Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua, công tác bảo vệ môi trường các khu công nghiệp (KCN) trên phạm vi cả nước tuy đã được cải thiện nhưng trên thực tế, chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn môi trường theo quy định. Khu công nghiệp là nơi tập trung các cơ sở công nghiệp thuộc nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, cũng là nơi thải ra môi trường các loại chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải nguy hại (gọi chung là chất thải), gây tác động xấu đến môi trường.
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến hết tháng 12/2018, cả nước có 283 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên gần 78 nghìn ha. Theo Tổng cục Môi trường, nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm do hoạt động công nghiệp bắt nguồn từ việc xả các loại chất thải (nước thải, khí thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại) vào môi trường. Mặc dù mô hình tập trung các cơ sở sản xuất vào các khu công nghiệp tạo thuận lợi cho quản lý chất thải, nhưng đến nay bên cạnh một số khu công nghiệp thực hiện đúng quy định pháp luật về quản lý chất thải, vẫn còn nhiều khu công nghiệp chưa hoàn thiện các công trình thu gom, xử lý chất thải tập trung. Thực trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Báo cáo giám sát của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho thấy, tỷ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 – 20%. Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành để giảm chi phí. Bình quân mỗi ngày các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra hàng chục nghìn tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác. Hầu hết nước thải đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận… Có nơi hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp phá vỡ hệ thống thủy lợi, tạo ra những cánh đồng ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại cho sản xuất nông nghiệp. Ô nhiễm môi trường không khí ở các khu công nghiệp chủ yếu tập trung tại các khu công nghiệp cũ, sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường. Tại các khu công nghiệp này, ô nhiễm chủ yếu là bụi, một số khu công nghiệp có biểu hiện ô nhiễm CO2, SO2 và tiếng ồn. Các chuyên gia môi trường cảnh báo, nhiều loại khí khác có ảnh hưởng tới sức khỏe con người mà không ngửi thấy bằng khứu giác đang diễn ra phổ biến ở các khu công nghiệp hiện nay. Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa có báo cáo tổng hợp tại Hội nghị toàn quốc bảo vệ môi trường năm 2018. Cụ thể, hàng năm, cả nước phát sinh hơn hơn 7 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp, hơn 630.000 tấn chất thải nguy hại trong khi việc xử lý chất thải, nước thải còn rất hạn chế. Đặc biệt, trên cả nước hiện có 283 khu công nghiệp với hơn 550.000m3 nước thải/ngày đêm; lưu lượng xả thải trên 2 triệu m3/ngày nhưng có tới 70% lượng nước thải chưa được xử lý triệt để, 23% doanh nghiệp FDI xả thải vượt quy chuẩn cho phép từ 5-12%. Theo thống kê, mỗi năm cả nước có khoảng 9.000 người tử vong và trên 200.000 trường hợp được phát hiện ung thư do sử dụng nguồn nước ô nhiễm. Hàng năm có hàng triệu mét khối nước chưa qua xử lý đổ xuống các dòng sông như sông Tô Lịch, sông Sét, sông Nhuệ, sông Kim Ngưu, sông Lừ, .v.v.
Ngoài ra, rất nhiều chất thải là hóa chất, chất độc hại đã được tạo ra khi ngành nghề sản xuất thay đổi trong khi quy trình xử lý chất thải vẫn giữ nguyên như cũ. Điều này đồng nghĩa với việc những hóa chất mới này hầu như không được xử lý, hoặc sau khi xử lý vẫn giữ nguyên yếu tố độc hại khi thải ra môi trường, dẫn đến những hệ lụy, hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe cho cộng đồng dân cư và chính những lao động trong khu công nghiệp, đặc biệt là những khu công nghiệp nằm trong địa bàn dân cư.
Thực tiễn này đặt ra vấn đề là phải hoàn thiện các cơ chế nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp một cách có hiệu quả để bảo vệ môi trường, trong đó có việc hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này.Vấn đề đặt ra, quy định và thực thi pháp luật, trong đó có pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp như thế nào để vừa giữ gìn được một môi trường không khí sạch, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân đồng thời vẫn có các điều kiện phát huy tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế đất nước là vấn đề hết sức quan trọng. Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp trong Luật bảo vệ môi trường năm 2014, có thể thấy Luật quy định còn khá chung chung, nhiều thiếu sót, chưa mang tính hệ thống, thiếu minh bạch, thiếu cụ thể dẫn tới khó khả thi. Ví dụ: về nội hàm kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp chưa được làm rõ, quy định về đánh giá tác động môi trường ở các Khu công nghiệp còn thiếu sót dẫn tới nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh vẫn có thể lách qua các quy định pháp luật để không phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; thiếu các quy định về phí bảo vệ môi trường với khí thải, về xác định thiệt hại môi trường tại Khu công nghiệp,… Bên cạnh đó, quy định về quy chuẩn môi trường ở các Khu công nghiệp hiện nay đã lạc hậu so với khu vực và thế giới; chưa có quy định cụ thể về quy chuẩn môi trường trong các khu chế xuất, Khu công nghiệp phát triển theo hướng mới. Những điểm thiếu sót hạn chế trong các quy định pháp luật đã gây khó khăn rất lớn cho các cơ quan quản lý nhà nước cũng như người dân trong thực hiện việc kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp. Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã, đang và sẽ tham gia vào các sân chơi chung của khu vực và thế giới như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Liên minh thuế quan Nga, Kazakhstan, Belarusia,… Việc tham gia vào các sân chơi chung này đòi hỏi Việt Nam phải hoàn thiện các quy định pháp luật trong nước phù hợp với luật chơi chung của thế giới. Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia một số công ước quốc tế về bảo vệ môi trường nói chung và môi trường ở các Khu công nghiệp nói riêng, ứng phó với biến đổi khí hậu, như: Công ước khung về ứng phó với biến đổi khí hậu của Liên Hợp quốc, Nghị định thư Kyoto về ứng phó với biến đổi khí hậu, Công ước về bảo vệ tầng ozon,… Bởi vậy, nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp là một đòi hỏi cấp thiết. Mặt khác, Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, do đó Nhà nước có rất nhiều trách nhiệm trong đó có việc phải kiểm soát các mặt trái của kinh tế thị trường (phát triển lệch lạc), trong cái lệch lạc đó là việc ngăn chặn các hành vi làm ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp là rất quan trọng. Nhà nước phải đảm bảo môi trường sống trong lành, an toàn, lành mạnh nhằm đảm bảo quyền lợi về tự nhiên của con người, và để thực hiện được điều này, Nhà nước phải sử dụng pháp luật. Ngoài ra, qua tổng quan các tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống, bài bản liên quan trực tiếp đến pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp. Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp ở Việt Nam” là đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Ở Việt Nam vấn đề pháp luật bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp được Đảng, Nhà nước đặc biệt là những nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Để nghiên cứu đề tài “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp ở Việt Nam” tác giả đã tham khảo những tài liệu về bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp để tìm ra những điểm riêng trong pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp. Nghiên cứu về vấn đề bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp trong thời gian qua có một số tài liệu, công trình như sau:
- “Pháp luật về bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp ở Việt Nam” của tác giả Doãn Hồng Nhung, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016 là tài liệu nghiên cứu tổng quan về những vấn đề lý luận về khu công nghiệp và pháp luật bảo vệ môi trường Khu công nghiệp; thực trạng và thực tiễn thi hành ở Việt Nam; các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường Khu công nghiệp;
- “Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Khu công nghiệp ở Việt Nam” của tác giả Doãn Hồng Nhung, Nhà xuất bản Xây dựng năm 2016 là tài liệu tập trung đánh giá thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp và thực tiễn thi hành ở Việt Nam;
- “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam” của tác giả Bùi Đức Hiển, NXB Chính trị quốc gia là tài liệu tập trung đánh giá những vấn đề lý luận, thực tiễn và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam.
- Báo cáo môi trường quốc gia năm 2009 “Môi trường Khu công nghiệp”;
- Báo cáo “Nhiệm vụ Quan trắc và Phân tích Môi trường công nghiệp tại một số khu công nghiệp thuộc các tỉnh phía Bắc”, Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, 2006 – 2008;
- Dự án “Điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng quản lý môi trường tại các Khu công nghiệp/khu chế xuất và xây dựng cơ chế nhằm quản lý có hiệu quả đối với loại hình kinh doanh dịch vụ này”, Tổng cục Môi trường, 2009;
- Đề tài “Nghiên cứu giải pháp khắc phục những tồn tại, xác định định hướng và lộ trình thực hiện chiến lược quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp ở Việt Nam đến 2020”, Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn, Bộ Xây dựng. 2006.
- Đề tài “Khảo sát đánh giá xây dựng mô hình quản lý môi trường tại các khu công nghiệp Việt Nam”, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công nghiệp. 2006. Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Các tài liệu nghiên cứu trên đã khái quát tổng thể pháp luật về bảo vệ môi trường các Khu công nghiệp ở Việt Nam tuy nhiên chưa nêu bật được các giải pháp ngăn chặn, phòng ngừa ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp. Do vậy trên cơ sở tham khảo các tài liệu trên tác giả tập trung nghiên cứu nội dung kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp.
3. Đối tượng nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu của luận văn chủ yếu là các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản pháp lý liên quan khác. Bên cạnh đó, tác giả cũng có sự quan tâm thích đáng đến việc nghiên cứu các quan điểm, lý thuyết khoa học về kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung, môi trường tại các Khu công nghiệp nói riêng cũng như một số các quy định pháp luật quốc tế và một số nước trên thế giới về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp.
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn xoanh quanh pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp.
4. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích giải quyết những vấn đề sau:
- Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm môi trường tại Khu công nghiệp;
- Nghiên cứu làm rõ và đánh giá việc thực thi các quy định của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp ở Việt Nam;
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp ở Việt Nam;
5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là: phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp quy nạp, diễn dịch,…
Đồng thời luận văn còn dựa vào những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm trong các báo cáo của Chính phủ và các Bộ: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng,.. và các địa phương cũng như những thông tin trên mạng Internet,… Cụ thể:
Phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh được sử dụng trong nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa hành vi xả thải các chất thải của các cá nhân, tổ chức với ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp; mối quan hệ giữa ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp và biến đổi khí hậu và nhu cầu kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp bằng pháp luật;
Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng khi đánh giá, bình luận các quan điểm, các quy định pháp luật, các tình huống thực tiễn làm cơ sở cho những kết luận khoa học về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp nhằm đưa ra được khung pháp luật hoàn thiện kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Phương pháp nghiên cứu này sẽ được tác giả sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu.
Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phỏng vấn chuyên gia, các nhà quản lý để đánh giá các nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm của môi trường, ô nhiễm môi trường, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp. Ngoài ra, phương pháp phỏng vấn chuyên gia cũng nhằm xác định các khái niệm, đặc điểm, nội dung điều chỉnh pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại Khu công nghiệp;
Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, đánh giá những quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp, so sánh đưa ra các số liệu để đánh giá thực trạng, rút ra những bất cập, hạn chế, thiếu sót trong quy định và thực hiện pháp luật về vấn đề này. Bên cạnh đó, để đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp, tác giả dự kiến sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để tìm hiểu ý kiến quan điểm của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải và người dân về vấn đề này.
Chương 3, tác giả sử dụng phương pháp phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp ở Việt Nam đồng thời dự báo xu hướng phát triển của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp trong tương lai gần.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp ở Việt Nam là công trình nghiên cứu quy mô, mới, từ góc độ khoa học pháp lý, trên cơ sở các quy định trong Luật bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan. Luận văn nghiên cứu làm rõ các vấn đề từ lý luận, pháp lý đến thực tiễn về quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp ở Việt Nam, đối chiếu pháp luật hiện hành với pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước trên thế giới để mổ xẻ, phân tích chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, thiếu sót, bất cập. Từ đó đưa ra nhu cầu, định hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp ở nước ta hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo với các cơ quan lập pháp, lập quy trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung; cho việc nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành luật. Luận văn cũng có giá trị tham khảo đối với các cơ quan thực tiễn trong quá trình thực thi, giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp ở Việt Nam.
7. Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nôi dung luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về ô nhiễm môi trường, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp ở Việt Nam;
- Chương 3: Đề xuất, hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp tại Việt Nam.
Chương 1 Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường khu công nghiệp
1.1. Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường
1.1.1. Khái niệm ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường
- Theo khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định:
Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Theo đó sự biến đổi các thành phần môi trường có thê bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chủ yếu là do các chất gây ô nhiễm. Chất gây ô nhiễm được các nhà môi trường học định nghĩa là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường làm cho môi trường bị ô nhiễm. Chất gây ô nhiễm được phân loại thành các loại sau đây [34, tr.64].
- Chất gây ô nhiễm tích lũy (chất dẻo, chất thải phóng xạ) và chất gây ô nhiễm tích lũy (tiếng ồn);
- Chất gây ô nhiễm trong phạm vi địa phương (tiếng ồn), trong phạm vi vùng (mưa a xít) và trên phạm vi toàn cầu (chất CFC); Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
- Chấy gây ô nhiễm từ nguồn có thể xác định (chất thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh) và chất gây ô nhiễm không xác định được nguồn (hóa chất dùng cho nông nghiệp);
- Chất gây ô nhiễm do phát thải liên tục (chất thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh) và chất gây ô nhiễm do phát thải không liên tục (dầu tràn do sự cố tràn dầu).
Theo khoản 18 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014:
Kiểm soát ô nhiễm môi trường là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm môi trường. Khái niệm trên thể hiện ở nhiều khía cạnh như mục đích kiểm soát, chủ thể kiểm soát, cách thức và công cụ kiểm soát, nội dung kiểm soát. Cụ thể [34, tr. 69]:
Mục đích chính của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường (ÔNMT) là phòng ngừa, khống chế không để Ô nhiễm môi trường xảy ra đó là quá trình con người ngăn chặn các tác động xấu đến môi trường từ các hoạt động kinh tế – xã hội. Còn nếu vì những lý do khác nhau mà Ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra thì kiểm soát Ô nhiễm môi trường chính là hoạt động xử lý, khắc phục hậu quả, phục hồi lại tình trạng môi trường như trước khi bị ô nhiễm.
Chủ thể của kiểm soát Ô nhiễm môi trường không chỉ là nhà nước mà còn bao gồm các doanh nghiệp, cộng đồng dân cư, các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình,.. là trách nhiệm của toàn xã hội.
Kiểm soát Ô nhiễm môi trường không chỉ được thực hiện bằng các biện pháp mệnh lệnh – kiểm soát, bằng các công cụ hành chính mà còn được thực hiện đồng bộ bằng các công cụ kinh tế, các biện pháp kỹ thuật, các giải pháp công nghệ, các yếu tố xã hội và thị trường.
Nội dung chính của hoạt động kiểm soát Ô nhiễm môi trường gồm: Thu thập, quản lý và công bố các thông tin về môi trường, xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch kiểm soát Ô nhiễm môi trường; ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường; quản lý chất thải; xử lý, khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm.
Qua đó, ta thấy kiểm soát Ô nhiễm môi trường được hiểu một cách tổng quát là một sự tổng hợp các hoạt động, hành động, biện pháp và công cụ nhằm phòng ngừa, khống chế không cho sự ô nhiễm xảy ra, hoặc khi có sự ô nhiễm xảy ra thì có thể chủ động xử lý, làm giảm thiểu hay loại trừ được nó. Đồng thời là sự tổng hợp các hoạt động, hành động biện pháp và công cụ nhằm phòng ngừa và khống chế không cho sự ô nhiễm xẩy ra hoặc khi có ô nhiễm xảy ra thì có thể chủ
1.1.2. Vai trò của pháp luật trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường
Pháp luật bảo vệ môi trường có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lí nhà nước về môi trường và nhiều lĩnh vực pháp luật khác của Việt Nam. Hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường là hướng tới bảo vệ những lợi ích của nhà nước, lợi ích cộng đồng và xã hội. Pháp luật điều chỉnh những mối quan hệ xã hội, là công cụ cơ bản và quan trọng nhất để quản lí mọi mặt của đời sống xã hội, mọi hành vi, xử sự của con người đều phải tuân theo pháp luật, vấn đề kiểm soát môi trường cũng không phải ngoại lệ. Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho việc quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường, hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát, xử lí vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, và là cơ sở pháp lí cho công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường.
Thứ nhất, Luật bảo vệ môi trường là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật Việt Nam, từ đó sẽ được phổ biến một cách rộng rãi. Bằng quyền lực của mình Nhà nước sẽ bảo đảm thực thi Luật hiệu quả.
Báo cáo chuyên đề, những nội dung cơ bản, các điểm mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và tình hình xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành luật, yêu cầu các cá nhân tổ chức thực hiện theo đúng pháp luật. Khi cần thiết, nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm cho pháp luật được thi hành, trừng phạt, thực hiện một cách nghiêm chỉnh.
Thứ hai, pháp luật là cơ sở pháp lí cho việc quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lí nhà nước đối với lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm môi trường. Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định “Nhà nước thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước, lập quy hoạch bảo vệ môi trường, xây dựng tiềm lực cho hoạt động bảo vệ môi trường ở Trung ương và địa phương”. Pháp luật bảo vệ môi trường đã quy định sự thống nhất các cơ quan nhà nước, xây dựng hệ thống các cơ quan quản lí đối với vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường trong phạm vi cả nước, từ trung ương tới địa phương. Tạo cơ sở pháp lí cho hoạt động bảo vệ môi trường. Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Thứ ba, pháp luật là cơ sở pháp lí cho hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát, xử lí vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Các cơ quan Nhà nước trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức điều tra, nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường, định kỳ báo cáo với Quốc hội về tình hình môi trường; xác định khu vực bị ô nhiễm môi trường và thông báo cho nhân dân biết; có kế hoạch phòng, chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường (Điều 10 Luật bảo vệ môi trường 2014).
Nhà nước khuyến khích các hoạt động sử dụng và khai thác hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ sinh học tiên tiến, thân thiện với môi trường,… Việc thanh tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, nhà nước định kì hàng năm hoặc kiểm tra đột xuất dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành. Việc xử lý vi phạm được áp dụng cho mọi cá nhân tổ chức trong và ngoài nước có những hành vi vô ý hay cố tình vi phạm các quy định nhà nước trong lĩnh vực môi trường.
Thứ tư, pháp luật là cơ sở pháp lí cho công tác kiểm soát môi trường. Theo những quy định của pháp luật, công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường được các cá nhân, tổ chức thực hiện một cách khoa học, có hiệu quả, có tác động to lớn đến công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Nhờ có pháp luật, nhà nước mới kịp thời phát hiện, kiểm tra, ngăn chặn các hành vi sai lệch, gây tổn hại đến môi trường. Đồng thời biểu dương, khen thưởng những tổ chức, cá nhân có đóng góp tích cực trong công tác bảo vệ môi trường. Dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành các cơ quan nhà nước, mỗi tổ chức, cá nhân thực hiện theo đó để hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Thứ năm, vai trò của pháp luật trong kiểm soát ô nhiễm môi trường thể hiện ở việc ban hành các tiêu chuẩn môi trường đó là những tiêu chuẩn pháp lý là những tiêu chuẩn mà cá nhân, tổ chức phải tuân thủ nghiêm ngặt khi khai thác, sử dụng các yếu tố khác nhau của môi trường. Đây là cơ sở pháp lý cho việc xác định vi phạm pháp luật về môi trường.
Có thể thấy, pháp luật có vai trò của quan trọng trong công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay. Đặc biệt trong hoàn cảnh này, công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường ở nước ta tuy đã đạt được nhiều thành tựu song cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, đặt ra rất nhiều khó khăn trong việc bảo vệ môi trường – vấn đề sống còn của nhân loại. Chính vì vậy, vai trò của pháp luật trong công tác bảo vệ môi trường ngày càng được đề cao.
1.2. Tổng quan về Khu công nghiệp (KCN) Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm Khu công nghiệp
Theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu kinh tế, khu công nghiệp thì Khu công nghiệp được hiểu là:
Khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định.
Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái (sau đây gọi chung là Khu công nghiệp, trừ trường hợp có quy định riêng đối với từng loại hình).
Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp. Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
Khu công nghiệp hỗ trợ là khu công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Tỷ lệ diện tích đất cho các dự án đầu tư vào ngành nghề công nghiệp hỗ trợ thuê, thuê lại tối thiểu đạt 60% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của khu công nghiệp;
Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp.
- Từ quy định trên, ta có thể thấy Khu công nghiệp có những đặc điểm sau:
Về mặt pháp lý: Các Khu công nghiệp hoạt động tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, ngoài ra chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư nước ngoài, Luật lao động, các quy định của Chính phủ,…
Về thành lập: Khu công nghiệp không được thành lập một cách tự phát mà theo quyết định của Chính phủ. Nhà nước luôn thiết lập chính sách xây dựng và phát triển các khu công nghiệp. Do vậy mà các Khu công nghiệp luôn được thành lập theo một hệ thống và cơ chế nhất định phù hợp với tình hình kinh tế đất nước.
Về quá trình hoạt động: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và các thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Tức là chỉ chuyên về hoạt động công nghiệp. Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Về không gian: Có ranh giới địa lý xác định theo quy định, Khu công nghiệp được thành lập trên cơ sở diện tích lớn, có tính đặc biệt về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý thuận lợi và thường không có dân cư sinh sống.
Phân loại: Tùy theo tiêu chí mà các Khu công nghiệp được phân thành nhiều loại.
Thông thường, theo chủ đầu tư, Khu công nghiệp gồm:
- Các Khu công nghiệp bao gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước
- Các Khu công nghiệp gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong và ngoài nước
Các Khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài Như vậy, có thể thấy rằng, Khu công nghiệp có những đặc điểm riêng biệt so với các khu kinh tế khác. Quá trình kinh tế phát triển đã đặt ra những yêu cầu mới, tạo ra những đặc trưng mới cho các Khu công nghiệp. Chính sự thay đổi đó đã có những ảnh hưởng nhất định đến đời sống của người dân quanh khu vực.
1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển Khu công nghiệp ở Việt Nam
Sự hình thành và phát triển của các khu công nghiệp ở Việt Nam gắn liền với đường lối đổi mới được triển khai từ tháng 12/1986. Khu công nghiệp, Khu chế xuất hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế được khởi xướng từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986). Tiếp theo đó, Đại hội VII đã kịp thời đề ra những đường lối, chủ trương đổi mới mạnh mẽ và toàn diện nền kinh tế, tiến hành công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước, được cụ thể hoá bằng Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội 1991 – 2000. Hàng loạt các chương trình phát triển kinh tế – xã hội được triển khai để thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, trong đó có chính sách phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất với sự ra đời của Khu chế xuất Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh (1991) và việc ban hành Quy chế Khu chế xuất (Nghị định 322/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 18/10/1991) và Quy chế Khu công nghiệp (Nghị định 192/CP của Chính phủ ngày 28/12/1994).
Tiếp đó, định hướng chiến lược về quy hoạch phát triển và phân bố Khu công nghiệp, Khu chế xuất được xác định cụ thể tại Nghị quyết Đại hội VIII (năm 1996): Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Hình thành các khu công nghiệp tập trung (bao gồm cả khu chế xuất và khu công nghệ cao), tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới. Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị. Ở các thành phố, thị xã nâng cấp, cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng các khu công nghiệp mới xen lẫn với khu dân cư.
Báo cáo Chính trị Đại hội IX (năm 2001) về Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 tiếp tục khẳng định: “Quy hoạch phân bố hợp lý công nghiệp trên cả nước. Phát triển có hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn và các khu kinh tế mở”. Báo cáo chính trị tại Đại hội X (năm 2006) một lần nữa khẳng định chủ trương “Phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế, nâng cao hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất”, đồng thời nhấn mạnh chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển bền vững, trong đó có phát triển bền vững Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
Báo cáo chính trị Đại hội Đảng XI (năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2020 đã định hướng phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất bền vững và theo chiều sâu: “Bố trí hợp lý công nghiệp trên các vùng; phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm, tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao”. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020 đặt ra mục tiêu đến năm 2020 “…tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung”.
Hiện nay, với chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước việc phát triển khu công nghiệp được hưởng nhiều ưu đãi của nhà nước. Có thể khai quát quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở nước ta như sau:
Một là, số lượng các khu công nghiệp tăng nhanh qua các thời kỳ
- Bảng 1.1: Phát triển khu công nghiệp qua các thời kỳ [22, tr.32].
Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy, sau 27 năm, số lượng các khu công nghiệp tăng nhanh và tương đối đều giữa các thời kỳ. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến tháng 3 năm 2018 cả nước có 283 khu công nghiệp đang hoạt động với tổng diện tích trên 78.000 ha.
- Hai là, về phân bổ khu công nghiệp
Các khu công nghiệp phân bổ rộng khắp trong cả nước, khi mới hình thành thường được xây dựng tập trung ở những vùng có điều kiện về tự nhiên, kinh tế – xã hội, những thành phố lớn. Sau đó, các khu công nghiệp đã được quy hoạch, xây dựng ở hầu hết các vùng trong cả nước. Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường [34, tr.07] khu vực Đông Nam Bộ (96 khu công nghiệp) và Đồng bằng sông Hồng (83 khu công nghiệp) có số lượng và diện tích các Khu công nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất cả nước. Bởi vì khu vực đồng bằng sông Hồng có lịch sử phát triển lâu đời, có hệ thống cơ sở hạ tầng tốt còn khu vực Đông Nam Bộ có điều kiện tốt về mặt tự nhiên để phát triển sản xuất. Khu vực trung du miền núi phía Bắc (21 khu công nghiệp) chiếm tỷ lệ thấp nhất cả nước bởi vì điều kiện tư nhiên, kinh tế – xã hội ở khu vực này còn nhiều khó khăn, không phù hợp với xây dựng các khu công nghiệp. Mặc dù có sự phân bổ các khu công nghiệp không đồng đều giữa các vùng trong cả nước nhưng nhìn tổng thể tất cả các vùng đều được quy hoạch phù hợp với lợi thế của từng vùng. Trong mỗi vùng các khu công nghiệp được xây dựng ở hầu hết các tỉnh. Việc phân bổ như vậy sẽ khai thác được tiềm năng, lợi thế của mỗi tỉnh.
- Ba là, về thu hút đầu tư, xây dựng khu công nghiệp
Việc xây dựng và phát triển các Khu công nghiệp là công cụ hữu hiệu để thu hút các dự án đầu tư, đặc biệt các dự án đầu tư nước ngoài. Hàng năm, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất chiếm từ 40-45% tổng vốn đầu tư.
- Bốn là, về xây dựng hệ thống xử lý nước thải trong khu công nghiệp
Bên cạnh những ưu điểm, việc xây dựng và phát triển Khu công nghiệp còn để lại nhiều hệ lụy cho xã hội. Đó là nơi tập trung các cơ sở sản xuất công nghiệp với nhiều loại hình khác nhau, dù các cơ sở này có công nghệ hiện đại đến mấy cũng đều tác động đến môi trường, ở những khía cạnh và mức độ khác nhau (ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, không khí, khói, bụi, tiếng ồn, giao thông, ô nhiễm nhiệt độ, độ ẩm…) làm cho các khu vực xung quanh bị ảnh hưởng. Các khu, cụm công nghiệp là trung tâm, nơi duy trì và phát tán nguồn gây ô nhiễm. Các tác động này không chỉ diễn ra trước mắt mà diễn ra lâu dài, không chỉ diễn ra tại vị trí đặt cơ sở sản xuất mà còn lan rộng theo nguồn nước, theo gió….
Việc khắc phục hậu quả ô nhiễm cũng rất phức tạp, kéo dài và tốn kém, thậm chí vượt xa tổng số ngân sách mà khu, cụm công nghiệp đó đã đóng góp cho địa phương trong suốt thời gian nó hoạt động. Song, hậu quả nguy hiểm nhất chính là những ảnh hưởng đến an toàn sức khoẻ người dân và hủy hoại tài nguyên môi trường – có những tác động không thể và không bao giờ khắc phục được. Theo số liệu thống kê, trên phạm vi cả nước đã có 221/251 Khu công nghiệp, Khu chế xuất đang hoạt động có Hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, đạt 88,05% (tăng 8,05% so với năm 2017) [16, tr.05].
Qua phân tích, chúng ta có thể đánh giá, việc xây dựng và phát triển các Khu công nghiệp là một hướng đi đúng trong mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xu hướng phát triển của các Khu công nghiệp là mở rộng về số lượng, diện tích, hướng tới phát triển bền vững.
1.3. Những vấn đề pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp ở Việt Nam Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
1.3.1. Khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp
Theo Luật bảo vệ môi trường 2014 có thể thấy kiểm soát ô nhiễm môi trường là một chu trình và coi phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm là nội hàm của kiểm soát ô nhiễm môi trường. Luật bảo vệ môi trường 2014 chưa có giải thích thế nào là kiểm soát ô nhiễm môi trường khu công nghiệp mà mới chỉ đưa ra cách hiểu chung chung về kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung tại khoản 18 Điều 3 của Luật.
Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp là một bộ phận của pháp luật bảo vệ môi trường nói chung. Vì thế các quan hệ pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp bao gồm: quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hình sự, quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hành chính và quan hệ luật quốc tế đặt trong địa bàn cụ thể.
Dễ dàng nhận thấy kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp liên quan trực tiếp đến lợi ích vật chất và tinh thần của con người. Môi trường thực sự đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của người dân. Do vậy, trong kiểm soát ô nhiễm môi trường, quan hệ giữa các chủ thể có liên quan đến hoạt động tại các Khu công nghiệp phải được thực hiện dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường. Để kiểm soát ô nhiễm môi trường có hiệu quả cao ở các Khu công nghiệp, ngăn ngừa và giảm thiểu đến mức tối đa các tác động tiêu cực đến con người và các hệ động thực vật, vấn đề này phải được thực hiện trong một trật tự nhất định; các quy định về kiểm soát ô nhiễm phải được tổ chức thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của các Khu công nghiệp. Nhà nước với tư cách là chủ thể của quyền lực chính trị, thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật để thể chế các quan điểm, đường lối, chính sách của mình liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp, quy định quy trình thực hiện hoạt động ngăn ngừa, hạn chế, xử lý ô nhiễm môi trường do các hoạt động của các Khu công nghiệp gây ra ở Việt Nam; quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ kiểm soát ô nhiễm môi trường cũng như trách nhiệm pháp lý khi có những hành vi vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp. Như vậy, đối với các Khu công nghiệp, để thực hiện hoạt động kiểm soát ô nhiễm, Nhà nước cần phải ban hành hệ thống các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hoạt động này. Cụ thể bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, những quy định về quy hoạch Khu công nghiệp gắn với kiểm soát ô nhiễm môi trường có mục đích khoanh vùng ô nhiễm môi trường, xác định chất lượng môi trường ở từng khu vực Khu công nghiệp;
Thứ hai, những quy định về xây dựng, quản lý các dữ liệu thông tin về môi trường ở các Khu công nghiệp nhằm công khai, minh bạch về số liệu, dữ liệu, trữ lượng, giá trị kinh tế của các thành tố môi trường hay những vấn đề về môi trường tại các Khu công nghiệp; Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Thứ ba, những quy định về đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp nhằm làm rõ các tác động tiêu cực lẫn tích cực của các các hoạt động tại Khu công nghiệp đến môi trường tự nhiên và xã hội, là cơ sở để xây dựng các biện pháp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đó;
Thứ tư, những quy định về việc ban hành và áp dụng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường riêng cho các Khu công nghiệp, trên cơ sở đó xác định được chính xác chất lượng môi trường sống của con người và giúp cho họ biết được giới hạn, phạm vi cho phép tác động đến môi trường, đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả mà con người gây ra cho người dân và môi trường ở các Khu công nghiệp;
Thứ năm, những quy định về quản lý chất thải tại các Khu công nghiệp. Nhận thức được các rủi ro ngày càng tăng đến sức khoẻ của người dân và môi trường tại các làng nghề, Nhà nước ta đã tìm mọi biện pháp nhằm tăng cường vai trò của pháp luật trong việc kiểm tra nguồn thải, xử lý, vận chuyển, chôn lấp, thu gom và tái chế các chất thải ở khu vực này;
Thứ sáu, các quy định về trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tại các Khu công nghiệp;
Thứ bảy, các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước và cộng đồng dân cư trong kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp;
Thứ tám, những quy định về chế tài xử lý vi phạm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của các Khu công nghiệp gây ra ở Việt Nam bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận, quy định về các chủ thể trong quan hệ kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của các Khu công nghiệp gây ra; nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch làng nghề gắn với kiểm soát ô nhiễm; quản lý thông tin về môi trường; ban hành và áp dụng các công cụ, biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường; quy định trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ tại các Khu công nghiệp; trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng dân cư trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm; xử lý các hành vi vi phạm để ứng phó, khắc phục trước các vấn đề về môi trường với mục đích ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường và con người, góp phần cải thiện môi trường tại các Khu công nghiệp.
1.3.2. Đặc điểm và nội dung pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại Khu công nghiệp ở Việt Nam Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Quan hệ giữa các chủ thể trong kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp phải dựa trên những tiêu chí, căn cứ nhất định, đó là các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động tại các Khu công nghiệp gây ra ở Việt Nam. Kiểm soát ô nhiễm là một trong những nội dung quan trọng nhằm cải thiện môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng tại các Khu công nghiệp
Do vậy, những quan điểm, chính sách bảo vệ môi trường của Nhà nước nói chung, trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm ở các Khu công nghiệp nói riêng sẽ được Nhà nước cụ thể hóa vào trong các quy phạm pháp luật. Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp ở Việt nam sẽ hiện thực hóa những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực này vào trong thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các Khu công nghiệp. Để pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường là hình thức thể hiện và đảm bảo thực hiện tốt nhất tại các Khu công nghiệp, thì cần phải đáp ứng những yêu cầu sau:
Thứ nhất, khi xây dựng các nội dung trong pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Khu công nghiệp gây ra cần đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành, cụ thể là người dân của các làng nghề được quyền sống trong một môi trường không bị ô nhiễm, đảm bảo cuộc sống được hài hòa với thiên nhiên. Trong giai đoạn hiện nay, quyền con người, dân chủ và công bằng là những vấn đề rất được Đảng và Nhà nước ta đề cao, do vậy, yêu cầu tôn trọng quyền về môi trường của con người đã được đặt ra ngay từ những bước đầu xây dựng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp. Ngân hàng Thế giới đánh giá chất lượng cuộc sống con người của các nước dựa vào 3 tiêu chí: Thu nhập của người dân, hệ thống an sinh xã hội và chất lượng môi trường. Từ mục đích đảm bảo cho con người có được chất lượng môi trường trong lành ở các Khu công nghiệp, các nhà làm luật đã đưa ra những lập luận về tầm quan trọng của quyền được sống trong môi trường trong lành là quyền quyết định đến vấn đề sức khỏe, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống nói chung; phân tích, đánh giá thực trạng môi trường ở các Khu công nghiệp hiện nay đang bị ô nhiễm, suy thoái nên quyền tự nhiên này của người dân đang bị xâm phạm; căn cứ vào những cam kết quốc tế và xu hướng chung trên thế giới là thể chế quyền này trong pháp luật quốc gia, theo đó, không ràng buộc các quốc gia về mặt pháp lý, nhưng ràng buộc về mặt chính trị, đạo lý buộc chúng ta phải thực hiện. Khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các nhà xây dựng luật dựa trên những yếu tố cấu thành của quy phạm pháp luật: Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Từ giả định gồm chủ thể, điều kiện, hoàn cảnh để đưa ra quy định bắt buộc những chủ thể đó khi rơi vào điều kiện, hoàn cảnh ở phần giả định phải thực hiện, nếu không thực hiện sẽ bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế theo quy định ở phần chế tài. Để đảm bảo kiểm soát ô nhiễm tốt tại các Khu công nghiệp, thì việc đặt ra các điều kiện, hoàn cảnh ở phần giả định, đưa ra những quy định của Nhà nước ở phần quy định và sự cưỡng chế của Nhà nước ở phần chế tài phải đảm khoa học và chặt chẽ. Quá trình tổ chức thực hiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp phải nghiêm túc, đúng tinh thần của pháp luật. Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường nhằm bảo đảm cho người dân ở khu vực xung quanh các Khu công nghiệp được sống trong một môi trường trong lành. Đáp ứng được yêu cầu này đồng nghĩa với việc thực hiện đúng mục đích của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động tại các Khu công nghiệp gây ra ở Việt Nam. Như vậy, quan điểm về kiểm soát ô nhiễm ở các Khu công nghiệp khi xem xét cần đứng trên nhiều góc độ nhưng không thể bỏ qua quan điểm vì lợi ích của con người.
Thứ hai, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động tại các Khu công nghiệp gây ra ở Việt Nam phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng các yêu cầu về phát triển bền vững. Theo khoản 4 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2015, phát triển bền vững được hiểu là: “Phát triển để đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Quy định này nhấn mạnh việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho nhu cầu hiện tại phải chú ý trữ lượng hiện có để dành cho thế hệ sau. Nói cách khác, phát triển bền vững chính là phát triển trên cơ sở duy trì được mục tiêu và cơ sở vật chất của quá trình phát triển. Muốn vậy, cần phải có sự tiếp cận mang tính tổng hợp và bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu kinh tế – xã hội – môi trường. Tuy còn nhiều tranh luận về khái niệm “phát triển bền vững”, song đã có sự thống nhất cao là đều tập trung chú trọng phúc lợi lâu dài của con người và đều bao hàm những yêu cầu về sự phối hợp một cách hài hòa ít nhất ba phương diện là tăng trưởng kinh tế; bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Ngoài ra, có nhiều quan điểm còn đề cập những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc và đòi hỏi phải tính toán, cân đối chúng trong hoạch định chiến lược và chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể. Căn cứ vào tầm quan trọng của môi trường và phát triển kinh tế tại các Khu công nghiệp, dựa vào mối quan hệ tương tác giữa môi trường và phát triển kinh tế tại các Khu công nghiệp ở Việt Nam, thì muốn phát triển phải bảo vệ môi trường và ngược lại. Có thể khẳng định, kiểm soát, bảo vệ tốt môi trường ở các Khu công nghiệp đồng nghĩa với việc bảo vệ tốt mục tiêu phát triển bền vững của người dân tại các khu vực xung quanh Khu công nghiệp. Như vậy, yêu cầu đặt ra là cần có sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường, việc khai thác tài nguyên và xả thải phải trong giới hạn, trong khả năng tự làm sạch của môi trường. Việc ghi nhận và tôn trọng yêu cầu phát triển bền vững trong pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động tại các Khu công nghiệp gây ra ở Việt Nam là cách thức để các chủ thể trong quan hệ này nhận thức một cách đúng đắn đối với việc hạn chế tới mức thấp nhất việc gây ô nhiễm môi trường, đồng thời phát triển bền vững kinh tế tại các Khu công nghiệp. Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
Thứ ba, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của doanh nghiệp tại Khu công nghiệp gây ra phải chú ý đến yếu tố phòng ngừa, tức là chủ động ngăn chặn rủi ro, mà các chủ thể có thể gây ra cho môi trường tại các Khu công nghiệp. Hoạt động kiểm soát, bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái để cải thiện chất lượng môi trường ở Khu công nghiệp. Các nhà làm luật dựa trên cơ sở chi phí phòng ngừa bao giờ cũng nhỏ hơn chi phí khắc phục, phục hồi môi trường. Từ đó đặt ra yêu cầu lường trước những rủi ro và đưa ra được những phương án, biện pháp phù hợp để giảm thiểu, loại trừ những rủi ro đó.
Thứ tư, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của Khu công nghiệp gây ra phải chú ý thực hiện nguyên tắc ai gây ô nhiễm, người đó phải trả tiền, phải khắc phục ô nhiễm, có nghĩa là chủ thể gây hậu quả, tác động xấu đến môi trường, thì phải trả tiền để mua quyền khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường. Những người gây ô nhiễm phải chịu các chi phí thực hiện các biện pháp kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm được quy định bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo môi trường trong trạng thái chấp nhận được. Chủ thể phải trả tiền có thể là người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; người có hành vi xả thải vào môi trường; người có những hành vi khác gây tác động xấu tới môi trường tại Khu công nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành. Tiền trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất và mức độ gây tác động xấu tới môi trường làng nghề, phải đủ sức tác động đến lợi ích và hành vi của các chủ thể có liên quan đến hoạt động của Khu công nghiệp, có như vậy mới đủ sức răn đe đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường ở các Khu công nghiệp. Hình thức trả tiền cho hành vi gây ô nhiễm có thể là thuế tài nguyên, thuế môi trường, phí bảo vệ môi trường hay chi phí sử dụng dịch vụ (thu gom rác, quản lý chất thải nguy hại…) ở làng nghề, kinh phí sử dụng cơ sở hạ tầng: Ví dụ như tiền thuê kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp bao gồm cả tiền thuê hệ thống xử lý chất thải tập trung… Ngoài ra, hình thức trả tiền cho hành vi gây ô nhiễm cũng có thể là chi phí phục hồi môi trường trong quá trình khai thác tài nguyên.
Thứ năm, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động tại các Khu công nghiệp gây ra phải rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu cho mọi chủ thể (Nhà nước, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các cộng đồng dân cư, các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân…) tại các khu vực liên quan biết. Chẳng hạn như: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường phải chỉ rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật quản lý chất thải, từ phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý… chất thải, chất thải nguy hại ở các Khu công nghiệp như thế nào? Quy định rõ những đối tượng nào phải đánh giá môi trường khi thực hiện các mục đích phát triển gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và con người ở các Khu công nghiệp? Ngoài ra, cũng phải chỉ rõ chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm, về thủ tục cũng như quy định cụ thể mức xử lý vi phạm là bao nhiêu đối với mỗi hành vi vi phạm… để các chủ thể có liên quan dễ dàng cập nhật và áp dụng.
Thứ sáu, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của Khu công nghiệp gây ra ở Việt Nam phải mang tính ổn định và phù hợp với xu thế phát triển bền vững tại các Khu công nghiệp. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển hiện nay, quan điểm về kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường sẽ giao thoa với quan niệm và nhận thức về lĩnh vực này của các nước trên thế giới. Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế – xã hội của các Khu công nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể. Những yêu cầu của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của Khu công nghiệp gây ra đã đề cập trên đây cần phải được thực hiện và có tính khả thi. Có thể nói, đây là yêu cầu quan trọng, bởi vì pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không thể tự mình đi vào trong thực tiễn, vì thế, cần tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh tại các Khu công nghiệp. Việc xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện phải được tiến hành một cách đồng bộ, đồng thời xử lý nghiêm, kịp thời những trường hợp vi phạm pháp luật. Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường