Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Các quy định pháp luật về hiệu lực của Hợp đồng tiền công ty cổ phần tại Việt Nam hiện nay

Nhắc tới công ty cổ phần có nghĩa là đã nhắc tới một thực thể kinh doanh được tạo nên bởi sự góp vốn của từ ba cổ đông trở lên và không giới hạn số lượng tối đa các sáng lập viên tham gia góp vốn để thành lập công ty. Bởi vậy góp vốn là nội dung quan trọng có tính chất quyết định của hợp đồng thành lập công ty. Chẳng thế mà trong các Bộ luật Dân sự, các Bộ luật Thương mại hay các đạo luật về công ty của các nước đều nhấn mạnh tới việc góp vốn khi mở đầu cho phần nói về hợp đồng thành lập công ty hay khế ước lập hội. Có thể nói, hợp đồng tiền công ty không phải là một vấn đề mới, nó đã được đề cập đến trong rất nhiều văn bản pháp luật của chế độ cũ cũng như pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, do tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của hợp đồng thành lập công ty lớn hơn các loại hợp đồng tiền công ty khác nên pháp luật thường quy định chi tiết hơn về loại hợp đồng này.

Cụ thể là, pháp luật của chế độ cũ thường dành riêng một chương riêng để điều chỉnh hợp đồng thành lập công ty, nhưng dưới thuật ngữ “khế ước lập hội” hay “khoản ước lập hội” (chương 10, Thiên II, quyển 4, Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật năm 1936). Một số văn bản pháp luật hiện hành cũng có đề cập đến hợp đồng thành lập công ty dưới tên gọi “hợp đồng liên doanh” như luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (sửa đổi bổ sung năm 2000) và nghị định số 24/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật này nay được thay thế bằng luật đầu tư năm 2005 và nghị định 108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật đầu tư 2005. Trong đó có quy định chi tiết nội dung của “hợp đồng liên doanh” (điều 54 nghị định 108/2006/NĐ-CP) và yêu cầu đó là một tài liệu bắt buộc trong hồ sơ đăng ký kinh doanh nộp lên Cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư để xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (khoản 2 điều 46, khoản 1 điều 50 luật đầu tư năm 2005; khoản 2 điều 44 nghị định 108/2006/NĐ-CP). Tuy nhiên, quy định về hợp đồng liên doanh trong các văn bản đó lại không khác gì nội dung của điều lệ công ty. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Luật doanh nghiệp năm 2005 và hiện nay là Luật doanh nghiệp năm 2014 – văn bản chính thức quy định về các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam thì lại không đề cập một cách có hệ thống và đầy đủ về các hợp đồng tiền công ty nói chung, hợp đồng thành lập công ty nói riêng và các vấn đề có liên quan như hợp đồng tiền công ty vô hiệu và hậu quả của nó (công ty vô hiệu, …). Luật doanh nghiệp cũng chưa coi công ty là một hợp đồng, trong đó những thành viên có quyền tự do nhất định, mặt khác, lại hợp nhất giữa hợp đồng thành lập công ty và điều lệ công ty, về bản chất điều lệ công ty là bản cam kết của tất cả thành viên về thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty. Trong luật chỉ có một điều duy nhất quy định trực tiếp về hợp đồng tiền công ty như sau:

Hợp đồng trước đăng ký kinh doanh.

  1. Người thành lập doanh nghiệp được ký các loại hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp.
  2. Trường hợp doanh nghiệp được thành lập thì doanh nghiệp phải tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp các bên hợp đồng có thỏa thuận khác.
  3. Trường hợp doanh nghiệp không được đăng ký thành lập thì người ký kết hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm hoặc người thành lập doanh nghiệp liên đới chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng đó.

Theo đó, hợp đồng trước đăng ký kinh doanh được hiểu là hợp đồng giữa những người thành lập doanh nghiệp và người thứ ba. Người thành lập doanh nghiệp ở đây được quy định là tổ chức, cá nhân thành lập hoặc góp vốn để thành lập doanh nghiệp (Khoản 19, Điều 4, Luật doanh nghiệp 2014). Hợp đồng thành lập công ty không được quy định vì bị đồng nhất với điều lệ công ty. Hợp đồng mua cổ phần của công ty cũng không được quy định trực tiếp. Hợp đồng lập hội không được quan tâm vì theo khoản 3 điều luật, người ký kết Hợp đồng sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc trách nhiệm liên đới khi có thỏa thuận với những người thành lập doanh nghiệp khác. Điều luật không nói rõ, liệu sáng lập viên có phải chịu trách nhiệm liên đới không khi công ty không được thành lập và đồng sáng lập viên không thỏa thuận trước mà đã ký kết hợp đồng tiền công ty. Hợp đồng chuyển đổi trách nhiệm cũng không được xem xét bởi vì việc chuyển đổi trách nhiệm từ sáng lập viên sang công ty đã được pháp điển hóa tại khoản 2 điều luật. Do đó, một khi công ty được thành lập, việc chuyển đổi trách nhiệm diễn ra một cách tự động.

Tuy nhiên, sự tồn tại của những hợp đồng tiền công ty vẫn được ghi nhận một cách gián tiếp thông qua những điều luật khác trong luật doanh nghiệp và các văn bản có liên quan như tại Điểm I, khoản 2, Điều 149 Luật Doanh nghiệp 2014. Cụ thể là, Luật doanh nghiệp năm 2014 ngầm công nhận về những hợp đồng tiền công ty tồn tại trước khi đăng ký kinh doanh thành lập công ty cổ phần, thông qua quyền ký hợp đồng của Hội đồng quản trị, từ đó có thể hiểu rằng Hợp đồng gồm có hợp đồng dịch vụ thành lập công ty, hợp đồng thuê trụ sở, địa điểm kinh doanh, hợp đồng thuê giám đốc (người đại diện theo pháp luật), các loại hợp đồng khác phát sinh trước hoặc sau khi Công ty cổ phần được thành lập và việc này được hình thức hóa thông qua những quy định tại Điều lệ Công ty…

2.1.1. Điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng tiền công ty cổ phần Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Đại đa phần các công ty cổ phần tại Việt Nam khi thành lập đều sử dụng và thực hiện một trong các hình thức giao dịch, hợp đồng tiền công ty, ngoại trừ một số tổ chức có bộ phận pháp chế thực hiện và các cá nhân tự mình thực hiện các thủ tục liên quan đến việc đăng ký thành lập công ty. Trong đó, các giao dịch liên quan đến việc góp vốn và việc quy định quyền và nghĩa vụ của các sáng lập viên hay cổ đông sáng lập thường kèm theo những rủi ro pháp lý nhất định.

Hiện nay chưa có thống kê số lượng các bản án của Tòa án nhân dân tối cao hay các cơ quan tư pháp khác về việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng tiền công ty, tuy nhiên có thể thấy rằng những tranh chấp có thể phát sinh và liên quan đến yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng dạng này có thể đến từ chủ thể giao kết hợp đồng; người có quyền, lợi ích liên quan; mục đích giao kết hợp đồng; hình thức giao kết hợp đồng… và đặc biệt về nội dung hợp đồng hay các điều khoản chi tiết của hợp đồng do tính phức tạp của pháp luật dân sự quy định.

Theo báo cáo thống kê ghi nhận tại Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trong 6 tháng đầu năm 2019, cả nước có 66.958 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 860.195 tỷ đồng. Trên con số thống kê cho thấy số lượng doanh nghiệp hình thành và gia nhập nền kinh tế là rất lớn, theo đó, các giao dịch phát sinh thông qua hình thức ký kết các hợp đồng tiền công ty là một con số đáng trú trọng và các nguy cơ phát sinh tranh chấp từ các giao dịch này là không nhỏ.

Như vậy, Hợp đồng tiền công ty và đặc biệt là tiền công ty cổ phần, với tư cách là “cơ sở pháp lý” điều chỉnh và điều tiết mối quan hệ giữa các nhà đầu tư trở thành một trong những “hành lang” cơ bản để hình thành và cho ra đời một hình thức doanh nghiệp với khả năng huy động vốn ưu việt nhất là công ty cổ phần. Có thể nhận định, thực trạng áp dụng và thực thi pháp luật về hiệu lực của hợp đồng tiền công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay như sau:

Thứ nhất, khi tham gia góp vốn thành lập công ty, các sáng lập viên gần như tuân thủ tuyệt đối quy định về hình thức của hợp đồng tiền công ty cổ phần. Nghĩa là, các hợp đồng tiền công ty cổ phần đểu được lập thành văn bản và, hoặc cụ thể hóa vào nội dung của Điều lệ công ty. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Thứ hai, việc đảm bảo mục đích và nội dung không trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội được rà soát kỹ lưỡng và thường được tin tưởng và giao cho Luật sư hoặc đơn vị tư vấn chuyên nghiệp thực hiện.

Thứ ba, việc bảo vệ hiệu lực pháp lý của hợp đồng tiền công ty cổ phần thường được các bên tham gia vào hợp đồng rất chú trọng trong việc giải quyết, xử lý, theo dõi và thực hiện các quy định được nêu tại hợp đồng và bảo vệ hiệu lực của giao dịch.

Hợp đồng tiền công ty cổ phần về bản chất là một loại hợp đồng, giao dịch nên điều kiện có hiệu lực của loại hợp đồng này cũng phải đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của giao dịch nói chung và hợp đồng nói riêng. Theo quy định tại điều 117, BLDS 2015, Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau:

  • Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
  • Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
  • Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội,
  • Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Bên cạnh đó, BLDS 2015 cũng quy định về nguyên tắc các trường hợp vô hiệu hợp đồng do giả tạo, vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Do đó, việc trung thực của các bên xác lập, thực hiện giao dịch cũng là điều kiện có hiệu lực của giao dịch (không lừa dối, không giả tạo). Đối với điều kiện không bị đe dọa, cưỡng bức bản chất chính là đảm bảo sự tự nguyện của chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng như quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 214, Điều 217 BLDS 2015.

  • Thứ nhất, điều kiện về chủ thể Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Chủ thể của hợp đồng tiền công ty cổ phần có thể bao gồm hai loại chủ thể: cá nhân và pháp nhân.

Về chủ thể là cá nhân có hai điều kiện là chủ thể phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập và chủ thể phải hoàn toàn tự nguyện.

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân bao gồm: Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản; Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản; Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó. Cũng theo quy định của BLDS 2015, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác (Điều 16, Điều 17, Điều 18 BLDS 2015).

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Khả năng xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của cá nhân lại xác định trên cơ sở độ tuổi. Theo đó, ở mỗi độ tuổi nhất định theo luật định được xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự khác nhau. Các nhóm người đó được phân loại thành: người thành niên và người chưa thành niên; người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người có năng lực hành vi chưa đầy đủ, người bị mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi.

Ở mỗi nhóm phân loại đó thì năng lực xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của họ được xác định theo luật định. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các Điều 22, 23 và 24 BLDS 2015. Người thành niên được tự mình xác lập thực hiện các giao dịch dân sự một cách độc lập. Họ có quyền độc lập nhân danh chính mình xác lập các giao dịch dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch đó. Đồng thời họ cũng tự mình chịu trách nhiệm đối với các giao dịch mà mình đã thực hiện.

Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi. Việc xác lập và thực hiện giao dịch của người chưa thành niên được pháp luật dân sự quy định chia thành ba trường hợp cụ thể: Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Một là, Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.

Hai là, Đối với người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

Ba là, Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

Ba trường hợp nêu trên không được áp dụng đối với chủ thể giao dịch dân sự đó bị mất năng lực hành vi dân sự, hoặc bị khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập và thực hiện. Tuy nhiên, để coi một người là mất năng lực hành vi dân sự thì phải căn cứ vào quyết định của tòa án trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần của cơ quan, tổ chức hữu quan. Việc xác định người đại diện theo pháp luật tuân thủ theo quy định của pháp luật dân sự.

Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.

Người thuộc diện nghiện ma túy, các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Phạm vi đại diện của người bị tuyên hạn chế năng lực hành vi dân sự được xác định theo quyết định của tòa án. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Về chủ thể của hợp đồng tiền công ty là pháp nhân hoặc các tổ chức không có tư cách pháp nhân. Pháp nhân có thể là pháp nhân thương mại hoặc pháp nhân phi thương mại. Để được công nhận là pháp nhân, là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự nói chung thì cần phải đảm bảo bốn điều kiện theo BLDS 2015, đó là: (i) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; (ii) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của BLDS 2015; (iii) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (iv) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập (Khoản 1, Điều 74 BLDS 2015). Pháp nhân tham gia giao dịch dân sự thông qua người có tư cách đại diện. Người có tư cách đại diện có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của người có thẩm quyền.

Ngoài những điều kiện chung về độ tuổi và tư cách chủ thể nêu trên, ý chí của chủ thể cũng không được vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nói chung và hợp đồng tiền công ty cổ phần nói riêng. Có hai điều kiện liên quan mà chủ thể của hợp đồng tiền công ty cổ phần (bao gồm cả cá nhân và pháp nhân) đều phải tuân thủ, đó là:

Các bên không được xác lập, thực hiện hợp đồng, giao dịch giả tạo. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu (Điều 124 BLDS 2015).

Các bên không được sử dụng hình thức lừa dối, đe dọa, cưỡng bức để xác lập, thực hiện giao dịch. Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó. Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

  • Thứ hai, các điều kiện về mục đích và nội dung của hợp đồng tiền công ty cổ phần

Một giao dịch tiền công ty cổ phần phải đảm bảo mục đích và nội dung của chúng không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó. Còn đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Các điều kiện về nội dung là các điều kiện quy định trong pháp luật điều chỉnh các quan hệ đó. Chúng có thể tồn tại dạng trực tiếp là điều cấm của pháp luật tức là không cho phép thực hiện một việc nào đó hoặc gián tiếp dưới dạng chỉ được thực hiện những việc nhất định.

Thực tế, pháp luật doanh nghiệp và kinh doanh, thương mại là hai lĩnh vực pháp luật có các quy định điều chỉnh và tác động đến giao dịch nói chung và hợp đồng tiền công ty cổ phần nói riêng. Luật doanh nghiệp quy định về tài sản góp vốn, xác định các quy định về giao dịch liên quan đến hoạt động góp vốn hình thành tài sản của công ty cổ phần.

Như vậy, ngoài những điều kiện không trái đạo đức xã hội của hợp đồng, giao dịch ra thì tồn tại các điều kiện có hiệu lực không trái quy định của pháp luật đối với hợp đồng tiền công ty cổ phần. Các quy định này nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác có liên quan trong hệ thống pháp luật pháp luật Việt Nam. Nói cách khác, khi các chủ thể thực hiện giao dịch ở giai đoạn tiền công ty cổ phần nằm ngoài các trường hợp luật cho phép đều dẫn đến vô hiệu.

2.1.2. Các trường hợp hợp đồng tiền công ty cổ phần vô hiệu Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Trong pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh đến các giao dịch ở giai đoạn trước và trong khi thành lập công ty cổ phần tại Việt Nam chỉ có BLDS 2015 có quy định điều chỉnh vấn đề vô hiệu của giao dịch nói chung và hợp đồng tiền công ty cổ phần nói riêng.

Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 không quy định cụ thể các điều kiện có hiệu lực cũng như các trường hợp vô hiệu của hợp đồng được giao kết trước khi đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, các quy định về phạm vi hoạt động của loại hợp đồng này cũng chỉ cho phép Người thành lập doanh nghiệp được ký các loại hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp. Vì vậy, Luận văn cũng xác định các trường hợp vô hiệu của hợp đồng này trên cơ sở các quy định của pháp luật nêu trên cụ thể như sau:

Theo quy định của BLDS 2015, giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của BLDS 2015 thì vô hiệu, trừ trường hợp BLDS 2015 có quy định khác. Các điều kiện đó là các điều kiện có hiệu lực của giao dich dân sự bao gồm: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức của giao dịch dân sự khi đó là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Như vậy, có thể phân chia các trường hợp các hợp đồng tiền công ty cổ phần vô hiệu khi rơi vào các trường hợp sau:

  • (1) Chủ thể của Hợp đồng không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp.

Căn cứ vào quy định của BLDS 2015, khi hợp đồng góp vốn, hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật hợp đồng này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý.

  • (2). Chủ thể của Hợp đồng tiền công ty cổ phần không tự nguyện

Đối chiếu với BLDS 2015 thì các trường hợp mà chủ thể giao dịch không tự nguyện dẫn đến vô hiệu được quy định tại điều 127: giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Theo đó, khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó. Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Tuy nhiên, BLDS 2015 cũng như các văn bản pháp luật khác đều không có quy định rõ “người thân thích” của những người này là ai. Chỉ duy nhất có thể hiểu tương tự khái niệm này theo quy định về việc giám sát việc giám hộ trong BLDS 2015: Người thân thích của người được giám hộ là vợ, chồng, cha, mẹ, con của người được giám hộ; nếu không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là ông, bà, anh ruột, chị ruột, em ruột của người được giám hộ; nếu cũng không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người được giám hộ. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Như vậy, khi một bên trong hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Nếu có cơ sở chứng minh được yếu tố lừa dối, đe dọa, cưỡng ép theo quy định đó, hợp đồng giao dịch ở giai đoạn tiền công ty cổ phần sẽ bị tuyên vô hiệu và các bên phải thực hiện việc xử lý hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

  • Hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp vô hiệu do mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng các giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Trong đó, “điều cấm của luật’’ là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. “Đạo đức xã hội” là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Về nội dung vi phạm các “điều cấm của pháp luật” đã được phân tích cụ thể tại phần điều kiện có hiệu lực của pháp luật trình bày trên đây.

Mặc dù có khái niệm về “đạo đức xã hội’’, song khái niệm này không thực rõ ràng khiến cho việc áp dụng trong thực tiễn rất khó khăn. Vì rằng, riêng việc xác định nội hàm của các khái niệm “chuẩn mực xã hội’’, “cộng đồng’’ hay “thừa nhận và tôn trọng’’ đều chỉ mang tính chất chung chung chứ không cụ thể và minh bạch.

  • Hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp vô hiệu do giả tạo

Khái niệm hợp đồng theo Điều 385 BLDS 2015: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Bản chất của giao dịch, hợp đồng là sự thống nhất ý chí. Vì vậy, Bộ luật dân sự Việt Nam quy định rõ những giao dịch dân sự giả tạo, không phản ánh ý chí đích thực của các bên sẽ vô hiệu.

Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của BLDS 2015 hoặc luật khác có liên quan. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu (Điều 124 BLDS 2015). Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Không nằm ngoài quy định đó, hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp hoàn toàn có thể bị tuyên vô hiệu nếu nó đủ căn cứ chứng minh là giao dịch giả tạo nhằm che dấu một giao dịch khác. Trường hợp này cũng rất dễ xảy ra vì các lý do: (i) Hợp đồng tiền công ty là một dạng giao dịch bảo đảm nhằm đảm bảo cho nghĩa vụ của các sáng lập viên đối với công ty và của Người thành lập doanh nghiệp với bên thứ ba thực hiện các dịch vụ hoặc giao dịch khác trong phạm vi cho phép của Luật doanh nghiệp, mục đích của hợp đồng đã rất rõ ràng; (ii) Hợp đồng tiền công ty cổ phần là dạng hợp đồng không bắt buộc phải công chứng, chứng thực nên có thể hiểu rằng loại hợp đồng này không quy định phải tuân thủ về mặt hình thức cũng như có điều kiện của hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận không bằng văn bản. Ví dụ: pháp luật không bắt buộc phải lập hợp đồng góp vốn giữa các sáng lập viên và việc góp vốn cũng như các quyền và nghĩa vụ cụ thể của cổ đông khi công ty cổ phần được thành lập sẽ áp dụng theo quy định của Luật Doanh nghiệp và điều lệ công ty. Ngoài ra, các loại hợp đồng khác phục vụ cho việc thành lập doanh nghiệp cũng không có quy định bắt buộc phải lập thành văn bản…

  • Hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình.

Tương tự như trên, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư. Luật thương mại và các luật khác có liên quan đều không có quy định cụ thể về trường hợp này ngoại trừ BLDS 2015. BLDS 2015 quy định “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”.

Như vậy, giao dịch ở giai đoạn tiền công ty cổ phần thông qua hình thức hợp đồng cũng có thể vô hiệu nếu một trong các bên là người xác lập hợp đồng này có năng lực hành vi dân sự nhưng lại xác lập hợp đồng đúng vào thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

  • Hợp đồng tiền công ty cổ phần vô hiệu do nhầm lẫn

Tương tự như trường hợp hợp đồng vô hiệu do đe dọa, cưỡng ép. Hợp đồng này cũng có thể vô hiệu do nhầm lẫn vì không đảm bảo được sự chính xác về ý chí của các bên khi xác lập và thực hiện hợp đồng.

Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Tuy nhiên, giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được (Điều 126 BLDS 2015). Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

2.1.3. Hậu quả pháp lý của giao dịch tiền công ty cổ phần vô hiệu

Khi các giao dịch tiền công ty vô hiệu sẽ xảy ra các hậu quả pháp lý tương ứng. Tùy thuộc vào chủ thể có quyền tuyên bố giao dịch vô hiệu, loại hợp đồng tiền công ty cổ phần vô hiệu và mức độ vô hiệu của mỗi loại hợp đồng, ta mới có thể xác định được hậu quả pháp lý của sự vô hiệu của những hợp đồng trên.

Các trường hợp giao dịch tiền công ty cổ phần bị vô hiệu có thể được phân thành hai nhóm chính: Vô hiệu tuyết đối (hay còn gọi là vô hiệu đương nhiên) và vô hiệu tương đối (hay còn gọi là vô hiệu bị tuyên). Sự phân loại nêu trên dựa vào một số đặc điểm thể hiện bản chất của hai khái niệm giao dịch tiền công ty vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối. Đó là:

Thứ nhất là sự khác biệt về trình tự vô hiệu của giao dịch. Giao dịch tiền công ty vô hiệu tuyệt đối thì mặc nhiên bị coi là vô hiệu. Còn đối với các giao dịch vô hiệu tương đối thì không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ trở nên vô hiệu khi có đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và bị toà án tuyên bố vô hiệu.

Thứ hai là sự khác biệt về thời hạn yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu. Đối với các giao dịch tiền công ty vô hiệu tuyệt đối thì thời hạn yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu không bị hạn chế. Còn đối với các giao dịch tiền công ty vô hiệu tương đối thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch tiền công ty vô hiệu là hai năm kể từ ngày giao dịch tiền công ty được xác lập (Điều 132 BLDS 2015). Có một điểm cần lưu ý là trường hợp vô hiệu do vi phạm các quy định bắt buộc về hình thức cũng thuộc nhóm vô hiệu tuyệt đối nhưng theo quy định của Điều 132 BLDS 2015 thì thời hạn yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu là hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập (giống như các trường hợp vô hiệu tương đối, bởi vì, hiệu lực của giao dịch phụ thuộc vào ý chí của chủ thể mà không phải là của Nhà nước). Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Thứ ba, giao dịch tiền công ty thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối có thể bị vô hiệu không phụ thuộc vào quyết định của toà án mà đương nhiên không có giá trị, vì giao dịch vi phạm pháp luật nghiêm trọng cho nên Nhà nước không bảo hộ. Còn đối với giao dịch tiền công ty vô hiệu tương đối thì quyết định của toà án là cơ sở làm cho giao dịch trở nên vô hiệu. Quyết định của toà án mang tính chất phán xử. Toà án tiến hành giải quyết vụ việc khi có đơn yêu cầu của các bên (hoặc của đại diện hợp pháp của họ). Bên yêu cầu phải có nghĩa vụ chứng minh trước toà các cơ sở của yêu cầu.

Hệ quả là, những hợp đồng vô hiệu tuyệt đối thì sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập hợp đồng. Do đó, sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng không có giá trị và không thực hiện được trong thực tế. Khi đó, các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, đồng thời thiệt hại bên nào bên đó tự gánh chịu, thu nhập bất hợp pháp phải nộp vào ngân sách nhà nước. Còn những hợp đồng vô hiệu tương đối, sẽ chỉ bị coi là vô hiệu và mang những hậu quả như trên nếu bên bị thiệt hại nại ra tòa án.

Nếu xét đến mức độ vô hiệu thì hợp đồng tiền công ty cổ phần vô hiệu được chia thành hai loại, hợp đồng vô hiệu từng phần và hợp đồng vô hiệu hoàn toàn. Một hợp đồng tiền công ty được gọi là vô hiệu hoàn toàn khi (1) những điều khoản chủ yếu của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc/ và (2) người ký hợp đồng không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi lừa dối [21, tr.272-275]. Còn hợp đồng tiền công ty được coi là vô hiệu từng phần nếu có một phần nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng. Khi đó, chỉ vô hiệu những phần thỏa thuận trái pháp luật, còn những phần khác vẫn có hiệu lực thực hiện. Hệ quả là, hợp đồng vô hiệu hoàn toàn sẽ có kết cục như hợp đồng vô hiệu tuyệt đối. Còn hợp đồng vô hiệu một phần sẽ vẫn có thể còn hiệu lực nếu các bên sửa đổi các điều khoản trái pháp luật, khôi phục các quyền và lợi ích ban đầu. Đồng thời, các bên cũng có thể bị xử lý theo các quy định khác của pháp luật.

Nếu xét về loại hợp đồng tiền công ty vô hiệu thì sẽ chia giống như phân loại các hợp đồng tiền công ty cổ phần, đó là hợp đồng thành lập công ty vô hiệu và hợp đồng phục vụ cho việc thành lập công ty vô hiệu. Ở đây, nếu chỉ đề cập đến hợp đồng vô hiệu toàn bộ thì hợp đồng thành lập công ty vô hiệu sẽ có hậu quả nghiêm trọng hơn những hợp đồng tiền công ty khác vô hiệu. Bởi vì nếu như những hợp đồng tiền công ty khác vô hiệu chỉ dẫn tới kết cục như đã đề cập ở trên (không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập hợp đồng, các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, đồng thời thiệt hại bên nào bên đó tự gánh chịu, thu nhập bất hợp pháp phải nộp vào ngân sách nhà nước) thì hợp đồng thành lập công ty vô hiệu sẽ làm cho công ty vô hiệu. Đây là chế tài trực tiếp áp dụng cho công ty nhằm mục đích loại bỏ các công ty không đủ tiêu chuẩn hoạt động. Khi đó, các sáng lập viên sẽ phải gánh chịu những hậu quả của sự vô hiệu này như hoàn trả những gì đã nhận, tự gánh chịu những thiệt hại… đồng thời phải liên đới và hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hậu quả kéo theo sự vô hiệu của hợp đồng thành lập công ty đối với người thứ ba trong các hợp đồng phục vụ cho việc thành lập của công ty. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Công ty thường được xem xét trên hai phương diện: kinh tế và pháp lý. Trên phương diện kinh tế, công ty được xem là một doanh nghiệp hay một thực thể kinh doanh và trên phương diện pháp lý, công ty được xem là một hợp đồng. Do đó góp vốn và tài sản góp vốn cũng được hiểu theo nghĩa kinh tế và nghĩa pháp lý, có nghĩa là cần xem xét khái niệm góp vốn từ phương diện kinh tế và từ phương diện pháp lý. Nếu như góp vốn, xét từ phương diện kinh tế, là việc tạo ra tài sản cho công ty nhằm bảo đảm cho những chi phí trong hoạt động của công ty thì góp vốn, xét từ phương diện pháp lý, là hành vi chuyển giao tài sản hay đưa tài sản vào sử dụng để đổi lấy quyền lợi đối với công ty. Do đó, tài sản góp vốn cũng phải đảm bảo đây là tài sản hợp pháp là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cổ đông góp vốn và trường hợp tài sản góp vốn là tài sản bất hợp pháp thì hậu quả pháp lý của Hợp đồng góp vốn thành lập công ty sẽ xảy ra và cần xem xét ở hai vấn đề.

Thứ nhất, trường hợp các tài sản của các cổ đông tham gia góp vốn đều là tài sản bất hợp pháp thì hợp đồng hoặc thỏa thuận góp vốn vô hiệu tuyệt đối và toàn bộ, dẫn đến công ty vô hiệu. Theo quy định tại Điều 211 – Luật doanh nghiệp 2014 thì Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do có Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo, vi phạm pháp luật.

Thứ hai, trường hợp tài sản của một hoặc một số cổ đông tham gia góp vốn là tài sản bất hợp pháp thì Hợp đồng, thỏa thuận góp vốn sẽ vô hiệu tuyệt đối từng phần. Lúc này Công ty không bị vô hiệu. Công ty và các cổ đông lựa chọn thực hiện các quyền sau:

  • Yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng góp vốn vô hiệu từng phần do tài sản góp vốn là tài sản bất hợp pháp và yêu cầu cổ đông vi phạm bồi thường thiệt hại (nếu có). Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.
  • Các cổ đông còn lại của công ty thực hiện góp bổ sung phần vốn bị giảm do tài sản bất hợp pháp không được công nhận vào vốn điều lệ của công ty. Hoặc huy động các nhà nhà đầu tư mới mua lại số cổ phần đã được phát hành nhưng không thành công do tài sản góp vốn bất hợp pháp gây ra theo quy định tại Điều 112 Luật doanh nghiệp năm 2014.
  • Công ty thực hiện các thủ tục giảm vốn điều lệ.
  • Giải thể
  • Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

Hợp đồng thành lập công ty bị vô hiệu có thể ảnh hưởng tới các hợp đồng tiền công ty khác. Tác động này được xem xét theo hai trường hợp sau đây:

Đối với những hợp đồng tiền công ty có hiệu lực phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng thành lập công ty, hay nói cách khác, hợp đồng thành lập công ty có hiệu lực là điều kiện có hiệu lực của những hợp đồng tiền công ty khác – ví dụ hợp đồng chuyển đổi trách nhiệm thì một khi hợp đồng thành lập công ty vô hiệu, những hợp đồng còn lại cũng không có hiệu lực.

Đối với những hợp đồng tiền công ty khác có hiệu lực không phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng thành lập công ty (ví dụ hợp đồng giữa sáng lập viên và người thứ ba và, hoặc hợp đồng phục vụ cho việc thành lập công ty) thì một khi hợp đồng thành lập công ty vô hiệu, những hợp đồng đó vẫn có hiệu lực và nó ràng buộc những bên đã tham gia giao kết hợp đồng chứ không ràng buộc công ty. Do đó, các bên giao kết hợp đồng sẽ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn và liên đới với những nghĩa vụ cũng như trách nhiệm đã được đề cập đến trong những hợp đồng này.

2.2. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp liên quan đến Hợp đồng tiền công ty vô hiệu Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

2.2.1. Các loại tranh chấp thương gặp liên quan đến hợp đồng tiền công ty

Trên thực tế, các tranh chấp về hợp đồng tiền công ty cổ phần thường xảy ra khi tồn tại những mâu thuẫn về quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể tham gia hợp đồng và những chủ thể có liên quan. Trong việc nghiên cứu cơ chế pháp lý để đưa ra những phương án giải quyết các tranh chấp từ các hợp đồng tiền công ty là một nhu cầu cấp thiết nhằm tìm ra phương án khả thi nhất để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các nhà đầu tư hay sáng lập viên và bên thứ ba khi có hành vi vi phạm hợp đồng tiền công ty xảy ra. Quan hệ hợp đồng gắn kết với các lợi ích, vì vậy cũng dễ phát sinh tranh chấp khi có xung đột về lợi ích. Sự xung đột này thường xuất hiện do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết trong hợp đồng. Khi có tranh chấp các bên thường tìm đến các phương thức Giải quyết tranh chấp khác nhau để giải tỏa xung đột, bất đồng, mâu thuẫn về lợi ích, tạo lập lại sự cân bằng mà các bên có thể chấp nhận được. Có nhiều phương thức Giải quyết tranh chấp. Thực tiễn và khoa học pháp lý ghi nhận bốn phương thức Giải quyết tranh chấp sau: Thương lượng; Hòa giải; Trọng tài; Tòa án. Những tranh chấp thường gặp gồm có:

Thứ nhất, tranh chấp khi cổ đông sáng lập vi phạm nghĩa vụ do không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ góp vốn. Theo quy định các cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn. Tuy nhiên, trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày Công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, với tư cách là một pháp nhân hoàn chỉnh, công ty cổ phần có thể tự mình, nhân danh mình thực hiện các giao dịch trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc cổ đông sáng lập không thực hiện, chậm thực hiện, hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ góp vốn của mình sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn đầu tư và chi phí sản xuất, kinh doanh hoặc xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư của Công ty. Trên thực tế, loại tranh chấp này xảy ra thường xuyên và Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định khá chi tiết về hậu quả pháp lý của việc góp vốn thành lập công ty không đúng thời hạn, cụ thể là:

Trong thời hạn từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến ngày cuối cùng phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua quy định, số phiếu biểu quyết của các cổ đông được tính theo số cổ phần phổ thông đã được đăng ký mua, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Nếu sau thời hạn quy định có cổ đông chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán được một phần số cổ phần đã đăng ký mua, thì thực hiện theo quy định sau đây: (i) Cổ đông chưa thanh toán số cổ phần đã đăng ký mua sẽ đương nhiên không còn là cổ đông của công ty và không được chuyển nhượng quyền mua cổ phần đó cho người khác; (ii) Cổ đông chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua sẽ có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán; không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác; (iii) Số cổ phần chưa thanh toán được coi là cổ phần chưa bán và Hội đồng quản trị được quyền bán; (iv) Công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số cổ phần đã được thanh toán đủ và thay đổi cổ đông sáng lập trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua theo quy định; (v) Cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn.

Do đó, khi có sự vi phạm đối với nghĩa vụ góp vốn, Công ty và các cổ đông sáng lập khác thường lựa chọn hình thức Giải quyết tranh chấp được quy định tại Luật doanh nghiệp nêu trên.

Thứ hai, tranh chấp khi cổ đông sáng lập vi phạm nghĩa vụ giao nộp những khoản lợi bí mật có được trong quá trình thành lập công ty. Về nguyên tắc, sáng lập viên được đền bù vì đã gánh những rủi ro trong hoạt động thành lập công ty. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là họ được nhận những khoản lợi bí mật một cách tự động, mà không cần công ty chấp nhận theo hợp đồng. Vi phạm nghĩa vụ giao nộp này sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của các sáng lập viên khác.

Ví dụ: Công ty A muốn huy động vốn để thành lập một công ty Aa để hoạt động kinh doanh bất động sản. Trong thời gian huy động vốn, ngoài những thông tin giới thiệu về tiềm năng phát triển, dự án và vốn đầu tư thì công ty A cùng với Tập đoàn B (một Tập đoàn nổi tiếng trên thị trường bất động sản) thỏa thuận cùng đứng ra huy động vốn và công bố danh sách cổ đông sáng lập nêu tên một trong các cổ đông sáng lập là Tập đoàn B đã xây dựng hình ảnh của Công ty Aa rất triển vọng và chuyên nghiệp. Tập đoàn B là đơn vị đứng ra làm việc với các NĐT về việc góp vốn thành lập Công ty Aa và ký với NĐT Thỏa thuận góp vốn theo mẫu tại Phụ lục 1.

Vì vậy, sau khi huy động vốn thì có rất nhiều nhà đầu tư (“NĐT”) đã nhanh chóng mua đề nghị góp vốn thành lập Công ty Aa (khoảng 80 nhà đầu tư) với số tiền lên tới hàng trăm tỷ đồng. Công ty Aa được chính thức thành lập, tuy nhiên cổ đông sáng lập không có Tập đoàn B như thông tin đã công bố và có thông báo về việc Tập đoàn B không còn là cổ đông sáng lâp của Aa.

Dưới góc độ của pháp luật doanh nghiệp thì sự việc trên đúng hay sai sẽ nằm mấu chốt ở hai điểm. Thứ nhất là thoả thuận giữa Công ty A và Tập đoàn B về việc thành lập Công ty Aa có đủ giá trị pháp lý không? Thứ hai là thoả thuận giữa Tập đoàn B và NĐT có thống nhất với thoả thuận giữa hai công ty và pháp luật không?

Về vấn đề thứ nhất, cho đến thời điểm hiện tại, thì Công ty A đã thông báo chính thức là B không phải là cổ đông sáng lập của Aa. Về vấn đề thứ hai, thoả thuận giữa Tập đoàn B và NĐT thì chỉ có Mẫu thoả thuận giữa hai bên. Mẫu này là Thoả thuận góp vốn đầu tư của B với những NĐT, trong đó Tập đoàn B thông báo rằng đã thống nhất về việc thành lập Aa. Trên cơ sở này, B yêu cầu những NĐT góp vốn chuyển cho Công ty Aa quản lý. Tập đoàn B chịu trách nhiệm trước pháp luật với Nhà Đầu tư về khoản tiền góp vốn này, chịu trách nhiệm chuyển toàn bộ số tiền của NĐT vào tài khoản của Aa, và cam kết sẽ nỗ lực ở mức độ cao nhất về việc thành lập Aa. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Tập đoàn B thoả thuận huy động Nhà Đầu tư trở thành cổ đông của Aa trước khi công ty này được cấp phép và NĐT được chuyển nhượng quyền cổ đông cho Bên thứ ba khi Aa được thành lập. Nếu Tập đoàn B đã thực hiện theo mẫu Thoả thuận góp vốn đầu tư thì việc huy động vốn của giai đoạn tiền thành lập công ty Aa sẽ có những vấn đề sau: Tại khoản 1 Điều 19 của Luật DN năm 2014 có quy định: “Người thành lập doanh nghiệp được ký các loại hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp.” Như vậy, với những cam kết của Tập đoàn B thì số tiền của NĐT sẽ được chuyển vào tài khoản của Aa, nếu công ty được thành lập. Tập đoàn B sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật với NĐT về khoản tiền góp này. Những thoả thuận này là hoạt động trong giai đoạn thành lập công ty, pháp luật chưa quy định cụ thể vấn đề này nên phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên tham gia. Còn đối với những cam kết của Tập đoàn B là huy động NĐT trở thành cổ đông của Aa trước khi công ty này được cấp phép, và được chuyển nhượng quyền cổ đông cho Bên thứ ba khi Aa được thành lập là hoàn toàn không đúng quy định của Luật Doanh nghiệp. Sau khi một công ty cổ phần được thành lập thì mới có thể bán cổ phần, và càng không thể chuyển nhượng được cổ phần khi Aa được thành lập!

Như vậy, những cam kết về cổ đông và về việc chuyển nhượng cổ phần của B đối với Aa là không đúng pháp luật doanh nghiệp. Tóm lại, với vấn đề này, trách nhiệm hình sự sẽ đặt ra nếu có dấu hiệu gian dối trong quá trình thực hiện việc huy động vốn của các NĐT.

Thứ ba, tranh chấp liên quan đến các căn cứ làm hợp đồng vô hiệu ví dụ như lừa dối, nhầm lẫn… hay lách các quy định sơ sài của pháp luật liên quan đến hợp đồng tiền công ty mà vụ việc “mượn danh” để thành lập công ty. Đối với trường hợp này có thể kể đến việc Cán bộ công chức “mượn danh nghĩa” hoặc nhờ người đứng tên để lách các quy định của luật để thành lập và quản lý Công ty cổ phần tại. Cụ thể là: Khoản 2, Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định các tổ chức, cá nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam bao gồm Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Nhưng trên thực tế không ít những trường hợp “nhờ” người thân thích đứng tên để thành lập hoặc quản lý công ty cổ phần cho mình, những trường hợp này phát luật hiện hành cũng chưa có cơ chế kiểm soát hoặc các chế tài cụ thể để xử lý các vi phạm này. Ngoài ra cũng phải kể đến các ngành nghề kinh doanh đặc thù khi thành lập Công ty pháp luật có yêu cầu Người đứng đầu hoặc đại diện theo pháp luật của Công ty phải có bằng cấp chuyên môn như: Giám đốc (Tổng Giám đốc) Công ty Chứng khoán phải đáp ứng một trong các quy định tại khoản 3 Điều 34 Thông tư 210/2012/TT-BTC là “Có Chứng chỉ hành nghề phân tích tài chính hoặc Chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ”, nên cũng có không ít trường hợp Giám đốc (Tổng Giám đốc) người đại diện theo pháp luật của Công ty Chứng khoán được thuê để đứng tên mà không tham gia hoặc tham gia ít vào công tác điều hành, quản trị Công ty Chứng khoán cho nhóm cổ đông chưa đáp ứng điều kiện trở thành Giám đốc (Tổng Giám đốc) như đã nêu… Trong những ví dụ này, theo tác giả đã có sự lừa dối trong việc dùng danh nghĩa của người được thuê, được nhờ (tên và chuyên môn về nghiệp vụ chứng khoán) để hợp pháp hóa hồ sơ và đăng ký kinh doanh công ty Cổ phần thông thường và Công ty Chứng khoán. Việc làm này làm ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của bên ba ngay tình khi giao kết hợp đồng và khi phát hiện ra Bên thứ ba ngay tình có quyền yêu cầu tuyên bố công ty vô hiệu do có dấu hiệu lừa dối trong quá trình thành lập.

Thứ tư, tranh chấp liên quan đến việc chuyển đổi trách nhiệm từ sáng lập viên sang công ty khi công ty được thành lập. Thông thường, khi công ty được thành lập, công ty sẽ tiếp nhận quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm từ hợp đồng tiền công ty cổ phần do sáng lập viên ký kết. Điều này cũng đã được ghi nhận trong pháp luật. Tuy nhiên, do luật doanh nghiệp Việt Nam quy định còn sơ sài và không bắt buộc lập hợp đồng chuyển đổi trách nhiệm nên trong nhiều trường hợp, khi công ty được thành lập, việc chuyển đổi trách nhiệm không diễn ra, thậm chí còn bị phủ nhận, gây ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của sáng lập viên ký kết những hợp đồng tiền công ty. Ví dụ như vụ việc thành lập Công ty Aa được đề cập đến ở trên, công ty A đã không đồng ý để Tập đoàn B trở thành cổ đông sáng lập vì cho rằng Tập đoàn này đã thu lợi bí mật, do đó không chấp nhận chuyển đổi trách nhiệm từ những hợp đồng góp vốn của nhà đầu tư. Điều này đồng nghĩa với việc phủ nhận tư cách sáng lập viên của Tập đoàn B. Về nguyên tắc, hành vi của công ty A vi phạm pháp luật. Nhưng trên thực tế, do pháp luật quy định không rõ ràng, nên cũng sẽ có nhiều người ủng hộ quan điểm này. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Trên đây là bốn dạng tranh chấp phổ biến nhất liên quan đến hợp đồng tiền công ty cổ phần. Tuy nhiên, trên thực tế, các tranh chấp ít khi được nhắc đến cũng như ít khi được đưa ra tòa giải quyết bởi lý do:

Một là, các nhà lập pháp mới chỉ xem xét từ công đoạn các sáng lập viên nộp hồ sơ xin phép thành lập công ty (khi đã có đủ các yếu tố như điều lệ, vốn góp, trụ sở…) chứ không quan tâm đến việc các hợp đồng tiền công ty được tạo lập như thế nào.

Hai là, phần lớn công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay được thành lập mới dưới dạng công ty đóng, cổ đông thường giới hạn trong những người có quan hệ thân thiết hoặc quen biết nhau từ trước chứ không phải công ty đại chúng, phát hành cổ phiếu công khai ra công chúng. Một số trường hợp được thành lập dưới dạng cổ phần hóa từ doanh nghiệp Nhà nước hoặc chuyển đổi loại hình từ các loại hình doanh nghiệp khác như Công ty TNHH sang Công ty cổ phần…

Ba là, nếu có tranh chấp, các chủ thể liên quan thường dùng biện pháp thương lượng, hòa giải hoặc giải quyết kín đáo nhằm giữ uy tín kinh doanh cho công ty mới được thành lập.

2.2.2. Phương thức Giải quyết tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tiền công ty Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Tranh chấp hợp đồng tiền công ty phát sinh khi các bên tham gia giao kết hợp đồng có những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận được ghi nhận trong nội dung của hợp đồng. Việc mâu thuẫn về nội dung hợp đồng tiền công ty có thể xuất phát từ việc đánh giá hành vi vi phạm, cách hiểu nội dung/ngôn từ trong hợp đồng, cách thức giải quyết hậu quả phát sinh hoặc có vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

Hiện nay, tại Việt Nam tồn tại 4 phương thức Giải quyết tranh chấp bao gồm: Thương lượng, Hòa giải, Trọng Tài, Tòa án. Trong đó, phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài là các phương thức Giải quyết tranh chấp ngoài tòa án hay còn gọi là phương thức Giải quyết tranh chấp thay thế (Alternative dispute resolution – ADR). Qua số liệu thống kê khảo sát của Bộ Tư Pháp, phương thức Giải quyết tranh chấp mà các doanh nghiệp, cá nhân ưu tiên sử dụng lần lượt là thương lượng (57,8%), Toà án (46,8%), hoà giải (22,8%) và cuối cùng là trọng tài (16,9%) [53].

Tranh chấp hợp đồng tiền công ty cũng như các hợp đồng kinh doanh thương mại khác luôn được giải quyết công bằng và công khai với những bên tham gia hợp đồng. Các bên có thể lựa chọn một phương thức phù hợp để giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng, vừa đảm bảo cho trật tự pháp luật và ý thức tôn trọng pháp luật. Khi có tranh chấp về cách hiểu nội dung trong hợp đồng thì các bên có thể lựa chọn một trong những phương thức sau đây để giải quyết. Theo quy định tại Điều 317 Luật Thương mại năm 2005, các hình thức giải quyết tranh chấp, là:

  • Thương lượng giữa các bên.
  • Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải.
  • Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án.

a. Thứ nhất, phương thức thương lượng, hòa giải

Đây là cách thức đầu tiên xuất hiện khi có bất kỳ vấn đề xung đột nào xảy ra, trong tất cả lĩnh vực và đương nhiên Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh – thương mại, trong đó Hợp đồng tiền công ty cũng nên ưu tiên sử dụng đến phương thức này. Việc thương lượng, hòa giải diễn ra giữa các bên tranh chấp, cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi đến cách hiểu thống nhất nội dung hợp đồng và đưa ra được phương án có lợi nhất, giảm thiểu nhiều thiệt hại nhất cho cả hai bên. Tức là để hai bên đều có lợi và đều tự nguyện thực hiện phương án đã thỏa thuận hòa giải. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Cho đến nay phương thức Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải chưa được nhiều doanh nghiệp chú ý đến đúng với tiềm năng phát triển của nó. Lý do là các thông tin về hòa giải còn hạn chế, các doanh nghiệp không có một cái nhìn toàn diện và cho rằng hòa giải không có quy định và cơ chế ràng buộc thi hành đối với các bên. Hiện này hành lang pháp lý cho phương thức hòa giải thương mại đã khá đầy đủ, đặc biệt Chính Phủ đã ban hành Nghị Định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại quy định chi tiết về nguyên tắc hòa giải, trình tự thủ tục hòa giải, tiêu chuẩn hòa giải viên, thành lập và hoạt động của tổ chức hòa giải thương mại. Nghị định này đã quy định một cách toàn diện cho phương thức hòa giải.

Bên cạnh đó, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã rất chú trọng đến hòa giải khi dành riêng một chương XXXIII quy định Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài tòa án. Như vậy, các bên tham gia trong Hợp đồng tiền công ty hoàn toàn có thể tin tưởng, lựa chọn phương thức hòa giải để Giải quyết tranh chấp của mình. Phương thức hòa giải mang lại cho các bên rất nhiều ưu điểm có thể kể đến như: tiết kiệm thời gian, chi phí tố tụng, tính bảo mật, các bên tự mình chủ động để đưa ra kết quả giải quyết, không gây ảnh hưởng xấu và giữ được mối quan hệ với nhau và với đối tác. Đặc biệt, khi lựa chọn phương thức hòa giải, nếu các bên không đạt được thỏa thuận, các bên hoàn toàn có thể lựa chọn đưa tranh chấp ra tòa án hay trọng tài mà không bị giới hạn.

Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội, nhưng quan niệm về hòa giải còn nhiều vấn đề chưa thống nhất. Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về hòa giải: Hòa giải (conciliation) là sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc Giải quyết tranh chấp giữa họ. Việc Giải quyết tranh chấp thông qua người trung gian hòa giải (bên trung lập); Hòa giải là một quá trình mà bên thứ ba tạo điều kiện và phối hợp để các bên thương lượng với nhau. Từ điển pháp lý của Rothenberg định nghĩa hòa giải là “hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít”. Theo Từ điển tiếng Việt, “hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột, xích mích một cách ổn thoả”. Từ những quan niệm trên, có thể rút ra một số đặc trưng chung của hòa giải như sau:

  • Một là, hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp.

Hai là, chủ thể trung tâm của hòa giải là bên trung gian giúp cho các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về giải quyết tranh chấp. Điều này làm cho hòa giải có sự khác biệt với thương lượng. Người trung gian có thể là cá nhân, tổ chức luật sư, tư vấn, hoặc các tổ chức khác do các bên thỏa thuận lựa chọn. Người này phải có vị trí độc lập với các bên và hoàn toàn không có lợi ích liên quan đến tranh chấp. Bên thứ ba làm trung gian không đại diện cho quyền lợi của bất cứ bên nào và không có quyền đưa ra phán quyết. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Ba là, sự điều chỉnh, thỏa thuận về giải quyết các tranh chấp phải do chính các bên tranh chấp quyết định. Các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên.

Như vậy, có thể hiểu hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp từ Hợp đồng tiền công ty với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết các tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội.

Tuy nhiên, có thể sẽ có sự hiểu lầm khi coi hòa giải là biện pháp thay cho tố tụng. Hầu hết các tranh chấp trong xã hội hiện đại được chính các bên tự giải quyết thông qua đàm phán. Trong số tương đối ít vụ tranh chấp liên quan đến Hợp đồng tiền công ty cần đến luật sư, thì chỉ có một tỷ lệ rất ít số vụ như vậy được tiến hành theo trình tự thủ tục tố tụng, thậm chí số vụ tranh chấp được đưa ra Tòa án xét xử còn ít hơn thế. Vì vậy, xét về phương thức chủ đạo được sử dụng để giải quyết tranh chấp từ Hợp đồng giai đoạn tiền công ty thì bản thân tố tụng lại chính là một phương thức “thay thế” với nghĩa là nó hiếm khi được sử dụng. Nếu trung gian hòa giải được cho là một phương thức thay thế, thì nó cần phải được nhìn nhận như một phương thức thay thế cho hầu hết các phương pháp giải quyết tranh chấp thường được sử dụng nhất. Vì đa số các vụ tranh chấp được giải quyết thông thường bên ngoài hệ thống Tòa án, nên yêu cầu áp dụng phương thức hòa giải phải được đánh giá khác với các phương thức thay thế khác cho hình thức tố tụng, kể cả việc giải quyết tại Tòa án.

Tuy có nhiều ưu điểm, nhưng phương thức hòa giải vẫn còn một số hạn chế: việc hòa giải thành hay không thành phụ thuộc rất lớn về sự thiện chí cũng như sự bình tĩnh, hiểu biết của các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng nên có thể việc giải quyết bị kéo dài, bế tắc và có thể dẫn đến hậu quả hết thời hạn khởi kiện để Giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Tiếp nữa việc giải quyết bằng phương thức này không được bảo đảm bằng cơ chế pháp lý, mang tính bắt buộc, kết quả hòa giải đương nhiên cũng có thể không được bảo đảm thực hiện. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Phương thức thương lượng, hòa giải nêu trên đang phân tích dưới dạng tự hòa giải, tức các bên tự bàn bạc để đi đến ý kiến thống nhất phương án giải quyết mà không có bất cứ bên thứ ba nào can thiệp vào. Đây là một trong những phương thức chính để Giải quyết tranh chấp phát sinh từ các giao dịch, hợp đồng giai đoạn tiền công ty Cổ phần. Còn thật ra, việc hòa giải còn đóng vai trò là bước đệm cho những phương thức giải quyết khác, như: hòa giải trong thủ tục tố tụng, hòa giải qua trung gian,…

  • b. Thứ hai, phương thức giải quyết tranh chấp bởi Trọng tài thương mại

Phương thức Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại chỉ áp dụng đối với những hợp đồng có liên quan đến thương mại, giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, hoặc các tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên hoạt động thương mại, hoặc tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài. Khoản 1, Điều 3, Luật Thương mại năm 2005 quy định: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Như vậy, đối với các Hợp đồng tiền công ty, chúng ta chỉ xem xét Phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng phục cho các hoạt động thành lập công ty được ký kết với bên thứ ba là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Khoản 1, Điều 6, Luật Thương mại năm 2005).

Theo đó, các bên có tranh chấp hợp đồng có thể thỏa thuận và ghi nhận bằng văn bản về việc khi phát sinh tranh chấp thì lựa chọn giải quyết bởi Trọng tài thương mại. Đây là cách thức Giải quyết tranh chấp qua Trọng tài viên – bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt mâu thuẫn đưa ra phán quyết yêu cầu các bên phải thi hành theo. Thực tế, đây là phương thức bắt nguồn từ sự tự nguyện thỏa thuận của các bên và không mang ý chí quyền lực nhà nước. Tại Việt Nam, Trọng tài thương mại là tổ chức phi chính phủ, được hoạt động trên pháp luật và quy chế trọng tài quốc tế. Cơ chế giải quyết bằng trọng tài thì được thể hiện ở cả hai yếu tố là thỏa thuận và tài phán, coi như một cách khác của việc nói “tự do trong khuôn khổ”.

Khi đã lựa chọn cách thức giải quyết Trọng tài, các bên có thể lựa chọn trung tâm trọng tài, trọng tài viên, luật áp dụng nhưng khi đã có kết quả giải quyết – phán quyết của trọng tài thì các bên có nghĩa vụ phải thực hiện. Trọng tài giải quyết theo nguyên tắc xét xử một lần và phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm và không thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định tố tụng dân sự. Phán quyết có giá trị hiệu lực thi hành với các bên và nếu bên nào không thi hành thì bên còn lại có quyền yêu cầu ra Tòa án công nhận phán quyết và yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế thi hành. Khi Giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài thương mại có những ưu điểm so với các phương thức khác là:

Thủ tục trọng tài tương đối đơn giản và nhanh chóng. Khi giải quyết các bên hoàn toàn có quyền và có khả năng tác động đến quá trình trọng tài, thể hiện bằng quyền chỉ định trọng tài viên (nếu chọn được trọng tài viên nắm bắt chắc kiến thức, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu về vấn đề tranh chấp thì việc Giải quyết tranh chấp sẽ diễn ra nhanh chóng và chính xác). Mặc dù có sự can thiệp của một bên thứ ba vào quá trình Giải quyết tranh chấp nhưng nguyên tắc của trọng tài là không công khai nên vẫn hạn chế được việc bị lộ những thông tin bí mật kinh doanh, từ đó cũng giữ được uy tín của các bên với các đối tác khác và trên cả thương trường. Ưu điểm cuối cùng của phương thức giải quyết bằng Trọng tài là không có sự can thiệp của quyền lực nhà nước nên rất phù hợp với việc giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài (ví dụ như đối tác làm ăn là công ty nước ngoài, hay đối tượng giao dịch nằm tại nước ngoài, …). Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Có rất nhiều ưu điểm nhưng phương thức Trọng tài cũng không phải không có mặt hạn chế. Cũng như phương thức giải quyết thương lượng, hòa giải trên thì kết quả hòa giải chưa mang tính cưỡng chế thi hành, Trọng tài không phải là một trong những đại diện thực hiện quyền tư pháp của Việt Nam. Do đó, việc thực hiện quyết định trọng tài vẫn là phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên nên có thể không đạt được kết quả thực sự trên thực tế.

  • c. Thứ ba, Phương thức Giải quyết tranh chấp qua Tòa án

Khi tranh chấp Hợp đồng tiền công ty phát sinh, nếu các bên không tự thương lượng, hòa giải với nhau thì có thể được giải quyết tại Tòa án. Việc áp dụng pháp luật của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực thương mại được thông qua nhiều hoạt động khác nhau, trong quá trình tiến hành hoạt động thương mại, các bên tham gia (Người thành lập doanh nghiệp/người được ủy quyền và chủ yếu là các thương nhân – tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh) khó tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể. Khi có tranh chấp xảy ra, để đảm bảo quyền lợi của mình các bên đều muốn giải quyết tranh chấp nhanh chóng, thuận lợi, có hiệu quả và không ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của mình. Có thể thấy, đây cũng là các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại phổ biến ở các nước trên thế giới. So với các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại khác, giải quyết tranh chấp thương mại tại toà án có một số ưu điểm và một số hạn chế sau:

Về ưu điểm: (i) Việc dựa vào cơ quan tài phán là Toà án kinh tế để giải quyết các tranh chấp từ các giao dịch tiền công ty có những ưu điểm nhất định. Trước hết phải kể đến, Toà án là cơ quan nhân danh Nhà nước để giải quyết tranh chấp, do đó phán quyết của Toà án được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Cơ quan thi hành án là một cơ quan chuyên trách và có đầy đủ bộ máy, phương tiện để thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đặc điểm này được có thể coi là yếu tố hấp dẫn nhất khiến các bên tranh chấp thường tìm đến phương thức giải quyết tranh chấp tại Toà án. (ii) Khi giải quyết tranh chấp tại Toà án, việc giải quyết có thể qua nhiều cấp xét xử, vì thế nguyên tắc nhiều cấp xét xử bảo đảm cho quyết định của Toà án được chính xác, công bằng, khách quan và đúng với pháp luật. (iii) Với điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay, chi phí cho việc giải quyết tranh chấp kinh tế tại Toà án thấp hơn rất nhiều so với việc nhờ đến các tổ chức trọng tài thương mại hay trọng tài quốc tế. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Về hạn chế: Tuy Toà án là cơ quan tài phán có sức mạnh cưỡng chế giúp đôi bên có thể giải quyết tranh chấp một cách triệt để, nhưng phương thức giải quyết tranh chấp này cũng bộc lộ ra nhiều hạn chế: (i) Đầu tiên, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Toà án, các bên phải nắm rõ đươc bản chất, vì việc giải quyết tranh chấp của Toà án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng, và đặc điểm này đôi khi có thể gây trở ngại cho các bên tranh chấp vì tính chất của hoạt động góp vốn, kinh doanh, thương mại đòi hỏi mọi thủ tục phải rất linh hoạt và mềm dẻo. (ii) Một điều bất lợi nữa của Toà án, đó là nguyên tắc xét xử công khai. Điều này xuất phát từ bản chất của hoạt động xét xử là bảo vệ pháp chế và duy trì công lý đã được pháp luật quy định, xã hội thừa nhận. Mặt khác, hoạt động xét xử công khai của Toà án còn có tác dụng răn đe, cảnh cáo những hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, để giữ bí mật Nhà nước hoặc bí mật nghề nghiệp theo yêu cầu chính đáng của đương sư, Toà án có thể xử kín nhưng phải tuyên án công khai. Các sáng lập viên làm ăn trên thương trường đều không muốn mang dấu đen phải ra Toà để giải quyết tranh chấp từ những hoạt động ở giai đoạn đầu trước khi thành lập công ty, nó có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ, cho nên khuyết điểm này có thể coi là lớn nhất. (iii) Mặc dù nguyên tắc xét xử nhiều cấp đảm bảo cho quyết định của Toà án là chính xác, công bằng. Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng sẽ khiến cho vụ việc có thể bị kéo dài, xử đi xử lại nhiều lần gây bất lợi cho đương sự, nhất là những tranh chấp có giá trị lớn đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, dứt điểm. Việc dây dưa, kéo dài vụ việc sẽ gây căng thẳng tâm lý, làm mất thời giờ, tiền bạc của các sáng lập viên và hoặc các bên có liên quan và có khi phải bỏ lỡ một cách đáng tiếc các cơ hội kinh doanh.

(iv) Khả năng tác động của các bên trong quá trình tố tụng rất hạn chế, đôi lúc nó không thể hiện được hết nguyện vọng của các bên tranh chấp. (v) Với những tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì việc lựa chọn Tòa án, lựa chọn luật áp dụng còn phụ thuộc vào hợp đồng, các bên và những điều khoản quốc tế, điều khoản song phương giữa các quốc gia đã ký kết nên thủ tục giải quyết còn nhiều vướng mắc. Thông thường, hình thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua toà án được lựa chọn khi việc áp dụng cơ chế thương lượng hoặc hoà giải không có hiệu quả và các bên tranh chấp không có thoả thuận giải quyết tranh chấp tại Trọng tài.

2.3. Đánh giá thực trạng pháp luật về hiệu lực của giao dịch tiền công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

2.3.1. Đánh giá quy định pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay

  • Ưu điểm:

Các quy định pháp luật về hiệu lực của giao dịch tiền công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay gắn liền với các quy định về hiệu lực của giao dịch dân sự, về cơ bản là phù hợp, đáp ứng được hầu hết các yêu cầu của xã hội, đảm bảo việc góp vốn và các hoạt động khác của công ty cổ phần ở giai đoạn trước và trong quá trình thành lập công ty đạt được mục đích. Một số ưu điểm nổi bật như sau:

Các quy định trong Bộ luật dân sự, Luật doanh nghiệp và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan là cơ sở đảm bảo cho tính pháp lý và đảm bảo hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần từ chủ thể, phạm vi, nội dung, hình thức, trình tự thủ tục thành lập công ty và hoạt động của công ty sau khi thành lập… đều chặt chẽ.

Hầu hết các giao dịch phát sinh ở giai đoạn tiền công ty cổ phần đều được pháp luật Dân sự, Luật doanh nghiệp, luật kinh doanh thương mại định hướng và giới hạn tương đối cụ thể là các loại hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp nên đã đảm bảo được hiệu lực của hợp đồng. Chủ yếu các tranh chấp nếu phát sinh sẽ liên quan đến điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, việc thực thi các nội dung của hợp đồng và quyền lợi của mỗi bên tham gia vào giao dịch. Tức là, hiệu lực của các giao dịch này được tôn trọng mà chỉ phát sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Việc ổn định và đảm bảo hiệu lực của các giao dịch tiền công ty đã góp phần tăng cường tính ổn định của hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần khi tham gia vào nền kinh tế, từ đó góp phần ổn định phát triển kinh tế xã hội, giảm thiểu gánh nặng cho hoạt động của hệ thống tòa án các cấp; góp phần cân bằng quan hệ giữa các nhà đầu tư, cá nhân với pháp nhân và bên thứ ba, với khách hàng, người có quyền nghĩa vụ liên quan.

Việc pháp luật quy định về thẩm quyền và các cơ chế giải quyết tranh chấp một cách rõ ràng, linh hoạt, tăng tính chủ động trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các giao dịch tiền công ty cổ phần cho các chủ thể là hợp lý và đáp ứng được các yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường.

  • Nhược điểm:

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật, tác giả nhận thấy khá nhiều các quy định của pháp luật chưa rõ ràng hoặc còn những lỗ hổng, bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành có thể dẫn đến việc ảnh hưởng đến việc áp dụng cũng như thực tiễn đảm bảo cho giao dịch tiền công ty cổ phần có hiệu lực. Những phân tích dưới đây đưa ra những hạn chế của pháp luật về hiệu lực của giao dịch tiền công ty cổ phần tại Việt Nam.

Một là, về quy định giao dịch vô hiệu do vi phạm đạo đức xã hội. Các loại hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp là một giao dịch dân sự nên cũng có thể bị tuyên bố vô hiệu do mục đích và nội dung của nó trái đạo đức xã hội. Trong đó, đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Những giao dịch dân sự có mục đích, nội dung trái đạo đức xã hội thì vô hiệu (Điều 123 BLDS 2015).

Có thể dễ dàng nhận thấy, BLDS 2015 đã quy định khái niệm về đạo đức xã hội. Tuy nhiên, khó có thể xác định được rõ ràng nội hàm của khái niệm này và rất khó xác định điều khoản này là cơ sở pháp lý để áp dụng trong thực tiễn ngay cả đối với các cơ quan tài phán. Vì rằng, những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng đã không rõ ràng ngay trong bản thân khái niệm của nó. Pháp luật Việt Nam cũng không quy định rõ những chuẩn mực ứng xử chung là gì, được ghi nhận ở đâu? Cộng đồng là gì và cộng đồng được giới hạn trong phạm vi như thế nào?

Trong khi đó, đạo đức xã hội được BLDS 2015 lại ghi nhận là cơ sở để pháp luật công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự (Điều 2 BLDS 2015); là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (Điều 116 BLDS 2015); là cơ sở để thực hiện quyền chiếm hữu (Điều 186 BLDS 2015). Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Quy định này không thể giúp các bên giao kết, xác lập hợp đồng áp dụng và tiên liệu các sự kiện pháp lý, hậu quả pháp lý nhằm đảm bảo hiệu lực của hợp đồng tiền công ty cổ phần. Đồng thời, yếu tố đạo đức xã hội có thể được vận dụng tùy tiện để dẫn đến các tranh chấp không cần thiết trong hoạt động đầu tư, kinh doanh thương mại liên quan đến hiệu lực của hợp đồng tiền công ty.

Hai là, Pháp luật chưa làm rõ vấn đề mối quan hệ giữa hiệu lực của hợp đồng tiền công ty với Điều lệ công ty. Giao dịch (hợp đồng) được phép giao kết tại giai đoạn chuẩn bị hình thành công ty cổ phần đã được Luật doanh nghiệp quy định tuy nhiên lại khá chung chung, trong đó không nêu rõ quy định bắt buộc ký kết đối với loại giao dịch nào. Đồng thời, tại Việt Nam thì hợp đồng thành lập công ty đang bị đồng nhất với Điều lệ công ty, do đó, trường hợp xuất hiện một hợp đồng thành lập công ty với những điều khoản khác so với quy định của Điều lệ công ty về quyền và nghĩa vụ của các sáng lập viên thì hiệu lực của văn bản nào sẽ được xem xét nếu xảy ra tranh chấp vẫn đang là vấn đề chưa rõ ràng.

Ba là, các quy định về hiệu lực của giao dịch tiền công ty nói dung không được quy định một cách thống nhất và tập trung tại pháp luật chuyên ngành mà nằm rải rác tại các điều khoản riêng lẻ tại Bộ luật dân sự, Luật doanh nghiệp.

Bốn là, Luật doanh nghiệp Việt Nam quy định còn sơ sài và không quy định các hình thức đảm bảo thực hiện hợp đồng, cũng không quy định các điều khoản bắt buộc như điều chuyển đổi trách nhiệm của người thành lập doanh nghiệp sang công ty sau khi công ty cổ phần được thành lập nên trong nhiều trường hợp, khi công ty được thành lập, việc chuyển đổi trách nhiệm không diễn ra, thậm chí còn bị phủ nhận, gây ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của sáng lập viên ký kết những hợp đồng tiền công ty.

2.3.2. Đánh giá việc áp dụng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

  • Ưu điểm:

Việc xác định rõ bản chất hợp đồng của công ty đã mang lại nhiều tiện ích cho việc nghiên cứu công ty, giải quyết tranh chấp, cũng như bảo vệ sự phát triển của các công ty trong nền kinh tế thị trường. Bộ luật Dân sự 2014 và quy định cụ thể ở Điều 19 Luật Doanh nghiệp 2014 đã tạo ra một hành lang pháp lý cơ bản đối với các giao dịch phát sinh trong quá trình thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp. Việc thực thi pháp luật trong giới hạn này cũng đạt được nhiều kết quả tốt. Cụ thể:

Thiết lập được cơ sở và hành lang pháp lý cho những hoạt động của nhà đầu tư, công ty cổ phần và bên thứ ba ở giai đoạn tiền để khi doanh nghiệp chuẩn bị gia nhập nền kinh tế. Giảm bớt áp lực về mặt thực hiện quy trình và thủ tục thành lập công ty cho các Nhà đầu tư.

Cơ chế giải quyết tranh chấp pháp sinh từ các giao dịch tiền công ty này áp dụng các quy định và Phương thức giải quyết như các tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại khác thể hiện tính đồng bộ và toàn diện của pháp luật, đồng thời tạo sự chủ động trong việc lựa chọn và áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề liên quan cho các chủ thể tham gia vào giao dịch.

  • Nhược điểm:

Do các quy định liên quan đến giá trị pháp lý của các giao dịch tiền công ty cổ phần nằm rải rác và không thống nhất tại các văn bản pháp luật khác nhau và ít được quan tâm nên các tranh chấp phát sinh từ các giao dịch này ít khi được nhắc đến cũng như ít khi được đưa ra tòa giải quyết bởi lý do:

Thứ nhất, các nhà lập pháp mới chỉ xem xét từ công đoạn các sáng lập viên nộp hồ sơ xin phép thành lập công ty (khi đã có đủ các yếu tố như điều lệ, vốn góp, trụ sở…) chứ không quan tâm đến việc các hợp đồng tiền công ty được tạo lập như thế nào.

Thứ hai, một phần công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay được thành lập do cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hoặc thành lập mới dưới dạng công ty đóng, cổ đông thường giới hạn trong những người có quan hệ thân thiết hoặc quen biết nhau từ trước chứ không phải công ty đại chúng, phát hành cổ phiếu công khai ra công chúng.

Thứ ba, nếu có tranh chấp, các chủ thể liên quan thường dùng biện pháp thương lượng, hòa giải hoặc giải quyết kín đáo nhằm giữ uy tín kinh doanh cho công ty mới được thành lập. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

2.3.3. Nguyên nhân của những bất cập trong quy định và áp dụng của pháp luật Việt Nam về hợp đồng tiền công ty cổ phần

Những nhược điểm còn tồn tại trong việc xác định hiệu lực của các giao dịch tiền công ty xuất phát từ ba nguyên nhân trong quy định của pháp luật về hợp đồng tiền công ty cổ phần. Đó là nguyên nhân về lập pháp, về tư pháp và về nhận thức của mọi người trong xã hội.

Về mặt lập pháp, do pháp luật Việt Nam chưa thật quan tâm đến những hợp đồng tiền công ty cổ phần nên những vấn đề về hợp đồng này chưa được ghi nhận một cách đầy đủ, chuẩn xác và cụ thể.

Về mặt tư pháp, Việt Nam mới chỉ công nhận nguồn văn bản quy phạm pháp luật chứ thực tế chưa công nhận rộng rãi những nguồn pháp luật khác liên quan đến hợp đồng tiền công ty cổ phần như án lệ, tập quán pháp luật, học thuyết pháp lý và lẽ công bằng.

Còn về mặt nhận thức của con người nói chung, do pháp luật chưa có quy định cụ thể và do ý thức tìm hiểu về những hợp đồng này vẫn còn hạn chế nên một khi có tranh chấp xảy ra nhiều người đã không công nhận hợp đồng tiền công ty và cho rằng điều đó là không cần thiết hoặc không có giá trị bắt buộc thi hành.

Mặt khác, việc xác định đối tượng, phạm vi và điều kiện đảm bảo tính hiệu lực và thực thi các giao dịch ở giai đoạn hình thành đến khi thành lập và hoạt động của công ty cổ phần là những vấn đề pháp lý tương đối khó, bao gồm nhiều nội dung bên trong. Vì thế, các nhà làm luật cần nhiều thời gian để nghiên cứu, xem xét, nắm bắt tình hình thực tế của Việt Nam, từ đó mới có thể đưa ra những quy định thích hợp, rõ ràng và đầy đủ. Nhưng thời gian lại không đủ, vì yêu cầu của nền kinh tế đặt ra, theo xu hướng của thế giới, đòi hỏi các nhà làm luật phải nhanh chóng thiết lập ra hành lang pháp lý cho thực hiện các hoạt động đầu tiên và cơ bản của công ty cổ phần nên không thể tránh được những tồn tại nhất định trong các văn bản pháp luật.

Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

Pháp luật Việt Nam hiện hành đã có quy định cụ thể về hiệu lực của giao dịch tiền công ty, tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động ban đầu của thực tế kinh doanh quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mặc dù vậy, hệ thống pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều thiếu sót, không đồng bộ và chưa thực sự phù hợp với mối quan hệ giữa các nhà đầu tư, công ty và bên thứ ba khi xác lập các giao dịch. Các khiếm khuyết nên trên xuất phát từ nguyên nhân về lập pháp, về tư pháp và về nhận thức của mọi người trong xã hội.

Những vấn đề về hợp đồng tiền công ty cổ phần chưa được chú ý trong pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về doanh nghiệp nói riêng, nên một khi những tranh chấp xảy ra, vẫn chưa có cơ sở pháp lý đầy đủ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của sáng lập viên, của nhà đầu tư thiểu số, của cổ đông yếu thế cũng như của người thứ ba ngay tình.

Trong công tác áp dụng và thực thi pháp luật, đặc biệt là vấn đề giải quyết tranh chấp liên quan đến giao dịch tiền công ty thì năng lực giải quyết và xác định giá trị của giao dịch từ phía cơ quan nhà nước cũng cần được quan tâm và nâng cao. Việc hướng dẫn, định hướng cho các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động đầu tư, thành lập công ty cổ phần và các loại hình doanh nghiệp khác còn rất nhiều hạn chế. Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật này còn tâm lý thờ ơ, ỷ lại vào thiện chí của các bên đối tác và việc giải quyết tranh chấp từ phía cơ quan nhà nước dẫn đến việc thực hiện bài bản và nghiêm túc các giao dịch tiền công ty này chưa được coi trọng.

Sở dĩ như vậy là do hệ thống pháp luật chưa thực sự đồng bộ và hoàn thiện. Nhiều quy định còn chưa theo kịp với sự phát triển của các quan hệ kinh tế ngày càng phát triển và đa dạng. Pháp luật cần có những điều chỉnh kịp thời để những bất cập không đi quá xa làm ảnh hưởng đến yêu cầu quản lý nhà nước trong việc phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường. Xuất phát từ tình hình thực trạng đó, đòi hỏi phải có những biện pháp khắc phục, hạn chế những bất cập đồng thời giúp phát huy những điểm tiến bộ của hệ thống pháp luật của chúng ta. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của các giao dịch tiền

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464