Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về người không được hưởng quyền di sản dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Vướng mắc và thực tiễn áp dụng pháp luật về người không được quyền hưởng di sản
3.1.1 Vướng mắc theo quy định của pháp luật
Thực tế cho thấy, từ khi Bộ luật dân sự 2015 ra đời, pháp luật về thừa kế quy định trong Bộ luật dân sự 2015 đã có những điều chỉnh đáng ghi nhận và khá hoàn thiện. Tuy nhiên, có những nội dung để giải quyết đúng đắn, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự vẫn rất cần có sự hướng dẫn, giải thích của các cơ quan có thẩm quyền. Song, thực tế áp dụng còn xảy ra một số vướng mắc có liên quan đến người không được quyền hưởng di sản; đó là:
Thứ nhất, tại điểm b, khoản 1, Điều 621, Bộ luật dân sự có quy định về vấn đề người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản. Nghĩa vụ nuôi dưỡng là phải vi phạm nghiêm trọng. Tuy nhiên, tính chất nghiêm trọng lại chưa có văn bản hướng dẫn nào làm rõ, nên do chính những người áp dụng pháp luật giải thích, dẫn đến tình trạng không thống nhất giữa cách giải thích cho một vấn đề ở các vụ án trong một Tòa cũng như không thống nhất giữa các địa phương. Bên cạnh đó, còn có thể dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật một cách không đúng, làm cho sự tôn nghiêm của pháp luật bị xâm phạm, các quyền lợi của những người liên quan cũng bị xâm phạm.
Mặt khác, nghĩa vụ nuôi dưỡng ở đây cũng không có quy định cụ thể hướng dẫn là nghĩa vụ theo pháp luật chứ không đơn thuần là nghĩa vụ theo đạo đức xã hội. Bởi, khi quy định này của pháp luật không nói rõ ràng nên dẫn đến tình trạng có các quan điểm sai lầm xác định đó là nghĩa vụ đạo đức xã hội và trong một số trường hợp cháu phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng cô, dì, chú, bác ở hàng thừa kế thứ ba. Những quan điểm sai lầm đó dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất, một số trường hợp quyền lợi của các bên liên quan bị xâm hại, làm ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đặt vào pháp luật – nơi có thể bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, pháp luật chưa công nhận khi người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, khi có hành vi ngược đãi, bất hiếu với người để lại di sản thì có quyền truất quyền hưởng thừa kế theo ý chí của người để lại di sản. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là pháp luật quy định người không được hưởng di sản theo hai trường hợp đó là theo luật hoặc theo ý chí của người lập di chúc. Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Thứ hai, tại điểm c, khoản 1, Điều 621, Bộ luật dân sự, có nhắc đến người thừa kế khác, cụm từ người thừa kế khác này cũng chưa có sự hướng dẫn rõ ràng là người thừa kế theo pháp luật hay người thừa kế theo di chúc vì vậy đang có nhiều quan điểm khác nhau để hiểu là người thừa kế khác ở đây, dẫn đến tình trạng tranh cãi, áp dụng, thực hiện pháp luật không thống nhất, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Có một số quan điểm cho rằng người thừa kế giết người thừa kế khác ở đây là những người thừa kế theo pháp luật chứ không phải là người thừa kế theo di chúc. Vì người thừa kế khác chỉ được xác định sau khi người để lại di sản chết và đã được xác định trên ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng với người để lại di sản và theo nguyên tắc người thừa kế còn phải sống vào thời điểm mở thừa kế. Do vậy, người có hành vi cố ý giết người thừa kế khác chỉ có thể là người thừa kế cùng hàng được hưởng di sản với người thừa kế bị giết. Do vậy, người thừa kế theo di chúc cố ý giết người thừa kế theo di chúc khác để chiếm đoạt phần di sản của người thừa kế theo di chúc được hưởng không thể thực hiện được, vì phần của mỗi người đã được chỉ định theo di chúc và nội dung di chúc chỉ được biết đến rõ sau khi di chúc được công bố. Mặt khác, cũng có quan điểm cho rằng trường hợp này người thừa kế khác là người thừa kế theo di chúc hoặc di tặng, theo quan điểm này cho rằng người thừa kế theo pháp luật cùng hàng mà giết nhau thì khi đó phần di sản đó sẽ thuộc về con của người bị giết đó sẽ được hưởng theo thừa kế thế vị. Còn những người thừa kế theo di chúc hoặc theo di tặng khi mà bị giết (chết trước người để lại di sản) thì thừa kế thế vị không được áp dụng và phần di sản đó sẽ chia theo pháp luật và người giết người khác đó thuộc diện được hưởng theo pháp luật.
Thứ ba, tại Điểm d, Khoản 1, Điều 621, Bộ luật dân sự quy định người thực hiện những hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí người để lại di sản sẽ không được quyền hưởng di sản. Tuy nhiên, mục đích của người thực hiện hành vi trên là để được hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản ở đây là trái với ý chí của người để lại di sản có di chúc, vậy trường hợp người thực hiện hành vi trên để một người khác cũng sẽ được hưởng hoặc không cho một người khác hưởng trái với ý chí của người để lại di sản chưa được điều chỉnh, chưa được luật đề cập đến.
Thứ tư, Pháp luật chưa quy định trong một số trường hợp mà có thể hành vi đó cũng bị coi là bất xứng như người biết rằng người để lại thừa kế đã bị giết nhưng đã không tố giác tội phạm hoặc che giấu tội phạm đó.
Xét về bản chất thì những hành vi này cũng được coi là tội phạm được quy định tại Điều 389 và Điều 390 Bộ luật hình sự 2015 và được sửa đổi năm 2017. Hành vi này là những hành vi mà người phạm tội cố ý không tố giác người phạm tội mặc dù biết rõ về tội phạm và cố tình không tố giác hoặc người này có hành vi che giấu tội phạm khi biết người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng vẫn che giấu nhưng không hứa hẹn trước đó. Đây là những hành vi có sự xâm hại đến trật tự xã hội và còn vi phạm các quy phạm đạo đức xã hội Việt Nam, đặc biệt trong trường hợp này người bị hại lại chính là người để lại thừa kế cho họ. Pháp luật Việt Nam lại chưa có quy định nào về thừa kế để điều chỉnh. Tuy nhiên, một số nước trên thế giới cũng đã có quy định về vấn đề này một cách hợp lý. Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Vì vậy, trong lĩnh vực thừa kế ở nước ta, khi xảy ra trường hợp này vẫn chưa có quy định cụ thể để áp dụng, đồng thời người có hành vi trên vẫn được phép hưởng thừa kế di sản của người mà mình biết do ai giết mà vẫn không tố cáo, vẫn che giấu.
Thứ năm, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về vấn đề con (cháu) của những người không được quyền hưởng di sản có được thừa kế thế vị hay không. Không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con và cháu đúng như mục đích của thừa kế thế vị khi mà bố, mẹ hoặc ông bà là những người thực hiện những hành vi bất xứng, còn hậu quả không được quyền hưởng di sản lại do con, cháu gánh chịu.
Thứ sáu, người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc có được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nữa không? Theo quy định của Bộ luật dân sự thì cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Trong phạm vi các quy định về người không được quyền hưởng di sản theo quy định của Bộ luật dân sự không đề cập đến việc một người được hưởng di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc hay là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản nhưng đã bị người này truất quyền hưởng di sản bằng một di chúc có hiệu lực pháp luật thì có được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nữa hay không? Có thể thấy khoản 1 Điều 621 dự liệu chưa đầy đủ các trường hợp không được quyền hưởng di sản.
Xét về diện thừa kế, những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, họ cũng là những người thuộc phạm vi được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật. Xét về hàng thừa kế, họ cũng nằm trong hàng thừa kế được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật. Vậy, nếu không cho họ hưởng di sản thừa kế theo pháp luật là không bảo đảm quyền lợi cho họ, những người được bảo vệ “trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó”. Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Như vậy, việc pháp luật bảo vệ quyền lợi cho những người thừa kế này và việc họ đương nhiên được hưởng thừa kế theo pháp luật là khác nhau. Họ được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc là do người lập di chúc không cho họ hưởng, do ý chí của người lập di chúc không phù hợp với đạo lý, bởi người Việt Nam vốn coi trọng nghĩa tình, “một ngày cũng là đạo nghĩa phu thê”, “giọt máu đào hơn ao nước lã”, cho nên pháp luật mới quy định hạn chế quyền của người lập di chúc nhằm bảo vệ những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Còn việc họ được hưởng di sản theo pháp luật là quyền thừa kế cơ bản của mỗi cá nhân. Do đó, không thể lẫn lộn giữa thừa kế theo pháp luật và thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc.
Ví dụ: Vợ chồng ông A, bà B có 2 người con chung là C và D đều đã trưởng thành nhưng chưa lập gia đình riêng. Do ghen tuông, nghi ngờ bà B bồ bịch ở ngoài không chăm lo cho gia đình, không chăm sóc khi ông A bị bệnh nên ông A có để lại di chúc không cho bà B được hưởng di sản thừa kế và định đoạt 1/2 di sản cho anh C, còn lại 1/2 di sản định đoạt cho anh D. Nhưng anh C đã chết trước ông A. Di sản của ông A xác định được là 120 triệu đồng. Sau khi ông A qua đời, bà B yêu cầu tòa án chia thừa kế di sản của ông A [57].
Theo tình huống trên, có quan điểm thứ nhất cho rằng: di sản của ông A được chia như sau: ông A đã định đoạt toàn bộ di sản cho hai người con hưởng mà không chỉ định cho bà B hưởng nhưng bà B không phải là người bị truất quyền hưởng di sản. Bà B được hưởng phần di sản được chia theo pháp luật là phần di sản liên quan đến phần di chúc ông A chỉ định cho C nhưng C đã chết trước ông A, phần di chúc này không có hiệu lực thi hành. Vậy anh D được hưởng 1/2 di sản của ông A, theo đó anh D được 90.000.000 đồng; còn 1/2 di sản của ông A liên quan đến phần di chúc cho C hưởng không có hiệu lực pháp luật được chia theo pháp luật. Những người thừa kế theo pháp luật tại hàng thừa kế thứ nhất nhận di sản của ông A gồm bà B, anh C, anh D. Nhưng anh C đã chết trước ông A, không có người thừa kế thế vị, do vậy di sản của ông A chia theo pháp luật cho bà B và anh D hưởng, theo đó bà B và anh D mỗi người được hưởng 30.000.000 đồng.
Bà B được hưởng theo pháp luật di sản của ông A được 30.000.000 đồng nhưng nếu theo quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 thì bà B còn thiếu là 10.000.000 đồng theo cách tính: Nếu không có di chúc thì bà B và anh D là hai người thừa kế tại hàng thứ nhất nên B và D mỗi người được hưởng 60.000.000 đồng. Một suất thừa kế theo pháp luật trong trường hợp này là 60.000.000 đồng, do vậy 2/3 là 40.000.000 đồng. Bà B phải được hưởng phần tối thiểu là 40.000.000 đồng nhưng bà B mới được chia 30.000.000 đồng theo pháp luật. Phần còn thiếu của bà B là 10.000.000 đồng được trừ vào phần di sản của anh D được hưởng theo di chúc, vậy anh D chỉ còn được hưởng thừa kế theo di chúc là 50.000.000 đồng. Tổng hợp người được thừa kế và phần di sản họ được: Bà B hưởng 40.000.000 đồng; anh D hưởng 50.000.000 đồng theo di chúc và 30.000.000 đồng theo pháp luật, tổng anh D được hưởng là 80.000.000 đồng. Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Trong trường hợp này, có quan điểm thứ hai đưa ra là bà B là người thừa kế theo pháp luật của ông A nên bà B đương nhiên được hưởng thừa kế theo pháp luật của ông A như anh D, nên không có lý do gì D vừa được thừa kế theo di chúc lại vừa được thừa kế theo pháp luật, trong khi bà B là người được pháp luật chú trọng bảo vệ hơn lại chỉ được hưởng một phần di sản là 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật với lập luận rằng vì bà B đã được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật là 30.000.000 đồng rồi, nên phần di sản mà bà B được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 còn thiếu 10.000.000 đồng nữa trừ vào phần di sản D được hưởng theo di chúc.
Điều 610 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Như vậy, theo luật thì bà B và D đều bình đẳng với nhau về quyền thừa kế theo pháp luật, do đó, phần di sản mà bà B được hưởng theo pháp luật phải giữ nguyên, đồng thời bà B còn được hưởng thêm một phần di sản ít nhất bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nữa, vì ý chí của người lập di chúc không cho bà B hưởng nhưng bà B thuộc đối tượng được pháp luật bảo vệ theo Điều 644 Bộ luật dân sự.
Muốn làm được như vậy, theo quan điểm của tôi phải tính 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật dựa trên phần di sản mà người lập di chúc đã định đoạt trong di chúc và phần đó có hiệu lực pháp luật. Chẳng hạn, trong ví dụ nêu trên,vì di chúc của ông A không thể hiện ý chí cho bà B được hưởng di sản theo di chúc, nên theo quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự thì bà B thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của ông A nên phải được hưởng một phần di sản ít nhất bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật. Do đó, nếu di sản của ông A định đoạt trong di chúc được chia theo pháp luật thì một suất là 40.000.000 đồng, và 2/3 của một suất là khoảng 26.600.000 đồng. Bà B được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc là 26.600.000 đồng. Như vậy, phần di sản còn lại của ông A là 93.400.000 đồng; ông A định đoạt theo di chúc cho 2 con là C và D, mỗi người được hưởng là 46.700.000 đồng. Ông A định đoạt phần di sản cho C nhưng vì C đã chết trước ông A, và C cũng không có người thừa kế thế vị, nên theo quy định tại Điều 641 và Điều 675 thì 46.700.000 đồng này sẽ được chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất của ông A có bà B và D đều còn sống và đủ điều kiện hưởng di sản, mỗi người được hưởng một phần di sản ngang nhau là 23.350.000 đồng. Vậy, tổng hợp lại, những người được thừa kế và di sản mà họ được hưởng là: Bà B được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc và thừa kế theo pháp luật là 49.950.000 đồng; D được thừa kế theo di chúc của ông A và theo pháp luật là 70.050.000 đồng.
3.1.2 Thực tiễn áp dụng Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Bản án thứ nhất: Bản án sơ thẩm số 62/DSST ngày 20/6/2001 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng và bản án phúc thẩm số 01/DSPT ngày 5/10/2001 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc tước quyền hưởng di sản của bà Võ Thị Xuân do đã có hành vi giả mạo di chúc, vi phạm điểm d khoản 1 Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 1995.
Ông Nguyễn Văn Khôi xây dựng gia đình với bà Bùi Thị Út năm 1935 và có hai người con là bà Võ Thị Xuân và bà Võ Thị Hương. Năm 1950, ông Khôi chung sống với bà Liễu và có thêm ba người con là bà Thu, ông Nghĩa, ông Thanh. Sau khi bà Liễu chết, ông Khôi đón tất cả các con về nuôi. Năm 1989, ông Khôi và bà Út tháo dỡ xây dựng lại nhà. Năm 1993, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng công nhận ngôi nhà ấy đứng tên sở hữu của hai ông bà. Sau khi bà Út chết, vào tháng 9 năm 1999, bà Xuân khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng chia thừa kế đối với di sản thừa kế là ngôi nhà ở số 189 Trần Cao Vân, thành phố Đà Nẵng theo di chúc của bà Út để lại ngày 22/5/1974, bản di chúc trên được đánh máy và có chữ ký của bà Út, trong bản di chúc có đoạn viết: “Di chúc này sau khi tôi lập xong ở Ủy ban hành chính phường và tôi giao lại cho người con mà tôi tin tưởng nhất là Võ Thị Xuân…”. Bản di chúc này được Phường trưởng kiêm hộ tịch (chế độ cũ) ký xác nhận và đóng dấu.
Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án cho rằng bản di chúc do bà Xuân xuất trình là di chúc giả mạo vì từ trước khi bà Út chết cho đến thời điểm xảy ra tranh chấp họ đều không thấy bà Xuân có nhắc đến bản di chúc này. Yêu cầu của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đề nghị giám định, xác minh bản di chúc bà Xuân cung cấp là thật hay giả và đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế theo pháp luật. Để xác minh bản di chúc mà bà Xuân xuất trình có đúng là di chúc thật của bà Út lập ra hay không, Tòa án huyện Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã có công văn đề nghị Phòng khoa học hình sự Công an thành phố Đà Nẵng giám định bản di chúc trên là thật hay giả. Do bà Út đã mất lâu và không để lại bút tích gì, vì vậy chỉ có phương pháp giám định chữ ký và con dấu của người xác nhận di chúc. Tổ chức giám định Công an thành phố Đà Nẵng đã xác định chữ ký và con dấu của người xác nhận di chúc (phường trưởng kiêm hộ tịch) là giả. Bản án số 62/DSST ngày 20/6/2001 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xử và quyết định đối với di sản tranh chấp là ngôi nhà ở số 189 Trần Cao Vân, thành phố Đà Nẵng được chia theo quy định của pháp luật. Tước quyền thừa kế theo luật của bà Xuân đối với ngôi nhà ở số 189 Trần Cao Vân, thành phố Đà Nẵng vì hành vi làm giả chữ ký và con dấu của người xác nhận di chúc. Bà Xuân không đồng ý với quyết định trên nên đã làm đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án. Tại bản án phúc thẩm số 01/DSPT ngày 5/10/2001, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định giữ y án sơ thẩm số 62/DSST ngày 20/6/2001 của Tòa án huyện Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Liên quan đến việc tước quyền hưởng di sản của bà Xuân, có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề này. Tác giả Liên Hương với bài viết đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 4 (tháng 2/2004), tác giả cho rằng cả án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên đều căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 646 Bộ luật dân sự năm 1995 để giải quyết đối với vụ kiện trên. Tòa án chỉ có thể truất quyền hưởng di sản của bà Xuân khi đã chứng minh được ba vấn đề sau: Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Thứ nhất: Nếu cho rằng bản di chúc mà bà Xuân xuất trình là di chúc giả mạo thì phải chứng minh được là bản di chúc đó không phải do người để lại di sản lập ra, nếu chỉ căn cứ vào kết quả giám định chữ ký và con dấu của người xác nhận thị thực là giả thì mới chỉ đủ căn cứ xác định bản di chúc của bà Út là không hợp pháp để bác yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của bà Xuân. Cần phải xác định chữ ký của bà Út tại bản di chúc là giả thì mới có thể khẳng định di chúc đó là di chúc thật hay giả. Cho nên nếu chỉ căn cứ vào kết quả giám định chữ ký con dấu của người xác nhận di chúc là giả mà khẳng định di chúc giả và tước quyền hưởng di sản thừa kế theo luật của bà Xuân là không có căn cứ pháp luật.
Thứ hai: Nếu đủ cơ sở xác định di chúc của bà Út là giả thì cần phải xác định ai là người có hành vi giả mạo di chúc đó, tác giả của di chúc cũng có thể là bà Xuân hoặc cũng có thể do những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác lập ra. Trong trường hợp này cần phải chứng minh là bà Xuân đúng là tác giả của bản di chúc giả do bà cung cấp.
Thứ ba: Cần xác định được mục đích của người có hành vi giả mạo di chúc nhằm để hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Như vậy nếu chứng minh được bà Xuân là người có hành vi giả mạo di chúc nhưng không chứng minh được hành vi đó trái với ý chí của người để lại di sản thì không thể tước quyền thừa kế di sản của bà Xuân.
Cũng theo tác giả Liên Hương, trong vụ kiện thừa kế trên thì hoàn toàn không đủ căn cứ để chứng minh ba điều kiện trên theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 646 Bộ luật dân sự năm 1995. Cho nên quyết định của hai bản án trên về việc tước quyền hưởng di sản của bà Xuân đối với di sản của bà Út là không đúng quy định của pháp luật.
Sau khi bài viết của tác giả Liên Hương được đăng trên tạp chí đã có nhiều phản hồi xung quanh quan điểm của tác giả này. Tác giả Lê Minh Hiếu, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã có ý kiến về ba điểm cần phải chứng minh để tước quyền hưởng di sản của bà Võ Thị Xuân: Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Thứ nhất: Để chứng minh di chúc của bà Bùi Thị Út mà bà Xuân xuất trình là giả mạo thì phải xác định được chữ ký của bà Út tại bản di chúc này là giả. Nếu dựa vào kết quả giám định chữ ký, con dấu của người xác nhận di chúc là giả mà khẳng định đi chúc giả là không có căn cứ pháp luật. Lập luận như vậy là không đúng, bởi kết quả giám định của cơ quan công an về chữ ký, con dấu của Phường trưởng kiêm hộ tịch (chế độ cũ) là giả là đã đủ căn cứ để xác định đó là bản di chúc giả. Bởi trong di chúc có đoạn viết “Di chúc này sau khi tôi lập xong ở Ủy ban hành chính phường và tôi giao lại cho người con mà tôi tin tưởng nhất là Võ Thị Xuân… “, điều này cho thấy việc lập di chúc và ký vào di chúc đều được bà Út lập tại Ủy ban hành chính phường và được người có thẩm quyền ký xác nhận, đóng dấu. Chữ ký của Phường trưởng là giả thì chữ ký của bà Út đương nhiên cũng là chữ ký giả.
Thứ hai: Khi đã có đủ cơ sở để xác định di chúc của bà Út là di chúc giả thì cần phải xác định ai là người có hành vi giả mạo. Người có hành vi giả mạo ở đây không nhất thiết phải đúng tác giả mà người đó có biết, đồng ý hoặc tham gia vào việc giả mạo này không. Trong trường hợp này bà Xuân là nguyên đơn, là người giữ và xuất trình di chúc để yêu cầu chia thừa kế theo di chúc, như vậy bà Xuân là người biết rõ nhất về tính trung thực của bản di chúc. Hay nói cách khác bà Xuân nếu không trực tiếp là người có hành vi giả mạo di chúc thì cũng là người trực tiếp đồng phạm của việc giả mạo di chúc đó. Vì vậy tước quyền thừa kế của bà Xuân là hoàn toàn hợp lý.
Thứ ba: Tác giả Liên Hương cho rằng, nếu xác định bà Xuân là người có hành vi giả mạo di chúc nhưng không chứng minh được hành vi đó trái với ý chí của người để lại di sản thì không thể tước quyền thừa kế di sản của bà Xuân là không chính xác. Bởi nếu di chúc mà bà Xuân làm giả, có nghĩa là bà Út chết đã không để lại di chúc thì di sản sẽ được chia đều cho những người thừa kế. Hành vi bà Xuân giả mạo di chúc nhằm không cho những người thừa kế khác được hưởng di sản của bà Út như vậy có trái với ý kiến của bà Út không? Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Cũng theo tác giả, để tước quyền thừa kế theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 646 Bộ luật dân sự năm 1995 nay là điểm d khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 thì chỉ cần đủ chứng cứ để chứng minh người đó có hành vi giả mạo chứ không nhất thiết phải chứng minh đủ ba yếu tố như tác giả Liên Hương đưa ra. Bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã quyết định tước quyền thừa kế theo luật của bà Võ Thị Xuân là đúng pháp luật. Liên hệ đến bản di chúc do bà Xuân xuất trình có đặc điểm bản di chúc được đánh máy, có chữ ký của người lập di chúc, được chính quyền địa phương xác nhận và đóng dấu. Tuy nhiên những người trong hàng thừa kế không chấp nhận vì trong suốt 25 năm qua họ chưa thấy và cũng không nghe bà Xuân có nhắc tới bản di chúc này. Cho nên những người thừa kế này cho rằng đây là di chúc giả mạo và yêu cầu giám định lại bản di chúc đó. Tuy nhiên, việc giám định chữ ký của bà Út không thực hiện được vì bà Út đã mất lâu và không để lại bút tích gì, do vậy chỉ còn phương pháp giám định chữ ký và con dấu của người xác nhận di chúc. Kết quả cho thấy chữ ký và con dấu đều là giả, như vậy yêu cầu của bị đơn là đúng. Ngoài ra, với yêu cầu của của tác giả Liên Hương để tước quyền hưởng di sản của bà Xuân thì phải chứng minh bà Xuân là người có hành vi lập di chúc giả mạo, tuy nhiên trong một vụ việc dân sự thì việc xác định hành vi giả mạo là không thực hiện được.
Sau khi có kết quả giám định về chữ ký và con dấu của người xác nhận di chúc là giả mạo, bà Xuân không xin giám định lại bản di chúc đó ở cấp có thẩm quyền cao hơn. Bà cương quyết từ chối và vẫn cho rằng đây là bản di chúc thật nhưng không có gì để chứng minh. Mặc dù để bảo đảm quyền lợi của bà Xuân, trong quá trình làm việc tại Tòa án đã hỏi bà có thay đổi yêu cầu khởi kiện không? Có yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật không? Nhưng bà Xuân vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không có yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, cho nên Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã có công văn số 1955 ngày 7/8/2003 trả lời khiếu nại của bà Xuân với nội dung hai bản án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xử đúng quy định của pháp luật, bà Xuân phải có nghĩa vụ chấp hành.
Mặc dù vụ án này các cấp Tòa án đã ra quyết định hoàn toàn hợp lý và có cơ sở nhưng với những cách hiểu khác nhau trên thực tế đã làm phát sinh nhiều tranh cãi. Với cách hiểu như của tác giả Liên Hương thì sẽ không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Nghiên cứu vụ án có thể nhận thấy, để đánh giá một vụ việc cần phải đánh giá toàn diện một vụ án cũng như xem xét toàn bộ chứng cứ có trong vụ án như lời khai, biên bản phiên tòa, các chứng cứ cũng như tình tiết của vụ án để đánh giá tính đúng sai của vụ án. Với những cách hiểu khác nhau trên thực tế có thể làm phát sinh nhiều tranh cãi, cần hiểu đúng chính xác tinh thần của điều luật kết hợp với mối liên hệ tổng thể của những tình tiết có trong vụ án để có kết luận chính xác và hợp lý, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Bản án thứ hai: Bản án dân sự sơ thẩm ngày 31/8/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử vụ án tranh chấp thừa kế giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Lụa trú tại ấp Trại Lòn Nam, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thành, Tỉnh Long An; bà Nguyễn Thị Chinh trú tại Cộng hòa Liên bang Đức (ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Lài tham gia tố tụng tại Tòa án) với bị đơn là ông Nguyễn Văn Chính trú tại ấp Trại Lòn Nam, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thành, Tỉnh Long An.
Theo bản án sơ thẩm vụ án có nội dung được tóm tắt như sau: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Lụa và bà Nguyễn Thị Chinh thống nhất trình bày: Bố mẹ đẻ của các bà là ông Nguyễn Văn Tám và bà Nguyễn Thị Lài sinh được 3 người con là ông Nguyễn Văn Chính (có vợ là Nguyễn Thị Tươi), bà Nguyễn Thị Lụa, bà Nguyễn Thị Chinh. Trong thời gian chung sống cha mẹ bà có tạo lập một ngôi nhà cấp 4 nằm trên khu vườn khoảng 700m2 tại ấp Trại Lòn Nam, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thành, Tỉnh Long An, ngoài ra không còn tài sản gì khác có giá trị. Ông Chính là con trai cả nên được sống chung với cha mẹ, năm 1997 do tuổi cao sức yếu do cần tiền trị bệnh nên ông bà Tám cắt một phần đất để nhượng lại cho một người bà con để lấy tiền chữa bệnh. Vợ chồng Chính phản đối cho rằng cha mẹ không có quyền bán, từ đây vợ chồng Chính nhiều lần dùng lời lẽ thô tục để chửi mắng cha mẹ, đập phá tài sản của ông bà. Không chịu nổi tình cảnh trên ông bà Tám đã bỏ nhà đến sống với bà Lụa. Hai tháng sau ông bà quay trở về, Chính và Tươi không cho ông bà vào nhà và đối xử ngày càng tàn tệ hơn. Quá khiếp sợ trước sự ngược đãi, bức bách tinh thần của vợ chồng Chính, Tươi. Vợ chồng ông Tám một lần nữa bỏ nhà ra đi, với hành vi ngược đãi cha mẹ trong một thời gian dài được nhiều người biết, chính quyền đoàn thể tại địa phương cảnh cáo, giáo dục, phạt hành chính nhưng vợ chồng Chính, Tươi vẫn không ăn năn hối cải mà tiếp tục vi phạm ở mức độ nghiêm trọng hơn. Chính quyền và nhân dân địa phương đã bức xúc gửi đơn yêu cầu pháp luật xử lý nghiêm khắc đối với vợ chồng Chính, Tươi. Cơ quan pháp luật đã khởi tố vụ án hình sự về hành vi ngược đãi cha mẹ của vợ chồng Chính, Tươi. Tại phiên tòa sơ thẩm Tòa sơ thẩm đã tuyên phạt Chính 1 năm tù, Tươi 1 năm 3 tháng tù giam về tội ngược đãi cha mẹ.
Năm 2006 ông Tám mất không để lại di chúc, năm 2007 bà Lài mất cũng không để lại di chúc. Sau khi ông bà Tám mất, ngôi nhà và mảnh vườn của ông bà Tám đã bị vợ chồng Chính, Tươi chiếm giữ, sử dụng. Bà Lụa và bà Chinh cho rằng ông Chính không có quyền hưởng di sản của cha mẹ để lại nên nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Bản án dân sự sơ thẩm ngày 31/8/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hợp pháp, Tòa tuyên bố truất quyền hưởng di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Chính trú tại ấp Trại Lòn Nam, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thành, Tỉnh Long An do đã có hành vi vi phạm tại điểm a khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2005. Di sản thừa kế của ông Tám, bà Lài là ngôi nhà cấp 4 nằm trên khu vườn khoảng 700m2 tại ấp Trại Lòn Nam, xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thành, tỉnh Long An được chia theo quy định của pháp luật cho hai người thừa kế là bà Nguyễn Thị Lụa và bà Nguyễn Thị Chinh.
Như vậy, qua vụ tranh chấp trên có thể thấy rằng quyết định truất quyền hưởng di sản của bị đơn, di sản thừa kế được chia theo quy định của pháp luật của Tòa sơ thẩm trong vụ án trên là chính xác. Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Ngoài ra trên thực tế, có rất nhiều tranh chấp phát sinh giữa những người thừa kế bởi họ cho rằng có người thừa kế không được quyền hưởng di sản do đã có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015. Tuy nhiên, do cách hiểu chưa thấu đáo về nội dung của điều luật cho nên dẫn tới những cách hiểu sai. Chẳng hạn như người thừa kế đã vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng người để lại di sản nhưng chưa nghiêm trọng đến mức bị tước quyền hưởng di sản nhưng những người thừa kế khác lại cho rằng cứ không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ là không có quyền được hưởng tài sản của cha mẹ để lại. Hoặc khi người thừa kế có hành vi giả mạo di chúc thì họ không có quyền hưởng thừa kế, tuy nhiên họ chỉ bị mất quyền hưởng di sản của người đã bị họ giả mạo di chúc còn đối với di sản của người khác họ vẫn có quyền được hưởng. Ví dụ: cụ A và cụ B có 4 người con là C, D, E, H. Năm 1957, cụ A chết không để lại di chúc, năm 1985 cụ B chết cũng không để lại di chúc. Sau khi cụ B chết, bà H đã xuất trình một bản di chúc đứng tên cụ B với nội dung là cho bà H hưởng toàn bộ nhà đất và tài sản do cụ B để lại. Bản di chúc mà bà H xuất trình là di chúc giả, những người thừa kế còn lại đều cho rằng bà H có hành vi làm giả di chúc nên không được hưởng di sản của cha mẹ để lại. Đây là cách hiểu không chính xác bởi bà H làm giả di chúc của cụ B nên chỉ không được hưởng di sản của cụ B để lại còn di sản của cụ A để lại thì bà H vẫn có quyền được hưởng. Thực tế còn nhiều bất cập nên cần phải có những giải pháp để giải quyết những vấn đề này.
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về người không được quyền hưởng di sản Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Để khắc phục những thiếu sót, hạn chế của pháp luật và để những quy định của pháp luật được áp dụng đúng nhất, chính xác nhất tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau [58]:
- Thứ nhất, về thuật ngữ “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng”
Như đã trình bày ở phần trên, thuật ngữ “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng” chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là vi phạm nghiêm trọng nên có nhiều quan điểm, không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Vì vậy, cần có văn bản hướng dẫn thế nào thì coi là vi phạm nghiêm trọng. Có thể tham khảo nội dung này tại Nghị quyết 02/HĐTP-TANDTC năm 1990, vì đây là quy định có nội dung tương đối hợp lý nên hiện nay, để xác định tính nghiêm trọng thì hầu hết những người áp dụng pháp luật vẫn dựa trên tinh thần đó. Bên cạnh đó, nghĩa vụ nuôi dưỡng ở đây cũng cần quy định cụ thể là nghĩa vụ pháp lý được quy định trong các văn bản pháp luật chứ không đơn giản là nghĩa vụ theo đạo đức xã hội.
Việc hướng dẫn có thể hướng dẫn trong cùng một văn bản dưới luật cùng với một số vấn đề cần thiết hướng dẫn trong lĩnh vực thừa kế. Có thể là Nghị định với tên là “Nghị định hướng dẫn chi tiết áp dụng một số điều về lĩnh vực thừa kế”. Nội dung cụ thể như sau:
“Nghĩa vụ nuôi dưỡng tại điểm b, khoản 1, Điều 621 là nghĩa vụ pháp lý, đã được quy định trong các văn bản pháp luật.
Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng là người có khả năng thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng mà không thực hiện làm cho người được nuôi dưỡng lâm vào tình trạng khổ sở hoặc nguy hiểm đến tính mạng và sự việc này phải diễn ra trong khoảng thời gian 3 năm trước khi thừa kế được mở.
Tình trạng khổ sở là trở thành người sống lang thang, trẻ em thất học…hoặc lâm vào tình trạng nguy hiểm tính mạng”.
- Thứ hai, về thuật ngữ “người thừa kế khác”. Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Có một số quan điểm cho rằng người thừa kế khác là người thừa kế theo pháp luật, cũng có quan điểm cho rằng người thừa kế khác là người thừa kế theo di chúc. Vì vậy, cần có hướng dẫn cụ thể ở đây là người thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật hay cả hai.
Việc hướng dẫn đó có thể cùng văn bản hướng dẫn nội dung về “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng”. Cụ thể hướng dẫn như sau:
“Người thừa kế khác tại điểm c, khoản 1, Điều 621, Bộ luật dân sự, là người thừa kế nói chung, không phân biệt người thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật”.
- Thứ ba, về vấn đề khái niệm người không được quyền hưởng di sản.
Khái niệm người không được quyền hưởng di sản chưa có quy định trong Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành, cũng như trong lịch sử phát triển của quy định về người không được quyền hưởng di sản thừa kế cũng chưa có trong bất kỳ văn bản nào của pháp luật Việt Nam. Mặt khác, các bài tạp chí nghiên cứu về vấn đề này cũng không đưa ra khái niệm về người không được quyền hưởng di sản. Vì vậy, khi nhắc đến người không có quyền hưởng di sản vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau. Điều này đã dẫn đến việc xác định người không được quyền hưởng di sản gặp khó khăn, mặt khác cũng gây không ít khó khăn trong việc áp dụng pháp luật. Vì vậy, theo tôi rất cần đưa ra định nghĩa cụ thể về người không được quyền hưởng di sản để khắc phục hạn chế này.
Cần bổ sung thêm Điều luật về định nghĩa như sau: “Điều…: Người không được quyền hưởng di sản.
Người không được hưởng di sản là người không được quyền hưởng di sản do người chết để lại mà lẽ ra thuộc về mình do có những hành vi bất xứng theo quy định của pháp luật.”
- Thứ tư, về mục đích của người thực hiện hành vi tại Điểm d, Khoản 1, Điều 621 Bộ luật dân sự 2015.
Tại Điểm d, Khoản 1, Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 quy định người thực hiện những hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí người để lại di sản sẽ không được quyền hưởng di sản. Tuy nhiên, mục đích hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản ở đây là trái với ý chí của người để lại di sản, người thực hiện hành vi trên với mục đích hưởng di sản trái với ý chí của người để lại di chúc, vậy trường hợp người thực hiện hành vi trên để người thứ ba cũng sẽ được hưởng hoặc không cho một người khác hưởng trái với ý chí của người để lại di sản chưa được điều chỉnh [59].
Vì vậy, nên sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 như sau: “d, Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người có di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc để mình hoặc người khác hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí người để lại di sản”. Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
- Thứ năm, về trường hợp người thừa kế phạm tội không tố giác tội phạm đã phạm tội giết người để lại di sản.
Pháp luật một số nước như Pháp, Nhật Bản và Thái Lan có quy định vấn đề “Người biết rằng người để lại thừa kế đã bị giết nhưng đã không cung cấp thông tin hoặc không tiến hành buộc tội trừ trường hợp người này không có khả năng phân biệt phải trái hoặc khi bên có tội là vợ hoặc chồng là người thân trực hệ theo dòng máu của người đó”.
Qua như phân tích ở trên, trong trường hợp này, ở Việt Nam cũng có những trường hợp thực tế xảy ra và trường hợp này xét về bản chất và mức độ thì có thể thuộc vào trường hợp “bất xứng” và bị tước quyền thừa kế theo pháp luật. Mặt khác, để phù hợp trong thời kỳ hội nhập hiện nay, pháp luật Việt Nam cũng cần có sự học hỏi những quan điểm tích cực và phù hợp với thực tế ở Việt Nam để xây dựng pháp luật một cách hoàn thiện hơn [60]. Vì vậy, tác giả xin đưa ra ý kiến bổ sung trường hợp không được quyền hưởng di sản tại Điều 621 như: “e, Người bị kết án về hành vi che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm đối với người giết người để lại di sản thừa kế”.
Sở dĩ quy định nêu bị kết án về hành vi trên chính là vấn đề người đó đã có thực hiện hành vi phạm tội đó và trong pháp luật hình sự khi đủ chứng cứ xác định thì bị coi là phạm tội. Mặt khác, để có thể tước quyền thừa kế của những người này cũng cần có chứng cứ chứng minh về hành vi của họ. Tương tự như các trường hợp đã được quy định thì bản án này phải là bản án có hiệu lực pháp luật.
- Thứ sáu, về vấn đề thừa kế thế vị của con (cháu) khi bố, mẹ (ông, bà) là người thực hiện hành vi bất xứng.
Pháp luật Pháp đã có quy định về vấn đề trong trường hợp bố mẹ không được quyền hưởng di sản nhưng con vẫn có thể là người thừa kế thế vị. Đây là một quy định hết sức tiến bộ. Khi áp dụng pháp luật liên quan đến vấn đề này các cơ quan áp dụng sẽ dễ dàng thực hiện như Điều 965 Bộ luật dân sự Nhật Bản. Ở Việt Nam, chưa có quy định nào quy định về vấn đề này, do đó nên xây dựng một quy phạm để điều chỉnh vấn đề này thuận tiện và hợp ý hơn.Theo logic mà áp dụng pháp luật Việt Nam thì con (cháu) của những người không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật dân sự sẽ không được thừa kế thế vị, quyền lợi của con cháu sẽ không được đảm bảo [61]. Về việc hưởng thừa kế thế vị của con, cháu người thừa kế bị tuyên bố là không có quyền được hưởng di sản, pháp luật cần có quy định cụ thể về trường hợp này. Nếu hiểu và áp dụng pháp luật một cách máy móc thì nếu cha mẹ không có quyền hưởng di sản thì đương nhiên con, cháu cũng không có quyền dược hưởng thừa kế thế vị từ ông bà. Điều này chưa hợp lý bởi xét về bản chất của thừa kế thế vị là nhằm đảm bảo quyền thừa kế của cháu, cũng như nghĩa vụ của ông bà với cháu. Để bảo vệ quyền lợi của cháu, chắt khi bản thân họ không bị Tòa án tước quyền, họ không bị người để lại di sản truất quyền thừa kế thì nên cho họ hưởng thừa kế thế vị thay cho cha mẹ họ đã bị tước quyền thừa kế khi còn sống, đặc biệt là trong trường hợp cháu, chắt chưa thành niên. Như vậy để bảo vệ quyền và lợi ích của cháu, chắt của người để lại di sản, pháp luật nên quy định cho cháu, chắt được hưởng thừa kế thế vị trong trường hợp cha mẹ cháu còn sống nhưng đã bị kết án về một trong những hành vi theo quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự. Cháu không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm về hành vi của cha mẹ. Do vậy cần bổ sung trường hợp những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 621 thì con, cháu họ vẫn được hưởng thừa kế thế vị trừ khi chính những người con, người cháu ấy cũng vi phạm khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015 thì họ mới không được hưởng di sản.
Vậy, tác giả đưa ra giải pháp cho vấn đề này như sau: Quy định một điều luật riêng rẽ về vấn đề này với nội dung: “Điều…:Bố, mẹ hoặc ông, bà thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản do có hành vi bất xứng thì con hoặc cháu vẫn có thể được hưởng di sản theo thừa kế thế vị từ ông, bà hoặc cụ trong trường hợp bố, mẹ hoặc ông bà chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông, bà hoặc cụ”. Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Thứ bảy, người không được quyền hưởng di sản có trường hợp là người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc quy định tại Điều 644 nhưng lại không được quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật. Vậy người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc hay người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản nhưng đã bị người này truất quyền hưởng di sản thừa kế bằng một di chúc có hiệu lực pháp luật thì có được hưởng di sản theo quy định của pháp luật không? Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không phải là một quy định của chế định thừa kế theo pháp luật. Do vậy, mặc dù luật không quy định là một người có thể vừa được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc vừa được hưởng thừa kế theo pháp luật, nhưng cũng không có quy định nào về việc một người đã được hưởng di sản do được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc rồi thì không được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nữa, và cũng không có văn bản hướng dẫn cách chia di sản thừa kế, nên chúng ta không thể đồng nhất hai vấn đề trên. Như vậy sẽ không thể hiện được tính chất bảo vệ của chế định thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, mặt khác, còn vô tình tước mất quyền được thừa kế theo pháp luật của những người này mặc dù xét về diện và hàng thừa kế, họ cũng là những người thuộc phạm vi, nằm trong hàng thừa kế được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật. Chính vì vậy, khi chia di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà có phần di sản được chia theo pháp luật thì phải để những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được hưởng thừa kế theo pháp luật.
Thứ tám, cần bổ sung những trường hợp cụ thể đã đủ căn cứ để kết tội một người nhưng không thể kết án được do chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự… Như hành vi giết người của một đứa trẻ, không thể tước quyền hưởng di sản của đứa trẻ này do không thể đưa ra một bản án kết tội vì đứa trẻ đó chưa đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự. Hoặc cũng với chủ thể đó nếu có đủ căn cứ để chứng minh được hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc… nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản trái với ý chí của người để lại di sản thì đã đủ căn cứ để tước quyền hưởng di sản mà không cần căn cứ vào độ tuổi hay phải có bản án kết tội của Tòa án về những hành vi đó. Mặc dù xét về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hai hành vi trên, thì hành vi giết người của đứa trẻ chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nguy hiểm hơn nhiều.
Thứ chín, người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân cơ quan tổ chức, Nhà nước. Nhưng tại Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 quy định người không có quyền hưởng di sản chỉ là cá nhân. Vì vậy cần phải đặt ra vấn đề khi nào pháp nhân không có quyền hưởng di sản, trong trường hợp pháp nhân không thực hiện đúng mục đích mà người để lại di sản yêu cầu thì có nên tước quyền hưởng di sản của pháp nhân đó hay không. Ví dụ như trường hợp ông A để lại phần lớn tài sản của mình cho một tổ chức từ thiện, khi người này chết, tổ chức này mới bị phát hiện đó là một tổ chức lừa đảo lợi dụng lòng tốt vả sự cả tin của một số người để chiếm đoạt tài sản của họ, ông A là một trong số những nạn nhân của tổ chức này. Khi sự việc bị phát hiện, di sản của ông A có được trả về cho những người thừa kế của ông A hay không? Pháp luật nên quy định bổ sung những trường hợp pháp nhân không có quyền hưởng di sản thừa kế để đảm bảo sự công bằng. Đặc biệt hiện nay Bộ luật hình sự đang bàn luận về vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân thì đây là vấn đề hết sức cần thiết.
Cuối cùng, khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 được xây dựng dựa trên phương pháp liệt kê, với bốn trường hợp mà người thừa kế có thể bị tước quyền nếu thuộc một trong bốn trường hợp đó. Ưu điểm của việc liệt kê này đó là tạo sự thuận lợi cho Tòa án trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp về thừa kế. Tuy nhiên việc liệt kê như trên có thể sẽ dẫn tới việc đó là không khái quát được hết các trường hợp khác mà người thừa kế có thể bị tước quyền hưởng di sản. Do đó, cần bổ sung thêm quy định mở vào khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự về “Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”. Như vậy ngoài bốn trường hợp được liệt kê tại khoản 1 Điều 621, Tòa án có thể tước quyền thừa kế của người để lại di sản nếu xét thấy lý do chính đáng. Bên cạnh đó, trong văn bản hướng dẫn, có thể thêm quy định rõ “Ngoài những trường hợp được liệt kê tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự thì Tòa án có thể tước quyền hưởng di sản thừa kế của người thừa kế nếu xét có lý do chính đáng”.
Ngoài ra lý do của việc tước quyền hưởng di sản phải được ghi rõ trong bản án của Tòa án.
- Kết luận chương 3
Dựa trên những vướng mắc khi thực hiện, áp dụng quy định của pháp luật về người không được quyền hưởng di sản tại chương 3, tác giả đã đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về người không được quyền hưởng di sản trên cơ sở lý luận và trên cơ sở pháp luật; đồng thời cũng là những giải pháp để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về người không được quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành.
Để việc các giải pháp hoàn thiện này có hiệu quả thì luận văn đã đưa ra những ý kiến để có những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật dân sự nói chung và những điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng. Đó là sửa đổi bổ sung những quy định cụ thể từng khoản trong Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 nhằm tăng cường khả năng áp dụng trên thực tế và một số giải pháp khác.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
Quyền thừa kế là một trong những quyền dân sự cơ bản của công dân, kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cho đến nay quyền thừa kế của công dân luôn được ghi nhận trong Hiến pháp, từ bản Hiến pháp đầu tiên Hiến pháp 1946 cho đến hiến pháp hiện hành Hiến pháp 1992. Một trong những nội dung của quyền thừa kế của công dân là quyền được hưởng di sản thừa kế theo di chúc cũng như quyền được hưởng di sản theo quy định của pháp luật được pháp luật quy định và bảo hộ. Với quy định tương đối hoàn thiện, pháp luật về thừa kế hiện hành đã góp phần củng cố và nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp thừa kế trên thực tế. Song pháp luật về thừa kế không thể nào dự liệu trước được tất cả những trường hợp xảy ra trên thực tiễn. Vì thế sau thời gian ban hành một thời gian, các văn bản pháp luật liên quan đến thừa kế đều phát sinh những điểm thiếu sót và không phù hợp với thực tiễn. So với những văn bản pháp luật về thừa kế trước đây, Bộ luật dân sự năm 2015 đã đánh dấu bước phát triển của ngành luật dân sự nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng. Bộ luật dân sự năm 2015 được xem là kết quả của quả trình phát điển hóa những quy định của pháp luật thừa kế. Nó kế thừa và phát triển những quy định phù hợp với thực tiễn, không ngừng hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của người dân một cách có hiệu quả nhất. Trên thực tế, quan hệ về thừa kế bản chất là quan hệ sở hữu nên việc giải quyết các tranh chấp trên thực tế không thỏa đáng hoặc không đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự sẽ gây ra nhiều hậu quả và gây bất bình trong lòng dân. Việc xác định đúng, chính xác người thừa kế có quyền hưởng di sản thừa kế sẽ giúp cho việc giải quyết các tranh chấp trên thực tế được dễ dàng, nâng cao hiệu quả công tác xét xử, tạo niềm tin vào Nhà nước và pháp luật.
Trong chế định về thừa kế bên cạnh những quy định của pháp luật cho phép công dân có quyền được hưởng di sản từ người để lại di sản và quyền để lại tài sản của mình cho những người thừa kế, thì Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015 về người không có quyền hưởng di sản là một chế tài áp dụng đối với những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của người để lại di sản và của những người thừa kế khác. Tuy là một vấn đề nhỏ trong rất nhiều nội dung quan trọng của chế định thừa kế, nhưng nó ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của các chủ thể khi xảy ra tranh chấp trong các vụ án. Mặt khác, mỗi vấn đề dù nhỏ nhưng nếu được giải quyết triệt để cũng đem lại hiệu quả cao cho công tác xét xử góp phần giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, hiệu quả và chính xác, khách quan, đúng pháp luật.
Những vấn đề mà luận văn đưa ra và phân tích là quan điểm của cá nhân và chưa thể toàn diện nhưng đó là tâm huyết mong muốn đóng góp một phần công sức trong việc nâng cao ý thức pháp luật trong đời sống, đưa pháp luật vào cuộc sống một cách hiệu quả nhất./. Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về người không được quyền hưởng di sản

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
