đối bởi vai trò của họ gần giống nhau trong vụ án đồng phạm. Họ đều tham gia vụ án đồng phạm với vai trò là người tổ chức, giữ vai trò thành lập nhóm đồng phạm hoặc điều khiển hoạt đông. Như vậy họ có vai trò quan trọng trong việc phát sinh, tồn tại và phát triển của nhóm đồng phạm có tổ chức nên là người nguy hiểm nhất trong vụ án đồng phạm. Do đó, nguyên tắc xử lý tội phạm tại điểm c khoản 1 Điều 3 bộ luật hình sự năm 2015 đã quy định rõ rằng: “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, …”.
- Người xúi giục Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
Đặc điểm của người xúi giục là không trực tiếp gây ra tội phạm nhưng thực hiện ý định phạm tội của mình bằng cách tác động đến tư tưởng và ý chí của người khác, khiến người này phạm tội. Người xúi giục có thể là người đã nghĩ ra việc phạm tội và đã thúc đẩy cho người khác – người mà ban đầu chưa có ý định phạm tội nhưng sau khi bị người khác xúi giục thì đã nảy sinh ý định phạm tội và dẫn tới việc thực hiện tội phạm. Bên cạnh đó, người xúi giục cũng có thể tác động để thúc đẩy một người thực hiện tội phạm mà trước đó người này đã có ý định phạm tội rồi nhưng chưa thực hiện.
Người xúi giục cũng có thể cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm nhưng cũng có thể không. Hành vi xúi giục có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như kích động, lôi kéo, cưỡng ép, dụ dỗ, lừa phỉnh [29, tr.66]. Người xúi giục không cần phải sử dụng hết tất cả những hình thức nêu trên mà chỉ cần sử dụng một hình thức để xúi giục người khác phạm tội thì được coi là người xúi giục và người này phải chịu TNHS về hành vi xúi giục của mình.
- Người giúp sức
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
Từ khái niệm trên có thể hiểu rằng hành vi của người giúp sức là hành vi tạo ra những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho người thực hành thực hiện hành vi phạm tội. Giúp sức về vật chất có thể là cung cấp công cụ, phương tiện hoặc khắc phục những trở ngại… để tạo điều kiện cho người thực hành thực hiện tội phạm được dễ dàng, thuận lợi hơn. Giúp sức về tinh thần có thể là đưa ra những chỉ dẫn, góp ý kiến, cung cấp tình hình… cho người thực hành để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho họ trong việc thực hiện tội phạm [33, tr.34]. Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Hành vi giúp sức có thể được thực hiện dưới dạng hành động nhưng cũng có thể có trường hợp dưới dạng không hành động. Đó có thể là trường hợp của những người có nghĩa vụ pháp lý phải hành động nhưng đã cố ý không hành động và qua đó đã loại trừ trở ngại khách quan ngăn cản việc thực hiện tội phạm của người thực hành, tạo điều kiện cho người đó có thể thực hiện hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm được đến cùng.
Một dạng giúp sức đặc biệt là giúp sức bằng lời hứa hẹn trước sẽ che giấu cho người phạm tội, che giấu các tang chứng, vật chứng hoặc sẽ tiêu thụ các vật do phạm tội mà có sau khi tội phạm đã thực hiện xong. Lời hứa hẹn trước của người giúp sức tuy không tạo ra những điều kiện thuận lợi cụ thể cho việc thực hiện hành vi phạm tội, nhưng đã giúp củng cố ý định phạm tội, củng cố quyết tâm phạm tội hoặc quyết tâm phạm tội đến cùng của người thực hành. Chính do có sự tác động tinh thần như vậy mà luật hình sự Việt Nam đã coi hành vi hứa hẹn trước cũng là giúp sức tinh thần. Lời hứa hẹn của người giúp sức có thể xảy ra trước khi việc thực hiện tội phạm bắt đầu nhưng cũng có thể xảy ra trong quá trình thực hiện tội phạm. Luật hình sự Việt Nam không đòi hỏi sự hứa hẹn của người giúp sức phải được thực hiện bởi dù được thực hiện hay không thì lời hứa hẹn đó cũng đã có vai trò giúp sức về tinh thần cho người thực hành, nên người có hành vi này phải chịu TNHS.
1.2. Các hình thức đồng phạm Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
- Đồng phạm giản đơn
Đồng phạm giản đơn được khoa học luật hình sự Việt Nam định nghĩa: ” là hình thức đồng phạm, trong đó những người cùng tham gia vào vụ phạm tội đều có vai trò là người thực hành” [59, tr.234]. Trong hình thức đồng phạm giản đơn, những người tham gia đều thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thực hành, không có sự phân công, phân nhiệm cụ thể giữa từng người phạm tội với nhau. Do vậy hình thức tội phạm này không có tính chất nguy hiểm, tinh vi như các hình thức đồng phạm khác.
- Đồng phạm phức tạp
Đồng phạm phức tạp được định nghĩa: ” là hình thức đồng phạm, trong đó có một hoặc một số người tham gia giữ vai trò người thực hành, còn những người đồng phạm khác giữ vai trò xúi giục, tổ chức hay giúp sức” [28, tr.241]. Ở hình thức đồng phạm phức tạp, hành vi phạm tội của những người đồng phạm không những khác nhau ở nội dung phạm tội và hình thức biểu hiện, mà còn có thể khác nhau về thời gian, địa điểm phạm tội. Phần lớn các hình thức đồng phạm phức tạp có thông mưu trước, bởi lẽ hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức thường được tiến hành trước thời điểm người thực hành thực hiện hành vi phạm tội. Sự thỏa thuận giữa những người đồng phạm ở hình thức đồng phạm này có thể trước thời điểm thực hiện tội phạm một thời gian dài, cũng có thể ngay trước thời điểm thực hiện tội phạm. Sự khác nhau cơ bản giữa đồng phạm phức tạp và đồng phạm giản đơn thể hiện ở chỗ, trong đồng phạm phức tạp có sự phân công, phân nhiệm về vai trò của từng người phạm tội; trong khi đó đồng phạm giản đơn thì tất cả những người đồng phạm đều đóng vai trò thực hành, cùng thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm.
- Đồng phạm không có thông mưu trước Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Đồng phạm không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm mà những người đồng phạm không có bàn bạc, trao đổi trước với nhau về việc thực hiện tội phạm [58, tr.189]. Đồng phạm không có thông mưu từ trước không có sự câu kết, phối hợp chặt chẽ giữa những người phạm tội so với hình thức đồng phạm có thông mưu từ trước.
- Đồng phạm có thông mưu trước
Khoa học luật hình sự Việt Nam định nghĩa: “Đồng phạm có thông mưu trước là hình thức đồng phạm, trong đó những người đồng phạm có sự thỏa thuận, bàn bạc trước với nhau về tội phạm cùng thực hiện” [58, tr.141]. Trong hình thức đồng phạm này, những người phạm tội đã có sự bàn bạc lên kế hoạch về việc thực hiện hành vi phạm tội. Việc bàn bạc nhằm xây dựng phương án thực hiện tội phạm, phân công vai trò của từng chủ thể, chuẩn bị phương tiện vật chất… thể hiện sự cấu kết chặt chẽ, trình độ tổ chức cùng với tính chất nguy hiểm hơn so với đồng phạm không có thông mưu từ trước.
- Phạm tội có tổ chức:
Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm ở mức độ cao nhất trong đó có sự phân công, phân nhiệm cụ thể cho từng chủ thể phạm tội nhằm thực hiện và che dấu hành vi phạm tội một cách chuyên nghiệp, trong thời gian dài. Phạm tội có tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Trong thực tế, sự câu kết này có thể thể hiện dưới các dạng sau đây: a) Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội. b) Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước. c) Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm.
2. Những vấn đề chung về quyết định hình phạt trong đồng phạm Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
2.1. Khái niệm quyết định hình phạt trong đồng phạm
Trước khi tìm hiểu về khái niệm Quyết định hình phạt trong đồng phạm chúng ta cần phải xác định được khái niệm Quyết định hình phạt (QĐHP).
Pháp luật là đại lượng công bằng áp dụng cho những trường hợp khác nhau. Do đó, pháp luật hình sự quy định những phạm vi chung đối với những người không giống nhau trong thực tế. Trong phạm vi đó, làm thế nào để đưa ra một quyết định công bằng, hợp lý là nhiệm vụ rất quan trọng và đầy trách nhiệm của những cơ quan và người áp dụng pháp luật hình sự. Ở đây, việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự đã được ban hành liên quan chặt chẽ với việc áp dụng có căn cứ và đúng đắn các đòi hỏi của các quy phạm pháp luật hình sự với việc tuân thủ chính xác và nhất quán các quy định của pháp luật với việc xác định chân lý khách quan của vụ án hình sự.
Lần đầu tiên, khái niệm hình phạt được quy định trong Điều 26 bộ luật hình sự năm 1999, đây là một điểm mới so với bộ luật hình sự năm 1985 đồng thời tiếp tục được ghi nhận tại Điều 30 bộ luật hình sự 2015. Việc quy định này không những bảo đảm nhận thức thống nhất về hình phạt trong khoa học, mà còn có nhiều mục đích khác như: giáo dục, cải tạo người phạm tội, bảo đảm tính răn đe và nghiêm minh của pháp luật hình sự, cũng như yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Bởi lẽ, đề cập tội phạm chúng ta không thể không nhắc đến hình phạt. Tội phạm và hình phạt là hai nội dung cơ bản trong luật hình sự của mọi quốc gia. Tội phạm và hình phạt luôn luôn đi liền với nhau, có nghĩa là giữa tội phạm và hình phạt luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và không tách rời nhau… [30, tr. 93]. Về nguyên tắc, khi đã thực hiện tội phạm thì phải chịu TNHS và thông thường phải chịu hình phạt và ngược lại hình phạt không thể được áp dụng khi không có tội phạm xảy ra và cũng không áp dụng đối với ai khác ngoài người đã phạm tội. Do đó, đúng như PGS.TS. Trịnh Quốc Toản đã nhận định: Chừng nào, Nhà nước còn cần đến luật hình sự và hình phạt, thì hình phạt chỉ được áp dụng và chỉ cho phép được áp dụng với tính chất là sự phản ứng Nhà nước và xã hội đối với tội phạm; nó là sự phủ định công khai, quyết liệt của Nhà nước, là sự thể hiện không thể dung thứ của Nhà nước và xã hội đối với các hành vi phạm tội… [67, tr. 37]. Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất được áp dụng theo trình tự riêng biệt cho người phạm tội, bảo đảm cho luật hình sự thực hiện được mục đích của mình. Hình phạt với tư cách là sự hạn chế, tước bỏ những quyền, lợi ích quan trọng nhất của người phạm tội có những tác động nhất định đến bản thân người phạm tội cũng như tác động đến xã hội theo những hướng khác nhau tuỳ thuộc vào việc hình phạt đó được quyết định thế nào. Luật hình sự đòi hỏi những tác động đó của hình phạt phải đạt được những kết quả trực tiếp hay nói cách khác là đạt được mục đích của hình phạt.
Về mặt lập pháp, Bộ luật hình sự ( bộ luật hình sự) hiện hành không quy định cụ thể khái niệm quyết định hình phạt là gì ? Dưới góc độ lý luận, quyết định hình phạt là một khái niệm hiện nay có nhiều quan điểm không giống nhau.
ThS. Đinh Văn Quế đưa ra định nghĩa mang tính khái quát về quyết định hình phạt như sau “QĐHP là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành. Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào, mức hình phạt bao nhiêu, phải tuân theo những quy định của bộ luật hình sự” [45, tr. 3]. Định nghĩa này đã chỉ ra nội dung quan trọng của quyết định hình phạt là một hoạt động của Toà án đồng thời đó là việc Toà án lựa chọn hình phạt đồng thời chỉ ra căn cứ pháp lý của quyết định hình phạt đó chính là các quy định của bộ luật hình sự. Tuy nhiên, định nghĩa này cho thấy chưa bao quát được hết hoạt động quyết định hình phạt. Bởi lẽ, quyết định hình phạt là một hoạt động khá phức tạp bao gồm nhiều thao tác ngoài việc lựa chọn loại hình phạt còn xác định mức hình phạt. Bên cạnh đó, tác giả cho rằng hình phạt áp dụng với “người bị kết án” là chưa chính xác. Bởi người bị kết án là người đã có bản án kết tội của Tòa án.
Trong khi đó, PGS.TS. Lê Văn Đệ thì cho rằng: “QĐHP là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể” [24, tr. 161]. Định nghĩa này đã chỉ ra cụ thể hai thao tác quan trọng khi quyết định hình phạt là xác định loại hình phạt và xác định mức hình phạt đồng thời chỉ ra tính chất pháp lý của của hoạt động quyết định hình phạt, đối tượng bị áp dụng hình phạt là người phạm tội cụ thể. Tuy nhiên, ở đây chưa cho thấy chủ thể thực hiện hoạt động áp dụng hình phạt là Toà án.
Cũng có quan điểm tiếp cận khái niệm quyết định hình phạt còn được tiếp cận dưới góc độ của luật tố tụng hình sự. Theo đó: quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét xử, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong luật hình sự tương ứng với cấu thành tội phạm cụ thể để áp dụng với người phạm tội, thể hiện trong bản án buộc tội [70, tr. 73]. Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Trong định nghĩa này coi quyết định hình phạt là một giai đoạn trong hoạt động xét xử là chưa chính xác. Bởi lẽ nói đến giai đoạn trong tố tụng cũng như trong quá trình xét xử của Toà án là nói đến một bước (một khoảng thời gian) độc lập để chủ thể thực hiện hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, trước khi lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể Toà án còn phải dựa vào các căn cứ như tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân bị cáo… Những hoạt động này được thực hiện xuyên suốt quá trình xét xử chứ không phải là một giai đoạn độc lập. Định nghĩa này chỉ ra hình thức của việc quyết định hình phạt đó chính là bản án của Tòa án. Tuy nhiên, trong tố tụng hình sự thì chỉ có bản án kết tội chứ không có bản án buộc tội nếu hiểu theo đúng nghĩa của hoạt động buộc tội trong mối quan hệ với hoạt động gỡ tội, xét xử thì nó thuộc về bên buộc tội thể hiện bằng cáo trạng của Viện kiểm sát.
Ngoài ra, trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội do GS. TSKH Lê Cảm (chủ biên) thì “QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội” [9, tr. 317].
Bên cạnh đó, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì định nghĩa: “QĐHP là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể” [58, tr. 211]; v.v…
Từ những sự phân tích trên, kế thừa các quan điểm khoa học, học viên cho rằng nên định nghĩa khái niệm này như sau: quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án do Hội đồng xét xử thực hiện, căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự và dựa trên những nguyên tắc nhất định, được thực hiện tùy thuộc vào từng trường hợp để xác định loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng cho người phạm tội cụ thể hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của bộ luật hình sự phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
QĐHP là một trong những giai đoạn cơ bản, một trong những nội dung của quá trình áp dụng luật hình sự. Giai đoạn này chiếm vị trí đặc biệt trong quá trình áp dụng luật hình sự. Điều 30 bộ luật hình sự quy định: “Hình phạt được quy định trong bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định”. quyết định hình phạt do Hội đồng xét xử là các Thẩm phán, hoặc Thẩm phán và HTND tiến hành đối với người thực hiện tội phạm theo một trật tự pháp lý nhất định, là một hoạt động pháp lý tố tụng hình sự; bởi vì, để quyết định hình phạt Tòa án phải dựa vào kết quả của các giai đoạn tố tụng hình sự khác nhau, là quá trình sử dụng kết quả điều tra, kết quả buộc tội, kết quả thẩm vấn, tranh luận; là quá trình đối chiếu các tình tiết của một vụ án hình sự cụ thể với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể gắn liền với việc đánh giá con người cụ thể đã thực hiện tội phạm; để xác định một loại và một mức hình phạt cụ thể tối ưu nhất trong việc cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Nội dung của quyết định hình phạt thể hiện ở hai điểm: 1) Tòa án lựa chọn một trong những hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật được áp dụng để quyết định đối với bị cáo; 2) xác định một mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo [24, tr.385]. Hai nội dung này được tiến hành theo trình tự đã nêu ở trên và được thực hiện khi áp dụng cả hình phạt chính lẫn hình phạt bổ sung. quyết định hình phạt chỉ áp dụng đối với cá nhân người phạm tội, tức là chỉ người nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm thì phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của mình mà không thể ủy thác cho người khác.
Loại và mức hình phạt được quyết định áp dụng đối với bị cáo phải được thể hiện trong bản án theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và được công bố một cách công khai khi tuyên án. Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Khi quyết định hình phạt phải bảo đảm tương xứng của hình phạt được tuyên với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, với các đặc điểm nhân thân người phạm tội, với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS, với dư luận xã hội, ý thức pháp luật.
- Thứ hai, cần xác định được khái niệm quyết định hình phạt trong đồng phạm.
Như trên đã phân tích, quyết định hình phạt là một giai đoạn, một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội [24, tr.386].
Khi quyết định hình phạt đối với trường hợp đồng phạm, Tòa án không những phải tuân thủ những quy định về căn cứ quyết định hình phạt áp dụng cho trường hợp phạm tội nói chung mà còn tuân thủ theo những quy định về căn cứ quyết định hình phạt riêng áp dụng cho trường hợp đồng phạm. Những quy định chung áp dụng cho trường hợp đồng phạm, Tòa án dựa vào chính là những quy định về tội phạm cụ thể mà những người đồng phạm cùng thực hiện; các căn cứ quyết định hình phạt như tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chung; tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của từng người đồng phạm. Những căn cứ quyết định hình phạt chung luôn có ý nghĩa bắt buộc áp dụng đối với tất cả các trường hợp phạm tội trong đó có đồng phạm, nhưng khi Tòa án quyết định hình phạt cũng cần đặt chúng trong mối quan hệ với các căn cứ quyết định hình phạt riêng cho từng người đồng phạm.
BLHS của nhiều nước trên thế giới đã quy định rõ về việc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm. ví dụ như: bộ luật hình sự Nhật Bản quy định tại: tại điều 61 quy định “người thông qua sự xúi giục của mình mà làm cho người khác thực hiện một tội phạm thì sẽ bị xử lý như người chính phạm” Điều 63 như sau: “hình phạt đối với người tòng phạm là hình phạt đối với người chính phạm được giảm nhẹ đi”; điều 64 quy định: “người xúi giục hoặc người giúp sức thực hiện một tội phạm mà đối với tội đó khi bị xử phạt giam hình sự hoặc phạt tiền về tội hình sự nhỏ thì không bị xử phạt”. Tại điều 69 bộ luật hình sự Bỉ có quy định: “Hình phạt được tuyên đối với người tòng phạm không được vượt quá 2/3 mức hình phạt được tuyên đối với người thực hành” [55, tr.152].
So với quy định của bộ luật hình sự năm 1999, thì bộ luật hình sự năm 2015 quy định về đồng phạm và quyết định hình phạt trong đồng phạm về cơ bản không có gì thay đổi. Theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 đồng phạm quy định tại Điều 17 quy định: “1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. 4. Người đồng phạm không phải chịu TNHS về hành vi vượt quá của người thực hành”.
Căn cứ quyết định hình phạt trong đồng phạm được quy định tại Điều 58 bộ luật hình sự năm 2015 quy định:“Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ TNHS thuộc người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với người đó”.
2.2 Các đặc điểm của quyết định hình phạt trong đồng phạm Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Tương tự như các hoạt động quyết định hình phạt khác, quyết định hình phạt trong đồng phạm cũng có những đặc điểm như sau:
Một là, quyết định hình phạt trong đồng phạm là một hoạt động (thực tiễn) áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án sau khi Tòa án đã định tội danh.
Ở đây, quyết định hình phạt tuân thủ theo các nguyên tắc, các yêu cầu cũng như các giai đoạn của áp dụng pháp luật nói chung. Tính đặc thù thể hiện ở chủ thể áp dụng là Toà án. Định tội danh đúng, chuẩn xác không những góp phần quyết định hình phạt công minh và đúng pháp luật, mà còn phân hóa TNHS và cá thể hóa hình phạt chính xác, qua đó bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong tư pháp hình sự. Ngược lại, nếu định tội danh sai đương nhiên sẽ dẫn đến một loạt hậu quả tiêu cực như: không bảo đảm được tính công minh và đúng pháp luật của hình phạt do Tòa án quyết định, dẫn đến truy cứu TNHS người không có tội, bỏ lọt người phạm tội, thậm chí xâm phạm thô bạo đến danh dự, nhân phẩm, các quyền và tự do của công dân…, làm giảm uy tín và hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm”.
Hai là, các căn cứ quyết định hình phạt trong đồng phạm có tính bắt buộc Hội đồng xét xử phải tuân thủ để hình phạt được quyết định một cách đúng đắn. Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Trong mối quan hệ với quyết định hình phạt, căn cứ quyết định hình phạt chính là điều kiện tồn tại, là cơ sở pháp lý bảo đảm tính có căn cứ và đúng pháp luật của hoạt động quyết định hình phạt. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, bắt buộc Hội đồng xét xử phải tuân thủ triệt để các căn cứ đã được bộ luật hình sự quy định nhằm bảo đảm cho hình phạt được quyết định một cách công bằng, đúng pháp luật, đáp ứng và phù hợp với đòi hỏi của lợi ích chung.
Ba là, quyết định hình phạt trong đồng phạm là điều kiện quan trọng để hình phạt được tuyên có khả năng đạt được các mục đích của hình phạt ở mức cao nhất.
QĐHP đúng là cơ sở để đạt được các mục đích của hình phạt. Điều đó cho thấy việc quyết định hình phạt không phải được thực hiện một cách ngẫu nhiên cũng có thể đạt được các mục đích của hình phạt mà nó phải được dựa trên các căn cứ quyết định hình phạt đã được bộ luật hình sự quy định. Đến lượt mình, với vị trí là cơ sở pháp lý của hoạt động quyết định hình phạt, chính sự tuân thủ căn cứ quyết định hình phạt mới đảm bảo cho hình phạt được quyết định đúng và quan trọng hơn còn là điều kiện quyết định để hình phạt đó có khả năng đạt được các mục đích của hình phạt ở mức cao nhất.
Bốn là, khi quyết định hình phạt trong đồng phạm, Tòa án cần căn cứ vào những quy định chung về quyết định hình phạt và căn cứ riêng về quyết định hình phạt trong đồng phạm.
QĐHP trong đồng phạm là một trường hợp quyết định hình phạt cụ thể. Cùng với quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của khung hình phạt, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, quyết định hình phạt trong đồng phạm là một trường hợp cụ thể của quyết định hình phạt. Do đó, khi thực hiện việc quyết định hình phạt trong trường hợp này, Tòa án cần phải căn cứ vào các quy định nói chung về quyết định hình phạt, như: các căn cứ quyết định hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, các nguyên tắc quyết định hình phạt, đồng thời căn cứ vào cả quy định cụ thể về nguyên tắc quyết định hình phạt trong đồng phạm như đánh giá tính chất mức độ của đồng phạm, đánh giá về vị trí, vai trò của từng người đồng phạm…
1.2.3. Các nguyên tắc quyết định hình phạt trong đồng phạm Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
- Các nguyên tắc chung
Để quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý đối với người phạm tội dù họ thực hiện một tội phạm hay thực hiện nhiều tội phạm, khi áp dụng các chế tài luật hình sự, tòa án phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc đó được gọi là các nguyên tắc quyết định hình phạt. Đây là những tư tưởng chỉ đạo, kim chỉ nam cho hoạt động của Tòa án khi chọn và quyết định loại và mức hình phạt đối với từng bị cáo trong từng vụ án cụ thể, là tiền đề, là điều kiện cho việc giáo dục và cải tạo người bị kết án được tốt, góp phần vào việc phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung [37, tr.33]. Các nguyên tắc quyết định hình phạt là một trong những nội dung quan trọng của chế định quyết định hình phạt, việc nghiên cứu làm sáng tỏ các nguyên tắc quyết định hình phạt tạo tiền đề thuận lợi để quyết định hình phạt đúng pháp luật. Nếu nhận thức không đúng các nguyên tắc quyết định hình phạt sẽ dẫn đến việc áp dụng không đúng các quy phạm pháp luật hình sự dẫn đến việc quyết định hình phạt sai. Trong luật hình sự Việt Nam, các nguyên tắc quyết định hình phạt không được ghi nhận chính thức trong bộ luật hình sự mà được thể hiện thông qua nội dung các quy phạm pháp luật hình sự. Để có cơ sở đưa ra các nguyên tắc quyết định hình phạt, cần phải dựa vào những tiêu chuẩn nhất định. Những tiêu chuẩn đó là: Thứ nhất, phải là những tư tưởng chỉ đạo đầu tiên; thứ hai, phải được thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp trong luật hình sự; thứ ba, phải là những tư tưởng chỉ đạo định hướng hoạt động của Tòa án trong lĩnh vực quyết định hình phạt; thứ tư, những tư tưởng đó phải phù hợp với chính sách hình sự trong từng giai đoạn phát triển của Nhà nước. Căn cứ vào những tiêu chuẩn trên, việc quyết định hình phạt cần phải dựa vào những nguyên tắc sau đây: – Nguyên tắc pháp chế XHCN; – Nguyên tắc nhân đạo XHCN; – Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt; – Nguyên tắc công bằng (công minh). Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Nguyên tắc pháp chế XHCN: Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc pháp chế XHCN thể hiện khi quyết định hình phạt là ở chỗ, khi áp dụng hình phạt đối với người bị kết án Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của luật hình sự. Đây là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng, vì có thể áp dụng các nguyên tắc khác của chế định quyết định hình phạt vào thực tiễn xét xử, chỉ khi tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc này. Nội dung của nguyên tắc này thể hiện:
- Thứ nhất, chỉ có thể áp dụng hình phạt đối với hành vi phạm tội được quy định cụ thể trong luật hình sự.
- Thứ hai, phải định tội danh đúng hành vi phạm tội của bị cáo.
- Thứ ba, quyết định hình phạt là thẩm quyền của Tòa án.
Thứ tư, nội dung của nguyên tắc pháp chế còn biểu hiện ở chỗ: khi quyết định hình phạt, Tòa án phải tuân theo trình tự và các điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ thể và chỉ có thể tuyên những hình phạt được quy định trong luật, tuân theo các mức chế tài của điều luật hoặc khoản của điều luật quy định tội mà bị cáo đã phạm; mức hình phạt mà tòa án lựa chọn phải nằm trong phạm vi quy định của chế tài tương ứng, nó có thể thấp hơn mức chế tài quy định nếu Tòa án có đủ căn cứ áp dụng điều 54 bộ luật hình sự nhưng không bao giờ được vượt quá mức cao nhất của chế tài quy định trong điều luật đó.Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi khi tuyên một hình phạt phải có tính xác định, có căn cứ lập luận và bắt buộc có lý do.
Nguyên tắc nhân đạo XHCN: Nguyên tắc này thể hiện khi quyết định hình phạt, Tòa án phải cân nhắc lợi ích của xã hội, của Nhà nước và của người phạm tội trong một tổng thể thống nhất biện chứng, hài hòa và hợp lý. Nhân đạo XHCN đòi hỏi phải có thái độ đúng đắn cả đối với lợi ích của toàn xã hội và Nhà nước, lẫn đối với lợi ích của bị cáo. Nguyên tắc nhân đạo còn thể hiện khi quyết định hình phạt tùy theo các tình tiết của vụ án, mức phạt tù và nhân thân người phạm tội, Tòa án có thể cho bị cáo hưởng án treo; khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có thể quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật…
Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt: Đây là nguyên tắc quan trọng khi quyết định hình phạt. Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc này thể hiện khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự và ý thức pháp luật XHCN, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS để quyết định đối với bị cáo và mức hình phạt cụ thể đảm bảo cho việc đạt được các mục đích của hình phạt. Phạm tội ở mức độ nào thì chịu hình phạt ở mức độ đó. Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Nguyên tắc công bằng: Nguyên tắc công bằng khi quyết định hình phạt thể hiện ở chỗ, loại và mức hình phạt do Tòa án tuyên phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện với các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, với dư luận xã hội và ý thức pháp luật. Nguyên tắc công bằng thể hiện ở hai mặt; công bằng giữa những người phạm tội với nhau và công bằng với chính người phạm tội; với mặt thứ nhất có nghĩa là với những điều kiện, căn cứ như nhau thì những người phạm tội phải chịu hình phạt như nhau; mặt thứ hai đòi hỏi loại và mức hình phạt được tuyên phải tương xứng với tội phạm, nghĩa là tội đã phạm càng nghiêm trọng và trong những điều kiện khác giống nhau, thì hình phạt phải càng nghiêm khắc và ngược lại.
- Các nguyên tắc riêng
Nguyên tắc tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm đã thực hiện.
Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ việc coi tội phạm thực hiện dưới hình thức đồng phạm là một thể thống nhất không thể tách rời của tất cả hành vi của những người tham gia. Mỗi người đồng phạm đều có ý thức lựa chọn việc tham gia phạm tội cùng với những người đồng phạm khác (đều cùng cố ý thực hiện tội phạm) và đều thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của mỗi người đồng phạm đều góp phần gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Đồng phạm là trường hợp nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội phạm. Hành động của những người tham gia thực hiện tội phạm là hành động liên hiệp. Hành vi của người này là tiền đề, điều kiện cho hành vi của những người đồng phạm khác và là khâu cần thiết cho hoạt động tội phạm chung. Hậu quả phạm tội là kết quả chung do hoạt động của tất cả những người tham gia đưa lại. Do vậy, khi quyết định hình phạt trong đồng phạm, trong vụ đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm mà cả bọn đã gây ra. Nguyên tắc những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm đã thực hiện tuy không được quy định cụ thể tại một điều luật trong bộ luật nhưng được hiểu và áp dụng một cách thống nhất trong quá trình xét xử của tòa án. Nguyên tắc này được thể hiện là tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về một tội danh mà họ đã cùng người thực hành, thực hiện và theo cùng một điều luật cũng như trong cùng phạm vi chế tài mà điều luật ấy đã quy định. Những quy định có tính nguyên tắc về hình phạt như nguyên tắc xử lý, mục đích hình phạt, nguyên tắc, căn cứ quyết định hình phạt…đều được áp dụng chung cho tất cả những người đồng phạm trong vụ án đồng phạm. Những người đồng phạm phải cùng chịu về các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt hoặc tình tiết tăng nặng, nếu họ đều biết, tức là đối với những tình tiết này họ cùng bàn bạc với nhau hoặc mọi người đều nhận thức và biết rõ về những tình tiết đó, hoặc tuy không từng bàn bạc nhưng họ không buộc phải thấy trước và có thể thấy trước tình tiết đó. Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
- Nguyên tắc mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện đồng phạm
Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm coi TNHS trong đồng phạm là trách nhiệm cá nhân. Bởi lẽ hiện nay các nhà luật học đều tương đối thống nhất trong việc xác định đồng phạm không được thực hiện bởi pháp nhân thương mại phạm tội. Trong vụ đồng phạm, mặc dù mỗi người đồng phạm phải chịu TNHS chung về toàn bộ tội phạm mà họ cùng thực hiện với những người đồng phạm khác, song việc xác định TNHS đối với mỗi người đồng phạm vẫn phải căn cứ vào hành vi cụ thể của từng người [56, tr.122]. Trong vụ án có đồng phạm, tuy có nhiều người cùng tham gia thực hiện một tội phạm và mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm mà họ cùng thực hiện, nhưng theo quy định của bộ luật hình sự, TNHS là trách nhiệm cá nhân. Vì vậy, việc quyết định hình phạt đối với mỗi người đồng phạm phải dựa trên cơ sở hành vi cụ thể của họ. Những người đồng phạm chỉ chịu trách nhiệm về những hành vi mà cả bọn cùng chung hành động và cùng chung ý định phạm tội chứ không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người thực hành hoặc của những người đồng phạm khác. Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS liên quan đến người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với riêng người đó mà không áp dụng chung cho tất cả những người đồng phạm khác như: tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội trong thời gian chấp hành hình phạt, phạm tội lần đầu, là người chưa thành niên, người già, phụ nữ có thai, người có công với cách mạng, phạm tội trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do tự mình gây ra… Việc miễn TNHS; miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện… đối với người đồng phạm nào thì người đó được hưởng “các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ TNHS thuộc loại người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó’’. Việc miễn TNHS hoặc miễn hình phạt đối với người đồng phạm này không loại trừ TNHS của những người đồng phạm khác. Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức, đã thực hiện các hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức nhưng chưa dẫn đến việc người thực hành thực hiện tội phạm thì họ vẫn phải chịu TNHS.
- Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt của những người đồng phạm Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Trong vụ án hình sự có đồng phạm, tuy mỗi người cùng tham gia thực hiện một tội phạm nhưng tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người lại khác nhau [56, tr.89]. Do đó, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mỗi người đồng phạm cũng khác nhau nên theo quy định của pháp luật thì “khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của những người đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm”. Tính chất tham gia phạm tội của những người đồng phạm được quyết định bởi vai trò mà người đồng phạm thực hiện, bởi tính đặc thù của chức năng, nhiệm vụ, tác dụng của người đó trong hoạt động phạm tội chung. Làm sáng tỏ tính chất tham gia vào việc cùng chung phạm tội, có nghĩa là phải xác định được người phạm tội đó là ai, họ là người thực hành, người tổ chức, người xúi giục hay người giúp sức. Thông thường, người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực là những người có vai trò nguy hiểm cao hơn những người đồng phạm khác, do đó hình phạt áp dụng đối với họ cũng phải nghiêm khắc hơn. Khi xác định mức độ tham gia phạm tội của mỗi người đồng phạm thì cần phải xác định người đồng phạm đó hoạt động với vai trò gì, tích cực, quyết tâm đến đâu; có động cơ, mục đích như thế nào; đã dùng những công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội nào [56, tr.116]… Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật mới chỉ quy định: “nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy…”. Như vậy, mới chỉ xác định người tổ chức là người nguy hiểm hơn những loại người đồng phạm khác trong vụ án có đồng phạm, còn đối với người giúp sức, người xúi giục, người thực hành vẫn chưa có quy định nào thể hiện sự phân hóa rõ ràng TNHS của những người này. Mặc dù, có quy định cá thể hóa TNHS nhưng chỉ dừng lại ở mức độ quy định chung chung chưa cụ thể và triệt để đối với người giúp sức, người xúi giục và người thực hành trong vụ án có đồng phạm.
2.3 Ý nghĩa của quyết định hình phạt trong đồng phạm
- Thứ nhất, quyết định hình phạt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị -xã hội và pháp lý.
Góp phần củng cố và giữ vững pháp chế, trật tự pháp luật XHCN. Hình phạt mà Tòa án tuyên cho người phạm tội phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Hình phạt đã tuyên thỏa đáng sẽ làm cho người bị kết án thấy được tính chất sai trái của hành vi của mình cũng như sự cần thiết của bản án đã tuyên cho họ, từ đó tự giác tuân thủ pháp luật; đồng thời hình phạt đã tuyên thỏa đáng sẽ đủ sức răn đe những người không “vững vàng” trong xã hội để họ từ bỏ ý định phạm tội, tự giác chấp hành pháp luật của Nhà nước. Hơn nữa, việc Tòa án tuyên hình phạt thỏa đáng cho người phạm tội sẽ có tác dụng giáo dục sâu rộng trong quần chúng nhân dân, làm cho quần chúng nhân dân thấy được sự nghiêm minh của luật pháp để tự giác tuân thủ pháp luật, tích cực tham gia công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
- Thứ hai, quyết định hình phạt đúng là cơ sở pháp lý đầu tiên để đạt được mục đích của hình phạt: trừng trị và giáo dục. Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Việc quyết định hình phạt phải đảm bảo cho hình phạt đã tuyên đạt được cả hai mục đích này. Trừng trị và giáo dục là hai mặt có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và là hai mặt của một thể thống nhất trong khi quyết định hình phạt và Tòa án không được coi nhẹ mặt nào [37, tr.57]. Chỉ khi hình phạt được quyết định một cách chính xác và công bằng thì mục đích của hình phạt mới đạt được, tức là có tác dụng giáo dục và cải tạo người phạm tội, ngăn ngừa phạm tội mới và giáo dục người khác. Hình phạt được quyết định quá nhẹ so với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm đã được thực hiện sẽ sinh ra ở người phạm tội và ở những người khác thái độ xem thường pháp luật, còn hình phạt được quyết định quá nặng sẽ gây ra ở người bị kết án sự không tin tưởng vào tính công bằng của pháp luật và sự công minh của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó dẫn đến hậu quả là giảm ý nghĩa phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung của hình phạt.
- Thứ ba, quyết định hình phạt đúng là cơ sở quan trọng để có thể nâng cao hiệu quả của hình phạt.
Hiệu quả của hình phạt phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau như xây dựng pháp luật hình sự, quyết định hình phạt, chấp hành hình phạt, tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật cho công dân. Trong các yếu tố trên thì quyết định hình phạt đúng là yếu tố quan trọng nhất. Việc xây dựng hệ thống pháp luật hình sự hoàn thiện chỉ có ý nghĩa khi quyết định hình phạt trong thực tế được đúng. Mặt khác, việc chấp hành hình phạt chỉ phát huy tác dụng nếu Tòa án quyết định hình phạt đúng. Những yếu tố xã hội khác đảm bảo hiệu quả của hình phạt như vấn đề tuyên truyền giáo dục pháp luật cho công dân để công dân tự giác chấp hành hình phạt sẽ không thể phát huy tác dụng khi quyết định hình phạt không đúng. Nếu hình phạt quá nhẹ hay quá nặng so với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội sẽ làm cho người bị kết án không thấy được tính nghiêm minh của bản án và từ đó không tích cực lao động cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội cũng như gây ra dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng tới niềm tin của quần chúng nhân dân đối với pháp luật, không động viên được quần chúng tham gia tích cực vào công tác đấu tranh vào phòng chống tội phạm và như vậy hiệu quả của hình phạt chắc chắn sẽ không đạt được [24, tr.10-12].
KẾT LUẬN CHƯƠNG I Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
Trong chương 1 của luận văn, tác giả phân tích về những vấn đề lý luận chung về quyết định hình phạt và quyết định hình phạt trong đồng phạm. Trên những vấn đề chung về đồng phạm và quyết định hình phạt trong đồng phạm, ta có thể đưa ra một số kết luận sau:
Một là, hiện nay đang có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề đồng phạm và quyết định hình phạt đối với đồng phạm trong các công trình nghiên cứu khoa học hình sự và khoa học luật hình sự. Đồng phạm là trường hợp có nhiều người cùng cố ý thực hiện tội phạm, đồng phạm có sự thống nhất mặt chủ quan và mặt khách quan giống nhau. Việc nghiên cứu về đồng phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo từ đó đánh giá hoạt động quyết định hình phạt trong đồng phạm một cách tốt nhất.
Hai là, đồng phạm là một trường hợp tội phạm tồn tại khách quan, có tính chất đặc biệt, thể hiện ở tính chất nguy hiểm cho với xã hội. Các loại đồng phạm có những đặc điểm riêng về mặt khách quan và mặt chủ quan. Do vậy cần có hệ thống quy định đặc thù trong pháp luật hình sự để điều chỉnh phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Hành vi đồng phạm có tính chất khách quan từ đó quyết định hình phạt trong đồng phạm cũng cần phải đánh giá mặt khách quan của đồng phạm.
Ba là, quyết định hình phạt trong đồng phạm có những đặc điểm riêng, có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện chức năng điều chỉnh quan hệ xã hội của pháp luật hình sự khi cần thể hiện được nguyên tắc phân hóa tội phạm, đảm bảo phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của từng người đồng phạm. Quyết định hình phạt trong đồng phạm cần phải tuân thủ các nguyên tắc chung về quyết định hình phạt đồng thời phải tuân thủ nguyên tắc quyết định hình phạt trong đồng phạm như nguyên tắc phân hóa, cá thể hóa, nguyên tắc tuân thủ tính có căn cứ trong quyết định hình phạt.
Trên cơ sở nhận thức trên, tác giả sẽ trình bày, phân tích quy định của pháp luật hình sự thực định về quyết đình hình phạt trong đồng phạm tại Việt Nam trong Chương 2 của luận văn. Luận văn: Quyết định hình phạt về đồng phạm theo bộ luật hình sự.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm