Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Đề xuất, hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp ở Việt Nam

3.1.1. Nhu cầu hoàn thiện

Hiện nay, hệ thống các văn bản về bảo vệ môi trường Khu công nghiệp đã được chú trọng hoàn thiện, với số lượng văn bản tương đối lớn, điều chỉnh hầu hết các vấn đề từ phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm môi trường, quy định về chất thải rắn, khí thải, nước thải, quan trắc,..Các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp không chỉ được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật bảo vệ môi trường 2014 mà còn được quy định trong các luật, văn bản dưới luật có liên quan. Tuy nhiên thực tiễn thực thi ở Việt Nam còn chưa hiệu quả, phát sinh những tồn tại, hạn chế trong tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp, cụ thể là:

Một là vướng mắc, hạn chế trong việc áp dụng các văn bản pháp luật trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường Khu công nghiệp.

Việc triển khai quy hoạch Khu công nghiệp đã được duyệt của các địa phương còn hạn chế, chưa căn cứ trên khả năng thu hút đầu tư thực tế. nguyên nhân là tư duy quy hoạch còn mang nhiều tính cục bộ, địa phương chưa tính toán đúng mức lợi ích của vùng, quốc gia.

Nguồn nhân lực chuyên trách về môi trường tại các Ban Quản lý: theo quy định [15] có ít nhất 05 biên chế có chuyên môn về bảo vệ môi trường. Nhưng trong thực tế, Ban quản lý Khu công nghiệp phụ trách khối lượng công việc lớn nhưng chỉ có 1-2 cán bộ phụ trách mảng môi trường. Trong khi đó, Sở Tài nguyên và Môi trường các địa phương chỉ quản lý ngoài hàng rào Khu công nghiệp và không có thẩm quyền giám sát các hoạt động trong khuôn viên Khu công nghiệp. Đây là khó khăn rất lớn cho việc kiểm soát hoạt động gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở trong Khu công nghiệp.

Quy định về xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường: Theo Điều 17 Nghị định 18/2015/NĐ-CP quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường quy định việc kiểm tra các công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án được tiến hành thông qua đoàn kiểm tra do thủ trưởng cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cơ quan được ủy quyền thành lập. Như vậy, theo quy định này, Ban quản lý chỉ được thực hiện việc kiểm tra, xác nhận hoàn thành đối với các cơ sở do Ban quản lý phê duyệt báo cáo ĐTM đã được UBND tỉnh ủy quyền. Tuy nhiên, tại khoản 6, điều 1, Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, KKT lại quy định Ban quản lý có thẩm quyền tổ chức kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành dự án đối với các dự án đầu tư trong Khu công nghiệp, KKT theo pháp luật bảo vệ môi trường. Như vậy 02 quy định này không phù hợp với nhau sẽ rất khó khăn trong việc triển khai thực hiện. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Quy định về chuẩn kết nối thiết bị quan trắc tự động: theo quy định tại Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường nhiều Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương chưa có đủ nguồn lực để xây dựng hạ tầng kết nối dữ liệu quan trắc tự động từ Khu công nghiệp.

Quy định về quan trắc môi trường xung quanh: Luật bảo vệ môi trường 2014 đã quy định tất cả chủ cơ sở phải thực hiện quan trắc chất phát thải và quan trắc thành phần môi trường. Tuy nhiên, quy định trong Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT lại chỉ yêu cầu các dự án thực hiện ĐTM chỉ phải quan trắc môi trường xung quanh trong trường hợp cơ sở có phát sinh phóng xạ.

  • Điều này đã khiến các địa phương lúng túng trong quá trình thực hiện.

Hai là bất cập về lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động: Phần lớn các phân khu chức năng trong Khu công nghiệp chưa lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động theo quy định do khó khăn về kinh phí đầu tư hoặc chưa huy động được nguồn đầu tư. Theo khảo sát một số địa phương đã làm tốt việc đầu tư quan trắc tự động như TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai. Việc truyền dữ liệu quan trắc về cơ quan quản lý còn gặp nhiều khó khăn theo số liệu hiện cả nước mới có khoảng 20 tỉnh thực hiện việc truyền dữ liệu và hình ảnh về Chi cục bảo vệ môi trường. Các địa phương còn lại đều chưa thực hiện đầy đủ hệ thống truyền và tiếp nhận dữ liệu quan trắc tự động.

Ba là bất cập trong việc thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra: Thanh tra, kiểm tra là một trong những biện pháp kiểm soát ô nhiễm, quản lý môi trường nhằm giảm thiểu các hành vi vi phạm gây tác động tiêu cực tới môi trường do các hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung, bao gồm cả các hoạt động trong Khu công nghiệp. Hiện nay số lượng các vụ việc vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở các Khu công nghiệp đã giảm so với trước tuy nhiên mức độ và hình thức vi phạm lại phức tạp hơn. Bên cạnh đó, việc giám sát các kết luận thanh tra, khắc phục ô nhiễm môi trường ở các địa phương còn chậm.

Bốn là việc phân bổ và sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường chưa đủ, chưa đúng: Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường ở tất cả các địa phương kinh phí sự nghiệp môi trường dành cho quản lý môi trường nói chung vẫn chưa được bố trí đủ nên hầu hết các hoạt động bảo vệ môi trường, thanh tra, kiểm tra, quan trắc giám sát môi trường định kỳ, phổ biến thông tin ở các Khu công nghiệp chưa được triển khai đồng bộ mà chỉ tập trung để thực hiện ở một số điểm nóng mà không bao quát hết toàn bộ các Khu công nghiệp một cách thường xuyên, liên tục. Một vài địa phương vẫn sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường không đúng mục chi như Bắc Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hưng Yên, An Giang.

Năm là công tác báo cáo, cập nhật thông tin từ các Ban quản lý Khu công nghiệp ở các địa phương chưa được thực hiện đầy đủ: Tại Điều 14, Thông tư 35/2015/TT-BTNMT quy định về việc định kỳ báo cáo công tác bảo vệ môi trường của Khu công nghiệp gửi UBND cấp tỉnh và Bộ Tài nguyên và Môi trường trước ngày 15 tháng 01 hàng năm. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều Ban quản lý, địa phương không thực hiện đúng quy định trên dẫn đến công tác thông tin môi trường Khu công nghiệp chưa được cập nhật đầy đủ, kịp thời.

3.1.2. Định hướng hoàn thiện Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Với mục tiêu nhằm kiểm soát, hạn chế tới mức thấp nhất mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, cải thiện chất lượng môi trường và nâng cao năng lực chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu phát triển đất nước, pháp luật bảo vệ môi trường khu công nghiệp cần được hoàn thiện theo định hướng sau:

Một là đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp phải đảm bảo hướng đến mục tiêu phát triển bền vững nhằm đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại nhưng vẫn giữ được tiềm năng và cơ hội cho các thế hệ mai sau. Quán triệt Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2016 về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là nhấn mạnh quan điểm “không phát triển kinh tế bằng mọi giá; không đánh đổi môi trường lấy kinh tế”, đổi mới phương thức quản lý môi trường “từ bị động giải quyết sang chủ động phòng ngừa”và “từ kiểm soát cuối đường ống sang kiểm soát cuối đường ống kết hợp với kiểm soát cả quá trình xử lý chất thải”, với nhiều quy định mới, đột phá nhằm từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững.

Hai là đáp ứng yêu cầu của nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp: thực hiện các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm được ưu tiên, coi trọng tính hiệu quả, bền vững trong khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Ba là tăng cường sự phối hợp với các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ môi trường trong Khu công nghiệp: bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, là nghĩa vụ của người dân, phải được thực hiện thống nhất trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, phân cấp cụ thể giữa trung ương và địa phương, kết hợp phát huy vai trò của cộng đồng, các tổ chức quần chúng và hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới

Bốn là đảm bảo các yếu tố đặc thù của Khu công nghiệp: tăng cường các biện pháp hành chính, từng bước áp dụng các chế tài hình sự.

Năm là đảm bảo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền: tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ tài nguyên và các giá trị của môi trường phải trả tiền, gây ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên thiên nhiên phải trả chi phí khắc phục, cải tạo, phục hồi và bồi thường thiệt hại

3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường.

3.2.1. Rà soát, hoàn thiện khung pháp lý về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp

Hệ thống pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại Khu công nghiệp luôn được rà soát, sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực thi và bảo đảm phù hợp với xu thế kinh tế hướng tới phát triển bền vững.

Tại Việt Nam, Luật môi trường được xây dựng và ban hành lần đầu tiên năm 1993, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong nhận thức, tổ chức và hoạt động bảo vệ môi trường. Tiếp đó, Luật bảo vệ môi trường 2005 được ban hành cùng với khối lượng lớn các văn bản hướng dẫn thi hành tạo thành hệ thống pháp luật hoàn thiện điều chỉnh trực tiếp và gián tiếp vấn đề bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp [6]. Luật bảo vệ môi trường 2014 tiếp tục bổ sung và hoàn thiện lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp trong điều kiện và hoàn cảnh mới của đất nước. Song cùng với sự phát triển nhanh chóng của đất nước, hệ thống pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp đã bộc lộ những khiếm khuyết, hạn chế cần chỉnh sửa, bổ sung. Cùng với đó là tình trạng buông lỏng quản lý của các cơ quan có thẩm quyền, sự cố tình vi phạm của các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp vì mục đích kinh tế đã dẫn đến môi trường khu vực các Khu công nghiệp ô nhiễm nghiêm trọng.

Khác với khu vực sản xuất công nghiệp thủ công truyền thống, hầu hết các Khu công nghiệp được đầu tư xây dựng tập trung các ngành công nghiệp hiện đại với các trang thiết bị về xử lý chất thải, khí thải. Tuy nhiên, Khu công nghiệp là nơi tập trung nguồn phát thải với nhiều nhà máy cùng hoạt động trên một địa bàn, cùng một thời gian nếu quản lý không tốt sẽ tác động xấu đến môi trường xung quanh.

Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước phát triển về xây dựng luật trong nhận thức của các nhà hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật khi hiến định nguyên tắc con người được sống trong môi trường trong lành tại Điều 43: Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Đồng thời ghi nhận những quy định về điều kiện nhằm thực thi quyền về môi trường: Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lường mới, năng lượng tái tạo; tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Như vậy, Nhà nước phải duy trì các công cụ kiểm soát ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp, trong đó công cụ pháp luật là quan trọng nhất, có tính chất quyết định đến vấn đề bảo vệ môi trường Khu công nghiệp tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất gắn với kiểm soát ô nhiễm môi trường và chế tài đủ mạnh để răn đe, giáo dục các hành vi vi phạm có thể xảy ra.

Nhìn chung, hệ thống pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp đang tiếp tục được quan tâm, hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý cần thiết cho công tác quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay.

  • Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp

Hoàn thiện quy định của pháp luật về công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trong Khu công nghiệp. ĐTM đối với các dự án đầu tư trong Khu công nghiệp ở nước ta trong thời gian qua mới chỉ dừng lại ở mức hình thức. Chính vì vậy, cần có một hành lang pháp lý vững chắc để nâng cao hoạt động của các chủ thể tham gia vào ĐTM. Việc hoàn thiện pháp luật về ĐTM cần theo hướng đảm bảo sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quá trình lập, thẩm định và giám sát thực hiện các báo cáo ĐTM. Xác định rõ người đại diện cho cộng đồng dân cư là ai, trình độ học vấn và ý thức quan tâm đến môi trường của họ ra sao để thể hiện ý chí của cộng đồng dân cư. Cộng đồng dân cư cần được cung cấp thông tin về dự án, về môi trường và cần được giải trình một cách cụ thể. Qua đó nâng cao năng lực cộng đồng về các vấn đề môi trường và yêu cầu với báo cáo ĐTM. Ngoài ra, cũng cần phát huy các phương pháp tuyên truyền, vận động, sử dụng sức mạnh cộng đồng để bài trừ các hành vi gây ô nhiễm môi trường mà doanh nghiệp, xuất phát từ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng báo cáo ĐTM mà doanh nghiệp đã bị cảnh cáo, khiếu nại nhưng vẫn cố tình vi phạm như: tẩy chay không dùng sản phẩm của doanh nghiệp.

Ngoài việc bổ sung các quy phạm liên quan đến việc tham vấn cộng đồng, pháp luật cũng cần có quy định về giám sát, quản lý những người có chuyên môn và nghĩa vụ để lập báo cáo ĐTM. Ngoài ra cũng cần sửa đổi các quy định liên quan đến thời hạn thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM nhằm nâng cao chất lượng thẩm định, phê duyệt báo cáo. Hội đồng thẩm định và phê duyệt cũng cần nâng cao ý thức pháp luật, rà soát nghiêm ngặt để đảm bảo những báo cáo ĐTM có chất lượng, kiên quyết loại bỏ những báo cáo ĐTM còn mang tính hình thức, lắp ghép, không có tính ứng dụng thực tế. Tại Nghị định số 40/NĐ-CP ngày 13/5/2019 đã khắc phục những tồn tại, hạn chế trong Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và Kế hoạch bảo vệ môi trường, cụ thể như sau: Một dự án là một hồ sơ môi trường; đối tượng phải đánh giá tác động môi trường của Phục lục II và Phụ lục IIa có quy định về các loại hình sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và đối tượng phải vận hành thử nghiệm công trình quản lý chất thải; bố cục của báo cáo đánh giá tác động môi trường có điểm khác; thời điểm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; thời gian thẩm định phê duyệt báo cáo đánh giá môi trường của các cơ quan có thẩm quyền cũng thay đổi; quy định chi tiết về đối tượng phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường; trách nhiệm của chủ đầu tư sau khi phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải theo quyết định báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án; quy định thủ tục và thời gian kiểm tra xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp bao gồm các nội dung sau: việc triển khai thực hiện Nghị định số 155/2016/NĐ-CP còn một số tồn tại, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tế hiện nay, cụ thể như: Còn thiếu các quy định đình chỉ cơ sở không có Kế hoạch bảo vệ môi trường thuộc đối tượng cấp huyện cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; thiếu quy định về thực hiện không đúng, không đầy đủ chương trình giám sát môi trường trong Kế hoạch bảo vệ môi trường, Đề án bảo vệ môi trường thuộc thẩm quyền xác nhận của UBND cấp huyện; không có quy định xử phạt đối với hành vi không thực hiện giám sát môi trường định kỳ; đối với nội dung vi phạm các quy định về hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu, cần sửa đổi, bổ sung đối với hành vi không đầu tư đầy đủ thay vì đối với hành vi không đầu tư trang thiết bị ứng phó sự cố tràn dầu; một số hành vi ngoài việc áp dụng hình thức xử phạt chính nhưng chưa được quy định áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động dẫn đến các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường,… Đặc biệt, Nghị định còn đang thiếu quy định về xử phạt đối với hành vi không thực hiện giám sát môi trường định kỳ theo quy định đối với các hồ sơ: Kế hoạch bảo vệ môi trường, Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) thuộc thẩm quyền xác nhận, phê duyệt của Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Khu kinh tế (được UBND cấp tỉnh ủy quyền), Bộ Tài nguyên và Môi trường…

Bên cạnh đó, ngày 13/5/2019 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường. Do vậy trong việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cần hoàn thiện các quy đinh: bổ sung thêm phạm vi điều chỉnh các hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản; bổ sung, làm rõ đối tượng áp dụng của Nghị định, trong đó bổ sung quy định rõ tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nhằm khắc phục vướng mắc trong việc xác định đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính; xác định rõ các hành vi như: Không có Báo cáo đánh giá tác động môi trường, không có Kế hoạch bảo vệ môi trường, Đề án bảo vệ môi trường, không có Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường…; làm rõ hơn cách xác định mức phạt; bổ sung thêm trường hợp đối với mẫu nước thải hoặc bụi, khí thải có cả thông số môi trường nguy hại và các thông số thông thường vượt quy chuẩn kỹ thuật hoặc giá trị pH nằm ngoài ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật thì chọn thông số tương ứng với hành vi vi phạm có khung phạt tiền cao nhất của mẫu nước thải hoặc bụi, khí thải để xử phạt; trường hợp có khung phạt bằng nhau thì thông số nguy hại là thông số để xác định hành vi vi phạm; bổ sung quy định về sử dụng kết quả thu bằng thiết bị, hệ thống quan trắc tự động, liên tục khí thải, nước thải để làm căn cứ xử phạt vi phạm hành chính,… Tại Khoản 1 và 2 của Điều 8 không có quy định đình chỉ cơ sở không có Kế hoạch bảo vệ môi trường thuộc đối tượng cấp huyện cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Nghị định 155/2016/NĐ-CP cũng chưa quy định cụ thể về biện pháp cưỡng chế đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không chấp hành quyết định áp dụng hình thức tạm thời đình chỉ hoạt động, buộc di dời, cấm hoạt động; chưa quy định hành vi không gửi báo cáo quản lý chất thải nguy hại theo quy định; chưa thống nhất mức phạt tiền về hành vi thải rác thải giữa các Nghị định liên quan; một số hành vi ngoài việc áp dụng hình thức xử phạt hành chính nhưng chưa quy định áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động dẫn đến nguy cơ gây ô nhiễm môi trường;…. [19].

Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng được sửa đổi, bổ sung các mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả, phân rõ các nhóm hành vi vi phạm đối với cá nhân; cập nhật dự án đầu tư theo nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt; thông báo cho cơ quan nhà nước trong trường hợp thay đổi chủ dự án; rà soát, cải tạo, nâng cấp các công trình xử lý chất thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật đối với trường hợp trước đây không phải thực hiện thủ tục kiểm tra xác nhận hoàn thành…

Rà soát, điều chỉnh lại các văn bản đã ban hành liên quan đến việc phân cấp quản lý môi trường Khu công nghiệp nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức theo hướng phân cấp và phân công nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể đối với các đơn vị trong hệ thống quản lý môi trường. Các văn bản cần đẩy mạnh phân cấp, giao quyền và trách nhiệm trực tiếp cho Ban quản lý các Khu công nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh thực hiện tốt chức năng của đơn vị quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

Rà soát, hoàn thiện các văn bản liên quan đến các hướng dẫn kỹ thuật trong hoạt động bảo vệ môi trường Khu công nghiệp. Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý các Khu công nghiệp, công an các tỉnh, thành phố sớm ban hành quy chế phối hợp thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ quy định pháp luật về bảo vệ môi trường Khu công nghiệp.

3.2.2. Xây dựng cơ chế, chính sách để đầu tư nguồn lực cho công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường tại Khu công nghiệp Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Chính phủ cần có động thái tích cực nhằm hỗ trợ một cách thích hợp đối với các doanh nghiệp sản xuất để khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực xử lý ô nhiễm, nhập khẩu dây chuyền sản xuất có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường. Thu hút đầu tư vào Khu công nghiệp theo hướng ưu tiên những ngành công nghiệp sạch, ít ô nhiễm, bảo đảm cơ cấu ngành nghề phù hợp với khả năng thực tế và thực tế giải quyết ô nhiễm của địa phương; thu hút có trọng điểm để phát triển các ngành kinh tế chủ lực cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong bố trí nhà máy, xây dựng phương án bảo vệ môi trường.

Chính phủ cần hỗ trợ bằng các chính sách ưu đãi tín dụng, ưu đãi đầu tư, đào tạo chuyên gia môi trường. Ban hành cơ chế, chính sách để tạo cơ sở cho việc hỗ trợ về tài chính, ưu đãi đầu tư đối với việc đầu tư xây dựng các công trình bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp.

Đồng thời các nguồn thu từ thuế, phí môi trường phải được đầu tư trở lại cho các hoạt động bảo vệ môi trường, thu hút đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài vào phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ bảo vệ môi trường với nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền và người hưởng lợi từ môi trường phải chi trả”. Ngoài nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách cho đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung trong Khu công nghiệp cần xem xét, bố trí nguồn vốn với quy mô thích hợp để thực hiện tín dụng ưu đãi cho đầu tư các nhà máy XLNTTT.

3.3. Các biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp ở Việt Nam

3.3.1. Cơ chế, chính sách tăng cường hiệu quả quản lý môi trường

Để đảm bảo cho hoạt động môi trường trong Khu công nghiệp được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả thì khung pháp lý về môi trường cần được xây dựng và hoàn thiện đồng bộ, thống nhất. Do vậy, để tạo điều kiện tốt cho công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường tại Khu công nghiệp thì hệ thống pháp luật môi trường cần có những văn bản pháp luật quy định, hướng dẫn một số hoạt động quản lý môi trường đặc thù trong Khu công nghiệp.

Sửa đổi, bổ sung các quy định về thực hiện đánh giá sơ bộ tác động môi trường, thời điểm thực hiện đánh giá tác động môi trường để thống nhất giữa các luật, phù hợp với cơ sở khoa học, bản chất của công cụ đánh giá tác động môi trường, đáp ứng thực tiễn các vấn đề về môi trường đặt ra hiện nay. Bổ sung các quy định về sàng lọc dự án theo các tiêu chí về loại hình sản xuất, công nghệ sản xuất, quy mô xả thải, địa điểm thực hiện nhằm xác định dự án có được phép đầu tư hay không. Trường hợp được phép đầu tư, tiếp tục xác định dự án có phải thực hiện ĐTM chi tiết hay không và nếu thuộc đối tượng thực hiện thì phải thực hiện theo quy trình và mức độ như thế nào. Trên cơ sở quy định trong Luật, Chính phủ sẽ quy định chi tiết các danh mục dự án cụ thể, quy định quy trình ĐTM, cấu trúc, nội dung của báo cáo ĐTM cho từng danh mục dự án.

Bổ sung quy định về sàng lọc, tăng cường kiểm soát đối với các dự án, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao.

Tập trung xây dựng các quy định về kiểm soát quá trình vận hành thử nghiệm, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, giám sát việc hoàn thành công trình bảo vệ môi trường; tăng cường công tác ứng phó với sự cố môi trường, thiết lập quy định về hồ kiểm chứng/hồ sự cố của các Khu công nghiệp. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Tăng cường cưỡng chế và giám sát hoạt động bảo vệ môi trường Khu công nghiệp: hoạt động khó khăn nhất trong công tác thanh tra, kiểm tra chính là cưỡng chế thực thi pháp luật, thực hiện các kết luận thanh tra cũng như khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật về môi trường gây ra. Theo số liệu từ các địa phương trong cả nước, kết quả khắc phục ô nhiễm hoặc thực hiện các kết luận thanh tra mới chỉ dừng ở cải thiện hệ thống xử lý chất thải mà chưa xử lý triệt để các vấn đề ô nhiễm phát sinh trong quá trình sản xuất, thậm chí cả cơ quan chức năng và các chủ cơ sở, chủ đầu tư cũng chưa thực hiện các biện pháp mạnh, quyết liệt như đình chỉ hoạt động của cơ sở, đầu tư cũng như tái đầu tư cho bảo vệ môi trường từ các Khu công nghiệp còn nhiều hạn chế. Thời gian tới cần nghiên cứu, nhân rộng phát triển mô hình Khu công nghiệp sinh thái quy định tại Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý Khu công nghiệp, KKT.

Về công tác quy hoạch Khu công nghiệp: các địa phương cần rà soát, điều chỉnh để đảm bảo phù hợp, đồng bộ với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch sử dụng đất, bảo đảm tuân thủ quy hoạch đã được duyệt, khoảng cách giữa các Khu công nghiệp, khu chức năng sản xuất với đường giao thông và dân cư xung quanh để hạn chế ảnh hưởng đến các khu vực lân cận.

Về thẩm quyền của Ban quản lý các Khu công nghiệp: điều chỉnh văn bản pháp luật theo hướng phân cấp, giao quyền trực tiếp, đầy đủ về công tác bảo vệ môi trường cho các Ban quản lý thay vì thực hiện theo cơ chế ủy quyền như hiện nay; xem xét bổ sung thanh tra Ban Quản lý các Khu công nghiệp vào hệ thống thanh tra nhà nước để tạo điều kiện cho Ban Quản lý thực hiện tốt chức năng giám sát thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp.

3.3.2. Nhóm các giải pháp kỹ thuật phòng ngừa, ứng phó, xử lý ô nhiễm môi trường Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, bổ sung đánh giá sơ bộ tác động môi trường nhằm nhận dạng, dự báo các tác động tới môi trường có thể xảy ra từ các dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp; kiên quyết không phê duyệt đối với những dự án sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu có nguy cơ cao gây tác động xấu tới môi trường trong các Khu công nghiệp.

Rà soát các nội dung trùng lắp của các thủ tục, hồ sơ môi trường đang được quy định tại nhiều luật khác nhau nhằm khắc phục các nội dung trùng lặp hoặc quy định khác nhau, thống nhất để thực hiện chủ trương cải cách hành chính của Chính phủ.

Tăng cường giám sát, đảm bảo các dự án phải được xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường trước khi đi vào vận hành chính thức theo đúng quy định. Kiên quyết yêu cầu các Khu công nghiệp mới thành lập phải thực hiện đúng quy định pháp luật, hoàn hiện hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường trước khi đi vào hoạt động. Đối với các Khu công nghiệp đã đi vào hoạt động nhưng chưa hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường thì cần có biện pháp kiên quyết để yêu cầu các chủ đầu tư Khu công nghiệp hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường như: không cho phép thu hút các dự án đầu tư vào Khu công nghiệp hoặc thực hiện thủ tục mở rộng Khu công nghiệp khi chưa hoàn thành hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường.

Bổ sung quy định về việc sử dụng chung hệ thống xử lý nước thải của Khu công nghiệp và doanh nghiệp trong Khu công nghiệp và giữa các doanh nghiệp với nhau khi có liên kết đấu nối.

Yêu cầu chặt chẽ về lắp đặt hệ thống quan trắc tự động đối với các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, các cơ sở đã bị xử phạt vi phạm hành chính nghiêm trọng hoặc liên tục, kéo dài.

Bổ sung hình thức các doanh nghiệp nộp tiền để thực hiện quan trắc môi trường định kỳ vào Quỹ bảo vệ môi trường và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện việc quan trắc.

Bổ sung nội dung khuyến khích các cơ sở lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, miễn phải thực hiện quan trắc định kỳ đối với các thông số đã quan trắc tự động; quy định việc sử dụng số liệu, chia sẻ số liệu và công khai số liệu quan trắc. Tại các Khu công nghiệp kết quả quan trắc môi trường và báo cáo giám sát môi trường định kỳ nên lưu ý: Những cơ sở đã đấu nối vào Hệ thống xử lý nước thải tập trung thì có thể không phải thực hiện quan trắc định kỳ; các cơ sở có thể thống nhất với chủ đầu tư, ban quản lý để thực hiện linh hoạt, tránh lãng phí. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Bổ sung quy định công tác ứng phó sự cố môi trường, cụ thể là hồ sự cố tại các Khu công nghiệp.

Xây dựng, hoàn thiện và ứng dụng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu về nguồn thải, kết quả giám sát nguồn thải nhằm đánh giá, kiểm soát, phục vụ công tác quản lý nhà nước, chia sẻ thông tin với các bên liên quan.

Nghiên cứu hướng dẫn về việc tái sử dụng nước thải, chất thải từ sản xuất công nghiệp trong Khu công nghiệp để tạo điều kiện xây dựng các “cộng sinh công nghiệp” giữa các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp và giữa các Khu công nghiệp.

Đối với các cơ sở sản xuất có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao trong Khu công nghiệp: nghiên cứu, ban hành danh mục các ngành, nghề hoặc doanh nghiệp có nguy cơ Ô nhiễm môi trường cao để tăng cường giám sát với các cơ sở này.

3.3.3. Nhóm các công cụ kinh tế tăng cường hiệu quả bảo vệ môi trường

Nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường phải được phân bổ và sử dụng cho các hoạt động quản lý môi trường như thanh tra, kiểm tra, quan trắc chất lượng môi trường xung quanh, môi trường nền, ban hành và giám sát thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật,..

Tăng cường công tác tính phí, thu phí và cung cấp đầy đủ thông tin, căn cứ pháp lý để các doanh nghiệp có trách nhiệm nộp phí bảo vệ môi trường. Cập nhật các tính phí để phù hợp với thực tế. Phí Bảo vệ môi trường (BVMT) nên được sử dụng để đầu tư lại cho công tác quản lý môi trường và bổ sung vào quỹ Bảo vệ môi trường để thực hiện công tác quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường, hỗ trợ đầu tư hạ tầng Bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp xác định rõ đối tượng phải nộp phí trong Khu công nghiệp. Tỷ lệ phí thu được nên phân bổ lại, linh hoạt hơn so với quy định theo Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Bổ sung quy định theo hướng bảo đảm hàng năm tăng dần mức chi sự nghiệp bảo vệ môi trường trên 1% tổng chi ngân sách nhà nước; đồng thời, bổ sung quy định tỷ lệ chi từ nguồn thu thuế bảo vệ môi trường được sử dụng để đầu tư trực tiếp cho công tác bảo vệ môi trường.

Vấn đề ưu đãi hỗ trợ đối với hoạt động Bảo vệ môi trường nói chung và hạ tầng Bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp hiện nay đã được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật [18]. Tuy nhiên, các chính sách vẫn chưa đi vào thực tế cuộc sống do thiếu hướng dẫn cụ thể. Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã được ban hành, do đó một số quy định về chính sách ưu đãi thuế, đất đai đối với các hoạt động, dịch vụ Bảo vệ môi trường nên ban hành để các chính sách hỗ trợ hoạt động Bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp đi vào thực tế. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Từng bước chuyển đổi và cổ phần hóa các Công ty phát triển hạ tầng theo Quyết định của Thủ tướng [26] ban hành Quy chế thí điểm chuyển đổi Công ty phát triển hạ tầng Khu công nghiệp hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp có thu thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu; theo đó từng bước hạn chế sự tham gia làm chủ đầu tư của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp dẫn đến nhiều bất cập trong quản lý.

Tăng cường đầu tư hợp tác quốc tế và trong khu vực để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn và chuyển giao công nghệ xử lý môi trường cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

3.3.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra

Tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhất là kiểm tra đột xuất để đánh giá đầy đủ, toàn diện, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Tổ chức thanh tra theo vùng để nắm bắt và xử lý các vi phạm. Trong thời gian tới cần tập trung thanh tra, giám sát các dự án lớn, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự cố, ô nhiễm môi trường như dệt nhuộm, luyện kim,.. Tiếp tục duy trì hoạt động, phát huy hiệu quả của đường dây nóng tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về ô nhiễm môi trường của trung ương và địa phương; tập trung đẩy mạnh, làm tốt hơn việc tiếp nhận, xác minh và xử lý các thông tin; mở rộng hệ thống đường dây nóng đến cấp huyện, cấp xã nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm.

3.3.5. Nhóm các biện pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật các bên liên quan để nâng cao nhận thức, kiến thức và kỹ năng bảo vệ môi trường

Tăng cường tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực thi các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp, hạn chế, giảm thiểu các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

Tăng cường vai trò quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của chính quyền các cấp, Ban quản lý Khu công nghiệp, các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư trong việc thực thi Luật bảo vệ môi trường. Nâng cao nhận thức cho các chủ đầu tư và chủ doanh nghiệp nhằm đảm bảo các dự án đầu tư phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật bảo vệ môi trường. Tiến tới minh bạch thông tin, chấn chỉnh công tác tham vấn cộng đồng. Tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp và tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Nâng cao năng lực của cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương giám sát chặt chẽ nguồn xả thải ra môi trường của doanh nghiệp; xây dựng hệ thống kiểm soát trung gian, trong đó người dân có thể tham gia cùng giám sát việc xả thải, thông qua nhận biết dấu hiệu môi trường ô nhiễm và phản ánh kịp thời các vụ việc vi phạm.

KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Phát triển các khu công nghiệp là một yêu cầu đặt ra để phát triển kinh tế – xã hội đất nước nhưng kéo theo đó là tình trạng ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp diễn ra ngày càng nghiêm trọng mà điển hình là sự cố môi trường nghiêm trọng do Công ty Formosa Hà Tĩnh là thảm họa gây ra đối với môi trường biển ở Việt Nam. Quán triệt Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2016 về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là nhấn mạnh quan điểm “không phát triển kinh tế bằng mọi giá; không đánh đổi môi trường lấy kinh tế”. Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp ở Việt Nam để có cái nhìn tổng quát về các quy định liên quan để phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường tại Khu công nghiệp đồng thời liên hệ với thực tiễn triển khai, chỉ ra các tồn tại, bất cập để đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật hướng tới mục tiêu phát triển Khu công nghiệp theo hướng bền vững.

Đáng kể nhất là việc Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 82/NĐ-CP quy định về quản lý Khu công nghiệp và KKT vào tháng 5 năm 2018, trong đó thể chế hóa các khái niệm Khu công nghiệp sinh thái, cộng sinh công nghiệp, đưa ra các tiêu chí xác định Khu công nghiệp sinh thái, khuyến khích và hỗ trợ các nhà đầu tư và doanh nghiệp áp dụng và phát triển theo mô hình Khu công nghiệp sinh thái. Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp quan trọng, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh Công nghiệp 4.0, xây dựng các chính sách phát triển công nghiệp bền vững, góp phần giúp Việt Nam đạt được những thành tựu mới trong phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện cam kết đối với Chương trình nghị sự 2030, các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại Khu công nghiệp sẽ làm phong phú thêm cho lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp nói riêng bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững khu công nghiệp theo hướng sinh thái và giải quyết hài hòa môi quan hệ giữa giữa các yếu tố phát triển – kinh tế – xã hội – môi trường. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464