Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về lĩnh vực phát thanh truyền hình hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình tại tỉnh Quảng Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Định hướng bảo đảm thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình tại tỉnh Quảng Nam
Trong những năm qua, lĩnh vực phát thanh – truyền hình trên thế giới có nhiều thay đổi về loại hình, mô hình tổ chức, hình thức thể hiện và cách thức thụ hưởng thông tin. Phát thanh – Truyền hình phát triển nhanh.
Truyền thông đa phương tiện là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc sáng tạo, thiết kế những sản phẩm mang tính “đa phương tiện” và tương tác ứng dụng trong các lĩnh vực truyền thông, quảng cáo, giáo dục và giải trí. Cơ cấu hoạt động “đa phương tiện” đã trở thành đặc trưng cơ bản của truyền thông hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa. Sự xuất hiện của thông tin điện tử đã góp phần mạnh mẽ vào sự phong phú, “đa phương tiện” của truyền thông. Với khả năng tích hợp cả 3 loại hình báo chí đi trước là báo in, phát thanh và truyền hình, cùng với khả năng tương tác mạnh mẽ, báo điện tử đã thu hút một lượng đông độc giả ngay từ khi mới ra đời.
PLVBC đã trở thành một bộ phận quan trọng, không thể thiếu được trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, trước xu thế mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, trước tình hình phát triển nhanh chóng báo chí ở Việt Nam, PLVBC đã bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập, nên việc xây dựng, hoàn thiện PLVBC là một yêu cầu tất yếu khách quan trong tình hình hiện nay ở Việt Nam.
Hoàn thiện PLVBC để đảm bảo QTDBC trên tinh thần Hiến pháp năm 2013. Điểm thay đổi lớn nhất, đồng thời cũng đáng chú ý nhất là những quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người và quyền công dân nói chung, QTDBC nói riêng. Việc quy định các quyền con người nói chung, QTDBC nói riêng trong Hiến pháp là rất quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người được hưởng thụ và thực hiện cũng như bảo vệ quyền của mình. Và việc sửa đổi Luật báo chí và ban hành Luật về Tiếp cận thông tin, Luật Trưng cầu ý dân cũng là vấn đề tất yếu. Luận văn: Giải pháp pháp luật về lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Quá trình hoàn thiện chính sách đối với báo chí đòi hỏi phải đổi mới, hoàn thiện PLVBC. Trong thời kỳ đổi mới, một trong những khó khăn lớn nảy sinh từ thực trạng pháp luật Việt Nam là chưa xây dựng được một hệ thống pháp luật đầy đủ, phù hợp với đặc điểm của một đất nước đang tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Quan điểm của Đảng là phải đưa đất nước tiến theo con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì vậy hơn lúc nào hết, hệ thống pháp luật phải được bổ sung, hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu thực tế.
Đối với báo chí, với những đặc trưng trong hoạt động của mình, thực tiễn báo chí đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó đặc biệt quan trọng là chính sách phát triển báo chí. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, sản phẩm báo chí cũng là một loại hàng hóa, được bán rộng rãi; hoạt động báo chí phải lấy thu bù chi và kinh doanh có lãi. Tuy nhiên, báo chí vẫn phải xác định rõ là một bộ phận của hoạt động tư tưởng – văn hóa. Mục tiêu chính của báo chí không phải tất cả đều vì lợi nhuận mà là vì sự phát triển và hoàn thiện con người, góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, phải từ bỏ quan điểm coi báo chí chỉ thuần túy là lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, phi kinh tế. Ngược lại, phải xác định sản phẩm báo chí là một loại hàng hóa, nhưng là loại hàng hóa đặc biệt thuộc lĩnh vực tinh thần, có bản chất chính trị, xã hội đậm nét. Do đó, quá trình hoàn thiện chính sách đối với báo chí đòi hỏi phải đổi mới, hoàn thiện PLVBC để làm cơ sở cho công tác hoạch định chính sách về báo chí.
Chính vì vậy, những yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước về báo chí phát thanh – truyền hình tại tỉnh Quảng Nam theo quan điểm của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh như sau:
- Hoạt động báo chí phải đặt dưới sự lãnh, chỉ đạo, định hướng của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thực sự là tiếng nói của Đảng, chính quyền, là diễn đàn của nhân dân.
- Báo chí phải bảo đảm tính Đảng, tính nhân dân, tính giáo dục, tính chiến đấu và định hướng dư luận xã hội lành mạnh, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, tinh thần trong nhân dân. Báo chí phải thực sự đi trước một bước, vừa làm tốt công tác dự báo, định hướng phát triển, đồng thời phải là động lực thúc đẩy phát triển xã hội
- Hoạt động báo chí phải bám sát nhiệm vụ chính trị của tỉnh để tuyên truyền, cổ vũ các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Đặc biệt là các định hướng chiến lược của Tỉnh ủy về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, hợp tác đầu tư phát triển.
- Tích cực biểu dương nhân tố mới, tham gia đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội, góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hoá dân tộc, tinh hoa văn hoá vùng đất – con người Vĩnh Phúc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện lệch lạc, tiêu cực khác
- Báo chí phải thực sự là phương tiện chủ yếu để quảng bá hình ảnh Vĩnh Phúc đến với cả nước và thế giới, thu hút đầu tư, thúc đẩy giao lưu hợp tác thực hiện các nhiệm vụ chính trị của tỉnh.
Giai đoạn 2016 – 2020: Luận văn: Giải pháp pháp luật về lĩnh vực phát thanh truyền hình.
- Xây dựng Đài PT&TH tỉnh thành một đài mạnh trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ, trang bị kỹ thuật hiện đại, đồng bộ; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong tổ chức sản xuất chương trình, kiểm duyệt thông tin, truyền dẫn – phát sóng; Phát thanh truyền hình trực tiếp các sự kiện lớn của tỉnh.
- Phát triển mới 2 kênh truyền hình Vĩnh Phúc (VP1, VP2), phát sóng theo công nghệ số.
- Phát sóng phát thanh đạt 5 giờ/ngày, năng lực sản xuất chương trình phát thanh đạt 80% thời lượng phát sóng; phát sóng truyền hình đạt 72 giờ/ngày, năng lực sản xuất chương trình truyền hình đạt 60% thời lượng phát sóng.
- Thay đổi phương thức nhận, biên tập, duyệt tin, bài từ truyền thống sang thực hiện qua mạng máy tính nội bộ và mạng Internet. Đảm bảo bảo mật và không bị giới hạn bởi không gian.
- Số hóa toàn bộ chương trình truyền hình và phát sóng qua mạng truyền dẫn phát sóng số mặt đất, phát sóng qua mạng Internet, phát sóng vệ
3.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình tại tỉnh Quảng Nam Luận văn: Giải pháp pháp luật về lĩnh vực phát thanh truyền hình.
3.2.1. Nâng cao nhận thức về thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình
Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về Thông tin và Truyền thông nói chung, lĩnh vực báo chí nói riêng ở các cơ quan tham mưu, quản lý về chuyên ngành từ tỉnh đến huyện, thành phố, thị xã.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm trong đầu tư, khai thác kinh doanh hoạt động báo chí, đặc biệt là dịch vụ truyền hình trả tiền trên địa bàn tỉnh; đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh, nhất thiết không để xảy ra tình trạng tự phát trong hoạt động báo chí và buông lỏng, né tránh trong quản lý nhà nước. Quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chủ quản đối với bản tin, Website, truyền thanh cơ sở. Tăng cường trách nhiệm Người phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan trong hệ thống chính trị của tỉnh.
3.2.2. Hoàn thiện quy định pháp luật về phát thanh, truyền hình
Đối với Nghị định số 06/2016/NĐ-CP ngày 18/01/2016 của Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng:
Về điều kiện cấp phép một số hoạt động cung cấp dịch vụ quy định tại Nghị định 06. Theo quy định tại Nghị định 06, để được cung cấp một số dịch vụ phát thanh, truyền hình, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện và phải thực hiện các thủ tục hành chính để được cấp phép. Một số điều kiện cũng như thủ tục hành chính liên quan chưa thực sự hợp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vì vậy cần được đánh giá, xem xét để sửa đổi.
Về thủ tục cấp phép được quy định từ khoản 2 đến khoản 7 Điều 12 Nghị định 06 về các thủ tục liên quan đến giấy phép. Đây là các quy định khá cụ thể các bước thực hiện (hồ sơ, thời gian xem xét, thẩm định hồ sơ và cấp phép). Tuy nhiên, trong trình tự thủ tục này lại không thấy quy định về thời gian xem xét tính hợp lệ của hồ sơ. Điều này có thể khiến cho thời gian giải quyết thủ tục bị kéo dài, bởi vì các thời hạn thẩm định, cấp phép được tính từ thời điểm nhận hồ sơ hợp lệ. Để đảm bảo tính minh bạch, đề nghị bổ sung vào quy định về thời gian xem xét tính hợp lệ của hồ sơ. Tương tự đối với thủ tục cấp giấy phép sản xuất kênh chương trình trong nước quy định tại Điều 15, cấp giấy chứng nhận đăng ký cung cấp các kênh chương trình nước ngoài tại Điều 18, cấp giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền tại Điều 20 Nghị định 06. Luận văn: Giải pháp pháp luật về lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Điều kiện cấp Giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền (Điều 20 Nghị định 06). Điểm đ khoản 2 Điều 20 Nghị định 06 quy định để được cấp giấy phép, doanh nghiệp phải “có năng lực tài chính cần thiết thể hiện bởi dự toán chi phí biên tập, biên dịch trong 01 (một) năm và văn bản chứng minh nguồn tài chính hợp pháp bảo đảm thực hiện công tác biên tập, biên dịch theo dự toán”. Quy định này là chưa rõ về mục tiêu quản lý. Nếu là nhằm đảm bảo cho đơn vị biên tập đủ nguồn tài chính để hoạt động thì đây không phải là mục tiêu phù hợp của một điều kiện kinh doanh (nếu không đủ tài chính để hoạt động, chủ thể gánh chịu rủi ro sẽ chính là đơn vị biên tập, về phía lợi ích công cộng, bị ảnh hưởng là không nhiều, vì sẽ có nhiều các đơn vị biên tập khác tham gia vào hoạt động này).
Về việc bổ sung quy định đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền (khoản 10 Điều 1 Điều 18 Nghị định 06). Tại khoản 9 Điều 18 Nghị định 06 “giao Bộ Thông tin và Truyền thông quy định danh mục các sự kiện, chương trình thể thao, văn hóa, giải trí có tác động đến xã hội phải được truyền dẫn trên mọi hạ tầng truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình quảng bá và trả tiền phù hợp với từng giai đoạn”. Quy định này có một số khái niệm không rõ, cụ thể: “Tác động đến xã hội” là khái niệm này khá chung chung và có phạm vi rộng, có thể dẫn tới việc xác định rất nhiều chương trình, sự kiện vào trong Danh mục này “Phải được truyền dẫn trên mọi hạ tầng” có thể được hiểu là đơn vị có bản quyền phát sóng chương trình thuộc danh mục buộc phải cung cấp nội dung này cho mọi hạ tầng và không được phép giữ độc quyền phát sóng, hay là mọi hạ tầng buộc phải truyền dẫn các sự kiện, chương trình thuộc danh mục hay là được hiểu theo nghĩa khác. Đây là quy định tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể nắm giữ quyền sở hữu các nội dung chương trình, và có nguy cơ làm giảm tạo động lực của các doanh nghiệp đầu tư, phát triển các nội dung chương trình. Hơn nữa, tùy nội dung quy định là gì, có thể cần phải xem xét tới các vấn đề thuộc pháp luật về sở hữu trí tuệ, cạnh tranh…Vì vậy quy định về vấn đề này cần rất rõ ràng, thận trọng, chỉ thực hiện sau khi đã cân nhắc đầy đủ tới các hệ thống pháp luật liên quan và tác động tới doanh nghiệp.
3.2.3. Đẩy mạnh cải cách bộ máy, cơ chế quản lý phát thanh, truyền hình Luận văn: Giải pháp pháp luật về lĩnh vực phát thanh truyền hình.
- Về bộ máy quản lý
Thứ nhất, cần xây dựng các quy định cụ thể, rõ ràng nhằm điều chỉnh tốt hơn chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa Bộ Thông tin và Truyền thông với các bộ, ngành như: nhiệm vụ cung cấp và quản lý thông tin giữa Bộ Thông tin và Truyền thông với Ban Tuyên giáo Trung ương; nhiệm vụ quản lý hoạt động báo chí nước ngoài tại Việt Nam giữa Bộ Thông tin và Truyền thông với Bộ Ngoại giao.
Thứ hai, hiện nay Sở Thông tin và Truyền thông chỉ là cơ quan giúp việc cho Ủy ban nhân dân trong việc quản lý nhà nước về phát thanh – truyền hình nên nhiều khi rất thụ động, phụ thuộc vào cấp trên, trong khi đó, Ủy ban nhân dân có quá nhiều việc phải giải quyết nên khâu quản lý báo chí nhiều khi bị buông lỏng và rất trì trệ. Ngoài ra, trong thời gian tới, Bộ Thông tin và Truyền thông cần có những quy định và kế hoạch phân cấp quản lý nhiều hơn cho các cơ quan quản lý nhà nước về phát thanh – truyền hình ở địa phương.
Thứ ba, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng: Đổi tên Phòng Kỹ thuật phát thanh – truyền hình thành Phòng Kỹ thuật sản xuất chương trình. Thành lập thêm 2 phòng chức năng: Phòng Thông tin Đối ngoại và Phòng Dữ liệu, nâng tổng số phòng của Đài lên 15 phòng. Đài cần chú trọng phát triển nhóm nguồn nhân lực có trình độ nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, bản lĩnh chính trị nhằm phục vụ việc sản xuất các chương trình truyền hình bám sát với định hướng phát triển của tỉnh, phù hợp với định hướng mở rộng phạm vi phủ sóng ra cả nước và các nước trong khu vực, phù hợp với nội dung kênh truyền hình mới.
- Về cơ chế quản lý Luận văn: Giải pháp pháp luật về lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Như trên đã phân tích, việc tổ chức thực hiện pháp luật về phát thanh – truyền hình của các các cơ quan quản lý nhà nước về phát thanh – truyền hình vẫn còn chồng chéo, chưa có sự thống nhất. Cụ thể là: Xác định rõ các nguyên tắc làm việc và quy chế phối hợp trong sự vận hành của bộ máy quản lý nhà nước về báo chí; định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chỉ đạo, đài phát thanh – truyền hình.
3.2.4. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực
Chú trọng tuyển dụng phóng viên theo yêu cầu chuẩn hóa nghề nghiệp từ các cơ sở đào tạo chuyên ngành báo chí, mở rộng đối với các ngành đào tạo khác trên cơ sở năng lực thực tế, tinh thần đam mê nghề nghiệp và khả năng ngoại ngữ, tin học, phong cách tác nghiệp báo chí hiện đại.
Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng toàn diện về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ cho đội ngũ những người làm báo, đảm bảo đáp ứng nhiệm vụ được giao. Xem xét quy định lại các tiêu chí, quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với thực tế nhu cầu tại tỉnh nhằm lựa chọn được nguồn nhân lực chất lượng cao cho các vị trí quan trọng tại các cơ quan báo chí và cơ quan quản lý cấp tỉnh, huyện.
3.2.5. Đổi mới nội dung chương trình phát thanh – truyền hình trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
- Đối với lĩnh vực phát thanh
Tăng cường các chương trình phát thanh mở, phát thanh thực tế, phát thanh tương tác có sự tham gia trực tiếp của thính giả vào chương trình, tạo ra sân chơi thú vị cho thính giả nghe đài. Đẩy mạnh việc sản xuất, phát sóng những tin bài đối thoại, tọa đàm, bình luận mang tính chất phản biện xã hội. Thay đổi kết cấu, nội dung của chương trình phát thanh sao cho nội dung phong phú, cách thức thể hiện đa dạng, phù hợp với thị hiếu bạn nghe đài. Tập trung sản xuất các chương trình phản ánh các vấn đề mà dư luận xã hội quan tâm, phản ánh thông tin đa chiều các vấn đề như công nghiệp, xây dựng, giáo dục, y tế, thương mại, du lịch… Chú trọng xây dựng chương trình phát thanh cho người dân tộc thiểu số, phục vụ nhu cầu thông tin của các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh. Định hướng sản xuất chương trình theo nhóm bạn nghe đài, đáp ứng nhu cầu thông tin và là sân chơi cho mọi lứa tuổi. Luận văn: Giải pháp pháp luật về lĩnh vực phát thanh truyền hình.
- Đối với lĩnh vực truyền hình
Đối với kênh truyền hình hiện tại, nội dung chủ yếu phục vụ nhiệm vụ chính trị, bảo đảm đúng định hướng chính trị, thông tin kịp thời, đa dạng, sinh động, phong phú. Tăng thời lượng chương trình xúc tiến thương mại và đầu tư góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh. Chú trọng xây dựng chương trình truyền hình cho người dân tộc thiểu số, phục vụ nhu cầu thông tin của bộ phận này trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh hợp tác sản xuất nội dung giải trí trên truyền hình, xây dựng gameshow, sản xuất phim truyện, phim tài liệu, các chuyên đề… Chương trình truyền hình của Đài PT&TH tỉnh sẽ tiến tới việc chia thành mảng truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, mảng truyền hình quảng bá và các mảng còn lại.
Kênh QRT2: Kênh thể thao, giải trí, tổng hợp và thông tin đối ngoại, quảng bá tỉnh. Đối với mảng nội dung thể thao, giải trí phát triển nội dung theo hướng hợp tác với các đơn vị truyền thông. Nội dung thông tin đối ngoại, quảng bá tỉnh chú trọng sản xuất các chương trình tiếng nước ngoài, hướng đến một số quốc gia có đầu tư và định hướng đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp tại địa phương và khu vực (có thể sản xuất các chương trình bằng các ngôn ngữ: tiếng Anh, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…) phục vụ cho nhiệm vụ đối ngoại của tỉnh, đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế, cung cấp thông tin, quảng bá tỉnh ra cả nước và thế giới.
Kênh QRT3: Kênh chuyên biệt về nội dung công nghiệp, khoa học và công nghệ, nông nghiệp, giáo dục, y tế… Ngoài việc thông tin về hoạt động công nghiệp, khoa học và công nghệ, nông nghiệp, giáo dục, y tế… tại Vĩnh Phúc, kênh này còn tổng hợp, cung cấp thông tin các nội dung nói trên ở Việt Nam và trên thế giới.
3.2.6. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát Luận văn: Giải pháp pháp luật về lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Tiếp tục phối hợp đẩy mạnh, tăng cường công tác kiểm tra, đo đạc, đánh giá chất lượng thiết bị phát thanh, phát hình theo tinh thần chỉ đạo tại Chỉ thị số 03/CT-BTTTT ngày 03/8/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về “Tăng cường công tác quản lý chất lượng thiết bị phát thanh – truyền hình và truyền thanh không dây”.
Kiên quyết không để tồn tại các Đài truyền thanh không dây không có giấy phép ĐKTS trên địa bàn. Có biện pháp xử lý mạnh đối với các trường hợp cố tình vi phạm hoặc để vi phạm kéo dài, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường hiệu lực của công tác quản lý nhà nước. Tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý chuyên ngành, đáp ứng được sự phát triển ngày càng nhanh của công nghệ vô tuyến cũng như mật độ sử dụng tần số vô tuyến.
Tiểu kết chương 3
Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện PLVBC là đòi hỏi của nhu cầu khách quan. Trên cơ sở phân tích xu hướng phát triển của báo chí đồng thời trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về báo chí, tác giả đã khẳng định sự cần thiết phải hoàn thiện PLVBC. Hoàn thiện PLVBC là một yêu cầu khách quan trong tình hình hiện nay. Việc hoàn thiện PLVBC phải được tiến hành từng bước, đảm bảo giữ vững ổn định chính trị, xã hội; trên cơ sở gắn với việc hoàn thiện cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật và phải đảm bảo tính phù hợp, khả thi. Các giải pháp được thực hiện đồng bộ và vận dụng phù hợp với điều kiện thực tế để công tác thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật về lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình nhằm bảo đảm cho phát thanh – truyền hình hoạt động ổn định, đúng pháp luật và phát triển phù hợp với xu thế chung của xã hội. Về mặt lý luận, luận văn “Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” đã đưa ra được các khái niệm về phát thanh – truyền hình, khái niệm về thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình. Đồng thời luận văn đã phân tích rõ các nội dung, hình thức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình.
Về mặt thực tiễn, luận văn đã đánh giá việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam, trong đó nêu lên những ưu điểm và tồn tại hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế trong thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình tại tỉnh Quảng Nam. Dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình tại tỉnh Quảng Nam, qua phân tích nguyên nhân của những hạn chế và các định hướng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình, luận văn đưa ra các giải pháp hoàn thiện thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh – truyền hình tỉnh Quảng Nam nói riêng và các tỉnh trong nước nói chung. Luận văn: Giải pháp pháp luật về lĩnh vực phát thanh truyền hình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực tiễn pháp luật trong lĩnh vực phát thanh truyền hình