Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Công ước La Hay 1993 và pháp luật một số nước về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC LA HAY 1993
Vấn đề nuôi con nuôi ngày càng phát triển và không chỉ diễn ra trong phạm vi nhỏ hẹp của một quốc gia mà đã trở thành hiện tượng phổ biến toàn cầu. Việc cho và nhận con nuôi giữa các công dân khác quốc tịch, khác nơi cư trú… đã đặt ra những yêu cầu cao đối với sự hợp tác chặt chẽ của Chính phủ các nước liên quan. Những đòi hỏi đó là: Cần phải thiết lập một chuẩn mực pháp lý chung, thống nhất để giải quyết vấn đề con nuôi có yếu tố nước ngoài; Chuẩn mực đó sẽ đảm bảo lợi ích tốt nhất của trẻ và quyền lợi người nhận nuôi. Vì vậy Công ước La Hay “về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước” đã ra đời từ đó.
2.1.1. Lược sử Công ước La Hay1993
Tại phiên họp thứ 16 của Hội nghị Lahay về tư pháp quốc tế (tháng 10 năm 1988), các quốc gia tham dự đã quyết định tiến hành xây dựng một công ước mới về lĩnh vực bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Ngày 29/5/1993 dự thảo Công ước La Hay về lĩnh vực này đã được các nước thành viên thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 10/5/1995.
Kể từ khi Công ước La Hay 1993 được thông qua đến nay, Ủy ban đặc biệt do Tổng thư ký Hội nghị Lahay về Tư pháp quốc tế triệu tập đã họp bốn lần. Cuộc họp đầu tiên (1994) nhằm xem xét những vấn đề liên quan đến việc thực hiện công ước cũng như việc áp dụng công ước đối với trẻ em tị nạn. Cuộc họp thứ hai (2000) được tổ chức nhằm xem xét việc áp dụng công ước trong thực tế. Cuộc họp thứ ba (2005) được tổ chức để thông qua cuốn sách hướng dẫn thực hiện tốt công ước. Cuộc họp gần đây nhất (2010) được tổ chức nhằm đánh giá việc thực hiện công ước liên quan đến vấn đề chỉ định các tổ chức con nuôi nước ngoài.
Tính đến nay, đã có 87 quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên Công ước La Hay 1993. Trong đó, 56 quốc gia và vùng lãnh thổ ký và phê chuẩn Công ước, 31 quốc gia và vùng lãnh thổ gia nhập công ước.
Ở châu Á, đến nay mới có 9 quốc gia ký Công ước La Hay 1993 và chủ yếu ký sau năm 2000 trừ hai nước là Philipin và Sri Lanka. Các quốc gia này đều là những nước có trẻ em được cho làm con nuôi, bao gồm: Sri Lanka, Philipin, Ấn Độ, Trung Quốc, Mông Cổ, Nepal, Thái Lan, Campuchia, Kazakhstan, Việt Nam. Trong đó, Sri Lanka là nước ký công ước sớm nhất (24/5/1994).
Khác với các quốc gia châu Âu, các quốc gia châu Á mặc dù ký/gia nhập Công ước La Hay 1993 muộn hơn nhưng thường tiến hành phê chuẩn/phê duyệt ngay sau khi ký/gia nhập. Do đó, công ước sớm có hiệu lực với những nước này, ngoại trừ Trung Quốc và Nepal. Cụ thể như sau:
- Bảng 2.1: Danh sách các nước châu Á gia nhập Công ước La Hay 1993
2.1.2 Mục đích và phạm vi áp dụng Công ước La Hay 1993 Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
2.1.2.1 Mục đích của Công ước La Hay 1993
Là một trong ba mươi sáu công ước được Hội nghị Lahay về tư pháp quốc tế thông qua, Công ước La Hay 1993 là công ước đứng thứ ba về số lượng quốc gia thành viên. Điều đó cho thấy sự quan tâm to lớn của các quốc gia đối với trẻ em – đối tượng cần được quan tâm và bảo vệ.
Với đặc thù là tính xuyên quốc gia và liên quan đến việc di chuyển trẻ em qua biên giới, dễ phát sinh tiêu cực ở nhiều khía cạnh, nên Công ước La Hay 1993 có vai trò đặc biệt quan trọng, tạo ra cơ chế hữu hiệu để bảo vệ trẻ em được nhận làm con nuôi quốc tế. Cơ chế bảo vệ trẻ em theo Công ước La Hay năm 1993 được thực hiện nhằm ba mục đích chính sau đây:
Một là, những quy phạm được thiết lập nhằm đảm bảo vấn đề nuôi con nuôi nước ngoài được tiến hành vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Tất cả các quyền cơ bản của trẻ em đã được luật pháp quốc tế ghi nhận cũng được tôn trọng. Đây là mục đích lớn nhất của Công ước.
Hai là, các quốc gia ký kết thiết lập một hệ thống hợp tác để ngăn ngừa việc bắt cóc và buôn bán trẻ em.
Việc đấu tranh chống lại hành vi buôn bán và bắt cóc trẻ em được điều chỉnh trực tiếp trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế khác nhau. Tuy nhiên, Công ước Lahay số 33 không trực tiếp, mà chỉ gián tiếp ngăn ngừa việc bắt cóc, bán hoặc buôn bán trẻ em quốc tế để cho làm con nuôi ở nước ngoài hoặc với vỏ bọc nuôi con nuôi để thực hiện mục đích khác – thông thường là bất hợp pháp.
Để ngăn ngừa việc buôn bán và bắt cóc trẻ em để cho làm con nuôi, Công ước yêu cầu nước nhận và nước gốc phải làm việc trên tinh thần hợp tác. Mọi nước đều có lý do để tin tưởng rằng, nếu việc bắt cóc xảy ra thì phải thực hiện những biện pháp khẩn cấp để đấu tranh chống lại hành vi này. Vì chính sách công, những trường hợp nuôi con nuôi thông qua việc buôn bán hoặc bắt cóc trẻ em sẽ không được công nhận. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Sự hợp tác giữa các nước có thể được thực hiện thông qua việc cung cấp, phổ biến thông tin và số liệu thống kê liên quan đến việc cho nhận con nuôi cũng như liên quan đến việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em. Ngoài ra, các nước cũng phải cùng hành động để giải quyết những tình huống cụ thể liên quan đến thủ tục cho và nhận con nuôi, thậm chí liên quan đến việc thi hành các chế tài hình sự đối với hành vi buôn bán và bắt cóc trẻ em để cho làm con nuôi.
Ba là, các quốc gia ký kết công nhận việc nuôi con nuôi được tiến hành theo Công ước.
Công ước La Hay 1993 thiết lập những tiêu chuẩn pháp lý bắt buộc cần tuân thủ trong quá trình cho nhận con nuôi quốc tế. Những yêu cầu này liên quan đến việc xác định trẻ em được cho làm con nuôi trong trường hợp nào là thích hợp; yêu cầu đối với sự đồng ý của các chủ thể liên quan; yêu cầu đối với việc xác định điều kiện của người nhận con nuôi; yêu cầu đối với thủ tục cho và nhận con nuôi.
Công ước La Hay 1993 chỉ thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu. Do đó, “Nước gốc” hoặc “Nước nhận” có thể ấn định các điều kiện khác để bảo đảm thực hiện tốt hơn các yêu cầu của công ước. Việc ấn định các điều kiện khác có thể được thực hiện thông qua việc ký kết các điều ước quốc tế song phương giữa các nước hoặc nội luật hóa các quy định pháp luật mỗi nước. Việc thực hiện đúng các yêu cầu tối thiểu của công ước sẽ bảo đảm việc cho và nhận con nuôi được thực hiện một cách hợp pháp, qua đó bảo vệ được lợi ích của trẻ em được cho làm con nuôi cũng như của các đối tượng khác có liên quan.
Như vậy, Công ước đã xác lập một cách rõ ràng quyền của trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phù hợp với luật pháp quốc tế về quyền trẻ em. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
2.1.2.2 Phạm vi áp dụng Công ước La Hay 1993
Công ước được áp dụng “khi một trẻ em thường trú ở một quốc gia ký kết (quốc gia gốc) đã, đang hoặc sẽ được chuyển đến một quốc gia ký kết khác (quốc gia nhận) sau khi đã được một cặp vợ chồng hay một người thường trú ở quốc gia nhận nhận làm con nuôi tại quốc gia gốc hoặc vì mục đích của việc nuôi con nuôi như vậy tại quốc gia nhận hay quốc gia gốc” [15, Khoản 1, Điều 2]. Quy định này có nghĩa là Công ước được áp dụng trong cả ba trường hợp: i) Việc nuôi con nuôi được tiến hành khi trẻ em đã rời quốc gia gốc; ii) Việc nuôi con nuôi được tiến hành khi trẻ em đang được chuyển tới quốc gia nhận; iii) Việc nuôi con nuôi được tiến hành khi trẻ em sẽ được chuyển tới quốc gia nhận. “Công ước chỉ áp dụng đối với những trường hợp nuôi con nuôi tạo lập mối quan hệ cha mẹ và con lâu dài” [15, Khoản 2, Điều 2]. Điều này nhằm mục đích đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ bởi vì chỉ có quan hệ lâu dài giữa cha mẹ và con mới mang lại cho trẻ một gia đình ổn định.
Công ước sẽ không được áp dụng nếu không có sự đồng ý của cơ quan trung ương có thẩm quyền của cả quốc gia gốc và quốc gia nhận cho phép tiến hành thủ tục nuôi con nuôi, trước khi trẻ em đủ 18 tuổi. Quy định này nói lên tầm quan trọng của cơ quan trung ương trong quản lý việc nuôi con nuôi quốc tế.
2.1.3. Những yêu cầu với việc nuôi con nuôi nước ngoài Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Chương II của Công ước là toàn bộ yêu cầu đối với cả quốc gia gốc và quốc gia nhận trong việc nuôi con nuôi nước ngoài.
Yêu cầu đối với quốc gia gốc là: Xác định trẻ có đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài và đảm bảo việc làm con nuôi nước ngoài là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em khi không tìm được một gia đình thích hợp tại quốc gia mình; Yêu cầu liên quan đến sự đồng ý của những người có quyền cho trẻ làm con nuôi sau khi đã được tham khảo, tư vấn và thông báo kỹ lưỡng về những hậu quả mà sự đồng ý của họ có thể đem lại.
Bên cạnh đó là yêu cầu đối với quốc gia nhận. Nước nhận phải xác định tư cách cha mẹ nuôi; đảm bảo cho họ được tham vấn ở mức độ cần thiết những thông tin trước khi đón nhận con nuôi; xác nhận trẻ làm con nuôi được hoặc sẽ được phép thường trú tại quốc gia mình.
Tóm lại, những yêu cầu đối với quốc gia gốc và quốc gia nhận đều hướng tới việc đảm bảo những thủ tục cần thiết nhất trong việc cho – nhận con nuôi nước ngoài và quyền lợi của các chủ thể tham gia quan hệ này.
2.1.4. Cơ quan Trung ương có thẩm quyền về con nuôi và tổ chức được ủy nhiệm
- Cơ quan Trung ương có thẩm quyền về nuôi con nuôi
Mỗi quốc gia thành viên phải chỉ định một cơ quan trung ương có thẩm quyền trong lĩnh vực nuôi con nuôi để thực hiện các nhiệm vụ Công ước quy định. Những nhiệm vụ đó là:
Áp dụng trực tiếp hoặc với sự giúp đỡ của các cơ quan công quyền tất cả các biện pháp thích hợp nhằm ngăn ngừa việc thu lợi bất chính từ hoạt động nuôi con nuôi và ngăn chặn những vụ việc trái với mục đích của Công ước.
Thu thập, lưu trữ và trao đổi những thông tin liên quan đến tình trạng của trẻ em và của cha mẹ nuôi tương lai, trong chừng mực cần thiết nhằm thực hiện việc nuôi con nuôi. Nhiệm vụ này giúp cả quốc gia cho và quốc gia nhận đều nắm được điểm cơ bản của người nhận nuôi và trẻ được cho làm con nuôi.
Tạo điều kiện thuận lợi, theo dõi và thúc đẩy thủ tục cho nhận con nuôi. Sự ra đời của cơ quan trung ương trong lĩnh vực này ở mỗi nước thành viên là để kiểm sát một cách tổng thể việc nuôi con nuôi quốc tế, tránh những khó khăn, phiền phức trong khâu thủ tục “cho – nhận” của hoạt động này ở địa phương. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Thúc đẩy việc phát triển ở quốc gia mình các dịch vụ tham vấn về vấn đề cho nhận con nuôi và sau khi nhận nuôi. Điều này có ý nghĩa quan trọng vì các dịch vụ tham vấn ra đời sẽ trang bị cho cha mẹ nuôi những kiến thức thiết yếu về gia đình, xã hội, pháp luật… để họ có thể mang lại cho trẻ được nhận nuôi một gia đình hạnh phúc.
Trao đổi các báo cáo tổng quát, đánh giá kinh nghiệm về lĩnh vực nuôi con nuôi nước ngoài. Sự trao đổi này giúp các cơ quan trung ương có thẩm quyền (về nuôi con nuôi) của các nước thành viên bổ sung cho nhau những thiếu sót để có thể thực hiện tốt những nghĩa vụ Công ước quy định.
Đáp ứng những đề nghị có tính chất thông tin của các cơ quan trung ương có thẩm quyền khác hoặc của các cơ quan công quyền về một tình trạng con nuôi cụ thể trong phạm vi mà pháp luật của quốc gia họ cho phép. Điều này thể hiện sự hoạt động công khai, minh bạch khi chia sẻ thông tin giữa các cơ quan có thẩm quyền, cơ quan công quyền về tình hình chung hoặc về một tình trạng nuôi con nuôi cụ thể.
- Tổ chức được ủy nhiệm
Bên cạnh cơ quan trung ương có thẩm quyền, Công ước còn quy định các tổ chức được ủy nhiệm. Các tổ chức này theo đuổi mục đích phi lợi nhuận, giúp cơ quan trung ương làm việc, thành viên là những người đủ tiêu chuẩn về đạo đức, được đào tạo hoặc có kinh nghiệm trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Tuy nhiên hoạt động của các tổ chức này được đặt dưới sự giám sát của các nhà chức trách có thẩm quyền. “Một tổ chức được ủy nhiệm ở một quốc gia ký kết này chỉ có thể hoạt động ở một quốc gia ký kết khác nếu tổ chức này được các nhà chức trách có thẩm quyền của cả hai quốc gia cho phép làm như vậy” [15, Điều 12].
2.1.5. Những yêu cầu về thủ tục cho, nhận con nuôi nước ngoài
Công ước đưa ra một quy trình về thủ tục giải quyết việc cho và nhận con nuôi theo chuẩn mực quốc tế, góp phần bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, đặc biệt là của trẻ em, cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi. Qua đó, Công ước góp phần làm đơn giản hóa thủ tục hiện hành ở các nước thành viên.
Công ước quy định người thường trú ở một quốc gia thành viên (nước nhận) muốn xin nhận một trẻ em thường trú ở một quốc gia thành viên khác (nước gốc), thì phải liên hệ với cơ quan trung ương có thẩm quyền của nước nhận. Đây là quy định có tính chất bắt buộc. Tuy nhiên, đơn xin phép nuôi con nuôi không nhất thiết phải nộp tại cơ quan trung ương, mà có thể nộp tại cơ quan nhà nước khác hoặc nộp cho một tổ chức được chỉ định tại nước nhận, nếu pháp luật cho phép.
Cơ quan trung ương có thẩm quyền của nước cho và nước nhận phải làm báo cáo về tình trạng của trẻ em và cha mẹ nuôi rồi chuyển cho nhau các báo cáo đó. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Điều kiện để một quyết định của quốc gia gốc về việc giao trẻ em cho cha mẹ nuôi tương lai được thông qua là:
- Cha mẹ nuôi tương lai đã đồng ý;
- Quốc gia nhận đã chấp thuận quyết định này;
- Cả hai quốc gia đồng ý cho tiến hành thủ tục nuôi con nuôi;
- Tất cả các điều kiện đối với trẻ em và cha mẹ nuôi đã được xác nhận.
Công ước nghiêm cấm việc cha mẹ nuôi tiếp xúc với trẻ em, trước khi hoàn thành thủ tục xin nhận con nuôi. Đồng thời, Công ước không cho phép cha mẹ nuôi được nộp đơn trực tiếp cho cơ quan trung ương hoặc bất cứ cơ quan nhà nước nào khác hoặc cho một tổ chức được chỉ định của nước gốc, trừ trường hợp được pháp luật nước này cho phép. Quốc gia gốc và quốc gia nhận tạo mọi điều kiện thuận lợi để việc cho và nhận con nuôi quốc tế diễn ra an toàn, suôn sẻ.
2.1.6. Công nhận và hậu quả của việc nuôi con nuôi
Theo Điều 23 Công ước thì việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được nhà chức trách có thẩm quyền của nước thành viên – nơi thực hiện chứng nhận là phù hợp với Công ước thì được công nhận có giá trị pháp lý ở các nước thành viên khác. Tuy nhiên một nước ký kết có thể từ chối công nhận việc nuôi con nuôi nếu việc nuôi con nuôi đó có sự trái ngược với chính sách công ở quốc gia đó (Điều 24).
Nội dung của công nhận gồm: i) Mối quan hệ pháp lý cha mẹ – con giữa trẻ em và cha mẹ nuôi; ii) Trách nhiệm cha mẹ của cha mẹ nuôi đối với trẻ em; iii) Việc chấm dứt mối quan hệ pháp lý tồn tại trước đó giữa trẻ em và cha mẹ đẻ nếu việc nuôi con nuôi này có hậu quả như vậy tại quốc gia ký kết nơi thực hiện việc nuôi con nuôi đó.
Nếu việc cho – nhận con nuôi làm chấm dứt quan hệ pháp lý trước đó giữa trẻ em với cha mẹ đẻ thì các em phải được hưởng những quyền tương tự như những quyền phát sinh do việc nuôi con nuôi có hậu quả như vậy tại nước nhận và tại bất kỳ nước thành viên Công ước nào công nhận việc nuôi con nuôi đó. Đồng thời ở những nơi việc nuôi con nuôi được quốc gia gốc cấp phép không có hậu quả chấm dứt mối quan hệ pháp lý trước đó giữa trẻ em và cha mẹ đẻ có thể chuyển thành việc nuôi con nuôi có hậu quả như vậy tại quốc gia nhận, công nhận việc nuôi con nuôi đó phù hợp với Công ước nếu thỏa mãn những điều kiện nhất định (Điểm a, b Khoản 1, Điều 27).
2.1.7. Những quy định chung
Những quy định chung nằm ở phần cuối Công ước từ Điều 28 – Điều 42 đã chốt lại những điều quan trọng đối với việc nuôi con nuôi quốc tế. Đó là những quy định cơ bản về trách nhiệm của các cơ quan, các nhà chức trách có thẩm quyền trong lĩnh vực này; quy định nghiêm ngặt trong việc cấm tiếp xúc trước giữa cha mẹ nuôi với cha mẹ đẻ khi chưa đáp ứng được những quy định của Công ước; quy định sự ảnh hưởng của Công ước đối với pháp luật các nước thành viên…
Tóm lại, Công ước La Hay 1993 ra đời đã đáp ứng được những đòi hỏi của việc nuôi con nuôi quốc tế. Đây là chuẩn mực pháp lý quốc tế mà các nước hướng tới gia nhập để hợp tác trên lĩnh vực nuôi con nuôi nước ngoài nhằm bảo vệ và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em.
2.2 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TIÊU BIỂU Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
2.2.1. Pháp luật của Pháp
Pháp là nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi đứng thứ hai trên thế giới (sau Hoa Kỳ) và chiếm vị trí số một tại Châu Âu. Một trong những nước mà Pháp xin nhận con nuôi nhiều nhất chính là Việt Nam. Tính từ khi Hiệp định năm 2001 về hợp tác nuôi con nuôi giữa Việt Nam và Pháp có hiệu lực, hơn 2000 trẻ em Việt Nam trên tổng số 5876 trẻ em đã được công dân Pháp nhận làm con nuôi. Tính đến nay, danh sách chờ xin con nuôi ở Việt Nam của riêng cơ quan con nuôi AFA – Pháp là khoảng 2200 hồ sơ.
2.2.1.1. Nguồn cơ bản của các quy định về nuôi con nuôi quốc tế của Pháp
- Công ước La Hay 1993;
- Hiệp định định hợp tác về nuôi con nuôi giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Pháp;
Đạo luật ngày 6-2-2001 về giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Đạo luật quy định về nuôi con nuôi và các hệ quả tại Pháp của các quyết định nuôi con nuôi nước ngoài. Các quy định về xung đột pháp luật của Pháp đã được xây dựng theo hướng của các án lệ Pháp, do Tòa Giám đốc thẩm tuyên, trong đó có hai phán quyết nổi tiếng là phán quyết Pistre và Torlet, đưa ra quy phạm xung đột pháp luật về nuôi con nuôi nước ngoài.
2.2.1.2. Nguyên tắc chung của việc nhận nuôi con nuôi nước ngoài
Nguyên tắc chủ yếu là xác định luật áp dụng đối với các điều kiện liên quan đến người xin nhận con nuôi và luật áp dụng đối với các điều kiện liên quan đến trẻ em nước ngoài được nhận làm con nuôi. Theo quy định của Điều 370-3 đạo luật năm 2001, việc nuôi con nuôi phải tuân thủ các điều kiện quốc gia của người xin nhận con nuôi. Trong trường hợp hai vợ chồng nhận con nuôi thì phải tuân thủ các quy định của luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng. Việc nuôi con nuôi của hai vợ chồng sẽ không được thực hiện nếu pháp luật quốc gia của hai vợ chồng cấm đoán việc nuôi con nuôi. Ngoài ra,việc xin nhận con nuôi (trẻ vị thành niên) cũng không được thực hiện nếu như pháp luật của trẻ em nước ngoài cấm đoán việc nuôi con nuôi, trừ trường hợp trẻ em đó được sinh ra và sống tại Pháp. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi nước ngoài được thực hiện tại Pháp chính là hệ quả theo pháp luật của Pháp. Nếu như quyết định nuôi con nuôi đã được tuyên ở nước ngoài thì việc nuôi con nuôi sẽ phát sinh hệ quả pháp lý của một trong hai hình thức: (i) nuôi con nuôi đơn giản hoặc (ii) nuôi con nuôi trọn vẹn. Tòa án Pháp sẽ căn cứ vào ý kiến đồng ý của người có thẩm quyền cho trẻ em làm con nuôi để tuyên bố hình thức nhận con nuôi (Điều 370-4 và Điều 370-5 Đạo luật ngày 06-02-2001).
2.2.1.3. Thủ tục xin nhận con nuôi nước ngoài
Ở Pháp thủ tục xin nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi được chia thành hai loại:
- Đối với trẻ em của những nước là thành viên của Công ước La Hay 1993 thì áp dụng thủ tục theo quy định của công ước.
- Các trường hợp còn lại sẽ không tuân theo thủ tục quy định tại Công ước La Hay 1993.
Việc công dân Pháp xin nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi có thể thực hiện dưới hai hình thức là riêng lẻ hoặc thông qua văn phòng con nuôi nước ngoài. Văn phòng con nuôi nước ngoài là những tổ chức trung gian được Bộ Ngoại giao Pháp cấp phép hoạt động ở một nước nào đó. Hình thức nhận nuôi con nuôi riêng lẻ trước đây cũng được áp dụng đối với các trường hợp xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi. Tuy nhiên, kể từ 01/01/2006, việc xin nhận con nuôi dưới hình thức riêng lẻ đã chấm dứt, chỉ còn hình thức nhận con nuôi thông qua các tổ chức con nuôi có Văn phòng con nuôi nước ngoài theo giấy phép của Bộ Tư pháp Việt Nam.
2.2.1.4. Một số quy định cơ bản về nuôi con nuôi nước ngoài của Pháp
Theo pháp luật Pháp, độ tuổi của người xin con nuôi phải trên 28 tuổi và phải hơn trẻ em được nhận làm con nuôi ít nhất là 15 tuổi. Nếu vợ chồng cùng xin con nuôi thì phải sống chung hợp pháp, không ly thân.
Ngoài ra còn có điều kiện liên quan đến hoàn cảnh gia đình, điều kiện vật chất, tâm lý và xã hội, sức khỏe của người xin con nuôi. Các điều kiện này đều được các cơ quan có thẩm quyền của Pháp điều tra và đánh giá dưới hình thức lập bản “Báo cáo tâm lý và xã hội của người xin con nuôi”. Hình thức tiến hành đánh giá các điều kiện thường được thực hiện qua con đường phỏng vấn, gặp gỡ tại gia đình nơi người xin con nuôi cư trú và tiến hành nhiều lần trước khi cấp giấy phép cho nhận con nuôi.
Đối với trẻ được nhận làm con nuôi thì tại thời điểm tiến hành thủ tục nhận nuôi trẻ em có nguồn gốc nước ngoài, trẻ đó phải thỏa mãn các điều kiện làm con nuôi theo pháp luật của nước mà trẻ mang quốc tịch. Sau khi hoàn tất các thủ tục nuôi con nuôi tại nước gốc, trẻ được tiếp nhận vào Pháp. Thời điểm cha mẹ nuôi yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định nuôi con nuôi, trẻ được nhận làm con nuôi đó phải thỏa mãn tiếp các điều kiện làm con nuôi theo pháp luật Pháp. Đó là các điều kiện quy định độ tuổi tối đa, độ tuổi chênh lệch giữa cha mẹ – con nuôi, sự chấp thuận của trẻ nếu trẻ trên 13 tuổi.
Về nguyên tắc tất cả các quyết định nuôi con nuôi nước ngoài đều được đương nhiên công nhận. Song việc công nhận đó chỉ có nghĩa là công nhận giá trị pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật nước gốc, chứ chưa phải là việc công nhận quyết định nuôi con nuôi theo pháp luật Pháp. Quan hệ nuôi con nuôi giữa cha mẹ – con nuôi phát sinh ngay từ khi quyết định đó trở thành chính thức tại nước gốc. Tuy nhiên việc công nhận này không là cơ sở pháp lý cho phép cha mẹ nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi vào Sổ hộ tịch tại các cơ quan có thẩm quyền của Pháp. Để quan hệ nuôi con nuôi đó được công nhận tại Pháp, cha mẹ nuôi phải tiến hành thủ tục xin công nhận nuôi con nuôi trọn vẹn theo pháp luật nước này.
2.2.1.5. Thủ tục công nhận quyết định nuôi con nuôi nước ngoài Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Thủ tục công nhận quyết định nuôi con nuôi nước ngoài có hai loại tùy theo nước gốc có là thành viên Công ước La Hay 1993 hay không. Nếu là thành viên của công ước thì các quyết định nuôi con nuôi nước ngoài được công nhận là các quyết định nuôi con nuôi trọn vẹn theo pháp luật Pháp. Cha mẹ nuôi có quyền yêu cầu đăng ký việc nhận con nuôi tại Viện Công tố Nantes. Đối với các nước gốc không là thành viên của Công ước La Hay 1993, tất cả các quyết định nuôi con nuôi nước ngoài đều được công nhận là quyết định nuôi con nuôi đơn giản theo pháp luật Pháp. Trường hợp này cha mẹ nuôi phải tiến hành thủ tục chuyển đổi quyết định nuôi con nuôi đơn giản thành quyết định nuôi con nuôi trọn vẹn ở tòa án sơ thẩm có thẩm quyền rộng nơi họ cư trú. Cơ quan này sẽ xem xét tính hợp lệ của thủ tục xin nhận con nuôi ở nước ngoài và các điều kiện liên quan. Nếu đáp ứng được những quy định của pháp luật Pháp thì quyết định đó được công nhận là quyết định nuôi con nuôi trọn vẹn.
Để giải quyết việc nhận con nuôi nước ngoài của Pháp, phải có sự phối hợp giữa các cơ quan hành chính và tư pháp từ trung ương xuống cơ sở: cơ quan con nuôi trung ương (MAI), Viện Công tố Nantes, tòa án sơ thẩm có thẩm quyền rộng…
Quy định của pháp luật Pháp về nuôi con nuôi quốc tế tương đối chặt chẽ, đáp ứng được nhu cầu cho – nhận con nuôi của cả hai phía và phù hợp với tinh thần của Công ước La Hay 1993.
2.2.2. Pháp luật của Trung Quốc Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Trung Quốc hiện là một trong những nước cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài nhiều nhất trên thế giới. Số lượng hồ sơ xin con nuôi nộp tại cơ quan trung ương của Trung Quốc tăng nhanh. Số lượng trẻ em có thể được cho làm con nuôi thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu của người xin con nuôi.
2.2.2.1. Nguồn cơ bản của các quy định về nuôi con nuôi quốc tế của Trung Quốc
- Công ước La Hay 1993;
- Luật Nuôi con nuôi của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 29/12/1991 và được sửa đổi ngày 04/11/1998;
Nghị định số 15 của Bộ Nội vụ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, sửa đổi các biện pháp đăng ký nuôi con nuôi của người nước ngoài ở nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 12/05/1999.
2.2.2.2. Nguyên tắc chung của việc nhân nuôi con nuôi nước ngoài
- Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của cả cha, mẹ nuôi và con nuôi trên nguyên tắc công bằng, tự nguyện và không trái đạo đức xã hội.
- Việc nuôi con nuôi không được trái với các quy định của Luật kế hoạch hóa gia đình.
Người nước ngoài nhận trẻ em Trung Quốc làm con nuôi phải thực hiện các biện pháp đăng ký phù hợp với Luật nuôi con nuôi của Trung Quốc, tuân theo pháp luật Trung Quốc và các quy định pháp luật liên quan về nuôi con nuôi của nước mà người xin con nuôi cư trú.
Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa luật của Trung Quốc và luật của người xin con nuôi cư trú thì các cơ quan, ban ngành của chính phủ hai nước sẽ đàm phán để thống nhất cách giải quyết.
2.2.2.3. Thủ tục xin nhận con nuôi nước ngoài Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Người nước ngoài xin con nuôi thông qua chính phủ của nước người đó cư trú hoặc tổ chức con nuôi của nước đó được phép hoạt động tại Trung Quốc, gửi hồ sơ đến tổ chức nuôi con nuôi của Trung Quốc.
Sau khi kiểm tra đơn xin nuôi con nuôi, những tờ liên quan của người nước ngoài xin con nuôi và xem xét nguyện vọng của người nước ngoài xin con nuôi, tổ chức nuôi con nuôi của Trung Quốc sẽ lựa chọn trẻ em làm con nuôi thích hợp trong số những trẻ em được Sở Nội vụ của chính quyền nhân dân cấp tỉnh, vùng tự trị hoặc thành phố tự trị dưới sự quản lý trực tiếp của chính quyền trung ương giới thiệu làm con nuôi. Trẻ em đó phải đáp ứng được các yêu cầu quy định tại Luật Nuôi con nuôi và sẽ thông qua chính quyền nước ngoài hoặc cơ quan nuôi con nuôi nước ngoài gửi cho người xin con nuôi thông tin về trẻ em được cho làm con nuôi và người giao trẻ em làm con nuôi.
Nếu người nước ngoài xin con nuôi đồng ý nhận trẻ em đó làm con nuôi thì tổ chức nuôi con nuôi của Trung Quốc sẽ thông báo cho người xin con nuôi đến Trung Quốc để nhận con nuôi, đồng thời cũng báo cho các cơ quan hữu quan như Sở Nội vụ của chính quyền nhân dân tỉnh, vùng tự trị hoặc thành phố tự trị dưới sự quản lý trực tiếp của chính quyền trung ương và gửi cho người giao trẻ em làm con nuôi văn bản thông báo của người nước ngoài đồng ý nhận trẻ em làm con nuôi.
Người nước ngoài nhận trẻ em Trung Quốc làm con nuôi sẽ trực tiếp đến Trung Quốc để làm các thủ tục nhận con nuôi. Nếu vợ chồng người nước ngoài cùng nhận con nuôi mà một trong hai người không trực tiếp đến Trung Quốc để làm thủ tục nhận con nuôi được thì phải có giấy ủy quyền cho người còn lại. Giấy ủy quyền phải được công chứng/chứng thực bởi cơ quan có thẩm quyền của nước hai vợ chồng cư trú.
2.2.2.4. Một số quy định cơ bản về nuôi con nuôi nước ngoài của Trung Quốc
Ở Trung Quốc, trẻ em dưới 14 tuổi có thể được làm con nuôi người nước ngoài nếu thuộc diện: mồ côi, bị bỏ rơi hay gia đình khó khăn không có khả năng nuôi dưỡng.
Một cặp vợ chồng người nước ngoài muốn xin trẻ em Trung Quốc làm con nuôi phải đáp ứng được những điều kiện tương đối ngặt nghèo: Họ phải ở độ tuổi từ 30 đến Nếu nhận trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thì phải từ 30 đến 55 tuổi.
Vợ chồng đang trong thời kỳ hôn nhân thì ít nhất phải kết hôn từ 2 năm trở lên. Nếu đã từng ly hôn (không quá hai lần) thì thời gian kết hôn của họ phải trên 5 năm. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Cả hai vợ chồng đều phải khỏe mạnh, không được mắc các bệnh như:
- AIDS;
- Bệnh thần kinh;
- Bệnh truyền nhiễm;
- Mù;
- Bệnh hiểm nghèo…
Vợ chồng có nghề nghiệp ổn định. Thu nhập bình quân hàng năm của gia đình đạt 10 000 đô la Mỹ/người, bao gồm cả con nuôi tương lai và giá trị tài sản ròng của gia đình trên 80 000 đô la Mỹ (không bao gồm các khoản phúc lợi như tiền cứu tế, lương hưu, bảo hiểm thất nghiệp…).
Vợ chồng đều phải học hết phổ thông trung học trở lên hoặc đã được đào tạo tại trường dạy nghề hoặc tương đương.
Trong gia đình có không quá 5 trẻ em và trẻ nhỏ nhất phải trên 1 tuổi (không áp dụng đối với việc nhận trẻ em cần được chăm sóc đặc biệt).
- Cả hai vợ chồng đều chưa bị kết án hình sự, là những người trung thực, có tư cách đạo đức tốt, tuân thủ pháp luật.
- Cả hai vợ chồng không thuộc một trong các trường hợp:
- Có tiền sử về bạo lực gia đình, lạm dụng tình dục, bỏ rơi hoặc lạm dụng trẻ em;
- Có tiền sử dùng chất ma túy;
- Có tiền sử nghiện rượu và thời gian cai nghiện dưới 10 năm.
Nếu một người đàn ông không có vợ xin trẻ em gái làm con nuôi thì ngoài các điều kiện chung cần đáp ứng, người đàn ông này bắt buộc phải hơn con nuôi ít nhất 40 tuổi.
Trong trường hợp người vợ hoặc chồng giao con mình làm con nuôi sau khi người chồng hoặc người vợ kia qua đời thì bố, mẹ đẻ của người chồng, người vợ qua đời được quyền ưu tiên nuôi dưỡng đứa trẻ. Với quy định này thì ông, bà sẽ được quyền ưu tiên nuôi cháu khi cha, mẹ của trẻ em qua đời.
Các khoản tiền chính người nước ngoài xin con nuôi Trung Quốc phải nộp là: phí cho cơ quan đăng ký việc nuôi con nuôi và phí cho tổ chức nuôi con nuôi. Ngoài ra, người nước ngoài được khuyến khích tài trợ cho các cơ quan phúc lợi xã hội nhằm hỗ trợ các cơ quan này cải thiện tốt hơn điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em.
Trẻ em Trung Quốc sau khi được người nước ngoài nhận làm con nuôi trong vòng không quá một năm phải được phía nước ngoài cam kết cho nhập quốc tịch nước nhận và từ thời điểm này trẻ mặc nhiên mất quốc tịch Trung Quốc. Trong một năm đầu, cha mẹ nuôi phải thông báo cho Trung tâm con nuôi trung ương về tình trạng phát triển thể chất và tinh thần của trẻ (6 tháng/lần).
Với những quy định cụ thể, chặt chẽ về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi quốc tế nói riêng, Trung Quốc đã rất thành công và thu được kết quả tốt trong hoạt động này, tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài có nhu cầu xin con nuôi.
2.2.3. Pháp luật của Tây Ban Nha Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Trong những năm gần đây, số trẻ em nước ngoài được người Tây Ban Nha hoặc những người cư trú tại Tây Ban Nha nhận nuôi ngày càng nhiều do một số quốc gia – nơi rất nhiều trẻ em đã không thể tìm thấy cho mình một môi trường phát triển phù hợp và do tỷ lệ sinh ở Tây Ban Nha đã giảm nhiều. Một phần lớn trẻ em nước ngoài được nhận làm con nuôi tại Tây Ban Nha là trẻ em Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Cục Con nuôi – Bộ Tư pháp thì từ tháng 10/2010 đến tháng 9/2011 tổng số hồ sơ được giải quyết để cho người Tây Ban Nha/người cư trú tại Tây Ban Nha nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi là 258 hồ sơ. Với số lượng hồ sơ lớn như vậy, Tây Ban Nha đã trở thành một trong những nước nhận nhiều nhất trẻ em Việt Nam làm con nuôi trong vòng hai năm trở lại đây.
2.2.3.1. Nguồn cơ bản của các quy định về nuôi con nuôi quốc tế của Tây Ban Nha
- Công ước La Hay 1993;
- Luật số 22438 54/2007 ngày 28 tháng 12 về con nuôi quốc tế.
2.2.3.2. Nguyên tắc chung của việc nhân nuôi con nuôi nước ngoài
- Việc nuôi con nuôi quốc tế phải tôn trọng những nguyên tắc của Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc ngày 20/11/1989 và Công ước La Hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế.
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng những chuẩn mực và công cụ bảo vệ của Công ước La Hay 1993 khi ký kết các hiệp định về con nuôi quốc tế với các quốc gia chưa phải là thành viên của Công ước La Hay
2.2.3.3. Thủ tục xin nhận con nuôi nước ngoài Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Theo quy định pháp luật của Tây Ban Nha thì thủ tục xin nhận con nuôi nước ngoài sẽ được thực hiện thông qua các cơ quan phối hợp về nuôi con nuôi quốc tế có chức năng làm trung gian. Các cơ quan này sẽ thực hiện tất cả các hoạt động can thiệp nhằm mục đích biến những người muốn nhận con nuôi thành cha mẹ nuôi thực sự thông qua việc hợp tác với các chính quyền, các cơ quan hoặc tổ chức ở nước gốc hoặc ở nơi cư trú của trẻ em được nhận làm con nuôi và tiến hành hỗ trợ một cách đầy đủ để thực hiện việc cho nhận con nuôi.
Các cơ quan phối hợp về nuôi con nuôi quốc tế và người xin nhận con nuôi phải ký một hợp đồng đặc biệt về chức năng trung gian mà cơ quan phối hợp sẽ đảm nhận trong quá trình làm thủ tục nhận nuôi con nuôi. Hợp đồng này phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Tây Ban Nha thông qua.
2.2.3.4. Một số quy định cơ bản về nuôi con nuôi nước ngoài của Tây Ban Nha
Để đảm bảo tối đa quyền và lợi ích cho trẻ em được nhận làm con nuôi, pháp luật của Tây Ban Nha đã quy định rất chặt chẽ về điều kiện của cha mẹ nuôi. Theo đó, cha mẹ nuôi phải có năng lực và động cơ phù hợp để nhận con nuôi, để thực hiện quyền làm cha mẹ, giải quyết những khác biệt, hậu quả và trách nhiệm khi tham gia vào hoạt động nuôi con nuôi quốc tế.
Người xin nhận con nuôi phải có một bản báo cáo đánh giá tâm lý xã hội về hoàn cảnh cá nhân, gia đình và các mối quan hệ của người xin nhận con nuôi, về khả năng xây dựng những mối quán hệ bền vững và an toàn, về kỹ năng giáo dục và khả năng chăm sóc trẻ em. Trên cơ sở đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ đưa ra những tiêu chí đánh giá về tình phù hợp của người xin nhận con nuôi. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Cha mẹ nuôi phải cam kết thực hiện một số việc sau khi nhận con nuôi. Cụ thể là: (i) Cha mẹ nuôi phải cung cấp trong thời gian luật định những thông tin, tài liệu và trả lời phỏng vấn theo yêu cầu mà cơ quan quan nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ trẻ em hoặc cơ quan phối hợp được ủy quyền đưa ra, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ trẻ em của Tây Ban Nha hoặc cơ quan có thẩm quyền ở nước cho trẻ em cũng có thể yêu cầu cung cấp báo cáo theo dõi sau khi nhận con nuôi; và (ii) cha mẹ nuôi phải hoàn tất trong khoảng thời gian quy định mọi thủ tục sau nhận con nuôi theo pháp luật của nước cho trẻ em.
Đối với trẻ em được nhận làm con nuôi khi đạt đến một độ tuổi nhất định hoặc khi trẻ em đó vẫn còn người đại diện là cha mẹ đẻ, trẻ em có quyền được biết những cơ sở số liệu về nguồn gốc của mình do các cơ quan nhà nước Tây Ban Nha lưu giữ mà không bị hạn chế bởi những yếu tố có thể là do pháp luật của nước gốc của trẻ em quy định.
Để đảm bảo nhà nước quan tâm một cách thích đáng tới trẻ em được nhận làm con nuôi và hỗ trợ cha mẹ nuôi, cơ quan có thẩm quyền của Tây Ban Nha thành lập các trung tâm hỗ trợ sau nhận con nuôi để giải quyết các vấn đề đặc biệt của cha mẹ nuôi và con nuôi.
Với những quy định có tính hệ thống và chặt chẽ như trên, pháp luật của Tây Ban Nha đã đáp ứng được các yêu cầu của xã hội trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế.
2.2.4. Pháp luật của Liên bang Nga
Chế định nuôi con nuôi nước ngoài của Liên bang Nga chỉ thực sự phát triển kể từ khi Liên Xô tan rã (năm 1991). Trước đó, pháp luật của Liên bang Nga có quy định về nuôi con nuôi quốc tế, song do chế độ chính trị và mối quan hệ đối trọng với thế giới phương Tây nên hầu như Liên Xô rất ít cho trẻ em làm con nuôi công dân các nước phương Tây.
Về phương diện pháp luật, chế định nuôi con nuôi được kế thừa từ pháp luật của Liên Xô cũ và được bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với hoàn cảnh mới của nước Nga với xu hướng phát triển tư nhân hóa và ngày càng hội nhập sâu rộng vào đời sống dân sự, thương mại với các nước phương Tây. Sự gia tăng hợp tác quan hệ dân sự, thương mại và chính sách mở cửa của Chính phủ Nga đã thúc đẩy sự gia tăng đáng kể quan hệ hợp tác nuôi con nuôi giữa Nga và các nước. Chính vì thế mà từ đầu những năm 90, đã có nhiều trẻ em có hoàn cảnh éo le của Nga đã được cho làm con nuôi công dân của nhiều nước phát triển, nhất là Hoa Kỳ. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Cũng như nhiều nước Đông Âu khác, Nga không ban hành một đạo luật độc lập về nuôi con nuôi mà điều chỉnh các quan hệ nuôi con nuôi (cả trong nước lẫn nước ngoài) trong Bộ luật gia đình được ban hành ngày 29/12/1995 và được sửa đổi, bổ sung ngày ngày 15/11/1997, 27/06/1998, 1/01/2000, 22/08/2004, 28/11/2004, 03/07/2006, 18/12/2006, 29/12/2006 và 15/02/2007.
Để triển khai thực hiện chế định nuôi con nuôi trong bộ luật này, Nga đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm hướng dẫn thi hành, nhất là các văn bản quy định về thủ tục, trình tự giải quyết việc nuôi con nuôi quốc tế, quy chế quản lý các tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động tại Nga.
2.2.4.1. Nguồn cơ bản của các quy định về nuôi con nuôi quốc tế của Liên bang Nga
- Điều ước quốc tế về nuôi con nuôi giữa Liên bang Nga với các nước;
- Bộ luật gia đình được ban hành ngày 29/12/1995 với các sửa đổi, bổ sung ngày 15/11/1997, 27/06/1998, 1/01/2000, 22/08/2004, 28/11/2004, 03/07/2006, 18/12/2006, 29/12/2006 và 15/02/2007 (Bộ luật gia đình).
2.2.4.2. Nguyên tắc chung của việc nhân nuôi con nuôi nước ngoài
- Nuôi con nuôi là hình thức ưu tiên trong việc thu xếp mái ấm cho những trẻ em không được cha mẹ đẻ chăm sóc.
- Chỉ cho phép nhận trẻ em chưa đến tuổi thành niên làm con nuôi vì lợi ích tốt nhất của trẻ.
Công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch chỉ được phép nhận trẻ em Nga làm con nuôi, nếu không thể thu xếp được cho gia đình công dân Nga cư trú trên lãnh thổ Liên bang Nga nhận làm con nuôi hoặc không thu xếp được cho người họ hàng của trẻ nhận làm con nuôi bất kể họ mang quốc tịch nước nào và cư trú ở đâu.
Trẻ em chỉ có thể được cho làm con nuôi công dân Liên bang Nga thường trú ngoài lãnh thổ Liên bang Nga, công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch không có họ hàng với trẻ sau 6 tháng kể từ ngày thông tin về trẻ thuộc diện không được cha mẹ chăm sóc được đưa vào dữ liệu ngân hàng liên bang về trẻ em thuộc diện không được cha mẹ chăm sóc.
Các nguyên tắc về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nêu trên được quy định tại Điều 124 Bộ luật gia đình cho thấy: nuôi con nuôi là hình thức ưu thế để thu xếp mái ấm cho trẻ bị bỏ rơi. Trẻ được cho làm con nuôi phải ở độ tuổi vị thành niên. Khi thu xếp cho trẻ làm con nuôi phải tính đến mọi khả năng để đảm bảo cho trẻ có điều kiện phát triển được toàn diện về thể chất, tâm lý, tinh thần và luân lý. Nuôi con nuôi chỉ được cho phép nếu phù hợp với lợi ích của trẻ. Việc cho trẻ em Nga làm con nuôi người nước ngoài, người không quốc tịch hoặc trẻ em nước ngoài có thể được cho làm con nuôi công dân Nga định cư ở nước ngoài, công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch định cư ở Nga khi đáp ứng các điều kiện luật định.
2.2.4.3. Thủ tục xin nhận con nuôi nước ngoài Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Việc giải quyết cho nhận trẻ em làm con nuôi được tòa án giải quyết theo yêu cầu của người xin con nuôi trên cơ sở đơn đề nghị của người xin con nuôi. Tòa án xem xét giải quyết việc nuôi con nuôi theo trình tự thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Khi tòa án xem xét giải quyết việc cho – nhận con nuôi thì bắt buộc người xin con nuôi phải tham gia trực tiếp. Ngoài ra, còn có sự tham gia của cơ quan giám hộ, trợ tá và công tố viên vào việc giải quyết nuôi con nuôi.
Để giải quyết việc nuôi con nuôi cần phải có kết luận của cơ quan giám hộ, trợ tá về tính hợp lý của việc giải quyết cho trẻ làm con nuôi và sự phù hợp của việc cho trẻ làm con nuôi với lợi ích của trẻ, trong đó phải nói rõ các thông tin về mối quan hệ của người xin con nuôi với trẻ em.
Thủ tục trình tự giải quyết cho trẻ em làm con nuôi và kiểm tra về điều kiện sống của trẻ và việc giáo dục trẻ tại gia đình cha mẹ nuôi trên lãnh thổ Liên bang Nga do Chính phủ Liên bang Nga quy định.
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi phát sinh từ ngày quyết định của tòa án về việc cho trẻ làm con nuôi có hiệu lực. Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật, tòa án phải thông báo cho cơ quan đăng ký hộ tịch nơi tòa án ra quyết định để đăng ký vào sổ hộ tịch. Việc nuôi con nuôi được đăng ký vào sổ hộ tịch quốc gia.
2.2.4.4. Một số quy định cơ bản về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Liên bang Nga
- Thống kê trẻ đủ điều kiện làm con nuôi và người xin con nuôi
Bộ luật này quy định việc các cơ quan chức năng của Liên bang Nga phải thực hiện việc thống kê đầy đủ các trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi theo Điều 122 của Bộ luật gia đình.
Khi phát hiện trẻ bỏ rơi, các nhà chức trách của các cơ quan, tổ chức (nhà trẻ, mẫu giáo, giáo dục, bệnh viện hoặc các tổ chức khác) và công dân phải thông báo cho cơ quan giám hộ, trợ tá. Tròng vòng 3 ngày kể từ ngày nhận được thông tin trên, cơ quan giám hộ, trợ tá phải xác minh hoàn cảnh của trẻ và phải làm rõ tình trạng trẻ không có cha mẹ hoặc người họ hàng chăm sóc, bảo vệ. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày có thông tin về việc chuyển giao trẻ cho gia đình chăm sóc, người đứng đầu các cơ sở bảo trợ xã hội nơi nuôi dưỡng trẻ bị bỏ rơi phải thông báo cho cơ quan giám hộ và trợ tá nơi cơ sở bảo trợ xã hội đặt trụ sở.
Trong vòng 1 tháng sau khi nhận được thông tin nói trên, cơ quan giám hộ và trợ tá có nghĩa vụ đảm bảo sự ổn định cho trẻ và trong khả năng có thể chuyển trẻ cho gia đình chăm sóc và chuyển các thông tin về trẻ cho cơ quan hành chính của Liên bang Nga để đưa vào ngân hàng thống kê dữ liệu trẻ.
Trong vòng 1 tháng từ ngày có thông tin về trẻ, Cơ quan hành chính của Liên bang Nga thu xếp mái ấm cho trẻ tại gia đình công dân Nga đang cư trú trong khu vực cơ quan hành chính; nếu không thu xếp được mái ấm cho trẻ trong khu vực cơ quan hành chính thì chuyển các thông tin về trẻ bỏ rơi cho Ngân hàng dữ liệu Liên bang để tiếp tục thu xếp mái ấm cho tại gia đình công dân Nga khác cư trú trên lãnh thổ Liên bang Nga.
Nếu không thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục trên, người đứng đầu các cơ sở bảo trợ xã hội và nhà chức trách phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Khi thu xếp cho trẻ em làm con nuôi, giám hộ, trợ tá cần phải tính đến nguồn gốc dân tộc, tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ, khả năng giáo dục của trẻ. Trước khi trẻ được chuyển cho gia đình hoặc các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ quan giám hộ, trợ tá chịu trách nhiệm chăm sóc trẻ.
Việc thống kê người xin con nuôi được tiến hành theo trình tự, thủ tục do cơ quan hành chính của Chủ thể của Liên bang Nga quy định.
Việc thống kê công dân nước ngoài và người không quốc tịch muốn nhận trẻ em là công dân Nga làm con nuôi do cơ quan hành chính của Liên bang Nga tiến hành.
- Hoạt động môi giới cho trẻ làm con nuôi Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Điều 126.1 của Bộ luật gia đình không cho phép các cá nhân hoạt động môi giới cho trẻ em làm con nuôi như tuyển chọn trẻ, trực tiếp chuyển trẻ làm con nuôi cho những người có nhu cầu xin nhận con nuôi và đưa trẻ đi làm con nuôi vì lợi ích của người xin con nuôi.
Hoạt động của cơ quan giám hộ, trợ tá và cơ quan hành chính trong việc thu xếp mái ấm cho trẻ bỏ rơi, cũng như hoạt động của tổ chức về nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài chỉ định hoạt động trên lãnh thổ Liên bang Nga theo điều ước quốc tế của Liên bang Nga hoặc theo nguyên tắc có đi có lại không phải là hoạt động môi giới cho trẻ em làm con nuôi. Các cơ quan và tổ chức này không được tiến hành các hoạt động vì mục đích lợi nhuận.
Thể thức hoạt động của cơ quan và tổ chức con nuôi nước ngoài và kiểm tra việc thực thi các hoạt động đó do Chính phủ Liên bang Nga quy định theo đề nghị của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ Liên bang Nga.
Trong quá trình làm thủ tục xin con nuôi, người xin con nuôi có quyền có người đại diện cho mình với các quyền và nghĩa vụ do pháp luật dân sự và tố tụng dân sự quy định và được sử dụng dịch vụ dịch thuật trong những trường hợp cần thiết.
- Những người không có quyền nhận con nuôi
Theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật gia đình thì những người thành niên thuộc hai giới (nam, nữ) có quyền được nhận con nuôi trừ các trường hợp sau:
- Người bị tòa án công nhận là không có năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
- Cặp vợ chồng mà một trong hai người bị tòa án công nhận không có năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
- Người bị tòa án tước hoặc bị hạn chế quyền làm cha mẹ;
- Người không được phép giám hộ do không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật;
- Người đã từng xin con nuôi, nhưng bị tòa án hủy việc nuôi con nuôi;
- Người không có đủ sức khỏe để thực hiện các quyền làm cha mẹ. Chính phủ quy định danh sách các bệnh mà khi một người bị mắc không thể xin con nuôi; Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
- Người mà tại thời điểm xin con nuôi không có thu nhập để đảm bảo mức sống tối thiểu cho con nuôi theo quy định của pháp luật Liên bang Nga nơi người xin con nuôi cư trú;
- Người không có nơi thường trú;
- Người phạm tội xâm hại đến tính mạng và sức khỏe của người khác trong thời điểm xin con nuôi;
- Người sống ở những nơi không có đủ điều kiện vệ sinh và các quy định về an toàn kỹ thuật.
- Những người không trong hôn nhân không thể cùng xin một trẻ em làm con nuôi;
Khi ra quyết định về nuôi con nuôi, tòa án có quyền xem xét lợi ích của trẻ em được cho làm con nuôi và cân nhắc các tình huống phát sinh để châm chước các trường hợp: (g) Người mà tại thời điểm xin con nuôi không có thu nhập để đảm bảo mức sống tối thiểu cho con nuôi theo quy định của pháp luật Liên bang Nga nơi người xin con nuôi cư trú và (k) Người sống ở những nơi không có đủ điều kiện vệ sinh và các quy định về an toàn kỹ thuật. Trường hợp (g) và (k) nêu trên cũng không áp dụng với cha dượng và mẹ kế của con nuôi.
Nếu một số người cùng xin một trẻ em làm con nuôi thì quyền ưu tiên sẽ dành cho người có quan hệ họ hàng với trẻ với điều kiện người đó đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn xin con nuôi theo quy định của Bộ luật này.
Mức độ chênh lệch tuổi tác giữa người xin con nuôi độc thân và con nuôi không dưới 16 tuổi. Nếu có lý do chính đáng được tòa án công nhận thì mức độ chênh lệch này có thể ít hơn.
- Sự đồng ý của cha mẹ đẻ của trẻ
Điều 129 của Bộ luật gia đình quy định khi cho con nuôi cần thiết phải có sự đồng ý của cha mẹ đẻ của trẻ. Đối với việc cho trẻ em dưới tuổi 16 thì cần phải có sự đồng ý của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ, nếu không có cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ thì phải có sự đồng ý của cơ quan giám hộ và trợ tá.
Sự đồng ý của cha mẹ đẻ phải được thể hiện bằng văn bản, được công chứng hoặc người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ hoặc cơ quan giám hộ và nhận tá nơi giải quyết việc nuôi con nuôi hay nơi cư trú của người xin con nuôi xác nhận, ngoài ra sự đồng ý này có thể được thể hiện trực tiếp tai phiên tòa xem xét giải quyết việc nuôi con nuôi.
- Cha mẹ đẻ có quyền rút lại sự đồng ý cho con mình làm con nuôi trước thời điểm tòa án ra quyết định.
- Cha mẹ đẻ có thể đồng ý cho trẻ làm con nuôi một người đích danh hoặc một người không đích danh và sự đồng ý này chỉ có thể có sau khi trẻ em được sinh ra. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì việc cho con nuôi không cần sự đồng ý của cha mẹ đẻ. Cụ thể là: (a) Không rõ cha mẹ đẻ là ai hoặc bị tòa án công nhận mất tích; (b) Bị tòa án công nhận không có năng lực hành vi dân sự; (c) Bị tòa án tước quyền làm cha mẹ và (d) Không sống cùng con 6 tháng trở lên và từ chối giáo dục, nuôi dưỡng trẻ mà không có lý do được tòa án cho là xác đáng.
- Họ và tên, ngày tháng năm sinh của con nuôi
Trẻ em sau khi được nhận làm con nuôi được giữ họ và tên của mình.
Theo yêu cầu của người xin con nuôi, trẻ có thể thay đổi họ theo họ của người xin con nuôi. Con nuôi mang họ của bố nuôi nếu người xin con nuôi là nam giới. Nếu người xin con nuôi là nữ giới thì họ của con nuôi được xác định theo họ của người mà người xin con nuôi coi là cha nuôi của trẻ. Nếu cha mẹ nuôi không cùng họ thì trẻ mang họ của một trong hai người theo sự thỏa thuận của họ.
Khi người xin con nuôi không trong hôn nhân thì theo yêu cầu của người đó họ và tên của con nuôi được ghi vào số chứng sinh theo chỉ định của người đó.
Việc thay đổi họ và tên của con nuôi của trẻ từ 10 tuổi trở lên phải có sự đồng ý của trẻ.
Sự thay đổi về họ và tên của con nuôi cần được ghi trong quyết định của tòa án về nuôi con nuôi.
- Thay đổi ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của con nuôi
Đối với ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ, Điều 135 của Bộ luật gia đình quy định cơ chế khá mềm dẻo. Để đảm bảo tính bí mật của việc nuôi con nuôi, theo yêu cầu của người xin con nuôi, có thể sửa đổi ngày sinh nhưng không được quá 3 tháng và sửa nơi sinh của trẻ. Chỉ cho phép sửa đổi ngày sinh của con nuôi khi con nuôi chưa quá 1 tuổi. Nếu có lý do chính đáng được tòa án công nhận có thể sửa đổi ngày sinh của con nuôi khi con nuôi trên 1 tuổi.
Sự thay đổi ngày sinh và nơi sinh của trẻ em được cho làm con nuôi được ghi trong quyết định của tòa án về nuôi con nuôi.
- Hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Điều 137 của Bộ luật gia đình quy định khá chi tiết về hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi.
Quan hệ giữa trẻ em được nhận làm con nuôi và thế hệ sau của con nuôi với cha mẹ nuôi và họ hàng của cha mẹ nuôi, cũng như quan hệ giữa cha mẹ nuôi và họ hàng của cha mẹ nuôi và con nuôi và thế hệ sau của người đó bình đẳng với các quyền và nghĩa vụ tài sản và nhân thân phi tài sản của những người ruột thịt.
Con nuôi không còn các quyền và nghĩa vụ về tài sản và quan hệ nhân thân phi tài sản đối với cha mẹ đẻ (cũng như người ruột thịt) của con nuôi.
Khi trẻ chỉ được một người vợ hoặc người chồng nhận làm con nuôi thì chỉ duy trì các quyền và nghĩa vụ về tài sản và nhân thân phi tài sản giữa con nuôi và người nhận nuôi theo yêu cầu của người kia.
Nếu một trong hai cha mẹ đẻ của trẻ được cho làm con nuôi chết, thì theo đề nghị của cha mẹ người chết (ông bà của trẻ) có thể duy trì các quyền và nghĩa vụ về tài sản và nhân thân phi tài sản giữa con nuôi với họ hàng người chết, nếu điều đó tốt nhất cho lợi ích của trẻ. Việc duy trì quan hệ giữa con nuôi và cha hoặc mẹ đẻ hoặc với họ hàng của người đã chết cần phải ghi trong quyết định của tòa án về nuôi con nuôi.
Trẻ em được cho làm con nuôi có quyền được hưởng lương hưu và khoản trợ cấp dành cho cha mẹ nuôi bị chết.
- Sự bảo mật của việc cho con nuôi
Việc cho con nuôi được bảo mật theo quy định của pháp luật. Thẩm phán ra quyết định về việc nuôi con nuôi, các nhà chức trách đăng ký việc nuôi con nuôi và những người khác biết thông tin về nuôi con nuôi có nghĩa vụ phải giữ bí mật về nuôi con nuôi. Nếu những người có thẩm quyền nêu trên tiết lộ bí mật về nuôi con nuôi trái với ý muốn của cha mẹ nuôi người đó phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
- Hủy bỏ nuôi con nuôi
Việc hủy bỏ nuôi con nuôi do tòa án thực hiện. Khi tòa án xem xét việc hủy bỏ nuôi con nuôi phải có sự tham gia của cơ quan giám hộ, trợ tá và công tố viên. Việc nuôi con nuôi chấm dứt khi quyết định hủy nuôi con nuôi của tòa án có hiệu lực. Trong vòng 3 ngày kể từ ngày quyết định hủy nuôi con nuôi có hiệu lực, tòa án gửi quyết định để ghi vào sổ hộ tịch nơi đăng ký việc nuôi con nuôi.
Cơ sở để tòa án hủy nuôi con nuôi là việc người nuôi không thực hiện các nghĩa vụ của cha mẹ, lạm dụng quyền làm cha mẹ, đối xử tàn ác với con, bị bệnh nghiện rựợu hoặc ma túy. Ngoài ra, tòa án có thể hủy nuôi con nuôi vì những lý do khác xuất phát từ quyền lợi của trẻ em và có cân nhắc tới ý kiến của trẻ. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Những người sau đây có quyền yêu cầu hủy nuôi con nuôi: cha mẹ đẻ của trẻ, cha mẹ nuôi, trẻ em được cho làm con nuôi từ đủ 14 tuổi, cơ quan giám hộ và trợ tá, công tố viên.
- Hệ quả pháp lý của việc hủy nuôi con nuôi
Khi tòa án hủy việc nuôi con nuôi, các quyền và nghĩa vụ giữa con nuôi và cha mẹ nuôi (kể cả với người ruột thịt của cha mẹ nuôi) bị chấm dứt. Các quyền và nghĩa vụ giữa trẻ em và cha mẹ đẻ (kể cả với người ruột thịt của cha mẹ đẻ) được khôi phục nếu điều đó phù hợp với lợi ích của trẻ em.
Khi hủy nuôi con nuôi, theo quyết định của tòa án, trẻ được chuyển cho cha mẹ đẻ. Nếu không có cha mẹ đẻ hoặc việc chuyển trẻ cho cha mẹ đẻ trái với lợi ích của trẻ thì trẻ được chuyển cho cơ quan giám hộ và trợ tá. Khi quyết định hủy nuôi con nuôi, tòa án cũng xem xét giải quyết vấn đề trẻ có tiếp tục giữ họ và tên khi được cho làm con nuôi hay không. Đối với trẻ từ 10 tuổi trở lên thì khi thay đổi họ và tên trẻ cần có sự đồng ý của trẻ.
Pháp luật Liên bang Nga không cho phép hủy nuôi con nuôi nếu tại thời điểm yêu cầu hủy nuôi con nuôi con nuôi đã là người thành niên, trừ trường hợp có sự thỏa thuận giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, cũng như với cha mẹ đẻ của trẻ nếu họ còn sống và không bị tước quyền làm cha mẹ hoặc không bị tòa án công nhận không có năng lực hành vi dân sự.
- Nuôi con nuôi quốc tế
Điều 165 của Bộ luật quy định pháp luật áp dụng đối với việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố của Liên bang Nga.
Việc nuôi con nuôi và hủy nuôi con nuôi của người nước ngoài hoặc người không quốc tịch đối với trẻ em là công dân Liên bang Nga tuân theo pháp luật của nước mà người xin con nuôi là công dân, đối với người xin con nuôi là người không có quốc tịch thì theo pháp luật của nước nơi người đó thường trú tại thời điểm nộp đơn xin con nuôi hoặc đơn xin hủy nuôi con nuôi. Khi xin trẻ em là công dân Nga làm con nuôi, người xin con nuôi phải đáp ứng các điều kiện về trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi, điều kiện của cha, mẹ nuôi và các điều kiện khác do Bộ luật gia đình quy định và phù hợp với các quy định của điều ước quốc tế của Liên bang Nga về hợp tác nuôi con nuôi quốc tế.
Việc người nước ngoài hoặc người không quốc tịch đang trong quan hệ hôn nhân với công dân Liên bang Nga xin trẻ em là công dân Liên bang Nga trên lãnh thổ Liên bang Nga làm con nuôi phải tuân theo quy định của Bộ luật gia đình quy định đối với công dân Nga nếu điều ước quốc tế của Liên bang Nga không có quy định khác.
Công dân Liên bang Nga nhận trẻ em là công dân nước ngoài trên lãnh thổ Liên bang Nga cần phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp của trẻ và cơ quan có thẩm quyền của nước mà trẻ là công dân, cũng như sự đồng ý của trẻ nếu pháp luật của nước đó quy định. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Trong trường hợp việc nuôi con nuôi vi phạm các quyền của trẻ theo quy định của pháp luật Liên bang Nga và điều ước quốc tế mà Nga là thành viên thì không được giải quyết, bất kể người xin con nuôi có quốc tịch nước nào và cần được hủy bỏ theo thủ tục của tòa án.
Cơ quan lãnh sự của Liên bang Nga, nơi thống kê trẻ đến tuổi thành niên có nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em là công dân Nga được người nước ngoài hoặc người không quốc tịch nhận làm con nuôi ở ngoài lãnh thổ Liên bang Nga trong phạm vi do pháp luật quốc tế quy định, nếu điều ước quốc tế của Liên bang Nga không có quy định khác.
Việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài giải quyết cho công dân của họ nhận trẻ em là công dân Liên bang Nga và cư trú ở ngoài lãnh thổ Liên bang Nga làm con nuôi được công nhận tại Liên bang Nga, nếu cơ quan hành chính của Liên bang Nga nơi trẻ em hoặc cha mẹ đẻ cư trú trước khi đi ra nước ngoài làm con nuôi đồng ý sơ bộ cho – nhận con nuôi.
- Hoạt động của cơ quan và tổ chức con nuôi nước ngoài trên lãnh thổ Liên bang Nga
Nhằm tăng cường sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của các cơ quan và tổ chức con nuôi nước ngoài, ngày 04/11/2006, Chính phủ Nga đã ban hành Nghị định N.654 thay thế cho Nghị định N.268 ngày 28/03/2000.
Để tiến hành các hoạt động hỗ trợ việc xin con nuôi trên lãnh thổ Liên bang Nga, tổ chức nước ngoài phải xin phép Bộ Giáo dục và Khoa học Liên bang Nga mở văn phòng và phải đăng ký hoạt động.
Điều kiện mở văn phòng: Muốn được mở văn phòng hoạt động nuôi con nuôi tại Nga, tổ chức con nuôi nước ngoài phải là tổ chức phi lợi nhuận và phải hoạt động về nuôi con nuôi trên lãnh thổ nước mình không dưới 5 năm tính đến thời điểm nộp đơn xin mở văn phòng.
Thủ tục mở văn phòng: Để được mở văn phòng con nuôi tại Nga, tổ chức phải gửi đơn (theo mẫu) về việc xin mở văn phòng và kèm theo các giấy tờ sau:
- b1. Bản sao Điều lệ;
- b2. Bản sao Giấy phép do cơ quan có thẩm quyền của nơi tổ chức đặt trụ sở;
- b3. Quyết định của cơ quan đứng đầu của tổ chức nhà nước về việc mở văn phòng;
- b4. Quy chế của văn phòng đại diện; Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
- b5. Bản liệt kê các dịch vụ về nuôi con nuôi mà tổ chức cung cấp, nêu rõ giá các dịch vụ đó;
- b6. Giấy xác nhận nghĩa vụ của tổ chức tuân thủ các quy định của pháp luật Liên bang Nga về nuôi con nuôi, nghĩa vụ kiểm tra điều kiện sống và giáo dục trẻ em được nhận làm con nuôi, báo cáo thống kê, cung cấp thông tin theo quy định;
- b7. Giấy ủy quyền của tổ chức cho cá nhân nộp hồ sơ xin mở văn phòng;
- b8. Thư giới thiệu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoạt động nuôi con nuôi;
- b9. Lý lịch của người đứng đầu văn phòng;
Tất cả các giấy tờ này đều phải hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định, trừ trường hợp pháp luật của Lên bang Nga hoặc điều ước quốc tế của Liên bang Nga có quy định khác và phải được dịch ra tiếng Nga. Văn bản dịch, chữ ký của người dịch phải được chứng thực tại cơ quan lãnh sự hay cơ quan đại diện ngoại giao của Nga tại nước tổ chức có trụ sở hoặc tại công chứng của Liên bang Nga.
Trong vòng hai tháng kề từ ngày nhận đủ hồ sơ xin mở văn phòng đại diện, các cơ quan hành chính liên bang sẽ đưa ra kết luận về việc có cho phép tổ chức mở văn phòng con nuôi hay không.
Không cấp phép mở văn phòng: Tổ chức không được cấp phép mở văn phòng nếu:
- c1. Các giấy tờ trong hồ sơ không phù hợp với quy định của pháp luật Liên bang Nga về hình thức và nội dung;
- c2. Cung cấp các thông tin không chính xác về hoạt động nuôi con nuôi của tổ chức;
- c3. Cơ quan hành chính liên bang ra kết luận bác việc mở văn phòng;
- c4. Bối cảnh kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường không thuận lợi, chiến sự đang diễn ra tại nước nơi tổ chức hữu quan đặt trụ sở, gây khó khăn cho việc tiến hành các biện pháp bảo vệ và bảo hộ công dân của Liên bang Nga;
- c5. Pháp luật của nước nơi tổ chức đặt trụ sở không có quy định về việc công nhận quyết định về nuôi con nuôi do Liên bang Nga ban hành, hoặc có những quy định hạn chế quyền và lợi ích của trẻ em được nhận làm con nuôi trên lãnh thổ nước đó;
- c6. Tổ chức nước ngoài và/ hoặc đại diện của tổ chức đó, cũng như các nhân viên của tổ chức đó vi phạm thô bạo hoặc vi phạm có hệ thống pháp luật của Liên bang Nga; Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
- c7. Tổ chức nước ngoài và/ hoặc đại diện của tổ chức đó vi phạm thô bạo hoặc vi phạm có hệ thống các nghĩa vụ đảm bảo cuộc sống và giáo dục trẻ được cho làm con nuôi, không nộp báo cáo và cung cấp các thông tin và thống kê cho cơ quan lãnh sự của Liên bang Nga;
- c8. Hết hạn Giấy phép cho hoạt động nuôi con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi tổ chức đặt trụ sở cấp;
- c9. Tổ chức hoặc văn phòng đại diện bị xóa tên trong Sổ đăng ký;
- c10. Tổ chức không khắc phục được những sai phạm mà Bộ Giáo dục và Khoa học Liên bang Nga đã chỉ ra;
Ngoài ra, tổ chức và văn phòng đại diện, tùy vào mắc độ vi phạm, có thể bị tạm đình chỉ hoạt động.
2.2.4.5. Thực tiễn giải quyết nuôi con nuôi tại Liên bang Nga
- Mối quan hệ giữa nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi nước ngoài
Một trong những vấn đề mà xã hội Nga quan tâm là trong nhiều năm trở lại đây, số lượng trẻ em Nga làm con nuôi nước ngoài luôn nhiều hơn số trẻ em Nga được nhận làm con nuôi ở trong nước.
Theo thống kê của các bộ ngành liên quan đến chăm sóc, giáo dục trẻ em không có gia đình, năm 2005 có 9.419 trẻ em Nga được nhận làm con nuôi người nước ngoài (chủ yếu là con nuôi công dân Hoa Kỳ), trong khi đó chỉ có 7.350 trẻ được nhận làm con nuôi của công dân Nga. Trong vòng 10 năm trở lại đây đã có 45.000 trẻ em được cho làm con nuôi công dân Hoa Kỳ, Canada, Italia và một số nước phát triển khác.
Trong khi đã các văn bản pháp lý quốc tế mà Nga tham gia lại quy định nuôi con nuôi quốc tế chỉ là biện pháp bất đắc dĩ cuối cùng khi không thu xếp được mái ấm cho trẻ ở trong nước.
Điều 124 Bộ luật gia đình của Nga quy định rằng việc cho trẻ em Nga làm con nuôi người nước ngoài hoặc người không quốc tịch chỉ có thể được xem xét giải quyết nếu không còn một khả năng nào khác để thu xếp mái ấm cho các công dân Nga định cư ở trong nước hoặc cho những người họ hàng ruột thịt của trẻ, bất kể là họ sống ở đâu và có quốc tịch nước nào.
Mặc dù điều luật trên quy định nghĩa vụ cho các cơ quan có thẩm quyền của Nga phải ưu tiên thu xếp mái ấm cho trẻ ở trong nước, song pháp luật lại không qui định các biện pháp bắt buộc cần thiết để các cơ quan đó phải thu xếp mái ấm cho trẻ ở trong nước. Chính vì vậy mà khi toà án Nga xem xét việc có cho trẻ làm con nuôi người nước ngoài hay không, họ chỉ xem xét một cách hình thức, chiếu lệ xem là cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó làm hết mọi biện pháp để thu xếp mái ấm cho trẻ ở trong nước hay chưa, và chủ yếu là đồng ý cho trẻ em đi làm con nuôi người nước ngoài.
Theo Điều 121 Bộ luật gia đình thì cơ quan giám hộ, trợ tá có nghĩa vụ chăm sóc trẻ em không có sự chăm sóc của cha mẹ và phải thống kê đầy đủ các trẻ em đó và lựa chọn hình thức thu xếp mái ấm cho trẻ. Các cơ quan này cần phải tìm gia đình thích hợp cho trẻ. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Song trên thực tế quy định này tỏ ra không có hiệu quả vì một mặt do trong nhiều cơ quan chăm sóc trẻ em thiếu các chuyên gia về bảo vệ trẻ em. Mặt khác, do bối cảnh tham nhũng, trục lợi ở Nga, người nước ngoài không hề gặp trở ngại gì trong việc nhận được sự giúp đỡ “tận tình, hiệu quả” của các nhân viên trong cơ quan bảo trợ xã hội.
Chính vì vậy mà nuôi con nuôi trong nước luôn bị xem nhẹ, không được quan tâm đúng mức, phần lớn trẻ được dành cho việc nuôi con nuôi nước ngoài.
- Hiện tượng trục lợi trong môi giới con nuôi quốc tế
Trên lãnh thổ Liên bang Nga, theo số liệu chính thức có 100, nhưng theo số liệu không chính thức thì có 220 đại diện của tổ chức con nuôi nước ngoài cung cấp dịch vụ cho công dân của họ trong việc xin trẻ em của Nga làm con nuôi. Như vậy, có rất nhiều tổ chức nước ngoài hoạt động ở Liên bang Nga nhưng lại không hề có giấy phép hoạt động và không chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước. Trong nhiều trường hợp thì các đại diện bất hợp pháp này lại móc nối, với các quan chức, nhân viên của các cơ quan chăm sóc trẻ em của Nga.
Thực tiễn cho thấy, do thiếu sự kiểm tra, giám sát đối với việc thống kê số trẻ em cần được chăm sóc và tìm mái ấm và cơ chế tìm mái ấm cho trẻ ở trong nước nên lợi ích của người nước ngoài trong việc xin trẻ em Nga làm con nuôi luôn tỏ ra lợi thế hơn so với con nuôi trong nước. Do có nhiều lợi ích đan xen trong điều kiện kém minh bạch đó làm cho nuôi con nuôi nước ngoài trở nên hấp dẫn hơn nhiều so với nuôi con nuôi trong nước. Việc cho trẻ làm con nuôi người nước ngoài đó đem lại lợi ích đáng kể (tham nhũng) cho nhiều quan chức trong việc cung cấp các thông tin về trẻ được xem xét cho làm con nuôi.
Việc hoạt động của những đại diện của tổ chức con nuôi nước ngoài không được cấp phép đó dẫn đến hậu quả khôn lường. Một số trẻ do các đại diện bất hợp pháp môi giới sang Mỹ đó bị giết hại. Gia đình công dân Mỹ Martheu đã giết hại con nuôi người Nga và bị toà kết án 15 năm tù. Một trường hợp khác, do giết hại con nuôi người Nga, ngày 9/11/2005 công dân Mỹ Peggy Khilt đã bị toà kết án 40 năm tù. Hiện tượng trẻ em con nuôi người Nga đã bị giết hại, bị đối xử thô bạo không những chỉ diễn ra ở Mỹ mà còn ở một số nước khác. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Hoạt động của các đại diện bất hợp pháp này đã đem lại lợi nhuận khổng lồ cho không ít quan chức Nga và chính các quan chức này đã dung túng, bao che cho các hoạt động bất hợp pháp của một số tổ chức con nuôi nước ngoài. Để cho một trẻ em Nga làm con nuôi nước ngoài các khoản chi phí giao động từ 35-80 nghìn đô la Mỹ.
Tháng 1 năm 2006, cơ quan công tố Nga phối hợp với các cơ quan tư pháp của Mỹ đã phát hiện ra hoạt động trái phép của nhóm tội phạm “Unana”núp dưới hình thức cung cấp dịch vụ đã tiến hành buôn bán trẻ em trong thời gian dài trên phạm vi rộng. Các công dân Nga và Mỹ đã thành lập tổ chức “Unana”. Lợi dụng những lỗ hổng của pháp luật Nga, họ đã thu thập các thông tin mật về trẻ em ở Nga, Ucraina, Kadacxtan, Goatemala và ở một loạt nước khác để bán cho các đại lý về nuôi con nuôi. Tại nhiều nước, tổ chức này hoạt động với tư cách là người phối hợp với các tổ chức, cơ sở nuôi dưỡng trẻ và các cơ quan nhà nước về trẻ em, dùng tiền hối lộ để mua các thông tin và cung cấp dịch vụ. Giá của các dịch vụ này giao động từ 10-20 nghìn đôla Mỹ/1 trẻ. Rất nhiều người Mỹ sau khi nộp tiền cho Unana không nhận được trẻ vì trong thực tế không có trẻ có tên như vậy. Do hoạt động trục lợi mà đã có một số trẻ được môi giới cho làm con nuôi bất chấp mọi luật lệ. Có trẻ đã bị hành hạ và bị chết. Vụ án tại Chicago liên quan đến gia đình Đino và Irma Pavlic năm 2003 đã hành hạ con nuôi người Nga Alecxey Gâyco đến chết và người vợ Irma Pablic đã bị tòa án kết án 12 năm tù giam do đã có hành vi tra tấn dã man con nuôi.
Riêng trong năm 2005, các cơ quan công tố Nga đã khởi tố một loạt vụ án về tham nhũng, hối lộ của quan chức liên quan đến các đường dây con nuôi nước ngoài. Theo nhận xét của Phó Tổng Công tố Nga X.N.Phơridinxki thì đã phát hiện và truy tố một loạt quan chức đã có hành vi vòi vĩnh, tham nhũng, hối lộ trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, trong đó có cả những nhân viên của các cơ quan giáo dục,giám hộ, trợ tá. Cũng theo ông Phơridinxki trên tạp chí”Quan điểm” ngày 24/01/2006 do hỗ trợ cho người nước ngoài nhận trẻ em Nga làm con nuôi, các quan chức Nga nhận hối lộ từ 400-9000 USD, giám đốc các nhà trẻ và cơ sở nuôi dưỡng nhận tiền từ nhân viên của cơ quan giám hộ, trợ tá và những người môi giới, trung gian.
2.2.4.6. Các biện pháp được Liên bang Nga tiến hành
Trong một vài năm trở lại đây các nhà lập pháp của Nga đề xuất các giải pháp để khắc phục tình hình nuôi con nuôi quốc tế luôn có ưu thế hơn nuôi con nuôi trong nước và ngăn chặn các hành vi trục lợi, buôn bán trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Cũng là nước chưa tham gia Công ước La hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác nuôi con nuôi quốc tế, Nga đang chuẩn bị đủ điều kiện để tham gia và đảm bảo thực thi Công ước này. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Các ưu tiên mà Nhà nước Nga dành gồm:
- Cải thiện đời sống của gia đình và trẻ em. Ngoài việc tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức xã hội thì Nhà nước cần hỗ trợ thỏa đáng cho gia đình, cải thiện đời sống vất chất của họ. Đây chính là cơ sở xã hội để trẻ được chăm sóc trong môi trường gia đình Nga. Đồng thời Nhà nước cũng dành sự quan tâm hơn đến hệ thống bảo trợ xã hội, cơ sở nuôi dưỡng, hệ thống các cơ quan giám hộ, trợ tá, hỗ trợ vật chất cho gia đình sinh con, nhất là sinh con thứ hai, hỗ trợ vật chất gia đình cha mẹ nuôi. Đây chính là môi trường chăm sóc trẻ và tạo điều kiện thu xếp mái ấm cho trẻ ở trong nước.
- Hoàn thiện pháp luật hiện hành về nuôi con nuôi, nhằm đơn giản hóa thủ tục cho người thân, họ hàng, dòng tộc, người độc thân nhận nuôi dưỡng trẻ. Đối với các trường hợp này, để giảm bớt phiền hà, không nhất thiết phải giải quyết nhận con nuôi theo thủ tục tòa án mà có thể tiến hành đơn giản theo thủ tục hành chính (đã từng tồn tại ở Nga trước đây).
Chi tiết hóa các quy định về trình tự thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi để đám bảo cho các quy định của pháp luật có thể thực thi trong cuộc sống. Đặc biệt phải xác định rõ quy chế của tổ chức, văn phòng con nuôi cung cấp các dịch vụ về nuôi con nuôi và sử dụng internet để công khai hóa và minh bạch hóa thông tin.
- Chuẩn bị chuyên gia có đủ năng lực để hỗ trợ nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài để tạo điều kiện cho trẻ có thể thích nghi với cuộc sống mới.
- Thiết lập cơ chế hữu hiệu để kiểm soát được việc thực thi quyền trẻ em sau khi trẻ được cho làm con nuôi.
- Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi để chuẩn bị tốt điều kiện tham gia và thực thi Công ước La hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác nuôi con nuôi quốc tế.
2.2.5. Pháp luật của Hoa Kỳ Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Hoa Kỳ là một quốc gia theo hệ thống liên bang gồm hơn 50 tiểu bang. Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, vấn đề con nuôi quốc tế được giao cho cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của bang điều chỉnh. Theo đó, pháp luật các bang có quyền quy định cụ thể về vấn đề này tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của từng bang. Chính quyền các bang có quyền tự do chỉ định cơ quan nào là cơ quan trung ương của bang. Trong khi ở một số bang, cơ quan trung ương là Bộ Ngoại giao nhưng tại một số bang khác thì lại là tòa án bang hoặc một cơ quan hành chính được chỉ định. Cơ quan trung ương của bang có thẩm quyền rất cao trong việc xem xét, quyết định cấp phép hoạt động cho các tổ chức làm dịch vụ con nuôi trên cơ sở xem xét khả năng hoạt động, tài chính, nhân sự. Là một trong những nước nhận nhiều con nuôi nước ngoài nhưng cho đến nay Hoa Kỳ mới chỉ ký Công ước La Hay 1993 (chưa phê chuẩn) và vì vậy Công ước chưa có hiệu lực tại Hoa Kỳ. Đây là một trong những điểm bất cập trong pháp luật của Hoa Kỳ và là một cản trở lớn cho việc nhận con nuôi ở các quốc gia thành viên của Công ước. Do áp lực của dư luận và yêu cầu của Hội nghị Công ước La Hay 1993, Hoa Kỳ đã tiến hành sửa đổi một số văn bản pháp luật trong nước cho phù hợp với các quy định của Công ước như: nuôi con nuôi, nhập cư, quốc tịch…
2.2.5.1. Mục đích của Luật về con nuôi quốc tế của Hoa Kỳ năm 2000
Luật về nuôi con nuôi quốc tế của Hoa Kỳ có ba mục đích như sau:
- Phục vụ cho việc thực hiện Công ước của Hoa Kỳ;
- Bảo vệ quyền, ngăn chặn việc lạm dụng quyền của trẻ em, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi và để đảm bảo rằng việc nuôi con nuôi là vì lợi ích tốt nhất của trẻ;
Nâng cao khả năng của chính quyền liên bang trong việc hỗ trợ công dân Hoa Kỳ đang có ý muốn nhận con nuôi ở nước ngoài và công dân của quốc gia thành viên của Công ước đang có ý định nhận con nuôi từ Hoa Kỳ.
2.2.5.2. Một số quy định cơ bản về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Hoa Kỳ
Các quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Hoa Kỳ được quy định trong Luật về nuôi con nuôi quốc tế của Hoa Kỳ năm 2000 (“Luật”) được thông qua trong kỳ họp thứ 2, phiên họp thứ 106 của Quốc hội Hoa Kỳ ngày 24/01/2000, bao gồm 5 phần như sau: Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Phần 1 quy định về việc chỉ định cơ quan trung ương, trách nhiệm của Bộ Ngoại giao, Văn phòng Tổng chưởng lý và việc báo cáo về nuôi con nuôi quốc tế.
Khái niệm “cơ quan trung ương” được hiểu là cơ quan được ủy quyền giống như ở bất kỳ quốc gia thành viên nào của Công ước theo quy định tại Điều 6(1) của Công ước La Hay 1993. Theo đó, cơ quan trung ương của Hoa Kỳ là Bộ Ngoại giao của Liên bang và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao sẽ là người đứng đầu cơ quan trung ương về con nuôi, chịu trách nhiệm thực hiện chức năng của cơ quan này theo quy định của Công ước. Tất cả cán bộ của Bộ Ngoại giao thực hiện chức năng của cơ quan trung ương đều phải có kinh nghiệm làm công tác lãnh sự, có kinh nghiệm trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế hoặc dịch vụ về trẻ em.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao liên bang với tư cách là người đứng đầu cơ quan trung ương có trách nhiệm liên lạc với các cơ quan trung ương của các quốc gia thành viên của Công ước và phối hợp các hoạt động theo quy định của Công ước với các cơ quan thuộc thẩm quyền của Hoa Kỳ. Ngoài ra, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao còn chịu trách nhiệm trao đổi thông tin với các quốc gia khác về các tổ chức được chỉ định về việc chỉ định, tạm đình chỉ hoặc hủy việc chỉ định cũng như trong trường hợp các tổ chức chấm dứt hoạt động trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao liên bang còn chịu trách nhiệm thông tin về pháp luật liên bang và bang liên quan đến việc thực hiện Công ước và những vấn đề khác cần thiết và thích hợp cho việc thực hiện Công ước. Như vậy, có thể thấy vai trò của cơ quan trung ương của Hoa Kỳ là rất cao. Một trong những trách nhiệm khác của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao là giám sát mọi trường hợp nhận con nuôi liên quan đến công dân Hoa Kỳ. Trong trường hợp tổ chức, cá nhân được chỉ định không tạo điều kiện để công dân hoặc cơ quan có thẩm quyền của các bang thành viên giải quyết việc nuôi con nuôi thì Bộ trưởng Bộ Ngoại giao có quyền can thiệp trực tiếp.
Để góp phần thực hiện Công ước và phục vụ cho mục đích quản lý, Bộ Ngoại giao sẽ phối hợp với Văn phòng Tổng chưởng lý thành lập một cơ quan đăng ký con nuôi đối với những trẻ em nhập cư vào Hoa Kỳ cũng như trẻ em Hoa Kỳ di cư ra nước ngoài không cần biết việc nhận con nuôi có theo quy định của Công ước hay không. Cơ quan đăng ký sẽ lưu giữ và cập nhật những thông tin liên quan đến những trường hợp đã được giải quyết và những trường hợp chưa được giải quyết. Việc thực hiện chức năng của cơ quan trung ương có thể được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ủy quyền cho các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức tư nhân, cá nhân thực hiện trừ trường hợp đặc biệt được pháp luật quy định.
Một trong những vấn đề được đề cao là báo cáo về việc nuôi con nuôi quốc tế. Việc báo cáo được thực hiện trên cơ sở hàng năm bắt đầu từ ngày Hoa Kỳ phê chuẩn Công ước. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao sau khi tham khảo ý kiến của Văn phòng Tổng chưởng lý và các cơ quan có liên quan sẽ đề trình báo cáo về các hoạt động của cơ quan trung ương của Hoa Kỳ theo quy định của Luật về nuôi con nuôi quốc tế năm 2000 lên Ủy ban về quan hệ quốc tế, ủy ban về các biện pháp và phương cách, Ủy ban về Tư pháp của Hạ viện và Ủy ban về quan hệ đối ngoại, Ủy ban về tài chính và ủy ban về Tư pháp của Thượng viện.
Phần 2 của Luật về nuôi con nuôi của Hoa Kỳ năm 2000 quy định về việc chỉ định và thông qua hoạt động của các tổ chức được chỉ định phù hợp với quy định của Công ước, vai trò, tiêu chuẩn và thủ tục để chỉ định và thông qua, các yêu cầu mang tính kế hoạch của bang. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Về khái niệm, Luật nêu rõ:
- “Tổ chức được chỉ định” là tổ chức làm dịch vụ trong lĩnh vực nuôi con nuôi tại Hoa Kỳ trong trường hợp Hoa Kỳ là một quốc gia thành viên của Công ước.
- “Cơ quan được chỉ định” là cơ quan có thẩm quyền chỉ định tổ chức và thông qua hoạt động của các tổ chức.
“Dịch vụ con nuôi” là việc xác định trẻ cho làm con nuôi và việc tiến hành làm các thủ tục cho việc nhận con nuôi, đảm bảo các ý kiến đồng ý cần thiết để chấm dứt quyền cha mẹ đẻ với trẻ, thực hiện nghiên cứu về trẻ hoặc báo cáo gia cảnh của cha mẹ nuôi và báo cáo về nghiên cứu đó, ra quyết định đảm bảo vì quyền lợi tốt nhất của trẻ và tính phù hợp của việc đưa trẻ vào một gia đình, giám sát sau khi trẻ được nhận làm con nuôi cho đến khi việc nhận con nuôi chính thức được công nhận và trong trường hợp cần thiết phải hủy bỏ việc nhận con nuôi trước khi được công nhận thì phải tìm người giám hộ và chăm sóc trẻ hoặc qua các dịch vụ xã hội khác để tìm gia đình thay thế cho trẻ.
Pháp luật Hoa Kỳ quy định chỉ những người được chỉ định hoặc chấp thuận mới được phép làm Dịch vụ con nuôi và việc cung cấp dịch vụ phải chịu sự giám sát và quản lý của người có trách nhiệm.
Phần 3 của Luật về nuôi con nuôi quốc tế của Hoa Kỳ năm 2000 bao gồm các quy định về việc nhận nuôi con nuôi và trẻ em nhập cư vào Hoa Kỳ, quốc tịch liên quan đến trẻ em được nhận từ các quốc gia thành viên của Công ước.
Điều 203 của Luật nêu rõ các tiêu chuẩn và thủ tục cho việc chỉ định hoặc chấp thuận cho phép hoạt động dịch vụ con nuôi như sau: cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ cung cấp cho cha mẹ nuôi báo cáo sức khỏe của trẻ, đảm bảo rằng báo cáo gia cảnh, cha mẹ nuôi phải được hoàn thành phù hợp với Công ước cũng như các quy định áp dụng ở cả cấp liên bang và bang để trình cho Văn phòng Tổng chưởng lý; tổ chức đào tạo cho cha mẹ nuôi về thủ tục, hướng dẫn, tư vấn cho cha mẹ nuôi về việc làm thế nào để thúc đẩy quá trình nhận con nuôi; cung cấp dịch vụ trên cơ sở thu phí dịch vụ cơ bản chứ không phải trên cơ sở mức phí tự do và phải công khai mọi hoạt động và mức phí dịch vụ nuôi con nuôi. Các quy định về khả năng cung cấp dịch vụ, sử dụng chuyên gia, báo cáo, trách nhiệm bảo hiểm trong trường hợp cẩu thả gây hậu quả, việc áp dụng luật và giấy phép hoạt động của bang cũng được quy định trong Điều 203 của Luật. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Phần 3 này quy định về việc công nhận các trường hợp nhận con nuôi theo quy định của Công ước tại Hoa Kỳ. Phần này gồm 3 điều liên quan đến việc nhận con nuôi nước ngoài vào Hoa Kỳ, nhập cảnh và quốc tịch và việc trẻ em Hoa Kỳ di cư ra nước ngoài. Với tư cách là người đứng đầu cơ quan trung ương, sau khi nhận được thông báo của cơ quan trung ương của Nước Gốc, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao sẽ cấp chứng nhận cho cha mẹ nuôi là công dân Hoa Kỳ hiện đang sống tại Hoa Kỳ xác nhận việc đồng ý cho – nhận con nuôi theo quy định của Công ước và xác nhận mọi yêu cầu của Công ước đã được đáp ứng. Giấy xác nhận này có hiệu lực pháp luật trong mọi trường hợp như là một bằng chứng. Vấn đề hệ quả pháp lý của việc hoàn tất việc nuôi con nuôi ở quốc gia thành viên khác được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao xác nhận. Trong trường hợp trẻ em được nhận vào Hoa Kỳ làm con nuôi, lệnh của tòa án tuyên bố công nhận sẽ không có hiệu lực nếu chưa có chứng nhận của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
Đối với trường hợp trẻ người Mỹ được cha mẹ nuôi người nước ngoài nhận làm con nuôi, tổ chức/người được chỉ định hoặc cha mẹ nuôi (nếu được pháp luật của nước thành viên Công ước nơi họ sinh sống) phải đảm bảo rằng họ hoàn thành báo cáo về nguồn gốc của trẻ cũng như báo cáo gia cảnh của cha mẹ nuôi; việc giải quyết cho con nuôi phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của trẻ; cung cấp cho tòa án có thẩm quyền các giấy tờ có liên quan; có ý kiến đồng ý của cơ quan trung ương của Nước Nhận cũng như Nước Gốc…
Phần 4 của Luật về nuôi con nuôi quốc tế của Hoa Kỳ năm 2000 quy định về vấn đề quản lý và thực thi. Trong đó có quy định về việc tiếp cận các dữ liệu của Công ước, các văn bản pháp luật về con nuôi quốc tế của các quốc gia thành viên của Công ước, việc ủy quyền hợp lệ, phí và việc thực thi.
Phần 5 của Luật về nuôi con nuôi quốc tế của Hoa Kỳ năm 2000 là các quy định chung. Trong đó quy định việc công nhận quyết định nuôi con nuôi theo quy định của Công ước, một số quy định áp dụng trong trường hợp đặc biệt và mối quan hệ với các luật khác. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Phần 5 của Luật quy định về việc quản lý và thực thi bao gồm việc tiếp cận các dữ liệu theo quy định của Công ước như việc Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Văn phòng Tổng chưởng lý phải đưa ra quy định về thủ tục và yêu cầu lưu dữ các dữ liệu về Công ước. Về việc phổ biến các dữ liệu, Luật quy định Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Văn phòng Tổng chưởng lý có thể phổ biến dữ liệu và tiếp cận dữ liệu toàn bộ hoặc từng phần nếu những dữ liệu được lưu giữ theo thẩm quyền của Luật nhập cư và Luật quốc tịch. Việc phổ biến, tiếp cận các dữ liệu đó sẽ được phép và theo quy định của pháp luật liên bang. Các cơ quan trung ương, tổ chức được chỉ định chỉ có thể phổ biến, tiếp cận thông tin theo quy định của Luật này hoặc phục vụ cho mục đích của Công ước. Trong trường hợp các dữ liệu bị phổ biến trái luật, thì các hình thức của pháp luật liên bang sẽ được áp dụng.
Cũng theo Luật này, Bộ Ngoại giao được quyền thu phí đối với dịch vụ mà Bộ Ngoại giao thực hiện liên quan đến con nuôi quốc tế. Mức phí sẽ được quy định trong văn bản cụ thể và không quá mức chi phí cho dịch vụ. Mức phí thu được dùng để trang trải mọi dịch vụ của Bộ Ngoại giao. Trong trường hợp móc nối với đại diện hoặc cơ quan của Hoa Kỳ hoặc của nước ngoài giải quyết vấn đề con nuôi dưới mọi hình thức sẽ bị phạt tiền không quá 50.000 USD (năm mươi nghìn) bên cạnh các hình phạt khác (nếu vi phạm lần tiếp theo). Tội làm giả giấy tờ, thông tin, hứa cho quà, nhận quà, chỉ định tổ chức không đủ tiêu chuẩn, cấp phép cho cha mẹ nuôi không đúng hoặc ra quyết định, thực hiện chức năng của cơ quan trung ương không đúng pháp luật sẽ bị phạt tới 250.000 USD (hai trăm năm mươi nghìn), phạt tù tới 5 năm hoặc cả phạt tiền và phạt tù.
Phần 5 của Luật quy định về việc công nhận các trường hợp nhận con nuôi theo quy định của Công ước, quy định đặc biệt cho các trường hợp cụ thể, mối quan hệ với các luật khác.
Trên đây là những nét khái quát về pháp luật nuôi con nuôi có tố nước ngoài của Pháp, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Liên bang Nga và Hoa Kỳ. Mỗi nước có một cách thức quản lý hoạt động nuôi con nuôi quốc tế riêng, nhưng đều khoa học và tiến bộ. Vì vậy việc tìm hiểu và học hỏi kinh nghiệm của các nước này là rất cần thiết đối với Việt Nam khi chúng ta mới gia nhập Công ước La hay 1993. Luận văn: Công ước pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
