Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật hình sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, theo dõi và chỉ đạo sát sao. Đảng, Nhà nước ta đã đặt ra một trong những mục tiêu quan trọng trong quá trình lập pháp trong lĩnh vực tư pháp hình sự là trừng trị người phạm tội, giáo dục họ tuân thủ pháp luật để họ trở thành những công dân có ích cho xã hội, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Theo đó, người thực hiện hành vi phạm tội thì phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình và hậu quả do mình gây ra. Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống cũng cho thấy nhiều trường hợp do các yếu tố khách quan (bệnh tâm thần…) mà bản thân người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không nhận thức hoặc điều khiển được hành vi của mình dẫn đến gây ra những hậu quả nguy hại cho xã hội, cũng như người sau khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc đang chấp hành hình phạt tù thì họ bị rơi vào trạng thái không nhận thức hoặc điều khiển được hành vi. Như vậy, nếu áp dụng hình phạt đối các trường hợp nêu trên như những người bình thường khác có hành vi phạm tội sẽ không đạt được mục đích của hình phạt. Vì vậy, cần phải có một giải pháp hữu hiệu và quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là cần thiết và đóng vai trò rất quan trọng. Quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự vừa thể hiện được chính sách hình sự của nhà nước ta với mục đích chính là phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho trật tự, an toàn xã hội của người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần, vừa thể hiện tính nhân đạo khi không cần thiết phải áp dụng hình phạt mà đưa họ vào cơ sở điều trị chuyên khoa. Như vậy, với biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thì hình phạt không phải là công cụ duy nhất để giáo dục người phạm tội, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Tuy nhiên trong thời gian qua, Bộ luật hình sự nói chung và chế định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nói riêng đã thể hiện những hạn chế nhất định trong nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Trong khi đó, với nền kinh tế – xã hội ngày càng phát triển ở nước ta hiện nay, tình hình tội phạm sẽ ngày càng gia tăng với những diễn biến phức tạp và thủ đoạn tinh vi hơn. Đòi hỏi Bộ luật hình sự nói chung và chế định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nói riêng phải luôn được đổi mới, hoàn thiện nhằm bắt kịp, dự đoán được tội phạm, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Chính vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, đồng bộ, có hệ thống chế định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Qua việc nghiên cứu, tác giả muốn đem đến cái nhìn tổng quan về khái niệm, nội dung, ý nghĩa của biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để từ đó làm rõ các quy định liên quan đến biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được quy định trong Bộ luật hình sự 2015. Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ đưa các quy định liên quan đến biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ở một số quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở đó, sẽ đánh giá được những ưu điểm, khuyết điểm của chế định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh của nước ta so với các quốc gia khác, từ đó tiếp thu những kinh nghiệm của các nước đã đạt được để chế định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh hoàn thiện và hiệu quả hơn.
2.2. Mục tiêu cụ thể Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Để đạt được mục tiêu đặt ra nêu trên, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Thứ nhất, Những vấn đề chung về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong luật hình sự Việt Nam;
Ở phần này, tác giả sẽ làm rõ khái niệm và ý nghĩa biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, sự phát triển của Luật hình sự Việt Nam về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, quy định của một số quốc gia về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Thứ hai, quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015 về bắt buộc chữa bệnh;
Ở phần này, tác giả sẽ đưa ra quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015 về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Thứ ba, thực tiễn áp dụng quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;
Ở phần này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu hoạt động áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn hiện nay và ảnh hưởng của việc áp dụng biện pháp này đến công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trên cơ sở thực tiễn áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh từ năm 2014 đến năm 2018.
Thứ tư, giải pháp hoàn thiện quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;
Ở nội dung này, tác giả sẽ nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm.
3. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Chế định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh không phải là một chế định mới được quy định trong Bộ luật hình sự 2015. Kể từ khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời cho đến nay, biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh không được nghiên cứu nhiều, còn nhiều thiếu sót, phần lớn chỉ nêu lên một cách chung chung hoặc chỉ phân tích một khía cạnh của vấn đề này. Khi nghiên cứu về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, tác giả đã tìm đọc, tham khảo rất nhiều tài liệu liên quan nhưng chỉ tìm được luận văn của Ths. Ngô Thanh Sơn năm 2013 nghiên cứu chuyên sâu về quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh với đề tài “Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh)”. Ngoài ra, tác giả không tìm thấy một công trình nghiên cứu chuyên sâu về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh của các nhà khoa học Việt Nam. Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh chỉ được các nhà khoa học Việt Nam bình luận ở một phần của công trình nghiên cứu chung về bộ luật hình sự như: “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 2015” của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa; Chánh tòa hình sự Đinh Văn Quế, “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 phần chung”…. Từ những bất cập nêu trên, tác giả muốn xây dựng một công trình nghiên cứu chuyên sâu về quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự, trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu đã đạt được của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu trước đây. Với đề tài “Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015” đã khẳng định được tính mới và sẽ góp phần nâng cao sức mạnh, tính hiệu quả của hệ thống pháp luật hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà tác giả nghiên cứu là quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tác giả lựa chọn đề tài để nghiên cứu là “Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015”. Trong giới hạn đề tài này, tác giả nghiên cứu quy định của bộ luật hình sự về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh; lịch sử hình thành, quy định của các quốc gia về biện pháp bắt buộc chữa bệnh; thực tiễn áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh từ năm 2014 đến 2018; quy định Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp bắt buộc chữa bệnh; các giải pháp hoàn thiện quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thứ nhất, phương pháp so sánh: Trong quá trình nghiên cứu quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015, tác giả sẽ sử dụng biện pháp so sánh thông qua việc trình bày các chế tài hình sự qua từng thời kỳ cũng như các quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ở một số quốc gia.
Thứ hai, phương pháp phân tích, tổng hợp: Để làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, tác giả sẽ sử dụng phương pháp phân tích. Sau đó, tác giả dùng phương pháp tổng hợp để làm cho những vấn đề được trình bày trở nên rõ ràng và có căn cứ.
6. Những điểm mới và đóng góp của luận văn Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Hiện nay, việc nghiên cứu về chế định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ở nước ta còn hạn chế, các tài liệu nghiên cứu về vấn đề này của các nhà khoa học Việt Nam không nhiều và phần lớn chỉ đề cập đến một khía cạnh nhất định chưa thể hiện được đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề này. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015” để làm rõ những vấn đề có liên quan thông qua lý luận và thực tiễn để phát huy những điểm mới, điểm tiến bộ cũng như chỉ ra những hạn chế, bất cập, nguyên nhân để từ đó có thể đưa ra các kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015. Bên cạnh đó, luận văn có thể làm tài liệu sử dụng cho việc nghiên cứu của những sinh viên, học viên, những người nghiên cứu về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
7. Bố cục của luận văn
Tác giả sẽ bố cục luận văn thành ba phần, bao gồm: Lời nói đầu, phần nội dung gồm hai chương và phần kết luận. Cụ thể như sau:
- Chương 1: Những vấn đề chung về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong luật hình sự Việt Nam
- Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự 1999 và Bộ luật hình sự 2015 về bắt buộc chữa bệnh và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam từ năm 2014 đến 2018
Chương 1 Những vấn đề chung về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong luật hình sự Việt Nam
1.1. Khái niệm và ý nghĩa biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
1.1.1. Khái niệm biện pháp bắt buộc chữa bệnh Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Hình phạt không phải là công cụ duy nhất để trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội, phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm. Trên thực tế, nhiều trường hợp nếu cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng hình phạt một cách máy móc thì sẽ không đạt được các mục đích nêu trên. Ngoài hình phạt thì trong một số trường hợp Bộ luật hình sự còn quy định việc áp dụng biện pháp tư pháp đối với người phạm tội. Biện pháp tư pháp có thể được áp dụng chung với hình phạt để xử lý tội phạm nhưng cũng có thể được áp dụng riêng cho từng trường hợp cụ thể. Trong các biện pháp tư pháp được quy định trong Bộ luật hình sự thì biện pháp bắt buộc chữa bệnh giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống biện pháp cưỡng chế hình sự, nhằm mục đích chính là phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho trật tự, an toàn xã hội của người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần. Như vậy, biện pháp tư pháp nói chung và biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nói riêng được quy định trong Bộ luật hình sự đã cho thấy chính sách của nhà nước ta trong việc xử lý tội phạm là áp dụng nhiều biện pháp, cách thức khác nhau để đạt được mục tiêu chung vì sự ổn định, trật tự, an toàn xã hội, không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người phạm tội mà đưa họ vào cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Bên cạnh đó, việc quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh còn thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước ta đối với người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần. Bản thân họ có thể do bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi dẫn đến thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà nếu ở trong tình trạng tỉnh táo họ có thể không mong muốn thực hiện tội pham đó và quy định cũng đảm bảo cho mỗi công dân được chăm sóc về y tế, được chữa trị khi bị bệnh.
Biện pháp bắt buộc chữa bệnh là biện pháp đặc biệt trong các biện pháp cưỡng chế về hình sự. Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh không phải là biện pháp nhằm giáo dục, cải tạo người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà là biện pháp mang tính chất cưỡng chế nhằm điều trị, chăm sóc phục hồi sức khỏe cho người bị bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Sau khi khỏi bệnh, người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh sẽ có thể tiếp tục bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình hoặc phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù theo bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh phải tuân thủ theo nguyên tắc bảo đảm việc điều trị, chăm sóc, phục hồi sức khỏe cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp và ngăn ngừa họ tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là biện pháp cưỡng chế về hình sự được quy định để phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho trật tự, an toàn xã hội. Mặc dù là một quy định rất quan trọng, đã trải qua ba lần pháp điển hóa nhưng đến thời điểm này Bộ luật hình sự năm 2015 vẫn không đưa ra khái niệm như thế nào là biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Chính vì vậy trong khoa học luật hình sự hiện nay còn tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về khái niệm biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Chẳng hạn như: Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PSG.TS Lê Thị Sơn: “Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là buộc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hay đang chấp hành hình phạt và đang mắc bệnh tới mức mất năng lực trách nhiệm hình sự do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác phải vào cơ sở điều trị chuyên khoa để chữa bệnh” [19, tr.12]. Theo tác giả Nguyễn Thị Ánh Hồng: “Biện pháp bắt buộc chữa bệnh là biện pháp buộc người bị mắc bệnh tâm thần đến mức làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi phải vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh, hoặc nếu không cần thiết phải đưa vào một cơ sở điều trị chuyên khoa thì có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp này là Viện kiểm sát hoặc Tòa án tùy vào giai đoạn tố tụng, trên cơ sở căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y” [20, tr.28]. Theo tác giả Đinh Văn Quế – Nguyên Chánh Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao: “Bắt buộc chữa bệnh là một biện pháp bắt buộc người phạm tội phải chữa bệnh trong một cơ sở chuyên khoa y tế do cơ quan tiến hành tố tụng quyết định tùy theo giai đoạn tố tụng”[28, tr.221]. Còn theo TS. Hoàng Văn Hùng: “Biện pháp bắt buộc chữa bệnh là biện pháp tư pháp được Bộ luật hình sự quy định, do Tòa án hoặc Viện kiểm sát áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”[32,tr.261].
Trên đây là một số quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Tuy nhiên, nhìn chung các quan điểm mà các nhà khoa học đưa ra chỉ ở một phạm vi nhất định chưa thể hiện được hết nội hàm của biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Điều này thể hiện ở chỗ quy định của pháp luật về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh không chỉ được áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần mà còn được áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hoặc được áp dụng đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Điều này có nghĩa là biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng đối với người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi trong hoặc sau khi người này thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc khi đang chấp hành hình phạt tù. Trên cơ sở kết luận giám định của Hội đồng giám định pháp y, pháp y tâm thần, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với họ. Tùy vào từng giai đoạn giải quyết vụ án (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử) hoặc giai đoạn thi hành án mà thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thuộc về Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Khi có quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thì người mất năng lực trách nhiệm hình sự sẽ được đưa vào cơ sở điều trị chuyên khoa để thực hiện bắt buộc chữa bệnh. Chính vì lẽ đó, việc xây dựng, đưa ra một khái niệm pháp lý mang tính chung nhất về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là cần thiết.
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, các quan điểm, lý luận của các nhà khoa học và quy định tại Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015, tác giả của luận văn xin được đưa ra khái niệm biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh như sau: “Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là biện pháp cưỡng chế về hình sự được quy định trong Bộ luật hình sự, tùy vào từng giai đoạn giải quyết vụ án hoặc giai đoạn thi hành án, trên cơ sở kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần mà Tòa án hoặc Viện kiểm sát áp dụng đối với người trong hoặc sau khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng trước khi kết án hoặc đang chấp hành hình phạt tù mà mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình vào cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh, nhằm phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho trật tự, an toàn xã hội”.
1.1.2. Ý nghĩa biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Với ý nghĩa là một trong biện pháp cưỡng chế về hình sự, biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh giữ một vị trí rất quan trọng trong việc xác định năng lực trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Quy định “Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh” được tác giả nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ thông qua việc làm rõ khái niệm về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, các điều kiện, cũng như mục đích áp dụng biện pháp này. Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu các giai đoạn áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, thực tế áp dụng để đưa ra những đánh giá về tính hiệu quả của việc áp dụng biện pháp này. Do đó, việc nghiên cứu “Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh” có ý nghĩa rất lớn trong quá trình phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm hiện nay. Cụ thể:
Thứ nhất, Biện pháp bắt buộc chữa bệnh hạn chế quyền tự do của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc người phạm tội.
Biện pháp bắt buộc chữa bệnh là biện pháp cưỡng chế về hình sự. Cưỡng chế được hiểu là việc sử dụng quyền lực Nhà nước buộc phải tuân thủ. Vì là biện pháp cưỡng chế về hình sự cho nên biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cũng mang những nội dung cưỡng chế nhất định. Tuy nhiên, nếu hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất thì tính cưỡng chế ở biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ít nghiêm khắc hơn. Tính nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ người bị kết án có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ quyền tự do, quyền tài sản, về chính trị thậm chí cả quyền sống [32, tr.227]. Bên cạnh đó, hình phạt cũng để lại hậu quả pháp lý là án tích cho người bị kết án trong thời hạn nhất định theo quy định của pháp luât [32, tr.227]. Tính cưỡng chế của biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thể hiện ở việc người bị bệnh bị hạn chế quyền tự do đi lại mà phải thực hiện việc chữa bệnh mà không phụ thuộc vào mong muốn của họ cũng như người thân thích khi có quyết định của Tòa án hoặc Viện kiểm sát. Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thì tính cưỡng chế không những nhằm mục đích phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho trật tự, an toàn xã hội mà còn đảm bảo cho mỗi công dân được chăm sóc về y tế, được chữa trị khi bị bệnh. Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng nhằm thay thế, hỗ trợ hình phạt theo những căn cứ, điều kiện mà pháp luật quy định.
So với hình phạt, tính cưỡng chế trong biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ít nghiêm khắc hơn, nhưng là một trong những biện pháp làm hạn chế quyền tự do của con người cho nên để tránh sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Bộ luật hình sự quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thuộc về Viện kiểm sát nhân dân hoặc Tòa án nhân dân tùy vào từng giai đoạn tố tụng giải quyết vụ án và giai đoạn thi hành án hình sự.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 102 Hiến pháp 2013: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Đây là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước tuyên một người có tội hay không có tội và quyết định hoặc không quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế về hình sự đối với họ. Ngoài Tòa án thì Viện kiểm sát cũng có thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 107 Hiến pháp 2013: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015 thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Như vậy, quy định này cho thấy trong giai đoạn điều tra, truy tố mà Viện kiểm sát biết được người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Viện kiểm sát có quyền áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với họ. Còn trong giai đoạn xét xử hoặc thi hành án thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thuộc về Tòa án. Nói tóm lại, tùy vào từng giai đoạn giải quyết vụ án hoặc thi hành án mà thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thuộc về Tòa án hoặc Viện kiểm sát. Ngoài hai cơ quan này ra thì không có một cơ quan Nhà nước nào khác có quyền quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Thứ hai, biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là một trong cơ sở để xác định lỗi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng đối với người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Điều này có nghĩa, đối với người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, nhưng không thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với họ. Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do đang trong tình trạng không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi cho nên họ được xác định là không có lỗi đối với hành vi và hậu quả do mình gây ra cho nên hình phạt không được áp dụng đối với họ mà áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh mặc dù trong trường hợp tương tự nếu người bình thường thực hiện hành vi gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội thì phải chịu hình phạt.
Phạm vi áp dụng biện pháp tư pháp rộng hơn hình phạt. Nếu hình phạt chỉ áp dụng đối với người có hành vi phạm tội thì biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Tức là biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng đối với người phạm tội, là người đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình và áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng hành vi đó không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Mặt khác, cũng có những trường hợp người bị bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội họ không bị bệnh mà chỉ trước hoặc sau khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì họ bị bệnh. Đối với những trường hợp này, thì nếu vẫn tiến hành xét xử và tuyên hình phạt đối với họ sẽ trái với nguyên tắc nhân đạo đã được thừa nhận trong luật hình sự Việt Nam, cũng như không đạt được mục đích của hình phạt. Như vậy, việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với họ nhằm phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho trật tự, an toàn xã hội là phù hợp. Khi họ đã khỏi bệnh thì có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ theo quy định của pháp luật.
Khi áp dụng biện pháp này thì Tòa án hoặc Viện kiểm sát phải căn cứ vào kết luận pháp y, pháp y tâm thần. Quy định này nhằm tránh sự tùy tiện, tiêu cực trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Hiện nay, pháp luật đã quy định rất chặt chẽ đối với công tác giám định pháp y, pháp y tâm thần đảm bảo xác định chính xác tình trạng bệnh của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Theo Thông tư 18/2015/TT-BYT ngày 14/07/2015 ban hành quy trình giám định pháp y tâm thần và biểu mẫu sử dụng trong giám định pháp y tâm thần thì “1.1 Người giám định pháp y tâm thần là bác sỹ chuyên ngành tâm thần, đã được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm là giám định viên pháp y tâm thần hoặc là người giám định pháp y tâm thần theo vụ việc (gọi chung là giám định viên). Mỗi trường hợp giám định pháp y tâm thần thông thường có 03 giám định viên tham gia. Trường hợp phức tạp, có khó khăn trong việc xác định bệnh cũng như đánh giá năng lực hành vi thì có thể có 05 giám định viên tham gia. Trường hợp giám định lại lần thứ hai, có tính chất phức tạp, có sự tham gia của nhiều chuyên khoa khác nhau thì có thể mời thêm chuyên gia về giám định pháp y tâm thần, nhưng tổng số không quá 09 người/01 ca giám định”. Theo quy định của luật giám định tư pháp thì có hai hình thức giám định là giám định cá nhân và giám định tập thể [56]. Tùy vào yêu cầu của cơ quan tố tụng mà việc giám định tâm thần được thực hiện theo một trong hai hình thức trên. Như vậy, khi nghi ngờ một người bị bệnh tâm thần thì cơ quan tiến hành tố tụng phải quyết định trưng cầu giám định và cũng chỉ được áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh khi có kết luận pháp y, pháp y tâm thần kết luận một người bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
Thứ ba, áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa của Bộ luật hình sự Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Tính nhân đạo của Bộ luật hình sự được thể hiện qua nhiều Điều luật khác nhau như Điều 3, Bộ luật hình sự năm 2015 đã quy định “….khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra”. Đối với biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh tính nhân đạo của Bộ luật hình sự thể hiện ở việc không buộc người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà họ đã thực hiện. Cho dù hành vi mà họ thực hiện nguy hiểm và nghiêm trọng đến đâu chăng nữa thì họ luôn được xác định là không có lỗi và không phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt. Bên cạnh đó, tính nhân đạo của biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh còn thể hiện ở việc đưa người bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi vào điều trị tại cơ sở chuyên khoa, tạo điều kiện cho họ được điều trị, chăm sóc về sức khỏe, giúp họ khỏi bệnh để trở về với cuộc sống bình thường.
Thứ tư, biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh góp phần phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
Bộ luật hình sự có nhiều công cụ, phương tiện khác nhau để phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho trật tự, an toàn xã hội, trong đó hình phạt được xem như công cụ chủ yếu và quan trọng nhất. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp việc áp dụng hình phạt có thể đem lại hiệu quả, nếu hình phạt không được nghiên cứu và áp dụng đúng đắn còn có thể đem lại những hậu quả tiêu cực. Như trường hợp người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì rõ ràng việc sử dụng hình phạt đối với những người này là không cần thiết, không đạt được mục đích của hình phạt. Nhưng cũng không thể để người này ở ngoài xã hội để rồi họ có thể thực hiện những hành vi gây ra những hậu quả nguy hại cho xã hội. Trong trường hợp này, việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh với tư cách là biện pháp thay thế hình phạt là phù hợp, vừa đạt được mục đích của hình phạt lại vừa không trái với nguyên tắc cơ bản của Bộ luật hình sự. Với việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội sẽ buộc phải vào cơ sở điều trị chuyên khoa theo quyết định của Tòa án hoặc Viện kiểm sát và họ được quản lý, theo dõi sát sao để đảm bảo rằng họ không thực hiện được hành vi gây nguy hại cho xã hội. Hơn nữa, việc bị đưa vào cơ sở điều trị chuyên khoa để chữa bệnh tạo điều kiện để họ có cơ hội được điều trị khỏi bệnh và khi đó họ sẽ có hành động, cư xử đúng mực không vì bị bệnh mà dẫn đến việc thực hiện hành vi nguy hiểm mà nếu ở trong trạng thái bình thường họ không mong muốn.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
1.2.1. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy [32, tr.122, 123]. Khi con người ở trong trạng thái bình thường, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi trong khi thực hiện tội phạm thì vấn đề lỗi mới được đặt ra, vì khi đó con người mới có khả năng tiếp thu những đòi hỏi của xã hội. Từ đó, việc Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết mới đạt được mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm. Còn khi đã mất đi khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì họ sẽ luôn được coi là không có lỗi và vấn đề cải tạo, giáo dục họ không cần thiết mà cần phải đưa họ vào cơ sở điều trị chuyên khoa để chữa bệnh. Con người có cấu tạo sinh học rất đặc biệt, luôn có khuynh hướng hình thành và phát triển năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng phải trải qua một quá trình hoạt động, giáo dục nhất định trong môi trường xã hội thì năng lực trách nhiệm hình sự mới thành hiện thực. Khi đã trải qua một quá trình hoạt động trong môi trường xã hội thì con người có khả năng nhận thức, trên cơ sở khả năng nhận thức con người có khả năng điều khiển xử sự phù hợp với đòi hỏi chung của xã hội. Năng lực trách nhiệm hình sự của con người được biểu hiện thông qua khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi [32, tr.124, 125].
Đối với quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn [49]. Như vậy, để có khả năng nhận thức con người phải trải qua một quá trình hoạt động, giáo dục trong môi trường xã hội trong một khoảng thời gian nhất định. Trong quá trình hoạt động, giáo dục trong môi trường xã hội con người được tiếp xúc từ những vấn đề cơ bản như gia đình, họ hàng, trường học cho đến những vấn đề phức tạp như xã hội, pháp luật…, từ đó con người tiếp thu được những kiến thức thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, dần hình thành nên khả năng nhận thức. Khi con người đạt đến khả năng nhận thức nhất định thì con người mới hiểu được mong muốn của mình đối với xã hội và hiểu được những đòi hỏi của xã hội đối với bản thân mình. Từ đó con người mới đánh giá được hành vi của mình là đem lại những lợi ích hay là đang làm ảnh hưởng xấu đến xã hội. Khi con người đã nhận thức được hành vi của mình là xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà pháp luật hình sự quy định là tội phạm thì khi đó con người mới nhận thức được hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, tức là nhận thức được tính chất gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đây là năng lực nhận thức của con người khi phạm tội.
Khả năng điều khiển hành vi được hiểu là khả năng của con người trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định tự đưa ra được những quyết định, lựa chọn của mình. Cụ thể, khả năng điều khiển hành vi được thể hiện khi con người đối diện với những tình huống nhất định thì con người khả năng tự lựa chọn, đưa ra quyết định sử dụng một hoặc một số biện pháp để thỏa mãn mục đích của người đó. Và trong trường hợp con người quyết định thực hiện hành vi không hợp pháp gây ra thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà luật hình sự quy định là tội phạm thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về sự lựa chọn của mình. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Theo từ điển Tiếng Việt thì “ý chí là cái hình thành từ trong ý thức mà ra” hay khả năng điều khiển hành vi xuất phát từ khả năng nhận thức của người phạm tội. Trong luật hình sự, những dấu hiệu của tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự được coi như là những dấu hiệu mà khi không có những dấu hiệu đó con người được coi là có năng lực trách nhiệm hình sự. Điều này có nghĩa là con người khi đạt đến độ tuổi nhất định mà không có dấu hiệu của tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thì được mặc nhiên thừa nhận là có năng lực trách nhiệm hình sự. Khả năng này tồn tại, hạn chế hay mất đi phụ thuộc vào sự phát triển của con người có bình thường hay không. Trên thực tế, khi con người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần thì khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi sẽ bị hạn chế hoặc bị mất đi. Hay luật hình sự gọi là tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự.
Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Như vậy, con người phải đạt đến độ tuổi nhất định thì mới có năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đạt độ tuổi nhất định thì có năng lực trách nhiệm hình sự. Ngoài độ tuổi ra thì để xác định một người là có năng lực trách nhiệm hình sự thì đòi hỏi người đó phải có tình trạng sức khỏe hoàn toàn bình thường. Bởi năng lực trách nhiệm hình sự có thể bị hạn chế hoặc loại trừ nếu hoạt động của não bộ bị rối loạn do bệnh tật. Một người không trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện để xác định họ có năng lực trách nhiệm hình sự. Và trong thực tế việc kiểm tra tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự cũng chỉ đặt ra khi có sự nghi ngờ về hoạt động tâm thần của người có hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Như vậy, có hai dấu hiệu để xác định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: Dấu hiệu y học (mắc bệnh) và dấu hiệu tâm lý (mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi) [32, tr.124].
Về dấu hiệu y học: Người trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần [32, tr.124]. Theo bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) thì bệnh tâm thần, rối loạn tâm thần hoặc rối loạn tinh thần là hình thức tâm lý hoặc hành vi cá biệt được cho là gây ra đau khổ, mất khả năng cư xử cũng như phát triển bình thường [50]. Bệnh tâm thần là bệnh thường gặp trong cộng đồng, thậm chí bệnh tâm thần còn gặp trong mỗi giai đoạn cuộc đời của mỗi con người. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu và biết rõ về bệnh tâm thần. Nhiều người bị bệnh tâm thần nhưng cứ nghĩ rằng mình hoàn toàn khỏe mạnh, bình thường vì từ trước đến nay bệnh tâm thần thường được gắn với những người có hành động quái dị, hành vi kỳ quặc. Một trong những nhầm lẫn nữa là nhiều người coi bệnh thần kinh và bệnh tâm thần là giống nhau. Trong bệnh thần kinh có tổn thương thực thể tại các phần khác nhau của hệ thần kinh như não bộ, tủy sống, dây thần kinh ngoại vi, từ đó gây nên các triệu chứng bệnh thần kinh như: Đau dây thần kinh toạ, đau nửa đầu. Với bệnh tâm thần thì các tổn hại thực thể của hệ thần kinh không rõ rệt, khi xét nghiệm, chụp chiếu thì thường không phát hiện tổn thương thực thể. Phần lớn các dấu hiệu của bệnh là do rối loạn hoạt động của não bộ. Bệnh tâm thần có thể bao gồm bệnh tâm thần kinh niên, tức là bệnh tâm thần mang tính lâu dài, liên tục, khó chữa trị, bệnh có xu hướng phát triển nặng lên hoặc bệnh tâm thần tạm thời, tức là bệnh xuất hiện một cách đột ngột, diễn ra một cách nhanh chóng trong một khoảnh khắc nhất định, khi phát bệnh thì làm mất khả nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, người khi phát bệnh không biết được những việc mình đang làm và khi kết thúc thì con người trở về trạng thái bình thường. Sau quá trình tìm hiểu, trên cơ sở các tài liệu có liên quan, tác giả xin trích dẫn một số bệnh tâm thần phổ biến hiện nay có thể làm mất đi khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi như sau [51,52]:
Bệnh tâm thần phân liệt là một rối loạn tâm thần đặc trưng bởi một sự suy giảm quá trình suy nghĩ và sự thiếu hụt các đáp ứng cảm xúc điển hình [51]. Các triệu chứng của tâm thần phân liệt được chia làm ba phương diện: Dương tính, âm tính, rối loạn tổ chức. Triệu chứng dương tính thường gặp: Ảo giác, hoang tưởng nghe thấy tiếng động hay giọng nói đến từ tâm trí và tự thức biến nó thành những cảm xúc tiêu cực và tích cực, bởi vì sự tương tác đó đã tác động đến cảm xúc nên dẫn đến phản ứng hành vi không rõ ràng của bệnh nhân, thỉnh thoảng thường có thái độ căm ghét, thù hận những người thân, gia đình và xã hội; triệu chứng âm tính thường gặp người bệnh không thể hiện bất kỳ cảm xúc, suy nghĩ nào, cách ly với xã hội,…; triệu chứng rối loạn tổ chức thường gặp là ngôn ngữ vô tổ chức, rối loạn suy nghĩ, lặp đi lặp lại một từ hoặc cụm từ… [51] Khi bị bệnh thì chỉ những tác động nhỏ đủ khiến cho người bệnh mất đi sự ý thức, nhận thức sau đó lo sợ, hoảng loạn, giận dữ, cư xử với người xung quanh với những hành vi thiếu kiểm soát. Mức độ nặng nhất của bệnh tâm thần phân liệt làm cho người bệnh mất đi khả năng điều khiển hành vi. Do đó, khi phạm tội trong tình trạng bị bệnh thì người đó không có lỗi.
Bệnh hoang tưởng là triệu chứng của rối loạn tư duy, là triệu chứng chủ yếu trong các bệnh loạn thần [52]. Hoang tưởng là những ý tưởng, phán đoán sai lầm, không phù hợp với thực tế, do bệnh nhân tâm thần gây ra, nhưng bệnh nhân tâm thần cho là hoàn toàn chính xác, không thể giải thích và đả thông được. Hoang tưởng được chia làm 2 loại chính: Hoang tưởng suy đoán và hoang tưởng cảm thụ [52]. Đối với bệnh hoang tưởng thì bệnh nhân sẽ không có logic lệch lạc, mà ở họ chỉ có các ý thức rời rạc, ngơ ngác, căng thẳng, nhân cách của họ không bị hoang tưởng làm biến đổi nhiều.
Trên thực tế, trong các loại rối loạn hoang tưởng thì loại rối loạn hoang tưởng bị hại chiếm tỷ lệ cao trong số các loại hoang tưởng. Người bệnh luôn trong trạng thái tâm lý lo sợ có người sẽ hại mình nên đã dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội của người bệnh. Việc người bệnh sử dụng vũ lực đối với những người được cho là có hành vi chống lại mình là do bệnh tật gây ra. Cho nên khi đang bị bệnh mà thực hiện hành vi phạm tội sẽ được coi là không có lỗi.
Dấu hiệu tâm lý: Là dấu hiệu thể hiện mức độ nghiêm trọng của người bị bệnh tâm thần được biểu hiện ở yếu tố lý trí và yếu tố ý chí. Theo đó về mặt lý trí, thì người trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người không có năng lực hiểu biết những đòi hỏi chung của xã hội đối với hành vi của mình, là người không có năng lực đánh giá hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình đang thực hiện là đúng hay là sai, là nên làm hay không nên làm cho nên về mặt ý chí người trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự không có khả năng kiềm chế việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội để thực hiện một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi chung của xã hội [31]. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Như vậy, chỉ được coi là trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự khi đồng thời cả hai dấu hiệu y học và tâm lý đều thỏa mãn. Trong đó dấu hiệu y học đóng vai trò là nguyên nhân, còn dấu hiệu tâm lý đóng vai trò là kết quả. [32, tr.125]
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người bị bệnh tâm thần đều mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi mà khả năng này còn hay mất phụ thuộc vào mức độ của bệnh, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Có những bệnh tâm thần luôn luôn làm mất năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng có những bệnh chỉ làm mất năng lực trách nhiệm hình sự khi bệnh đạt đến một mức độ nhất định hoặc có những bệnh tâm thần không làm mất năng lực trách nhiệm hình sự [32, tr.125]. Cho nên khi có sự nghi ngờ một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang có những biểu hiện cho thấy người đó không có năng lực trách nhiệm hình sự thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Hoạt động pháp y, pháp y tâm thần sẽ xác định tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội người đó có bị bệnh tâm thần hay không? Bệnh đang ở mức độ như thế nào? Có ảnh hưởng đến khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi hay không? Từ đó làm cơ sở để cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động tố tụng cần thiết theo quy định pháp luật.
Như vậy, người trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi mà thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ở đây, pháp luật chỉ đòi hỏi người bị bệnh tâm thần mất một trong hai khả năng là khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi chứ không phải cả hai khả năng, mặc dù trên thực tế những người bị bệnh tâm thần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thường mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Quy định thể hiện tính nhân đạo của luật hình sự đối với những người do bệnh tật mà dẫn đến thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội.
1.2.2. Tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự bị hạn chế khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Bên cạnh tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thì luật hình sự Việt Nam còn thừa nhận trường hợp năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế [32, tr.126]. Có thể hiểu, năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế là người do mắc bệnh nhưng không làm cho họ mất hoàn toàn khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, tức là khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của họ bị giảm sút so với những người bình thường khác.
Người mắc bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng do bị mắc một bệnh làm cho họ không nhận thức được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình, cũng như hậu quả do hành vi của mình gây ra khi thực hiện hành vi phạm tội. Họ ở trong tình trạng lúc mê, lúc tỉnh. Luật hình sự Việt Nam chỉ coi tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế là tình tiết giảm nhẹ hình phạt nếu như căn bệnh đó do bẩm sinh hoặc do các yếu tố khách quan tác động đến. Nếu do tự họ gây ra tình trạng này thì không được giảm nhẹ. Ví dụ như: Vì sử dụng ma túy mà phạm tội thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mà ở một số trường hợp còn là tình tiết định khung tăng nặng như tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác khi sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác theo quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Người mắc bệnh bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình là người vẫn nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của hành vi đó, nhưng họ lại không điều khiển được hành vi theo ý muốn của mình. Như họ muốn nói nhưng lại không thể nói được, muốn chống lại nhưng không chống lại được…. Ví dụ như: Trường hợp một người đang điều khiển ô tô tham gia giao thông, nhưng do bị đau đầu nên dẫn đến buồn ngủ, không tỉnh táo khi thấy người tham gia giao thông đang dừng đèn đỏ thì thay vì dẫm vào chân phanh nhưng lại dẫm vào chân ga gây tai nạn.
Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự bị hạn chế khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là người do bị bệnh làm cho họ không nhận thức được một cách đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả của hành vi do mình gây ra. Người này do đang bị bệnh cho nên họ luôn luôn ở trong tình trạng lúc tỉnh, lúc mê. Trong một số trường hợp họ có thể nhận thức được đầy đủ hành vi của mình nhưng lại không thể điều khiển được hành vi của mình hoặc ngược lại họ có thể điều khiển được hành vi nhưng lại không nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi của mình.
Để xác định một người trong tình trạng còn hay mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển thuộc trách nhiệm của cơ quan pháp y, pháp y tâm thần. Tùy vào từng giai đoạn tố tụng hoặc theo yêu cầu của người phạm tội thì cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra) ra quyết định trưng cầu giám định để xác định tình trạng bệnh tật của người phạm tội. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Trong luật hình sự Việt Nam, người trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế không thuộc loại người không có điều kiện để có lỗi. Nhưng tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự bị hạn chế có ảnh hưởng nhất định đến mức độ lỗi, lỗi của họ cũng là lỗi hạn chế và do vậy, tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự bị hạn chế được coi là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự [32, tr.126]. Tình tiết giảm nhẹ này được quy định cùng với các tình tiết giảm nhẹ khác tại Điểm l và Điểm q Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra; q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”.
Khi xem xét đến hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội thì tùy vào từng trường hợp cụ thể phải gắn với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể mà họ đã thực hiện chứ không phải đơn thuần cứ có bệnh là được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ví dụ như: Trường hợp người bị HIV giai đoạn cuối đã bàn bạc, lên kế hoạch thống nhất với người bị HIV khác về việc sẽ hiếp dâm một người nào đó, thì trong trường hợp này không được coi bị bệnh là căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Mặt khác, khi xem xét đến mức độ giảm nhẹ của tình tiết trên thì còn phải căn cứ vào mức độ bệnh của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội và mức độ hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội. Tuy nhiên, trên thực tế, cơ quan pháp y, pháp y tâm thần thường chỉ xác định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh hay không mắc bệnh và khi mắc bệnh đó thì có ảnh hưởng đến khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi hay không. Hơn nữa, để được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện phải gắn liền với tình trạng hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của họ tại thời điểm thực hiện hành vi, tức là nếu trong khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ hoàn toàn tỉnh táo mà chỉ sau khi đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì họ mới bị bệnh hoặc tuy trước đó họ bị bệnh làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội họ hoàn toàn tỉnh táo, bình thường nhưng sau đó lại tiếp tục bị bệnh thì trong trường hợp này không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với họ.
Như vậy, khi phân biệt giữa tình trạng mất năng lực trách nhiệm hình sự và tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự bị hạn chế thì chúng ta phải hiểu rằng nếu như người bị bệnh đến mức làm cho họ bị mất hoàn toàn khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì họ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm mà mình đã thực hiện và ngược lại nếu như bệnh tật của họ chỉ làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm mà họ đã gây ra và do bị bệnh tật dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội cho nên đây sẽ là căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với họ.
Ngoài mắc bệnh ra thì pháp luật hình sự cũng thừa nhận trường hợp hạn chế khả năng nhận thức. Có thể hiểu phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra là trường hợp người phạm tội trong tình trạng nhận thức không đầy đủ về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình trạng nhất thời hoặc do hoàn cảnh khách quan mang lại. Ví dụ như: Anh A có mời anh B hút điếu thuốc. Do là anh em xã hội quen biết nên anh B không đề phòng, anh B không biết điếu thuốc mà anh A mời mình có chứa ma túy cho nên sau khi hút xong anh B có biểu hiện phê ma túy và dẫn đến việc anh B giết người trong cơn phê ma túy. Như vậy, việc anh B bị phê ma túy dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội là do lỗi của anh A nhưng anh B vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình và việc anh B bị hạn chế khả năng nhận thức do phê ma túy trong trường hợp này là căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Tuy nhiên, nếu người phạm tội tự đặt mình vào tình trạng bị hạn chế về khả năng nhận thức thì không được coi là căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ví dụ như: Anh A uống rượu say, khi đi qua nhà chị B thì thấy cháu C đang chơi một mình nên đã có hành vi hiếp dâm cháu C. Như vậy, việc anh A say trong khi thực hiện hành vi hiếp dâm cháu C không được coi là trường hợp hạn chế khả năng nhận thức và không phải là căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Điểm khác biệt giữa trường hợp phạm tội do hạn chế khả năng nhận thức với các trường hợp hạn chế khác là người phạm tội hoàn toàn không có bệnh tật gì để dẫn đến việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của họ là xuất phát từ yếu tố khách quan mang lại. Cũng như trường hợp bị bệnh làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì khi xem xét đến mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp này phải căn cứ vào mức độ hạn chế khả năng nhận thức hành vi của người phạm tội tại thời điểm họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
1.2.3. Tình trạng dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Bên cạnh tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự bị hạn chế thì luật hình sự còn quy định tình trạng do dùng rượu bia hoặc chất kích thích mạnh khác khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là việc sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác ở những mức độ khác nhau có ảnh hưởng đến khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi hay không? Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi say rượu bia hoặc chất kích thích mạnh khác có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?
Trong thực tiễn cuộc sống, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng “say” như do dùng rượu, bia hoặc dùng ma túy… Có những tình trạng “say” sẽ dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, cũng có những trường hợp chỉ làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Như vậy, “say” do dùng rượu bia hoặc chất kích thích mạnh khác đều có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau đến khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của con người. Khi đang ở trong tình trạng “say” thì về mặt lý trí con người không có hoặc bị hạn chế khả năng hiểu biết những đòi hỏi chung của xã hội đối với hành vi của mình, họ bị hạn chế hoặc không có khả năng đánh giá hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình đang thực hiện là đúng hay là sai, là nên làm hay không nên làm cho nên về mặt ý chí người trong tình trạng say không có hoặc bị hạn chế khả năng kiềm chế việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội để thực hiện một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi chung của xã hội [32,tr.126,127]. Tuy nhiên, cần xác định về mặt pháp lý năng lực trách nhiệm hình sự của người say đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện trong khi say. Vấn đề này được quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Như vậy, theo pháp luật hình sự Việt Nam thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng say vẫn được coi là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Luật hình sự không quy định người thực hiện hành vi phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hay tăng nặng trách nhiệm hình sự (trừ trường hợp việc sử dụng rượu bia, ma túy được quy định là tình tiết định khung tăng nặng ở tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017), cho nên người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện theo tội danh mà Bộ luật hình sự đã quy định. Ví dụ: Một người giết người trong tình trạng phê ma túy (dù thực tế người đó đã mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi) thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Trong khoa học luật hình sự, để lý giải cho vấn đề này thì các nhà lý luận có quan điểm cho rằng: Người say do dùng rượu bia hoặc chất kích thích mạnh khác vẫn bị coi là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bởi họ có năng lực trách nhiệm hình sự khi đặt mình vào tình trạng say và như vậy cũng có nghĩa là vì họ đã tự tước bỏ khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; họ tự đặt họ vào tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự bị hạn chế hoặc bị loại trừ. Họ có lỗi đối với tình trạng say của mình và do vậy họ cũng có lỗi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong tình trạng say [32, tr.126, 127]. Hay nói cách khác người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng say phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tự mình đặt mình vào tình trạng say và hậu quả có liên quan. Ví dụ: Anh A hoàn toàn bình thường, khỏe mạnh, sau khi hút “cỏ Mỹ” gây ra ảo giác, đã dùng dao đâm chết người khác thì A phải chịu trách nhiệm do hành vi tự mình đưa vào tình trạng ảo giác do hút cỏ và hậu quả chết người do mình gây ra.
Cũng có ý kiến cho rằng, người không có lỗi đối với việc sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác được coi là không có lỗi đối với tình trạng say của mình sẽ được thừa nhận là người trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự nếu tình trạng say đó đã loại trừ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội [32, tr.127]. Ví dụ như: Anh A bị người khác lừa cho dùng ma túy dẫn đến mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi nên đã thực hiện hành vi phạm tội thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.
Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự cũng có quan điểm khác không đồng tình với quan điểm nêu trên. Theo đó, các nhà lý luận cho rằng: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không được coi là người có năng lực trách nhiệm hình sự, do họ không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội cho nên họ không có lỗi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện khi say. Do đó, họ không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đã thực hiện [31, tr.18]. Bởi nếu như họ ở trong tình trạng hoàn toàn tỉnh táo thì họ sẽ không thực hiện hành vi nguy hiểm đó. Ví dụ: A và B là cặp đôi yêu thương nhau say đắm và đang lên kế hoạch kết hôn. Trong lúc đang ngồi chơi thì A và B cùng nhau sử dụng ma túy mà A được C tặng, sau khi sử dụng ma túy thì A lên cơn phê ma túy và đã giết chị B do tưởng chị B là ma quỷ. Như vậy, theo quan điểm nêu trên trong trường hợp này do phê ma túy nên A không nhận thức được hành vi của mình giết B cho nên A không có lỗi đối với cái chết của B. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Sau khi nghiên cứu các quan điểm của các nhà khoa học, bản thân tác giả cho rằng quy định pháp luật về việc truy cứu trách nhiệm hình sự người sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác phạm tội là phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Việc quy định như vậy nhằm làm hạn chế việc nhiều người sẽ lợi dụng hoặc đổi cho việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác để đưa mình vào trạng thái mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, quy định này có thể đem lại hiệu quả tích cực theo như phân tích ở trên nhưng lại nhưng không phù hợp với logic của khoa học hình sự. Tức là cần thiết phải xử lý người thực hiện hành vi phạm tội khi họ đã tự đặt mình vào trong tình trạng say nhưng việc xử lý phải phù hợp với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Ví dụ như: Anh A và chị B là người yêu của nhau, không có mâu thuẫn, cùng nhau sử dụng ma túy, khi phê ma túy thì anh A và chị B liên tục bái lạy nhau, chị B la hét, kêu cứu, thấy vậy anh A nghĩ là B bị ma nhập nên dùng tỏi nhét vào mồm chị B để cứu chị B khiến chị bị ngạt thở và chết. Như vậy, rõ ràng ý thức chủ quan của A không phải là giết người, khi đang trong tình trạng phê ma túy thì A không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, không thấy được hành vi của mình sẽ làm hoặc có thể làm chị B chết, anh A chỉ nghĩ rằng hành vi của mình là đang giúp chị B trừ tà ma, chữa bệnh, không phải là đang giết chị B. Theo quy định tại Điều 13 về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự do dùng rượu bia hoặc chất kích thích mạnh khác thì trong trường hợp này anh A phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Như vậy, việc sử dụng Điều 13 để quy kết anh A giết người là không phù hợp với khoa học hình sự nếu như không dùng Điều 13 để bẻ gãy đi tư duy logic hình sự. Tác giả cho rằng, phải có sự thống nhất của khoa học pháp lý trên cơ sở các cấu thành tội phạm. Không thể sử dụng Điều 13 như là một ngoại lệ, phá đi sự xuyên suốt của khoa học hình sự. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là việc sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác khi phạm tội thì không chịu trách nhiệm gì. Người thực hiện hành vi phạm tội cũng phải chịu trách nhiệm khi đã tự mình đặt mình vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Chính vì vậy, để phù hợp với khoa học hình sự thì cần đưa quy định sử dụng rượu bia hoặc chất kích thích mạnh khác trở thành là một tình tiết định khung tăng nặng ở một số tội tương tự như quy định tại Khoản 2, Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
- b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác”.
Hơn nữa cũng có trường hợp người say rượu, bia do bệnh hay còn gọi là say rượu bệnh lý. Trong tâm thần học, thì say rượu thông thường và say rượu bệnh lý là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Say rượu thông thường được hiểu là kết quả của việc nhiễm độc nhất thời do rượu, xảy ra khi người uống rượu quá mức quy định dẫn đến rối loạn ý thức, hành vi, nhẹ thì còn khả năng nhận xét xung quanh, nặng thì không kiểm soát được hành vi [53]. Say rượu bệnh lý được hiểu tình trạng ngộ độc rượu hiếm gặp, bệnh phát sinh sau khi uống rượu không phụ thuộc số lượng, loại rượu sử dụng [53]. Người say rượu bệnh lý khi phát bệnh thì làm cho họ lâm vào trạng thái rối loạn ý thức trầm trọng, bất an, lo âu, hoảng sợ tạo cho họ cảm giác bị đe dọa, nguy hiểm đang cận kề đặc biệt là từ những người xung quanh dẫn đến những ảo giác, hoang tưởng, dễ dẫn đến hành vi nguy hiểm. Say rượu bệnh lý thường kéo dài khoảng một giờ đồng hồ, đôi khi vài giờ kết thúc bằng giấc ngủ sâu; sau khi ngủ dậy, người bị say trở lại bình thường và nhớ rất rõ những hành động của mình trong thời gian bị say. Đây là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt người say rượu bệnh lý với trường hợp say rượu thông thường và với các bệnh tâm thần khác. Nếu trước và sau khi gây án, cũng như trong quá trình điều tra, tại phiên tòa mà người phạm tội vẫn còn nhớ nhớ, quên quên thì không phải là biểu hiện của người bị say rượu bệnh lý. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Theo ông Đinh Văn Quế – Nguyên Chánh Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao: “Luật hình sự nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới không loại trừ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội do say rượu, bia hoặc do dùng chất kích thích mạnh khác. Bởi vì, họ tự đặt mình vào tình trạng say nên họ có lỗi. Việc buộc người say rượu phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội do họ gây ra còn là biểu thị thái độ nghiêm khắc của xã hội đối với tệ nạn say rượu. Tuy nhiên, say rượu bệnh lý là một bệnh chứ không phải say rượu thông thường nên không thuộc trường hợp quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự. Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Hình sự, thì người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình là người trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Bệnh khác ở đây là say rượu bệnh lý. Nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ cũng coi trường hợp say rượu bệnh lý được loại trừ trách nhiệm hình sự” [53].
Tuy nhiên, trên thực tế cũng có xảy ra trường hợp kết luận giám định pháp y tâm thần người phạm tội do say rượu bệnh lý, nhưng họ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, xét về mặt pháp lý thì người thực hiện hành vi phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình mặc dù hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, chưa thống nhất với nhau giữa các nhà lập pháp, nhà khoa học, nhà nghiên cứu.
1.3 Sự phát triển của Luật hình sự Việt Nam về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985
Nội dung của biện pháp tư pháp nói chung và biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nói riêng mặc dù trong pháp luật hình sự thực định của Việt Nam thời kỳ trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất từ năm 1945 đến năm 1985 vẫn chưa được các nhà làm luật ghi nhận về mặt lập pháp. Nhưng từ sau pháp điển hóa lần thứ nhất luật hình sự Việt Nam với việc thông qua bộ luật hình sự đầu tiên của nước Việt Nam (Bộ luật hình sự năm 1985 trước đây), thì thuật ngữ: “biện pháp tư pháp” mới được thể hiện trong pháp luật hình sự thực định của nước ta. Cũng như các ngành luật khác, luật hình sự Việt Nam luôn mang tính kế thừa, tiếp thu những thành tựu đã đạt được trong các quy định về biện pháp tư pháp nói chung và biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nói riêng của luật hình sự cũ, để từ đó phát huy những điểm mạnh, hạn chế những điểm yếu làm cho luật hình sự ngày càng phát triển, hoàn thiện hơn.
Trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, luật hình sự năm 1972 có quy định về “nguyên cớ vô trách nhiệm”, tức là luật hình sự năm 1972 đã quy định trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Theo đó, “can phạm chỉ có trách nhiệm khi nào có tri thức và có tự do” [31, tr.27,28]. Như vậy, một người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình khi người đó có đầy đủ cả hai yếu tố là tri thức và tự do, nếu thiếu một trong hai yếu tố đó hoặc thiếu cả hai thì mặc nhiên là người đó không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Tri thức: Bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục [54]. Tri thức có thể chỉ sự hiểu biết về một đối tượng, về mặt lý thuyết hay thực hành hoặc có thể là những kỹ năng hay năng lực thực hành, hay tường minh, như những hiểu biết lý thuyết về một đối tượng; nó có thể ít nhiều mang tính hình thức hay có tính hệ thống [54]. Mặc dù có nhiều lý thuyết về tri thức, nhưng hiện không có một định nghĩa nào về tri thức được tất cả mọi người chấp nhận [54]. Vì vậy, có thể hiểu tri thức ở đây là việc một người có đủ khả năng để phân biệt được hành vi của mình là đúng hay sai, là nên làm hay không nên làm để từ đó quyết định xử sự cho phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Chính vì họ nhận thức được hành vi mà mình đã, đang thực hiện cho nên họ phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do hành vi của mình gây ra. Và ngược lại nếu như họ không nhận thức được hành vi của mình đang thực hiện là đúng hay là sai, nên làm hay không nên làm thì có nghĩa là họ đã mất đi khả năng nhận thức của mình cho nên khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm gây hậu quả nguy hại cho xã hội thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.
Tự do là một khái niệm dùng trong triết học chính trị mô tả tình trạng khi một cá nhân không bị sự ép buộc, có cơ hội để lựa chọn và hành động theo đúng với ý chí nguyện vọng của chính mình [55]. Trong chính trị, tự do bao gồm các quyền tự do xã hội và tự do chính trị mà tất cả các thành viên cộng đồng xã hội được hưởng và là tự do dân sự [55]. Nói chung, tự do được hiểu như là một quyền lợi, là sự khác biệt rõ ràng với trạng thái hoặc khả năng tự do, trong đó chủ yếu, nếu không phải là độc nhất, tình trạng tự do là khả năng tự quyết, làm theo một ý chí và điều gì có quyền làm [55]. Trong hình sự thì tự do như khả năng điều khiển hành vi của chủ thể mà ở đó chủ thể đó tự quyết định, hành động theo ý chí của mình mà không chịu sự chi phối bởi các yếu tố bên ngoài. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Như vậy, tuy chưa được quy định một cách rõ ràng, cụ thể nhưng luật hình sự năm 1972 đã thừa nhận những người không nhận thức và điều khiển được hành vi của mình khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là người không có năng lực trách nhiệm hình sự và họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình.
Mặt khác, ở miền Bắc Việt Nam, sau khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời, với một đất nước còn non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, cũng như điều kiện đất nước còn khó khăn cho nên hệ thống các văn bản pháp luật hình sự thực định Việt Nam chưa có sự phân chia rõ ràng giữa các quy phạm Phần chung và Phần riêng. Chúng ta có thể thấy trong giai đoạn 1945 đến 1955, đây là thời điểm đất nước mới thành lập, tuy vậy Nhà nước ta đã ban hành một số Sắc lệnh, Thông tư đầu tiên của chính quyền Cách mạng và đây cũng chính sự khởi nguồn của các văn bản quy phạm xây dựng pháp lý hình sự đã định hướng cho sự phát triển những cơ sở hệ thống pháp luật hình sự thực định mới trong thời kỳ này là cho phép sử dụng các văn bản pháp luật của chế độ cũ (nhưng không thừa nhận án lệ) để phù hợp với thể chế thời đó. Trong giai đoạn 1955 đến 1985, pháp luật hình sự nhà nước ta tuy có đổi mới bằng các đạo luật, sắc lệnh…. nhưng cũng chưa có sự phân định rõ ràng giữa các văn bản liên quan đến quy phạm Phần chung mà chủ yếu chỉ là các văn bản liên quan đến quy phạm Phần riêng luật hình sự. Chính vì vậy mà vấn đề trách nhiệm hình sự chưa được pháp luật hình sự đề cập rõ ràng, cụ thể nhưng trên tinh thần nhân đạo, khoa học thì nhà nước ta cũng đã có những văn bản pháp luật cho thấy sự phân biệt giữa những người phạm pháp trong tình trạng tỉnh táo với những người phạm pháp khi không có ý thức, theo đó những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi không có ý thức thì không bị truy tố trước Tòa án. Một trong những văn bản pháp luật thể hiện quan điểm của pháp luật hình sự nhà nước ta đối với người thực hiện hành vi phạm tội đó là Thông tư 2795-HCTP ngày 12/12/1956 quy định về một số điểm cụ thể trong công tác giám định pháp y, theo đó: “I. TRƯỜNG HỢP CẦN GIÁM ĐỊNH PHÁP Y: Nói chung cần chưng cầu sự giám định pháp y, khi nào cần đến nhà chuyên môn pháp y để giúp đỡ công an và tòa án nhận xét trong những trường hợp tình nghi có sự phạm pháp hoặc nhận xét trách nhiệm của can phạm để định tội, lượng hình cho đúng. Như những trường hợp sau đây: c) Người phạm pháp tình nghi có bệnh điên”.
Như vậy, quy định này cho thấy sự tương đồng, mang tính kế thừa của chế định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong luật hình sự hiện hành. Quy định này đã cho thấy quan điểm của pháp luật hình sự nước ta thời điểm đó về lỗi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, khi có sự nghi ngờ một người phạm pháp bị bệnh điên thì sẽ tiến hành giám định để xác định người đó là có tội hay không có tội. Ở đây, bệnh điên được hiểu là một tình trạng bệnh lý về tâm thần, mất năng lực tự chủ và năng lực kiềm chế hành vi, thường có những hành động quá khích. Khi một người bị bệnh điên thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, tức là họ đang không ở trong tình trạng tỉnh táo, hành vi mà họ thực hiện xuất phát từ bệnh của họ, họ không có khả năng nhận thức hoặc điều khiển được hành vi của mình để từ đó chống đối với xã hội, gây thiệt hại cho xã hội.
Tóm lại, trong giai đoạn tháng 08/1945 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự 1985, pháp luật hình sự nước ta chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa phần chung và phần riêng. Và tuy chỉ mới ra đời, các chế định hình sự chưa được quy định cụ thể, rõ ràng nhưng hệ thống pháp luật hình sự ở cả hai miền Nam, Bắc đã thể hiện sự tiến bộ, nhân đạo khi không đồng nhất giữa những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong trạng thái tỉnh táo với những người không trong trạng thái hoàn toàn tỉnh táo khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (không nhận thức và không làm chủ được hành vi). Nói cách khác, vấn đề trách nhiệm hình sự và lỗi đã được thể hiện thông qua tinh thần của các quy định pháp luật.
1.3.2. Giai đoạn từ 1985 đến khi ban hành Bộ luật hình sự 1999 Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Sau khi đất nước được thống nhất, một mặt Đảng, Nhà nước ta khẩn trương tiến hành các biện pháp để khắc phục thiệt hại của chiến tranh, xây dựng và phát triển đất nước, mặt khác Đảng và Nhà nước ta phải đảm bảo sự ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ chế độ còn non trẻ. Cho nên, pháp luật hình sự được coi như là công cụ không thể thiếu để bảo vệ chế độ, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chính vì vậy, việc pháp điển hóa pháp luật hình sự rất được chú trọng trong giai đoạn 1982 đến 1986 và kết quả là Bộ luật hình sự 1985 được Quốc Hội thông qua ngày 27/06/1985, đây là bộ luật hình sự đầu tiên xác định tội pham và hình phạt. Bộ luật hình sự năm 1985 được xem như là bản tổng kết sâu sắc thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm của nước ta thời kỳ đó. Bên cạnh đó, qua từng giai đoạn phát triển nhất định của đất nước thì Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản luật hình sự để sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 (các văn bản luật hình sự được ban hành vào các năm 1989, 1991,1992 và 1997) để phù hợp với thời kỳ mới, để bắt kịp sự phát triển của đất nước, cũng như để điều chỉnh pháp lý hình sự của các quan hệ xã hội đang tồn tại và đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Khái niệm về tội phạm lần đầu được ghi nhận tại Bộ luật hình sự năm 1985, cụ thể tại Điều 8 quy định:“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Bên cạnh đó, Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1985 đã quy định về biện pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng với những trường hợp thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi không có năng lực trách nhiệm hình sự, cụ thể: “1. Người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với người này sẽ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. 2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng nói ở khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. 3. Người phạm tội do say rượu hoặc do dùng chất kích thích mạnh khác thì không được miễn trách nhiệm hình sự”.
Khác với các giai đoạn trước đây, sau khi pháp điển hóa lần thứ nhất thì việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đã được Bộ luật hình sự năm 1985 quy định cụ thể, rõ ràng hơn. Bộ luật hình sự 1985 đã xác định rõ các điều kiện để áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh khi chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, bao gồm 02 điều kiện: Bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác và mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Hơn nữa quy định pháp luật cũng đã cho thấy không phải cứ thỏa mãn 02 điều kiện nêu trên, được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải chịu trách nhiệm hình sự, nếu người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án thì lâm vào tình trạng tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự sau khi đã áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Mặt khác, thuật ngữ “các biện pháp tư pháp” lần đầu được ghi nhận trong Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự đã dành một chương riêng để quy định các biện pháp tư pháp, trong đó, biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được quy định chặt chẽ ở Điều 35 và Điều 36 Bộ luật hình sự năm 1985, cụ thể: “Điều 35. Bắt buộc chữa bệnh. 1. Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh như đã quy định ở khoản 1 Điều 12, thì tuỳ theo giai đoan tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Toà án căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Nếu thấy không cần thiết phải đưa vào một cơ sở điều trị chuyên khoa thì có thể giao cho gia đình hoặc người bảo lĩnh trông nom dưới sự giám sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. 2. Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Toà án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. 3. Đối với người đang chấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Toà án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có những lý do khác để được miễn chấp hành hình phạt.
Điều 36. Thời gian bắt buộc chữa bệnh. Căn cứ vào kết luận của cơ quan điều trị, nếu người bị bắt buộc chữa bệnh nói ở điều 35 đã khỏi hoặc bệnh trạng đã giảm, thì Viện kiểm sát hoặc Toà án xét và quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này. Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù”.
Như vậy, Bộ luật hình sự 1985 đã quy định rất rõ về thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong từng giai đoạn tố tụng, căn cứ để áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, thời gian, địa điểm…, đã cho thấy tầm quan trọng của biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, cho thấy tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa của Đảng, Nhà nước ta và chất lượng lập pháp của nước ta ở thời kỳ đó.
Với sự phát triển nhanh chóng đất nước, để phù hợp với chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập quốc tế. Trước tình hình thế giới nhiều biến đổi, Nhà nước ta xem việc pháp điển hóa pháp luật hình sự lần 2 là một nhiệm vụ quan trọng và đến ngày 21/12/1999, Quốc Hội đã thông qua Bộ luật hình sự năm 1999. Mặt khác, để bắt kịp với sự phát triển về kinh tế – xã hội của đất nước, để đối phó với tình hình tội phạm ngày càng phức tạp và tinh vi đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, Nhà nước ta đã ban hành Luật hình sự năm 2009 để sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999. Nhiều chế định trong Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung nhưng nhìn chung các quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự năm 1999 được kế thừa gần như toàn bộ quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự năm 1985. Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được quy định tại Điều 13, 43 và 44 Bộ luật hình sự 1999. Điểm khác biệt về quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh giữa bộ luật hình sự 1999 với Bộ luật hình sự 1985 ở thời gian bắt buộc chữa bệnh. Nếu như Bộ luật hình sự 1985 xem “bệnh trạng đã giảm”, tức là bệnh chưa khỏi hoàn toàn là một trong những căn cứ để Tòa án hoặc Viện kiểm sát đình chỉ việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì Bộ luật hình sự 1999 coi việc “khỏi bệnh” là căn cứ duy nhất để Tòa án hoặc Viện kiểm sát đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Quy định này cho thấy tính chặt chẽ của Bộ luật hình sự 1999 so với Bộ luật hình sự 1985, giúp ngăn chặn tình trạng tùy tiện, lợi dụng kẽ hở của pháp luật trong khi áp dụng pháp luật, cũng như thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nhà nước ta đối với những người bị áp dụng biện pháp tư phát bắt buộc chữa bệnh, theo hướng tạo điều kiện cho những người này được điều trị, chăm sóc đến khi bệnh đã hoàn toàn được chữa khỏi. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Có thể nói, Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời đã làm thay đổi hoàn toàn những bất cập, tồn tại của hệ thống pháp luật hình sự nước ta trong giai đoạn trước khi pháp điển hóa lần thứ 1. Các quy định của pháp luật hình sự được quy định thống nhất trong Bộ luật hình sự, do một cơ quan duy nhất ban hành là Quốc Hội, và cũng là lần đầu tiên các quy định, cũng như thuật ngữ “các biện pháp tư pháp” được ghi nhận. Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh lần đầu được quy định với những điều kiện, thầm quyền, cách thức áp dụng…, cụ thể, rõ ràng góp phần hiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Và việc pháp điển hóa lần thứ 2 với sự ra đời của Bộ luật hình sự năm 1999 hầu như kế thừa toàn bộ quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, đây là một sự khẳng định cho tính hiệu quả, sự phù hợp của việc áp dụng biện pháp này trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.
1.4. Quy định của một số quốc gia về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
Nếu như trước đây, đất nước chúng ta còn nghèo nàn, lạc hậu trên mọi phương diện do việc tiếp cận với những tiến bộ về y học, pháp luật, khoa học – kỹ thuật…, ở các quốc gia trên thế giới rất khó khăn thì trong thời kỳ hội nhập quốc tế như hiện nay khoảng cách đó đang dần được thu hẹp lại. Chúng ta có thể dễ dàng đi nghiên cứu, học tập, làm việc tại các trường học, cơ quan, tổ chức ở rất nhiều các quốc gia trên thế giới, từ đó tiếp thu, học hỏi được những kinh nghiệm, sự tiến bộ trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống để góp phần phát triển đất nước. Trong các lĩnh vực đó thì pháp luật là một trong lĩnh vực quan trọng nhất, pháp luật điều chỉnh mọi vấn đề trong xã hội. Một nền pháp luật văn minh, hiện đại sẽ là tiền để cho sự pháp triển của kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, nếu so sánh pháp luật Việt Nam với các quốc gia phát triển trên thế giới thì pháp luật Việt Nam còn rất nhiều hạn chế, bất cập. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc các quy định pháp luật của các quốc gia trên thế giới nhằm tránh những hạn chế mà pháp luật các nước đang gặp phải để hoàn thiện hệ thống pháp luật là điều rất cần thiết. Có rất nhiều vấn đề pháp luật cần phải nghiên cứu hoàn thiện nhưng trong phạm vi đề tài tác giả chỉ nói đến quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự năm 2015.
Khi tìm hiểu quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, tác giả đã tìm đọc rất nhiều các tài liệu liên quan đến pháp luật hình sự các nước trên thế giới, nhưng nhìn chung pháp luật hình sự của nhiều nước trên thế giới không quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nhưng lại có quy định tuy khác về tên gọi nhưng lại tương tự như biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong pháp luật hình sự Việt Nam về vai trò, tính chất, mục đích như: Bộ luật hình sự của Nga, Trung Quốc, Thủy Điển, Tây Ban Nha… Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Trong Bộ luật hình sự của Nga có quy định về biện pháp cưỡng chế có tính chất y học tương tự như biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự của Việt Nam, điểm khác so với Việt Nam là về vấn đề này Bộ luật hình sự của Nga quy định thành một chương riêng với 08 Điều luật [31, tr.29]. Điều này cho thấy tầm quan trọng đối với việc xử lý người không có năng lực trách nhiệm hình sự trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong Bộ luật hình sự của Nga. Đây cũng là điều rất dễ hiểu bởi việc người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là một trong những trường hợp đặc biệt trong hình sự, trong đó ranh giới giữa không có tội và có tội rất mong manh nếu quy định thiếu chặt chẽ có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội có thể lấy việc mình bị bệnh tâm thần làm cái cớ để chối bỏ việc thực hiện hành vi phạm tội của mình. Trong bộ luật hình sự của Nga biện pháp này được áp dụng đối với người thực hiện hành vi quy định tại phần riêng của Bộ luật hình sự khi không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc sau khi phạm tội mà mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi [31, tr.30]. Nhưng điểm đặc biệt của Bộ luật hình sự của Nga so với biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh của Bộ luật hình sự Việt Nam đó là biện pháp an ninh còn được áp dụng đối với người phạm tội trong tình trạng nghiện rượu hay nghiện ma túy. Đây là một quy định rất tiến bộ, rất triệt để của Bộ luật hình sự của Nga nhằm mục đích phòng ngừa trước khả năng những người nghiện rượu, nghiện ma túy có thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong cơn “say”, không để những người này thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội gây hậu quả rồi mới xử lý họ. Thiết nghĩ trong thời gian tới các nhà làm luật của Việt Nam sẽ nghiên cứu vấn đề này để đưa vào Bộ luật hình sự, bởi việc người uống rượu bia, sử dụng ma túy dẫn đến say thực hiện hành vi phạm tội trên thực tế hiện nay diễn ra ngày càng phổ biến gây ra nhiều bức xúc trong dư luận xã hội.
Tuy nhiên, pháp luật không quy định những biện pháp cần thiết để ngăn chặn trước khi những người này thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, chỉ đến sau khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì mới áp dụng những chế tài như áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với họ. Điều này cho thấy sự bị động của pháp luật hình sự Việt Nam trong việc phòng ngừa những khả năng gây nguy hại cho xã hội. Tác giả cho rằng việc pháp luật hình sự quy định các biện pháp hạn chế nhất định đối với những người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, người nghiện rượu, bia, ma túy là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn cuộc sống hiện nay, sẽ góp phần triệt để hơn trong việc phòng ngừa khả năng gây ra thiệt hại cho xã hội của những người này. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Trong hệ thống pháp luật hình sự của Tây Ban Nha cũng có quy định áp dụng các biện pháp cưỡng chế về hình sự (không được coi là một hình phạt) nhằm ngăn chặn tội phạm mới. Các biện pháp cưỡng chế hình sự này được quy định là biện pháp an ninh tại phần 04 quyển 01 của Bộ luật hình sự Tây Ban Nha năm 1995. Trong đó Bộ luật hình sự quy định 03 biện pháp là biện pháp đưa vào một cơ sở tâm thần, biện pháp đưa vào một cơ sở phục hồi và biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đặc biệt [31, tr.30].
Nếu như Bộ luật hình sự của Nga và Tây Ban Nha có những điểm khác về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự của Việt Nam thì Bộ luật hình sự của Thủy Điển có những điểm tương đồng với Việt Nam. Theo đó, việc xem xét các điều kiện cần thiết để đưa người phạm tội bị bệnh tâm thần vào cơ sở điều trị bệnh thuộc thẩm quyền của Tòa án, cụ thể Điều 3 Bộ luật hình sự Thủy Điển quy định: Tòa án có thể xem xét điều kiện tâm thần, hoàn cảnh cá nhân cụ thể để quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở điều trị tâm thần cùng với việc hạn chế tự do và các biện pháp cưỡng chế khác đối với người phạm tội do ảnh hưởng của rối loạn tâm thần nghiêm trọng và hành vi phạm tội của họ không giới hạn bị áp dụng phạt tiền, đó là đưa vào cơ sở chăm sóc đặc biệt [31, tr.30]. Mặt khác, Bộ luật hình sự Thủy Điển còn căn cứ vào mức độ bệnh của người tâm thần để xử lý như quy định trường hợp người mắc bệnh tâm thần ở mức độ cao thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với những người thuộc trường hợp này, Tòa án sẽ tiến hành các biện pháp điều tra đặc biệt để tránh việc truy cứu trách nhiệm hình sự không đúng người cũng như không để một người lợi dụng bệnh tâm thần để trốn tránh sự trừng trị của pháp luật. Bên cạnh những điểm tương đồng trong việc đưa người bị bệnh tâm thần vào cơ sở điều trị để chữa bệnh thì Bộ luật hình sự Thủy Điển cũng cho thấy quan điểm khác biệt so với Bộ luật hình sự Việt Nam. Nếu như Bộ luật hình sự Thủy Điển xem việc đưa người bị bệnh tâm thần vào cơ sở chăm sóc đặc biệt là một hình phạt được quy định trong hệ thống hình phạt áp dụng đối với người bị bệnh tâm thần, thì Bộ luật hình sự Việt Nam lại không coi biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là một hình phạt trong hệ thống hình phạt mà được coi là một trong những biện pháp tư pháp. Bộ luật hình sự Việt Nam quy định thẩm quyền đưa người bị bệnh tâm thần vào cơ sở điều trị không chỉ thuộc về Tòa án mà tùy vào từng giai đoạn giải quyết vụ án thì thẩm quyền này còn thuộc về Viện kiểm sát và để quyết định đưa một người vào cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh thì Tòa án hoặc Viện kiểm sát phải căn cứ vào kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần.
Trong pháp luật hình sự của Đức, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần sẽ được áp biện pháp gọi là biện pháp lưu trú trong bệnh viện tâm thần. Biện pháp lưu trú trong bệnh viện tâm thần là một trong các biện pháp xử lý cải thiện và đảm bảo an toàn được quy định trong Bộ luật hình sự của Đức [31, tr.30]. Không giống như Bộ luật hình sự Thủy Điển, biện pháp này không nằm trong hệ thống hình phạt của Bộ luật hình sự Đức mà là một trong những biện pháp cưỡng chế về hình sự riêng biệt có mục đích cải thiện tình trạng bệnh của người bị bệnh tâm thần cũng như đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Đây chính là điểm tương đồng của Bộ luật hình sự Đức so với Bộ luật hình sự Việt Nam, tuy khác nhau về tên gọi nhưng đều hướng đến mục đích nhân đạo là chữa trị cho người bị bệnh tâm thần và phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho xã hội. Để quyết định áp dụng biện pháp xử lý này Tòa án không chỉ căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi đã thực hiện mà còn căn cứ vào hậu quả của các hành vi đã được tiên lượng trước cũng như mức độ của sự nguy hiểm đến từ phía người phạm tội. Có thể nói đây là một biện pháp hạn chế sự tự do của con người, ở một đất nước văn minh, đề cao quyền con người, quyền công dân như nước Đức thì việc Tòa án phải rất cẩn trọng, cân nhắc, đánh giá, căn cứ vào nhiều yếu tố trước khi áp dụng biện pháp này đối với người bị bệnh tâm thần. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
Trong bộ luật hình sự của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa các quy định, biện pháp cưỡng chế về hình sự được áp dụng đối với người bị bệnh tâm thần làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng có những điểm tương đồng với Bộ luật hình sự của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu Bộ luật hình sự Việt Nam quy định là một trong những biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nằm trong hệ thống biện pháp tư pháp thì Bộ luật hình sự cộng hòa nhân dân Trung Hoa lại không có bất cứ một điều luật nào quy định về biện pháp tư pháp giống như Bộ luật hình sự Việt Nam, các quy định về biện pháp cưỡng chế về hình sự trong Bộ luật hình sự cộng hòa nhân dân Trung Hoa mặc dù có gần như tương đồng với biện pháp tư pháp trong Bộ luật hình sự Việt Nam nhưng lại không có tên gọi cụ thể và nằm rải rác ở trong phần chung của Bộ luật hình sự. Theo Điều 15 Bộ luật hình sự cộng hòa nhân dân Trung Hòa quy định: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Nhưng người nhà hoặc người bảo lãnh phải tăng cường kiểm tra và chữa bệnh cho họ”[31, tr.31].
Có thể nói quy định trên nhiều nét giống như quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh Bộ luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên điểm khác biệt so với Bộ luật hình sự cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Bộ luật hình sự Việt Nam quy định mở rộng hơn phạm vi đối tượng áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, không chỉ người bị bệnh tâm thần mà còn người bị bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Hơn nữa bộ luật hình sự còn quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thuộc về Tòa án hoặc Viện kiểm sát tùy vào từng giai đoạn giải quyết vụ án và người bệnh bắt buộc phải được đưa vào cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Nhà nước có trách nhiệm điều trị bệnh, chi trả mọi chi phí trị bệnh (tiền viện phí, tiền thuốc và các chi phí khác phục vụ cho việc chữa bệnh) cho người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi [31, tr.31]. Còn Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì trách nhiệm theo dõi, chữa bệnh cho người bệnh thuộc về người nhà của họ hoặc người bảo lãnh cho họ. Sự khác biệt này cũng thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam và trách nhiệm của nhà nước Việt Nam đối với công dân của mình. Ở nước Việt Nam, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng bình thường hay trong tình trạng mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự thì đều có những biện pháp, chế tài cụ thể, rõ ràng để xử lý mặc dù hành vi, hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà họ gây ra là như nhau. Tính nhận đạo của pháp luật hình sự Việt Nam thể hiện rõ nhất là đối với những người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì nhà nước tạo điều kiện cho họ được chữa trị bệnh từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn thu hợp pháp khác để họ có cơ hội được trở về với cộng đồng. Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
