Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng hợp đồng tại công ty TNHH IPC dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1. Lịch sử hình thành và phát triển

  • Công ty trách nhiệm hữu hạn IPC
  • Tên tiếng việt: I- im lặng. P- phát triển. C- củng cố Tên giao dịch: IPC Company Limited
  • Tên viết tắt: IPC. Co., LTD Được thành lập ngày 28/04/2000
  • Trụ sở chính tại: Phòng A16 tàng 3 khách sạn Hoirson, 40 Cát Linh, phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội Công ty có hai văn phòng đại diện:
  • Văn phòng đại diện công ty TNHH IPC tại thành phố HCM Địa chỉ: P503, lầu 4, số 7, Nam Quốc Cang, Phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, thành phố HCM
  • Văn phòng đại diện công ty TNHH IPC tại Hải Phòng Địa chỉ: Km7 + 700, đường 5, phường Hùng Vương, quận Hồng Bài, thành phố Hải Phòng.
  • Hình thức công ty: Công ty thuộc hình thức công ty TNHH, hoạt động theo Luật doanh nghiệp và các quy định khác của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Các thành viên sáng lập của công ty:

  1. Ông Phí Phong Hà
  2. Ông Lâm Quang Hiếu
  3. Ông Hoàng Thái Học

Công ty được Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0102000425 ngày 28/04/2000

  • Vốn điều lệ của công ty là: 22 tỷ đồng
  • Thời gian hoạt động: 50 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Sau 6 năm hoạt động, công ty TNHH IPC đã và đang dần lớn mạnh. Khi mới thành lập, công ty chỉ có 6 người; đến nay, số nhân viên của công ty đã tăng gấp 10 lần, tức là khoảng 60 người. Số vốn điều lệ của công ty cũng tăng tương ứng từ 4 tỷ đồng khi mới thành lập lên mức 22 tỷ đồng vào thời điểm hiện nay.

2. Cơ cấu tổ chức của công ty Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC.

Với hình thức là một công ty trách nhiệm hữu hạn, quy mô về tài chính và nhân sự không lớn lắm, công ty được tổ chức theo cơ cấu của mô hình trực tuyến.

Công ty có một giám đốc là ông Phí Phong Hà và ba phó giám đốc:

  • Phó giám đốc 1: Ông Nguyễn Hồng Kiên
  • Phó giám đốc 2: Ông Hoàng Hà
  • Phó giám đốc 3: Ông Lâm Quang Hiếu

Công ty có hai phòng nghiệp vụ là: phòng Kinh doanh, phòng Kế toán tại Hà Nội và một xưởng sản xuất tại Hải Phòng.

Đứng đầu các phòng là các trưởng phòng. Phòng kinh doanh được chia thành 5 nhóm để thuận tiện cho việc kinh doanh các mặt hàng khác nhau.

  • Nhóm 1: Nhóm kinh doanh mặt hàng dây cáp thép
  • Nhóm 2: Nhóm kinh doanh thép cuộn và kiện cán nóng, thép xả băng.
  • Nhóm 3: Nhóm kinh doanh thép ống, phôi thép
  • Nhóm 4: Nhóm kinh doanh thép cuộn và kiện cán nguội và thép tròn chế tạo.
  • Nhóm 5: Nhóm đảm trách nghiệp vụ nhập khẩu thép.

Biểu 1: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY

Ban giám đốc:

  • Giám đốc công ty: Là người đại diện cho các cán bộ công nhân viên, có quyền quyết định và điều hành chung mọi hoạt động của công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kinh doanh hàng năm của công ty.
  • Các Phó giám đốc: Là người hỗ trợ cho Giám đốc, trực tiếp phụ trách các phòng ban. Công ty có ba Phó giám đốc: Một phó giám đốc phụ trách bên tài chính, một phó giám đốc phụ trách kinh doanh xuất nhập khẩu và một phó giám đốc phụ trách chương trình đưa thông tin về cơ sở.

Các phòng nghiệp vụ:

Phòng kinh doanh:

  • Tổng hợp theo dõi và phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của công ty báo cáo cho ban giám đốc quản lý
  • Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch tài chính, thống kê các số liệu
  • Đàm phán, ký kết các hợp đồng xuất nhập khẩu.
  • Trực tiếp làm thủ tục với hải quan để nhận và bàn giao hàng hoá cho kho của công ty

Phòng kế toán: Có trách nhiệm tổ chức công tác kế toán theo quy định của nhà nước. Thực hiện chức năng giám sát, thu nhận xử lý cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế tài chính, giúp ban giám đốc lập phương án kinh doanh tối ưu. Chịu trách nhiệm công tác quản lý tài chính trước giám đốc và cơ quan chủ quản cấp trên.

3. Quản lý lao động

Công ty đã xây dựng thoả ước lao động tập thể vào nội quy lao động để thực hiện việc quản lý lao động trong công ty cũng như để xác định cụ thể quyền, nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động. Theo nội quy lao động của công ty, thời gian làm việc của công nhân viên trong công ty là làm 8h/ngày, sáng từ 8h-12h, chiều từ 1h30-5h30, một tuần làm việc không quá 48 tiếng. Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC.

  • Hình thức trả lương: trả bằng tiền mặt, do Kế toán trưởng trực tiếp đảm nhận.
  • Tiền lương được trả vào ngày 25 hàng tháng.

Công ty liên tục có chính sách tăng lương cho công nhân viên điều này đã gáp phần quan trọng trong viêc khuyến khích việc hăng say và sự nhiệt tình làm việc của công nhân viên. Bên cạnh đó, trong dịp tết dương lịch, âm lịch, tổng kết hàng tháng, hàng năm, tuỳ theo kết quả kinh doanh và hiệu quả làm việc của mỗi người mà công ty đưa ra những mức tiền thưởng tương ứng từ 100.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Theo kết quả thống kê được thì tổng quỹ tiền thưởng năm 2006 là 658.650.000 đồng.

Hàng năm công ty trích nộp đầy đủ BHXH theo đúng quy định cho tất cả lao động làm việc trong công ty:

  • BẢNG 1: TỔNG HỢP TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG, QUỸ LƯƠNG, SỐ PHẢI NỘP BHXH

4. Hoạt động phân phối sản phẩm và kết quả kinh doanh của công ty

4.1. Hoạt động phân phối thép

Hàng nhập từ nước ngoài về sẽ được tập trung tại kho của công ty ở Hải Phòng, sau đó tuỳ theo nhu cầu của thị trường hàng hoá sẽ được đưa về kho của công ty tại Đức Giang- Gia Lâm- Hà Nội để thuận tiện cho việc giao hàng cho khách hàng. Cán bộ kinh doanh tại văn phòng Hà Nội thường xuyên phải xuống kho Hải Phòng để có được những thông tin chính xác nhất về hàng hoá trong kho. Mặc dù, các cán bộ kinh doanh sẽ được cung cấp thông tin về hàng hoá như loại hàng hoá, số lượng từ các nhân viên quản lý của công ty, nhưng các cán bộ kinh doanh này vẫn phải có những thông tin thực tế hơn, chính xác hơn về đặc điểm của từng lô hàng để có thể cung cấp những thông tin chi tiết về hàng hoá cho khách hàng khi đàm phán ký kết hợp đồng mua bán. Hiện tại công ty tiến hành sản xuất một loại sản phẩm duy nhất là: Xà gồ thép còn lại là kinh doanh hàng nhập khẩu. Số lượng các sản phẩm sản xuất kinh doanh chính trong 03 năm gần đây là:

  • Sản xuất: 500 tấm xà gồ/ năm
  • Kinh doanh: 000 tấn thép các loại

Các mặt hàng thép mà công ty kinh doanh là:

  • Thép tấm, thép lá, thép cuộn: đây là mặt hàng thế mạnh (chiếm 70%)
  • Cáp thép, thép dự ứng lực đứng ở vị trí thứ hai chiếm 20%
  • Thép ống, thép hình, thép góc
  • Phế, phôi thép

Hai mặt hàng cuối chiếm 10% trong các mặt hàng thép mà công ty kinh doanh. Đặc biệt mặt hàng phế và phôi thép công ty chỉ đóng vai trò là đại lý của các công ty thép nước ngoài. Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC.

4.2 Kết quả kinh doanh của công ty

  • Bảng 2: KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG HAI NĂM GẦN ĐÂY

Năm 2006, công ty TNHH IPC đã dành 1,7 tỷ để đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh, tổng giá trị tài sản của công ty tăng lên gần 2 lần so với năm 2005. Tuy nhiên nhìn vào bảng cân đối kế toán cho thấy giá trị hàng tồn kho tăng lên từ 68.422.882.702 (năm 2005) đến 136.807.562.140 (năm 2006) và khoản phải thu khách hàng cũng tăng từ hơn 13 tỷ đến 36,8 tỷ. Do đó công ty phải thực hiện tốt hơn khâu tiêu thụ, có thể bằng việc nâng cao chất lượng dịch vụ bán hàng. Đồng thời thực hiện tốt vấn đề thanh toán.

4.3. Nộp thuế đối với nhà nước

Sau khi tổng hợp tình hình hợp đồng kinh doanh công ty tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho nhà nước. Đồng thời, công ty còn phải thống kê các khoản thuế khác phải nộp như: thuế GTGT, thuế NK.

  • Bảng 3: SỐ THUẾ PHẢI NỘP

Nhìn vào bảng tổng hợp tình hình nộp thuế, ta thấy: số thuế phải nộp của công ty năm 2006 tăng gấp 2 lần so với năm 2005; số thuế này tăng ở tất cả các loại thuế. Điều đó chứng tỏ hợp đồng kinh doanh của công ty đang phát triển, doanh thu qua các năm không ngừng gia tăng, hoạt động mua bán hàng hoá cũng phát triển manh đây là dấu hiệu tốt cho công ty.

5. Những thành tựu đạt được Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC.

Mặc dù chỉ mới thành lập 6 năm nhưng công ty TNHH IPC đã từng bước khẳng định được vị thế của mình trên thị trường thép Việt Nam. Là một công ty có quy mô hoạt động nhỏ trên một thị trường tiêu thụ thép khá lớn như Việt Nam, công ty đã thể hiện được điểm mạnh của mình trên so với các đối thủ cạnh tranh khác. Trong những năm hoạt động của mình, công ty đã đạt được một số thành công nhất định: Quy mô hoạt động đang dần được mở rộng, mới đầu thành lập công ty chỉ thuần tuý là một công ty thương mại, gần đây vào năm 2005 công ty bắt đầu mở rộng sang lĩnh vực sản xuất với một xưởng sản xuất thép tại Hải Phòng. Đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ chỉ đơn thuần nhập khẩu thép về bán tại thị trường nội địa. Công ty sẽ tiến hành một số công đoạn xử lý đối với sản phẩm thép nhập khẩu nhằm tăng thêm giá trị cho sản phẩm, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thép của thị trường. Ban đầu xưởng sản xuất mới chỉ hoạt động với công suất rất nhỏ, định hướng của công ty trong tương lai là nâng cao năng suất, sản lượng của xưởng sản xuất này.

Không chỉ dừng lại ở đó, công ty đang xúc tiến một dự án sản xuất máng đèn cung cấp cho thị trường trong nước. Theo kế hoạch công ty sẽ hợp tác, liên kết với công ty TNHH Đoàn Kết – Đức Giang, Gia Lâm, Hà Nội, tổng số vốn ban đầu là một tỷ đồng, với tỷ lệ vốn góp là 50- 50. Theo nghiên cứu khảo sát thị trường, nếu dự án thực hiện đúng kế hoạch thì đối thủ cạnh tranh lớn nhất về sản phẩm này là công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông. Mảng thị trường mà công ty nhắm tới là các tỉnh lân cận Hà Nội và các tỉnh miền núi. Chiến lược cạnh tranh mà công ty lựa chọn là cạnh tranh bằng giá. Sở dĩ như vậy vì công ty có lợi thế về nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào là thép.

Hiện tại thị trường tiêu thụ thép chủ yếu của công ty là Hà Nội, Hải Phòng, thành phố HCM và một số tỉnh phụ cận Hà Nội. Mục tiêu sắp tới của công ty là hướng đến thị trường các tỉnh miền trung- khu vực thị trường mà công ty bắt đầu tiếp cận và được nhận định sẽ hứa hẹn nhiều tiềm năng khai thác. Hiện tại, công ty đang tập trung, chú trọng phát triển nguồn nhân lực bằng việc tăng cường tuyển thêm nhân viên, tiến hành chuyên môn hoá trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Với định hướng đặt ra là mỗi nhóm, mỗi nhân viên sẽ chuyên về một mảng thị trường hoặc một nhóm sản phẩm nhất định, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và hoàn thành tốt các kế hoạch đề ra.

Chính vì những chuyển biến mang chiều hướng tích cực trên số lượng các hợp đồng mà công ty ký kết trong năm 2006 tăng lên một cách đáng kể so với năm 2005.

II. ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TRONG QUÁ TRÌNH KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG CỦA IPC Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC.

1. Giao kết hợp đồng

1.1. Lựa chọn khách hàng làm chủ thể giao kết

Công ty TNHH IPC là một thương nhân nên công ty có thể lựa chọn các thương nhân hoặc với bên không phải là thương nhân để giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, công ty cũng cần phải lựa chọn khách hàng giao kết để đảm bảo tính hợp pháp của hợp đồng mà còn tìm kiếm lợi nhuận lớn từ hợp đồng đó. Vì trong ùng điều kiện như nhau, không phải việc giao dịch với khách hàng nào cũng đem lại thành công. Vì vậy, một nhiệm vụ quan trọng của công ty trong giai đoạn chuẩn bị là lựa chọn khách hàng

Để tìm hiểu về một khách hàng mà mình muốn đặt quan hệ làm ăn, thông thường công ty sẽ sử dụng đội ngũ nhân viên kinh doanh của mình xâm nhập vào thị trường tìm hiểu đối tác mà mình muốn thiết lập quan hệ làm ăn.

Công ty có hệ thống bán buôn cho các công ty, cơ sở kinh doanh thép, cung cấp sản phẩm đầu vào cho các công ty, cơ sở sản xuất, xây dựng tại Hà Nội, thành phố HCM, Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Các công ty này có thể là công ty Việt Nam hoặc công ty nước ngoài có uy tín trên thị trường và hoạt động trong lĩnh vực xây dựng như:

  1. Công ty TNHH Đại La Thành
  2. Công ty CP Xây lắp và thương mại COMA 25
  3. Tổng công ty Vật liệu xây dựng
  4. Tổng công ty Lắp máy Việt Nam
  5. Công ty TNHH thương mại Thép Việt Nam
  6. Công ty CP bê tông Biên Hoà…

Công ty cũng có hình thức bán lẻ thép, nếu khách hàng yêu cầu; tuy nhiên số lượng thép bán lẻ chiếm tỷ trọng rất nhỏ.

1.2. Hình thức của hợp đồng Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC.

Theo quy định của pháp luật, công ty có thể lựa chọn bất cứ hình thức nào để giao kết hợp đồng. Do đó, tuỳ vào từng trường hợp, từng đối tác, từng khách hàng mà công ty có thể ký hợp đồng dưới các hình thức: văn bản, fax, email hoặc chỉ thông qua điện thoại để giao kết.

Thông thường, đối với các đối tác, nếu công ty có nhu cầu đối với một mặt hàng nào đó với một khối lượng nhất định, công ty sẽ gửi một bảng hỏi giá cho công ty có khả năng đáp ứng, yêu cầu họ gửi cho mình báo giá. Sau khi có bảng báo giá, hai bên tiến hành đàm phán về các điều khoản và yêu cầu đối tác soạn thảo hợp đồng dưới hình thức văn bản ký vào đó rồi gửi sang cho công ty. Do các đối tác thường là các doanh nghiệp nước ngoài nên quá trình đàm phán chủ yếu diễn ra qua điện thoại hoặc email.

Đối với khách hàng, chủ yếu là khách hàng trong nước nên việc đàm phán diễn ra dễ dàng hơn. Cán bộ kinh doanh của từng nhóm mặt hàng sẽ trực tiếp liên hệ với các công ty, cơ sở kinh doanh thép để tìm kiếm khách hàng cho mình và nếu công ty hay cơ sở kinh doanh đó có nhu cầu các mặt hàng thép mà công ty có khả năng đáp ứng nhu cầu đó thì nhân viên kinh doanh sẽ gửi lời chào hàng và bảng báo giá cho đối tác. Nếu bên được chào hàng chấp nhận lời chào hàng thì cán bộ kinh doanh sẽ trực tiếp soạn thảo hợp đồng dưới dạng văn bản để hai bên tiến hành giao kết hoặc có thể thông qua fax, email…

Do hình thức hợp đồng công ty giao kết rất đa dạng đã tạo điều kiện thuận lợi mở rộng giao kết, tưng số lượng hợp đồng.

1.3. Mục đích, nội dung của hợp đồng

Mặt hàng mà công ty kinh doanh là thép nên không nằm trong danh mục hàng hoá cấm hoặc hạn chế kinh doanh của TTg. Mặt khác, mục đích của hợp đồng là trao đổi hàng hoá nhằm tìm kiếm lợi nhuận nên không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Nội dung của hợp đồng là kết quả của quá trình đàm phán giữ hai bên với nhau về các điều khoản trong hợp đồng. Nội dung của hợp đồng thương bao gồm các vấn đề sau:

  • Tên hàng
  • Số lượng: Số lượng vật tư, hàng hoá luôn được ghi chính xác, rõ ràng theo sự thoả thuận cảu các bên chủ thể và tính theo đơn vị đo lường hợp pháp của nhà nước với từng loại mặt hàng như: tạ, tấn, chiếc…

Trong những hợp đồng có mua bán nhiều loại hàng hoá khác nhau thì công ty ghi riêng số lượng, trọng lượng của từng loại, sau đó ghi tổng giá trị vật tư, hàng hoá mua bán. Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC.

Chất lượng, quy cách hàng hoá: Trong hợp đồng, công ty luôn ghi rõ phẩm chất, quy cách, tiêu chuẩn kỹ thuật, kích thước, màu sắc, mùi vị, độ ẩm, tạp chất v.v… Nhưng tuỳ loại hàng hoá mà hai bên có thể thoả thuận về các điều kiện phẩm chất, quy cách cho phù hợp.

Bao bì và ký mã hiệu: Công ty luôn có sự mô tả một cách tỉ mỉ về hình dáng, kích cỡ bao bì, chất liệu, độ bền và cả cách đóng gói hàng, vị trí ký mã hiệu, nội dung ký mã hiệu trên bao bị, đảm bảo ghi nhận đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng từng loại hàng như: tên hàng, tên cơ sở sản xuất, trọng lượng hàng, số hiệu đơn hàng, có đủ những chỉ dẫn đặc biệt về vận chuyển, bảo quản bốc xếp.

  • Giao nhận hàng
  • Giá cả:

Đơn vị tính giá: Công ty chọn đơn vị tính giá căn cứ vào tính chất của loại hàng và thông lệ buôn bán mặt hàng đó trên thị trường.

Phương pháp định giá: Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, nói chung phương pháp định giá như thế nào để bên mua có thể chấp nhận được là do nghệ thuật tiếp thị của bên bán. Trừ những sản phẩm và vật tư đặc biệt nhà nước đang quản lý giá thì định giá laọi hàng hoá này theo nguyên tắc nhà nước quyết định giá.

  • Thanh toán

Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng: Mục đích của việc quy định biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng là nâng cao trách nhiệm các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ, ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ gây ra, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Vì vậy, việc quy định biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng công ty luôn tuân thủ một số nguyên tắc như:

  • Chỉ mang tính chất bổ sung cho các nghĩa vụ chính
  • Đối tượng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất
  • Phạm vi bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã xác định trong nội dung các nghĩa vụ chính của hợp đồng.
  • Chỉ áp dụng khi các có sự vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng
  • Phải có sự thoả thuận giữa các bên về các biện pháp bảo đảm

Các bên có thể thoả thuận trong hợp đồng về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng sau: Cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký quỹ; bảo lãnh Trách nhiệm vật chất khi vi phạm hợp đồng: Trong hợp đồng mua bán hàng hoá, điều khoản này quy tụ những điều cam kết rất cụ thể về sự quyết tâm thực hiện nghiêm túc mọi điều khoản đã thoả thuận. Trong đó, xác định một cách cụ thể những trường hợp phải bồi thường do trách nhiệm liên đới, xác định các mức phạt cụ thể theo từng trường hợp. Công ty quy định phạt vi phạm trong hợp đồng nên khi có vi phạm xảy ra công ty có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC.

  • Giải quyết tranh chấp
  • Trường hợp bất khả kháng
  • Hiệu lực của hợp đồng: Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết

Sau đây là bảng kê khai một số hợp đồng thép tiêu biểu mà công ty đã giao kết

  • Bảng 4: BẢNG KÊ CÁC HỢP ĐỒNG CUNG CẤP THÉP TẤM CÁN NÓNG
  • Bảng 5: DANH MỤC CÁC HỢP ĐỒNG THÉP TIÊU BIỂU ĐANG TIẾN HÀNH

2. Tổ chức thực hiện hợp đồng

2.1. Giao hàng

Trong hoạt động mua bán hàng hoá trong nước tuỳ thuộc công ty vào vị trí của người bán hay người mua, tuỳ thuộc vào điều khoản hai bên thoả thuận trong hợp đồng công ty có thể phải thuê vận chuyển hoặc không. Do đa phần đóng vai trò bên bán nên công ty thường xuyên phải ký các hợp đồng thuê vận chuyển hàng hoá tới điểm giao hàng đã thoả thuận. Ngoài ra, công ty còn có một đội vận tải chuyên phục vụ cho họat động kinh doanh của công ty. Vì thế, tuỳ theo yêu cầu của khách hàng công ty sẽ giao hàng cho người mua tại xưởng của mình ở Hải Phòng hay Hà Nội hoặc cũng có thể giao đến tận xưởng của người mua. Đây là một yếu tố thuận lợi, là một lợi thế cạnh tranh của công ty.

2.2. Kiểm tra hàng hoá trước khi xuất và khi nhận hàng để hạn chế rủi ro

Công ty luôn tiến hành hoạt động kiểm tra hàng hoá trước khi xuất kho và khi nhận hàng để đảm bảo hàng hoá đó đúng tiêu chuẩn, quy cách đã thoả thuận trong hợp đồng. Công ty có quyền từ chối nhận hàng nếu thấy hàng không đáp ứng yêu cầu và yêu cầu bên mua phải tiếp nhận hàng nếu chứng minh hàng công ty cung cấp là đúng theo hợp đồng mà hai bên ký kết. Những việc làm này của công ty đã hạn chế phần nào rủi ro khi giao hàng.

2.3. Chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá

Quyền sở hữu hàng hoá có thể thực hiện vào bất cứ lúc nào, có thể trước khi giao hàng, tại thời điểm giao hàng hay sau khi giao hàng tuỳ theo thoả thuận của hai bên trong hợp đồng. Nếu hai bên không có thoả thuận thì theo quy định của pháp luật hiện hành. Sau khi chuyển quyền sở hữu, người mua sẽ có toàn quyền đối với hàng hoá đồng thời phải chịu những rủi ro đối với hàng hoá đó nếu không do lỗi của bên nào. Bên cạnh đó, do mặt hàng mà công ty kinh doanh là những hàng hoá mà pháp luật không yêu cầu đăng ký quyền sở hữu nên việc chuyển quyền sở hữu không cần có điều kiện.

2.4. Làm thủ tục thanh toán và thanh lý hợp đồng Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC.

Thanh toán tiền hàng là nghĩa vụ quan trọng nhất cảu bên mua. Người mua phải thanh toán tiền hàng đúng như đã thoả thuận trong hợp đồng, ngay cả trong trường hợp hàng hoá bị mất mát, hư hỏng sau khi quyền sở hữu hàng hoá đã được chuyển từ người bán sang người mua. Trừ trường hợp do lỗi của người bán gây ra. Một số phương thức thanh toán mà công ty sử dụng là:

Thanh toán ngay: Việc thanh toán được thực hiện ngay sau khi bên bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc bên mua hoàn thành thủ tục nhận hàng tuỳ theo thoả thuận trong hợp đồng. Kiểu thanh toán này có ưu điểm là nhanh gọn, thuận tiện cho cả người mua lẫn người bán. Có hai phương thức thanh toán ngay mà công ty sử dụng nhiều nhất đó là:

  • Thanh toán bằng tiền mặt
  • Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi (chuyển tiền)

Trả góp: Theo cách này bên mua nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá và thanh toán tiền hàng theo nhiều đợt. Phương thức thanh toán này phù hợp với những trường hợp bên mua chưa có đủ tiền để thanh toán hết ngay một lúc cho bên bán. Đặc biệt đối với mặt hàng thép mà công ty kinh doanh là mặt hàng có giá cao, cần một lượng vốn lớn. Do đó, phương thức thanh toán bằng trả góp không những tạo điều kiện tốt hơn mà còn khuyến khích người mua. Tuy nhiên, người mua phải có một sự bảo đảm cho việc thanh toán vì đôi khi rủi ro vẫn có thể xảy đối với bên bán.

Thanh toán trước: Bên mua thanh toán trước cho bên bán một phần hoặc toàn bộ số tiền hàng sau khi hợp đồng nhưng trước khi nhận hàng. Cách này không phổ biến lắm vì rủi ro dễ xảy ra đối với bên mua. Tuy nhiên, với cách này thì bên bán có thể yên tâm sản xuất hay đặt hàng từ bên khác mà không lo bên mua chạy làng. Số tiền bên mua trả trước phải đủ để ràng buộc bên mua thực hiện đúng như đồng mà đã ký kết.

Trả chậm: Hai bên có thể thoả thuận việc bên mua sẽ trả tiền trong một thời gian nhất định sau khi nhận hàng. Phương thức này chủ yếu xảy ra đối với những đối tác đã có quan hệ làm ăn lâu dài, tin tưởng lẫn nhau và có uy tín. Bên mua chưa đủ tiền thanh toán ngay và bên bán cũng chưa cần thiết phải thu hồi vốn ngay. Phương thức này cũng có thể có rủi ro đối với bên bán, nhất là khi bên mua rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Bên cạnh đó, công ty rất linh hoạt trong việc thu tiền bán hàng từ khách hàng. Đối với những khách hàng mới, lần đầu giao dịch công ty thường yêu cầu thanh toán 100% ngay sau khi giao hàng. Đồng thời, cũng thoả thuận với khách hàng rằng về thời hạn thanh toán các lần giao dịch sau. Tuỳ vào đối tượng khách hàng, tuỳ vào mức độ uy tín của khách hàng mà áp dụng phương thức thanh toán linh hoạt. Đối với phần lớn các khách hàng, công ty sẽ áp dụng phương thức thanh toán 70% ngay sau khi giao hàng và 30% còn lại sẽ thanh toán trong vòng 15 ngày. Một số khách hàng đặc biệt sẽ được ưu tiên có thể chỉ phải thanh toán 50% ngay khi giao hàng. Một hình thức ưu tiên khác giành cho khách hàng đặc biệt là có thể thanh toán trong vòng 30 ngày sau khi giao hàng. Nếu không có tranh chấp phát sinh, hai bên tiến hành thanh lý hợp đồng.

3. Giải quyết tranh chấp phát sinh Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC.

Trong hoạt động kinh doanh không thể tránh khỏi việc nảy sinh các tranh chấp và công ty TNHH IPC cũng không phải là ngoại lệ. Theo thống kê, trong năm 2006 số vụ tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá đã lên tới trăm vụ. Tuy nhiên nhìn chung các vụ tranh chấp này đều phát sinh do đối tác chậm trễ trong việc thanh toán. Trong đó, có những vụ hai bên tự thương lượng, giải quyết với nhau và cũng không ít số vụ phải đưa ra Toà án để giải quyết.

Khi nhận thấy đối tác có biểu hiện chiếm dụng vốn của công ty (tức là khi tới hạn thanh toán hợp đồng, đối tác không thanh toán mặc dù công ty đã thúc giục) thì công ty sẽ gửi cho đối tác bản yêu cầu thanh toán, trong đó nêu rõ tổng số tiền mà đối tác còn phải thanh toán; đi cùng với nó là bảng đối chiếu công nợ và bảng tính lãi trả chậm, có chữ ký của người có thẩm quyền.

Nếu như đối tác vẫn tiếp tục không thanh toán thì công ty làm đơn kiện lên Toà án nhân dân do hai bên thoả thuận trong hợp đồng (thường là công ty lựa chọn Toà án Hà Nội) và nộp tiền tạm ứng án phí kinh tế. Hồ sơ khởi kiện bao gồm: đơn khởi kiện, hợp đồng hai bên ký kết, bảng đối chiếu công nợ, và một số giấy tờ khác có liên quan, như: phiếu xuất kho, nhập kho, hoá đơn giá trị gia tăng… Sau khi xem xét hồ sơ vụ án, Toà án tiến hành hoà giải:

  • Nếu Toà án hoà giải thành công thì lập Biên bản hoà giải thành
  • Nếu hoà giải không thành thì Toà án tiến hành các thủ tục xét xử của một vụ án kinh tế.

Điển hình là tranh chấp giữa công ty với Công ty khi xây dựng công trình giao thông, vào năm 2005.

Theo hợp đồng kinh tế số IPC/CK 121-HRP/03-132 đã ký ngày 23/05/2003, công ty đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm giao hàng nhưng phía đối tác lại không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của người thanh toán. Do đó ngày 2/6/2005 công ty đã khới kiện ra Toà án Nhân dân quận Long Biên Hà Nội yêu cầu giải quyết.

Hay như tranh chấp giữa công ty với công ty TNHH sản xuất và đầu tư công nghệ liên doanh Việt- Ý cũng về thanh toán. Ngày 21/9/2006 công ty đã kiện ra Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội yêu cầu giải quyết.

Tuy nhiên sau đó hai bên đã thoả thuận được về việc giải quyết vụ án và Toà án đã lập biên bản hoà giải ngày 16/10/2006. Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC

One thought on “Luận văn: Thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC

  1. Pingback: Luận văn: Hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty IPC

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464