Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật của nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không, sân bay tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH VIỆC NHƯỢNG QUYỀN KHAI THÁC KẾT CẤU HẠ TẦNG CẢNG HÀNG KHÔNG, SÂN BAY

Các cảng hàng không sân bay là thành phần chính của vận tải hàng không. Các thành phần cơ bản của hạ tầng cảng hàng không sân bay là đường băng, đường lăn, đường cất hạ cánh, sân đỗ, các nhà ga hành khách và hàng hóa. Hiện nay, cấu trúc pháp luật điều chỉnh việc nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay tại Việt Nam có các văn bản quy phạm pháp luật sau có tính pháp lý cao nhất là Bộ luật dân sự 2015, Luật hàng không dân dụng 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2014, Luật đấu thầu 2013, Luật đầu tư 2014, Luật quản lý và sử dụng tài sản công 2017. Bộ luật dân sự 2015 đưa ra những nguyên tắc cơ bản nhất về cách thức, trình tự giao kết hợp đồng, là bước để các bên cụ thể hóa các quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ theo nhu cầu, mong muốn của từng bên dựa trên cơ sở thỏa thuận. Luật hàng không dân dụng 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 cụ thể hóa hơn đối tượng, chủ thể và các điều kiện tiên quyết để thực hiện việc nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay. Luật đấu thầu 2013 cung cấp quy trình, hình thức, hồ sơ cơ bản để lựa chọn được nhà đầu tư tư nhân phù hợp để thực hiện hợp đồng nhượng quyền. Luật đầu tư 2014 quy định các điều kiện, hình thức hợp đồng nhượng quyền sẽ được áp dụng. Luật quản lý và sử dụng tài sản công 2017 đưa ra quy định chế độ quản lý, sử dụng tài sản công cũng như quyền và trách nhiệm của các đối tượng liên quan trong việc quản lý, sử dụng tài sản công là kết cấu hạ tầng cảng hàng không. Bên cạnh đó, để thực hiện hoàn chỉnh quá trình chuyển nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay, không thể không nhắc đến sự điều chỉnh của Luật Ngân sách nhà nước 2015, Luật xây dựng 2014.

Ngoài các quy định của pháp luật Việt Nam, do tính chất đặc thù của ngành hàng không, Việt Nam còn phải đáp ứng được các yêu cầu và quy định của luật hàng không quốc tế, hiện nay là Công ước hàng không dân dụng quốc tế Chicago 1944. Việc áp dụng, thi hành, điều phối Công ước này được ICAO, một cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc thực hiện.

2.1.1. Công ước Chicago và các tài liệu hướng dẫn của ICAO

Năm 1980, Việt Nam gia nhập Công ước hàng không dân dụng quốc tế Chicago và chính thức trở thành thành viên của ICAO. Công ước được xem là nền tảng pháp lý ban hành các quy định của hàng không dân dụng thế giới, thiết lập nghĩa vụ pháp lý cho các nước thành viên để hoàn thành các mục tiêu của mình. Theo quy định tại điều 28 Công ước Chicago, mỗi quốc gia thành viên có trách nhiệm thiết lập các cảng hàng không trên lãnh thổ quốc gia mình, đảm bảo phù hợp với tiêu chuẩn và các khuyến nghị của ICAO. Đối với nội dung nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng hàng không, ICAO cụ thể hóa bằng tài liệu hướng dẫn Doc 9082, xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc của Công ước Chicago.

Một trong những hình thức phổ biến nhất của nhượng quyền là hình thức Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao (BOT), một quan hệ sở hữu và quản lý, theo đó một bên là chủ thể là tư nhân được trao quyền tài trợ, xây dựng và vận hành một cơ sở hạ tầng nhất định, bao gồm đất đai và / hoặc tòa nhà trong một khoảng thời gian nhất định, và khi hết hạn thì phải được chuyển giao lại cho chủ sở hữu. Hình thức này được xem là một trong những xu hướng đầu tiên của việc tư nhân hóa các lĩnh vực cung cấp dịch vụ công, là tiền đề cho các hình thức khác như Xây dựng – Chuyển giao – Vận hành (BTO), Xây dựng – Cho thuê – Chuyển giao (BLT),…

Tài liệu cũng hướng dẫn các quốc gia khi thực hiện nhượng quyền cho tổ chức tư nhân ngoài việc xem Công ước Chicago là các khung pháp lý hàng không bắt buộc, các nước cần lưu ý một số hướng dẫn, tài liệu của ICAO sau: Tài liệu hướng dẫn lập kế hoạch sân bay số 9184, tài liệu hướng dẫn sử dụng dịch vụ sân bay số 9137 và tài liệu hướng dẫn tư nhân hóa các sân bay và dịch vụ hàng không số 9980. Ngoài ra, các quốc gia cần rà soát và cẩn trọng đối với các nội dung sau: Thứ nhất, lưu ý trong việc quyết định các dịch vụ hàng không sẽ được nhượng quyền cho khu vực tư nhân và các dịch vụ sẽ vẫn chịu sự quản lý, khai thác, điều phối của Nhà nước cũng như các tiêu chuẩn được áp dụng cho các dịch vụ. Thứ hai, quy hoạch tổng thể và kế hoạch đầu tư khi nhượng quyền khai thác cảng hàng không sân bay phải đủ linh hoạt để có thể điều chỉnh trong tương lai đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng. Thứ ba là sự phù hợp giữa thời hạn nhượng quyền và mức độ đầu tư được thực hiện. Thứ tư là hợp đồng giữa Nhà nước và nhà điều hành sân bay tư nhân phải là kết quả của quá trình đấu thầu rộng rãi, cạnh tranh đảm bảo công khai, minh bạch, chất lượng và hiệu quả. Thứ năm, hệ thống nhượng quyền được các bên liên quan dự tính các rủi ro và có phương án xử lý.

2.1.2. Bộ luật dân sự 2015 Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

Việc nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay được thể hiện trên việc thỏa thuận để xác lập và cùng nhau phối hợp thực hiện hợp đồng theo những nội dung các bên đã cam kết. Tuy hợp đồng nhượng quyền này sẽ được điều chỉnh bởi những quy định riêng tại luật chuyên ngành – Luật hàng không dân dụng năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thực hiện, nhưng trên cơ sở vẫn phải đáp ứng nguyên tắc, thủ tục chung được quy định bởi Bộ luật dân sự 2015 về một số nội dung chính như việc giao kết hợp đồng.

Giao kết hợp đồng dân sự được hiểu là việc các bên tham gia thể hiện mong muốn và ý chí của bản thân theo những thủ tục và trình tự nhất định nhằm xác lập một thỏa thuận chung trong đó xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau. Pháp luật dân sự quy định việc giao kết hợp đồng dân sự trải qua hai giai đoạn như sau:

Giai đoạn một: Một bên phải đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng. Theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật dân sự 2015, đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng. Như vậy, bên mong muốn được giao kết hợp đồng sẽ thể hiện một cách tự nguyện ý chí của mình cho bên kia rằng bản thân mong muốn đi đến thỏa thuận với bên được đề nghị để đạt được kết quả chung, xác lập đối tượng, chủ thể và trách nhiệm, quyền hạn,… của các bên. Thời điểm có hiệu lực của giao kết hợp đồng được quy định tại điều 388 Bộ luật dân sự 2015, bao gồm: do hai bên ấn định hoặc Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó. Việc thay đổi, rút lại, hủy bỏ hoặc chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng cũng được cụ thể hóa tại Bộ luật dân sự 2015.

Giai đoạn hai: Bên nhận được đề nghị giao kết hợp đồng chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng về việc đồng ý với toàn bộ nội dung của đề nghị và phải thực hiện việc trả lời trong thời hạn nêu trong đề nghị giao kết hoặc một thời hạn hợp lý nếu đề nghị giao kết không quy định thời hạn trả lời. Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng khi xảy ra trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: đề nghị giao kết trong trường hợp này vẫn có giá trị sau khi bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng.

Kể từ thời điểm bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được phản hồi chấp nhận từ bên được đề nghị giao kết thì hợp đồng dân sự được xem là đã giao kết. Ngoài ra, trong trường hợp các bên có thỏa thuận chấp nhận việc im lặng không trả lời trong một thời hạn nhất định là đồng ý giao kết hợp đồng thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản.

Như vậy, trên cơ sở các quy định cơ bản, nền tảng của Bộ luật dân sự 2015 về giao kết hợp đồng thì các đối tác trong quan hệ nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay sẽ có những thỏa thuận đặc thù, nhưng nguyên tắc riêng để triển khai thực hiện hợp đồng đảm bảo quyền và lợi ích và ý chí của các bên.

Bên cạnh đó, vấn đề tiên quyết để thực hiện được việc nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay, các bên tham gia vào quan hệ này cần xác định cụ thể quyền đối với tài sản mà mình đang nắm giữ/ sẽ nhận chuyển nhượng, ở đây cụ thể là quyền sở hữu tài sản. Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

Theo quy định tại Điều 158 Bộ luật dân sự 2015 “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”.

Quyền chiếm hữu tài sản được quy định tại Điều 179 Bộ luật dân sự 2015 “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản; Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu không phải là chủ sở hữu. Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ xác lập quyền sở hữu, trừ trường hợp quy định tại các điều 228, 229, 230, 231, 232, 233 và 236 của Bộ luật này”.

Đối với quyền chiếm hữu của chủ sở hữu tài sản: trên cơ sở luật pháp và đạo đức xã hội, chủ sở hữu tài sản được nắm giữ, kiểm soát và chi phối tài sản của mình, mà không bị khống chế về mặt thời gian.

Đối với quyền chiếm hữu của người được ủy quyền quản lý tài sản bởi chủ sở hữu: căn cứ vào phạm vi ủy quyền, người được ủy quyền quản lý tài sản sẽ thực hiện việc chiếm hữu theo cách thức, nội dung, thời hạn được chủ sở hữu quy định.

Đối với quyền chiếm hữu của được giao tài sản thông qua một giao dịch dân sự (trừ trường hợp chuyển giao quyền sở hữu tài sản): người được giao tài sản chỉ được thực hiện hành vi chiếm hữu theo đúng nội dung, mục đích giao dịch, và quyền chiếm hữu co thể được chuyển giao cho người thứ ba nếu được chủ sở hữu tài sản đồng ý.

Về quyền sử dụng tài sản: Điều 189 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật”. Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

Chủ sở hữu tài sản được thực hiện mọi hành vi để sử dụng tài sản theo ý muốn của mình nhưng phải đảm bảo việc sử dụng không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội; Đối với người không phải là chủ sở hữu: được sử dụng tài sản theo thoả thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.

Về quyền định đoạt tài sản: Điều 192 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu huỷ tài sản”. Chủ thể có quyền định đoạt có thể là chủ sở hữu hoặc không. Điều 194 quy định về quyền định đoạt đối với chủ sở hữu “Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu huỷ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản”. Điều 195 quy định quyền định đoạt đối với người không phải chủ sở hữu: “Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật”.

Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định những hạn chế cơ bản của quyền định đoạt, thể hiện cụ thể tại Điều 196: “1. Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do luật quy định; 2. Khi tài sản đem bán là tài sản thuộc di tích lịch sử – văn hoá theo quy định của Luật di sản văn hoá 2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua; Trường hợp cá nhân, pháp nhân có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó”.

Như vậy, để nhận định được tính hợp pháp của việc chuyển nhượng bất cứ tài sản nào thuộc kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay, tác giả cần nghiên cứu các quy định cụ thể tại luật chuyên ngành nhằm xác định được cơ sở pháp lý cho việc nhượng quyền này.

2.1.3. Luật thương mại 2005 Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

Luật thương mại 2005 đã có nhiều nội dung đề cập đến vấn đề nhượng quyền. Tuy nhiên, vấn đề cơ bản là nhượng quyền thương mại. Vậy nhượng quyền thương mại và nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay có mối liên hệ nào với nhau hay không, qua phần phân tích này, kết hợp với việc nghiên cứu pháp luật chuyên ngành hàng không, tác giả sẽ đưa ra kết luận đối với hai loại hình nhượng quyền này.

Tại Việt Nam, nhượng quyền thương mại được định nghĩa tại Điều 284, Mục 8, Chương IV Luật thương mại năm 2005. Theo đó, Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mau bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau: Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền và Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận nhượng quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.

Đặc điểm của nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam được thể hiện qua chủ thể, đối tượng và mối liên hệ giữa các chủ thể của hoạt động này, bao gồm bên nhượng quyền và bên nhận nhượng quyền với đối tượng là quyền thương mại. Hai bên chủ thể khi tham gia hợp đồng này luôn phải có sự kiểm soát, hỗ trợ và không thể tách rời lẫn nhau trong suốt quá trình thực hiện việc kinh doanh. Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

Để một doanh nghiệp có thể thực hiện được việc nhượng quyền thương mại, các điều kiện sau đây cần phải đáp ứng: doanh nghiệp đã có vị trí vững mạnh trên thị trường, được nhiều người biết đến và có sản phẩm, dịch vụ được ưa chuộng. Theo đó, những doanh nghiệp này cũng sẽ củng cố và nâng cao thương hiệu cũng như cố gắng tạo sự khác biệt đối với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại, cùng thị trường… Uy tín của doanh nghiệp cũng là một điều kiện cần thiết để các bên nhận nhượng quyền yên tâm khi hợp tác kinh doanh thông qua hình thức nhượng quyền thương mại. Doanh nghiệp cũng sẽ khó thực hiện nhượng quyền nếu mô hình kinh doanh không thể nhân rộng và thay đổi cho phù hợp với từng điều kiện địa lý, văn hóa. Để có thể làm được điều này, doanh nghiệp cần phải đáp ứng được yêu cầu về tài chính, có phương án thực hiện nhượng quyền khả thi và có khả năng sinh lời, đồng thời đảm bảo quy mô kinh doanh được nhân rộng, mang lại thêm nhiều khách hàng tiềm năng, thương hiệu được quảng bá rộng rãi hơn. Một điều kiện không kém phần quan trọng là năng lực quản lý mô hình kinh doanh theo hình thức nhượng quyền này. Doanh nghiệp cần đảm bảo mình có đủ đội ngũ nhân lực có chuyên môn, kinh nghiệp quản lý để duy trì, phát triển và mở rộng thêm hệ thống nhượng quyền.

2.1.4. Luật hàng không dân dụng 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2014

2.1.4.1. Khái niệm càng hàng không, sân bay và kết cấu hạ tầng cảng hàng không, sân bay

Ngày nay, hàng không Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với sự tăng trưởng nhanh chóng. Đội ngũ máy bay khai thác của các hãng hàng không Việt Nam được dự đoán sẽ tăng trưởng từ 129 chiếc vào năm 2016 lên đến hơn 200 chiếc vào năm 2020 và đến năm 2030 sẽ đạt mức trên 400 chiếc. Để đáp ứng được mức độ gia tăng nhanh chóng của lĩnh vực giao thông này trong quá trình hội nhập quốc tế, kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay càng phải được chú trọng đầu tư, nâng cấp và mở rộng. Đây cũng đang là thách thức của ngành giao thông vận tải trong giai đoạn hiện nay. Như vậy, tác giả khẳng định các cảng hàng không là kết cấu hạ tầng và là điều kiện tiên quyết để ngành hàng không phát triển cũng như kích thích sự tăng trưởng của các dịch vụ đồng bộ khác. Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

Điều 47 Luật hàng không dân dụng 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã quy định “Cảng hàng không là khu vực xác định, bao gồm sân bay, nhà ga và trang bị, thiết bị, công trình cần thiết khác được sử dụng cho tàu bay đi, đến và thực hiện vận chuyển hàng không”, và “Sân bay là khu vực xác định được xây dựng để bảo đảm cho tàu bay cất cánh, hạ cánh và di chuyển”.

Kể từ khi Luật hàng không dân dụng ra đời vào năm 2006 đến năm 2015, mặc dù khái niệm cảng hàng không sân bay được đề cập nhưng chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa hay diễn giải thế nào là kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay hoặc những công trình nào thuộc cảng hàng không sân bay. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc mọi kết cấu hạ tầng, mọi tài sản liên quan đến cảng hàng không sân bay đều thuộc quyền quản lý, khai thác và đầu tư xây dựng của nhà nước. Nhà nước sử dụng chính nguồn vốn của mình để duy trì, bảo dưỡng những tài sản này và giao cho một số đơn vị thuộc hệ thống quản lý của mình làm người điều hành, khai thác chúng (lúc bấy giờ là Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam). Tuy nhiên, kể từ khi ngành hàng không bắt đầu thực hiện chủ trương xã hội hóa thì việc đầu tư, xây dựng các tài sản này cần có sự phối hợp của các nguồn vốn khác bên cạnh nguồn vốn nhà nước. Ngoài ra, chủ thể quản lý và khai thác các tài sản này cũng được cân nhắc luật hóa nhằm vừa đảm bảo được an ninh quốc gia, vừa thu hút được nguồn vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân khác. Nghị định số 102/2015/NĐ-CP được ban hành 20/10/2015 về quản lý, khai thác cảng hàng ko, sân bay, kết cấu hạ tầng cảng hàng không đã bổ sung và hoàn thiện khá nhiều các quy định của hệ thống văn bản pháp luật ngành hàng không, đáp ứng được tình hình phát triển và tăng trưởng nhanh của ngành, đồng thời đã xác định được các đối tượng cần phải được sự quản lý của nhà nước, đối tượng nào cần kêu gọi sự tham gia đầu tư, khai thác của tư nhân. Do đó, việc định nghĩa và diễn giải các khái niệm mang ý nghĩa quan trọng, bao gồm khái niệm về kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay, đây được xem là bước đầu tiên quan trọng để xác định được quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan.

Theo quy định tại khoản 2, điều 2, Nghị định số 102/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 về quản lý, khai thác cảng hàng không sân bay, kết cấu hạ tầng cảng hàng không bao gồm kết cấu hạ tầng sân bay; Các công trình phục vụ, cung cấp các dịch vụ hàng không và đảm bảo an ninh an toàn của sân bay và các công trình liên quan khác (Công trình cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay; Công trình phục vụ bảo đảm an ninh hàng không, khẩn nguy sân bay; Công trình hàng rào cảng hàng không; đường giao thông nội bộ trong cảng hàng không; công trình cấp điện; công trình cấp, thoát nước; công trình chiếu sáng; Công trình nhà ga hành khách, nhà ga hàng hóa…). Theo đó, tác giả tóm tắt lại khái niệm về kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay như sau: Kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay là một hệ thống các công trình nằm trong khu vực đất CHKSB, phục vụ cho các hoạt động liên quan đến việc quản lý, khai thác tài sản trên đất nhằm cung cấp dịch vụ cho hành khách đi máy bay và các nhiệm vụ an ninh, quốc phòng khác. Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

2.1.4.2. Khái niệm nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng tại cảng hàng không, sân bay

Từ khi pháp luật hàng không tại Việt Nam ra đời, nội dung nhượng quyền khai thác được định hình và được sử dụng đến ngày nay. Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật ngành hàng không đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có quy định cụ thể hay định nghĩa chính xác thế nào là nhượng quyền khai thác. Theo quy định pháp luật hàng không, hiện nay tại Việt Nam, người khai thác cảng hàng không sân bay phải có trách nhiệm nộp phí nhượng quyền khai thác cảng hàng không sân bay (bao gồm phí nhượng quyền khai thác dịch vụ đảm bảo hoạt động bay và phí nhượng quyền khai thác dịch vụ kinh doanh cảng hàng không – là dịch vụ khai thác kết cấu hạ tầng sân bay và các công trình khác thuộc kết cấu hạ tầng cảng hàng không thuộc phạm vi quản lý của doanh nghiệp cảng hàng không nhằm mục đích sinh lợi) cho Cảng vụ hàng không theo quy định của Bộ Tài chính.

Qua quy định trên, quyền khai thác cảng hàng không sân bay bản chất không thuộc sở hữu của những người khai thác cảng hàng không sân bay, mà thuộc sở hữu của Nhà nước. Người khai thác cảng hàng không sân bay chỉ đang là đối tượng được Nhà nước trao quyền khai thác, do đó quyền khai thác dịch vụ kinh doanh cảng hàng không sân bay sẽ chỉ được phép chuyển nhượng bởi Người khai thác cảng hàng không sân bay khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận, cho phép. Bên cạnh đó, một khái niệm khác được đề cập, là “phí nhượng quyền khai thác”: doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không tại cảng hàng không sân bay, không phải là dịch vụ bảo đảm hoạt động bay hoặc dịch vụ vận chuyển hàng không, nộp phí nhượng quyền khai thác cho người khai thác cảng hàng không sân bay. Theo quy định tại điều 15 Nghị định 92/2016/NĐ-CP, các dịch vụ hàng không bao gồm: khai thác nhà ga hành khách, khai thác nhà ga/ kho hàng hóa, cung cấp xăng dầu hàng không, phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất, cung cấp suất ăn hàng không, sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện/ trang thiết bị hàng không, kỹ thuật hàng không và dịch vụ khai thác khu bay. Vậy, Người khai thác cảng hàng không sân bay có quyền chuyển nhượng tất cả các dịch vụ hàng không gắn liền với việc kinh doanh cảng hàng không sân bay theo quy định trên cho các chủ thế khác không?

Tháng 3 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/2018/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng không. Tại các văn bản quy phạm pháp luật trước đây, cũng như ngay tại Nghị định này, không có bất cứ định nghĩa nào giải thích cho cụm từ “tài sản kết cấu hạ tầng hàng không”, mà chỉ có “kết cấu hạ tầng hàng không”, trong đó có liệt kê cụ thể những công trình nào thuộc kết cấu hạ tầng hàng không. Như vậy, có thể hiểu “tài sản kết cấu hạ tầng hàng không” cũng bao gồm, sân bay, nhà ga, và các công trình liên quan. Cũng theo Nghị định này “Tài sản kết cấu hạ tầng hàng không đã tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, pháp luật chuyên ngành hàng không và pháp luật có liên quan; Tài sản kết cấu hạ tầng hàng không gắn với mặt đất, mặt nước chưa tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được quản lý, sử dụng theo quy định của Luật quản lý sử dụng tài sản công 2017 và Nghị định này.” Hiện nay, trừ cảng hàng không quốc tế Vân Đồn thuộc sự quản lý của khu vực tư nhân, thì tất cả các kết cấu hạ tầng khu bay đều chưa thuộc quyền quản lý của tố chức nào. Một phần do những tài sản này không có khả năng sinh lợi, chi phí đầu tư lớn và thường xuyên phải duy tu, bảo trì. Thứ hai, những tài sản này ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh an toàn hàng không cũng như tác động trực tiếp đến an ninh quốc phòng của địa phương, đất nước. Do đó việc quyết định đối tượng được quyền quản lý những tài sản này vẫn chưa được Bộ Giao thông vận tải quyết định. Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

Nghị định này cũng đã cho phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhượng quyền khai thác có thời hạn đối với tài sản kết cấu hạ tầng hàng không mà chưa tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Theo đó, việc nhượng quyền này gắn với việc đầu tư nâng cấp, mở rộng tài sản kết cấu hạ tầng hàng không hiện có theo dự án đã được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt theo Hợp đồng để nhận một khoản tiền tương ứng. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thực hiện việc nhượng quyền theo quy định này cho bất cứ tổ chức hay cá nhân nào.

Căn cứ các quy định trên, tác giả trả lời câu hỏi vừa đặt ra: nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng hàng không thực tế hiện nay đang được áp dụng cụ thể chỉ với dịch vụ khai thác nhà ga hành khách, khai thác nhà ga/ kho hàng hóa. Các tài sản khu bay hiện nay vẫn đang chịu sự quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, như vậy Người khai thác cảng hàng không sân bay chưa có quyền để chuyển nhượng quyền khai thác các tài sản này cho các tổ chức/ cá nhân khác.

Quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay sẽ bao gồm những quyền cụ thể nào và áp dụng cho những dịch vụ nào? Theo định nghĩa cùng các quy định của pháp luật về kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay, quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay bao gồm quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay và/ hoặc quyền khai thác các công trình phục vụ, cung cấp các dịch vụ hàng không và đảm bảo an ninh an toàn của sân bay và các công trình liên quan khác, quyền thu các loại phí liên quan, quyền kinh doanh các cơ sở dịch vụ, quyền đầu tư kết cấu hạ tầng, quyền thực hiện quảng cáo,…

Chủ thề và điều kiện của các chủ thể các bên tham gia quan hệ nhượng quyền khai thác cảng hàng không sân bay như sau:

Đối với bên nhượng quyền: chủ thể là người khai thác cảng hàng không sân bay. Theo quy định tại khoản 1 điều 2 Nghị định 102/2015/NĐ-CP, người khai thác cảng hàng không sân bay là tổ chức được cấp giấy chứng nhận khai thác cảng hàng không sân bay, khi có đủ các điều kiện: Đáp ứng yêu cầu về tổ chức, trang bị, thiết bị và các yếu tố cần thiết khác để bảo đảm an toàn hàng không, an ninh hàng không và phải bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật của cảng hàng không sân bay và khu vực lân cận cảng hàng không sân bay. Theo đó, giấy chứng nhận khai thác cảng hàng không sân bay sẽ được cấp cho người khai thác cảng hàng không sân bay tại mỗi cảng hàng không sân bay. Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

Đối với bên nhận nhượng quyền: chủ thể là các doanh nghiệp được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ hàng không tại cảng hàng không sân bay. Theo đó, doanh nghiệp phải đáp ứng đủ các điều kiện sau theo quy định của pháp luật hàng không dân dụng: đảm bảo tổ chức bộ máy hoạt động đáp ứng được việc cung cấp các loại hình dịch vụ khai thác nhà ga hành khách/ hàng hóa; nhân viên, người lao động được cấp phép, có đủ các chứng chỉ phù hợp, đáp ứng các tiêu chuẩn, yêu cầu chuyên môn công tác; đáp ứng các điều kiện, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành về bảo đảm an toàn hàng không, an ninh hàng không, phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng và pháp luật khác có liên quan; mức vốn tối thiểu để thành lập, duy trì doanh nghiệp cung cấp dịch vụ khai thác nhà ga hành khách, hàng hóa là 30 tỷ đồng Việt Nam và tỷ lệ vốn góp của cá nhân, tổ chức nước ngoài không được quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp này.

Ngoài ra, nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay còn có những đặc điểm sau: Đối tượng của nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay là quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay, bao gồm hệ thống các quyền khai thác, đầu tư, vận hành tài sản kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay, quyền quảng cáo, quyền cung cấp dịch vụ, quyền định giá với các dịch vụ phi hàng không tạo nên sự khác biệt với các kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay khác. Bên cạnh đó, nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay áp dụng riêng cho từng cảng hàng không sân bay riêng biệt, không theo mô hình thống nhất giữa các cảng hàng không sân bay. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm xây dựng, đầu tư tài sản kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay có quyền lựa chọn thiết kế, hình thức kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay theo quan điểm riêng, tuy nhiên một số quy chuẩn kỹ thuật về xây dựng vẫn phải đáp ứng yêu cầu của pháp luật.

Mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận nhượng quyền mang tính bổ sung lẫn nhau. Trong khi bên nhượng quyền cung cấp các cơ sở hạ tầng chủ chốt đảm bảo an ninh an toàn của cảng hàng không sân bay và khu vực lân cận, cũng như đảm bảo cơ sở pháp lý đối với quyền sử dụng đất của khu đất hình thành kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay, bên nhận nhượng quyền nắm giữ hiệu quả kinh tế nhờ sở hữu nguồn vốn dồi dào, khả năng kinh doanh, khai thác tốt, vốn là những điều bên nhượng quyền khó thực hiện được.

2.2. MỐI LIÊN HỆ GIỮA NHƯỢNG QUYỀN KHAI THÁC KẾT CẤU HẠ TẦNG CẢNG HÀNG KHÔNG, SÂN BAY VỚI NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH TẠI LUẬT THƯƠNG MẠI 2005 Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

Như vậy, rõ ràng so với nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay thì nhượng quyền thương mại có đối tượng điều chỉnh hoàn toàn khác. Đối tượng của “nhượng quyền thương mại” là quyền sở hữu trí tuệ và các trợ giúp kỹ thuật có liên quan bao gồm nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo, bí quyết và uy tín của bên nhượng quyền; trong khi đó đối tượng trong “nhượng quyền khai thác” là “quyền khai thác” bao gồm quyền đầu tư, quản lý, vận hành khai thác kết cấu hạ tầng, định giá các dịch vụ phục vụ hành khách trong trường hợp pháp luật không quy định khung giá. Nhượng quyền thương mại thường được sử dụng khi bên nhượng quyền đã có mô hình kinh doanh và thương hiệu đủ mạnh, có tiềm lực tài chính và khả năng quản lý hệ thống nhượng quyền của mình. Tuy nhiên, nhượng quyền kinh doanh kết cấu hạ tầng thường được sử dụng khi bên nhượng quyền không có đủ tiềm lực tài chính để đầu tư, nâng cấp kết cấu hạ tầng của mình, quá trình quản lý kinh doanh không được như mong đợi, phản ứng của hành khách không tốt. Xét góc độ thời gian của thỏa thuận nhượng quyền: nhượng quyền thương mại thường được thực hiện trong thời gian không quá năm năm, còn nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng thường kéo dài từ mười đến ba mươi năm do chi phí bỏ ra để đầu tư cho kết cấu hạ tầng thông thường rất lớn và cần nhiều thời gian đề thu hồi vốn đồng thời kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư, khai thác này.

Nhượng quyền thương mại là hoạt động kinh doanh theo mô hình thống nhất. Bên nhận nhượng quyền phải tuân thủ mô hình nhượng quyền thương mại do bên nhượng quyền đặt ra nhằm duy trì hình ảnh và thương hiệu, chất lượng của sản phẩm, dịch vụ. trong khi đó nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay thực hiện đối với từng đối tượng cảng hàng không sân bay riêng lẻ, tùy thuộc quy mô, điều kiện dân cư, kinh tế – xã hội của địa phương mà bên nhượng quyền đưa ra các tiêu chí lựa chọn bên nhận nhượng quyền cũng như yêu cầu về chất lượng, hình thức, dịch vụ tại cảng hàng không sân bay.

Với những điểm hoàn toàn khác biệt giữa nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay và nhượng quyền thương mại theo quy định tại Luật thương mại 2005 đã được phân tích tại phần 2.1.3 nêu trên, tác giả khẳng định việc nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay tại Việt Nam không thể sử dụng các quy định đối với nhượng quyền thương tại trong Luật thương mại 2015 để điều chỉnh. Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Qua việc nghiên cứu và làm rõ quy định của pháp luật trong nước cũng như các quy định của các Công ước mà Việt Nam tham gia ký kết, tác giả đã xác định cụ thể đối tượng kết cấu cảng hàng không sân bay nào được pháp luật cho phép chuyển nhượng quyền khai thác, bên cạnh đó, chủ thể và nội dung chuyển nhượng, cũng như cách thức thực hiện cũng được phân tích cụ thể tại chương này. Hiện nay, việc nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không sân bay tại Việt Nam mới đang bước đầu được thực hiện, chủ yếu tập trung vào đối tượng là các nhà ga hành khách và nhà ga hàng hóa, một phần do đây là những dịch vụ có khả năng sinh lời cao, và các tổ chức không chuyên ngành hàng không vẫn có khả năng quản lý, khai thác. Khởi đầu của việc pháp luật cho phép nhượng quyền khai thác đối với các đối tượng trên đã góp phần mở cửa, xã hội hóa đối với ngành hàng không nói chung, và lĩnh vực quản lý khai thác cảng hàng không sân bay nói riêng, từng bước hội nhập và phù hợp với xu thế hàng không quốc tế. Theo đánh giá của tác giả, để việc nhượng quyền này được thực hiện có hệ thống và mang lại hiệu quả kinh tế cũng như vẫn đảm bảo được an ninh an toàn trong hoạt động bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, trong thời gian tới, hệ thống pháp luật chuyên ngành sẽ có nhiều sự điều chỉnh hơn nữa, đáp ứng được nhu cầu phát triển của sự tăng trưởng ngành hàng không và cảng hàng không sân bay nói riêng. Luận văn: Thực trạng pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn pháp luật khai thác kết cấu hạ tầng sân bay

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464