Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình với việc bảo vệ quyền trẻ em dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình

Theo quy định tại Điều 3 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình bao gồm:

Thứ nhất là, kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính là nguyên tắc chủ đạo trong phòng, chống bạo lực gia đình. Pháp luật luôn hướng tới việc ngăn chặn các hành vi phạm tội trước khi xảy ra để giữ gìn trật tự, tránh những tổn thất cho cộng đồng và xã hội. Riêng trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình thì việc phòng ngừa càng có ý nghĩa quan trọng. Bởi vì hành vi bạo lực nếu xảy ra thì ít nhiều đã gây ra những tổn thương nhất định cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt là trẻ em, làm xấu đi mối liên kết và tình cảm gia đình, và việc hàn gắn là không dễ; dù hành vi bị phát hiện và xử lý theo pháp luật thì quan hệ gia đình vẫn chuyển biến xấu, để lại những tổn thương không thể xoá bỏ trong tâm trí trẻ. Vì vậy, cần phải lấy phòng ngừa là chính trong hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để bạo lực gia đình không xảy ra.

Hơn nữa, nhận thức của người dân về vấn đề bạo lực gia đình còn hạn chế, sự can thiệp thô bạo của pháp luật có thể dẫn tới phá huỷ các mối quan hệ giữa các thành viên gia đình. Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải trong vấn đề này là rất quan trọng, góp phần định hướng hành vi của mỗi người: nạn nhân được trang bị kiến thức để tự bảo vệ; người có thể có hành vi bạo lực thì nhận thức được tính chất, hậu quả của hành vi để tự kiềm chế tốt hơn; những người xung quanh biết được trách nhiệm tham gia phòng chống bạo lực gia đình và có ứng xử phù hợp. Các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình còn giúp giải quyết xung đột, mâu thuẫn, giải toả những bức xúc, căng thẳng trong quan hệ gia đình, từ đó không làm phát sinh hành vi bạo lực.

Việc tuyên truyền giáo dục nếu kết hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc thì sẽ càng được phát huy tốt hơn nữa, bởi vì người Việt Nam nói chung chịu tác động khá lớn từ những tư tưởng này. Đặc biệt, ở những nơi mà quan niệm “phép vua thua lệ làng”, trình độ dân trí thấp thì việc giáo dục người dân thông qua các phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mới có thể phát huy hiệu quả tốt nhất. Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Thứ hai là, hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.

Đây là một trong những nguyên tắc chung của pháp luật. Riêng trong lĩnh vực bạo lực gia đình, việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi càng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, nếu không thì có thể trở thành “thói quen”, được chấp nhận với cả nạn nhân, người vi phạm và những người xung quanh. Nguyên tắc này nhằm mục đích giảm thiểu, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và hậu quả của hành vi bạo lực đối với trẻ em. Thực tế cho thấy: nếp sống, nếp nghĩ của người Việt Nam nói chung vẫn cho rằng những hành vi bạo lực trong gia đình là bình thường, thậm chí đôi khi là cần thiết. Nhiều người cho rằng đánh con hay chì chiết, mắng chửi khi trẻ phạm lỗi là một trong những cách dạy con hiệu quả. Vì thế, những hành vi bạo lực mà luật quy định thường không được nhìn nhận, từ đó khó phát hiện, và càng khó ngăn chặn, xử lý. Do đó, quy định về nguyên tắc này là cần thiết nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của mọi công dân trong lĩnh vực này.

Bên cạnh đó, hành vi bạo lực gia đình càng kéo dài và lặp đi lặp lại thì càng gây ra nhiều tổn thương cho nạn nhân, mà đối tượng tổn thương nghiêm trọng nhất là trẻ em. Thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần thực thi quyền được bảo vệ của trẻ em trong thực tiễn.

Thứ ba là, nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ.

Giúp đỡ các nạn nhân kịp thời, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ là điều cần thiết và đã được pháp luật ghi nhận như một nguyên tắc quan trọng, mọi người đều phải tuân theo. Nguyên tắc này đặc biệt quan trọng và cần thiết đối với trẻ em là nạn nhân của bạo lực. Bởi lẽ trẻ em vốn thể chất còn non nớt và dễ bị tổn thương nên rất cần được hỗ trợ và giúp đỡ kịp thời nhằm giảm thiểu tối đa hậu quả xảy ra. Hơn nữa, những vấn đề về gia đình, trong đó có bạo lực gia đình thường không nhận được sự quan tâm sâu sắc và đúng đắn của những người xung quanh, bởi vì họ coi đấy là chuyện riêng, chuyện nội bộ của mỗi nhà. Từ đó, việc giúp đỡ nạn nhân, đặc biệt là trẻ em trở nên hạn chế, nhất là khi họ còn phải lo sợ sự trả thù của người có hành vi bạo lực. Không chỉ vậy, nhiều người vẫn coi hành vi bạo lực đối với trẻ em là quyền “dạy” con của bậc cha, mẹ nên không muốn can thiệp. Ngoài ra, việc giúp nạn nhân như thế nào, bằng những phương tiện gì cũng gây cho họ những lúng túng nhất định, do đó pháp luật cho phép họ tuỳ khả năng, tình hình mà đưa ra những xử sự hợp lý nhất, ưu tiên những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là trẻ em.

Bảo vệ, giúp đỡ kịp thời nghĩa là thực hiện các biện pháp thực tế để ngăn chặn, không để cho hành vi bạo lực đối với trẻ em tiếp tục diễn ra hay lặp đi lặp lại. Đồng thời khắc phục kịp thời những hậu quả xảy ra đối với trẻ em do bị bạo lực như: xử lý thương tích, đưa đi cấp cứu kịp thời, trấn an tinh thần, tâm lý của trẻ, giúp trẻ có chỗ trú ẩn an toàn để hành vi bạo lực gia đình không thể tái diễn… Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Thứ tư là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình.

Bạo lực gia đình từ lâu đã không còn là vấn đề của mỗi gia đình mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định xã hội, do đó việc phòng, chống bạo lực gia đình là trách nhiệm chung của cộng đồng chứ không chỉ là của nhà nước và những người có liên quan. Những hành vi bạo lực xảy ra trong gia đình thường được các thành viên trong gia đình biết và phát hiện trước tiên. Nhưng nếu có sự bao che và không vấp phải sự phản đối của những thành viên gia đình thì hành vi bạo lực với trẻ em có nguy cơ ngày càng trở nên nghiêm trọng, nặng nề hơn. Do đó, các thành viên trong gia đình cần phải là những người có trách nhiệm trước tiên trong việc phòng chống bạo lực gia đình đối với trẻ em. Ví dụ như sự can ngăn của mẹ trước hành vi bạo lực của bố đối với con hoặc sự can ngăn của ông bà trước hành vi bạo lực của cha mẹ đối với con… Nguyên tắc này nhấn mạnh trách nhiệm của những thành viên trong gia đình là trên hết, sau đó mới là trách nhiệm của cộng đồng, cơ quan, tổ chức khác. Bởi lẽ, công tác phòng, chống bạo lực gia đình vốn gặp nhiều khó khăn khi triển khai trên thực tế, nên rất cần sự quan tâm phối hợp của tất cả các thành viên trong xã hội. Tuy nhiên, hiện nay không có nhiều chủ thể tích cực tham gia công tác này do nhận thức không đúng tầm quan trọng, ý nghĩa của nó. Việc quy định nguyên tắc này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực gia đình đối với trẻ em – những chủ nhân tương lai của đất nước.

2.2. Quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong việc phòng chống bạo lực gia đình Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

2.2.1 Nghĩa vụ của người thực hiện hành vi bạo lực

Người thực hiện hành vi bạo lực gia đình là người đã thực hiện hành vi gây ra những tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại cho thành viên khác trong gia đình. Nghĩa vụ của họ được ghi nhận ở Điều 4, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình:

  1. Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực.
  2. Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
  3. Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
  4. Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật.[26]

Trước hết, khi thực hiện hành vi bạo lực và bị phát hiện, người có hành vi bạo lực gia đình phải tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực. Cộng đồng ở đây là chỉ chung những người biết được về hành vi, có thể là thành viên khác trong gia đình, hàng xóm, tổ dân phố, người chứng kiến… Sự can thiệp ở đây phải là can thiệp hợp pháp, tức là chỉ được thực hiện những điều pháp luật cho phép (buộc chấm dứt hành vi, cấp cứu nạn nhân…). Mọi sự can thiệp trái pháp luật (sử dụng vũ lực với người có hành vi bạo lực gia đình, tiếp tay cho hành vi bạo lực…) đều sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tôn trọng sự can thiệp nghĩa là người có hành vi bạo lực gia đình phải lắng nghe, thực hiện theo những yêu cầu chính đáng của cộng đồng, không được có thái độ hung hãn, thù địch, chống đối hay có ý định trả thù sự can thiệp đó. Tất nhiên, hành vi bạo lực cũng cần phải được chấm dứt ngay. Quy định này tưởng chừng như là chung chung nhưng lại rất cụ thể và sâu sắc. Người có hành vi bạo lực gia đình không chỉ là thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của cộng đồng mà còn phải tôn trọng sự can thiệp đó, nghĩa là bản thân họ phải phần nào nhận biết được tính đúng đắn của việc can thiệp, cũng như phải có thái độ đúng mực với những người can thiệp.

Điều này rất quan trọng vì trong nhiều trường hợp, người có hành vi vi phạm không nhận thấy sai lầm của mình mà thậm chí còn trút giận sang những người can thiệp (chửi bới, xúc phạm và có khi là đánh đập, hành hung…), làm phát sinh những hành vi bạo lực mới; do đó đã làm hạn chế sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình. Ngược lại, những sự can thiệp bất hợp pháp, điển hình là việc dùng vũ lực để ngăn chặn hành vi bạo lực một cách không cần thiết cũng sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng: vừa không ngăn chặn có hiệu quả hành vi bạo lực gia đình, vừa tăng nguy cơ phát sinh tội phạm khác. Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Người có hành vi bạo lực gia đình có nghĩa vụ chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, những chủ thể có thẩm quyền có thể đưa ra những chế tài như: góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư; cấm tiếp xúc; áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn… Việc xử lý hành vi bạo lực gia đình vốn không quen thuộc với người Việt Nam, vì rất nhiều người vẫn nghĩ trong gia đình việc họ làm gì là quyền của họ. Do đó, quy định người có hành vi bạo lực có nghĩa vụ chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là cần thiết để tạo ra cơ sở pháp lý mạnh mẽ, buộc chủ thể phải thực hiện, đảm bảo hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực gia đình.

Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình (trừ trường hợp nạn nhân từ chối) là nghĩa vụ của người thực hiện hành bạo lực. Đây tưởng chừng là điều hiển nhiên, là ứng xử bắt buộc của các thành viên gia đình đối với nhau, nhưng lại là điều rất khó thực hiện khi một bên là chủ thể thực hiện hành vi bạo lực, một bên là nạn nhân của hành vi bạo lực. Người thực hiện hành vi khi đã nhẫn tâm ra tay thì rất khó có chuyện thương xót, lo lắng cho nạn nhân mà đưa họ đi chữa trị, chăm sóc; hoặc có khi hành vi là bột phát, họ nhận thấy sai lầm của mình nhưng do sợ bị phát hiện, sợ phải gánh trách nhiệm nên không dám đưa nạn nhân tới cơ sở chữa trị. Chính vì vậy, pháp luật cần quy định đây là nghĩa vụ, bắt buộc họ phải thực hiện để đảm bảo quyền lợi về sức khoẻ cho nạn nhân, điều này đặc biệt cần thiết đối với nạn nhân là trẻ em. Vì trẻ em còn rất non nớt và không thể tự mình đến cơ sở khám chữa bệnh; do đó người có hành vi bạo lực cần phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ này, nhất là khi người thực hiện hành vi bạo lực là cha mẹ, người thân của trẻ. Quy định như vậy cũng chính là tạo điều kiện cho người thực hiện hành vi bạo lực có cơ hội sửa chữa sai lầm và khắc phục hậu quả do chính mình gây ra.

Phù hợp với những quy định của pháp luật dân sự, người thực hiện hành vi bạo lực cũng có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật.

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình không nhắc tới quyền mà chỉ quy định nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình. Điều này trước hết có lẽ bởi vì những người này đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nên họ phải chịu những trách nhiệm nhất định và không có quyền đòi hỏi gì trong việc này. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận theo một khía cạnh khác thì chúng ta có thể thấy: nghĩa vụ mà Luật nêu lên cũng đã hàm chứa một số quyền của họ như quyền được nhận sự can thiệp hợp pháp, quyền được thực hiện các hành động nhằm khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra. Mặc dù Luật không quy định về quyền nhưng những nghĩa vụ mà người có hành vi bạo lực gia đình phải thực hiện cũng nhằm giảm thiểu các nguy cơ, hậu quả của hành vi bạo lực, qua đó đảm bảo được lợi ích của nạn nhân và phần nào giảm mức độ nghiêm trọng của hành vi bạo lực. Nhìn nhận một cách tổng quát, có thể thấy rằng những hành vi bạo lực gia đình xuất phát từ sự nhẫn tâm, tàn ác, đê hèn không nhiều mà chủ yếu do những quan niệm sai lầm, do thiếu hiểu biết, do không được trang bị kỹ năng giải quyết tranh chấp hoặc do nóng giận gây nên. Do đó, pháp luật cũng cần phải cho họ những cơ hội để giác ngộ, sửa chữa sai lầm, cũng là tạo cơ hội cho gia đình của họ được hàn gắn.

2.2.2 Quyền, nghĩa vụ của nạn nhân là trẻ em Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình không có quy định riêng về quyền và nghĩa vụ của trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình, mà chỉ quy định chung về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình tại Điều 5 Luật Phòng chống bạo lực gia đình, bao gồm:

1, Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:

  • Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;
  • Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;
  • Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;
  • Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;

Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu.[26] Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Trẻ em – nạn nhân bạo lực gia đình, những người đã bị chính người thân của mình gây ra những thương tổn nhất định, rất cần nhận được sự giúp đỡ của cộng đồng và xã hội. Khi hành vi bạo lực đã xảy ra trong gia đình thì những thành viên gia đình vì những mối liên hệ với người thực hiện hành vi bạo lực sẽ rất khó có sự can thiệp mạnh mẽ, dứt khoát cần thiết để bảo vệ nạn nhân. Do đó, nạn nhân cần sự giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền để bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc quy định đây là quyền của nạn nhân, tức là nghĩa vụ của các chủ thể khác phải thực hiện là hoàn toàn đúng đắn. Bởi vì thực tế cho thấy ở rất nhiều nơi, việc can thiệp bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình còn rất e dè vì quan niệm đấy là “chuyện riêng”, là vấn đề tế nhị của các gia đình. Tuy nhiên, trẻ em lại là đối tượng có mối quan hệ ruột thịt, phụ thuộc với người gây ra hành vi bạo lực, nên khó có thể thực hiện được quyền yêu cầu này do bị người có hành vi bạo lực kiểm soát, đe doạ hoặc do mối quan hệ tình cảm nên các em mặc dù là nạn nhân của bạo lực nhưng cũng không dám đưa ra yêu cầu giúp đỡ đối với tổ chức có thẩm quyền. Mặt khác, do các em còn nhỏ, chưa đầy đủ năng lực hành vi nên nhiều trường hợp lời kêu cứu của các em không được quan tâm và đánh giá đúng mức, điều đó gây nhiều trở ngại cho trẻ em thực hiện quyền yêu cầu giúp đỡ của mình.

Trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình còn có quyền yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc. Bởi lẽ các em không đủ khả năng để thực hiện các biện pháp tự bảo vệ cho mình, mà rất cần sự can thiệp, giúp đỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp cần thiết. Tuy nhiên, do các em còn nhỏ – chưa trưởng thành nên khó có thể tự mình thực hiện quyền yêu cầu này. Do vậy, những thành viên trưởng thành trong gia đình có thể yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc trong trường hợp trẻ em là nạn nhân của bạo lực. Ví dụ như: nếu cha là người gây bạo lực thì mẹ sẽ thực hiện quyền yêu cầu này, hoặc mẹ là người gây bạo lực thì cha có thể yêu cầu đối với cơ quan có thẩm quyền; trong trường hợp cả cha và mẹ đều có hành vi bạo lực đối với trẻ thì quyền này có thể do người thân đã trưởng thành khác thực hiện. Tuy nhiên nếu xảy ra trường hợp những người thân trong gia đình đều không thực hiện việc yêu cầu này thì rất khó để cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ các em trước hành vi bạo lực. Do vậy, rất cần có các biện pháp giáo dục để các thành viên trong gia đình hiểu rõ sự nghiêm trọng của bạo lực gia đình đối với trẻ em, giúp họ nhận thức đúng đắn về quyền và nghĩa vụ của mình trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ.

Bên cạnh đó, trong rất nhiều trường hợp, trẻ em là nạn nhân bạo lực gia đình cần được giúp đỡ về y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật. Những tổn thương về thể chất có thể được chữa lành bằng sự chăm sóc y tế; nhưng với tổn thương về tâm lý, nạn nhân không dễ dàng vượt qua được. Những sợ hãi, hoang mang, khủng hoảng, tự ti… có thể theo các em một thời gian dài, khiến các em không thể lấy lại sự cân bằng trong cuộc sống. Trẻ em rất cần được tư vấn tâm lý để vượt qua những nỗi ám ảnh này, cần được biết rằng chúng không có lỗi trong việc hành vi bạo lực gia đình xảy ra, được hướng dẫn phải xử sự như thế nào khi những hành vi này tiếp diễn. Đặc biệt, trẻ em cần được biết những quy định của pháp luật về vấn đề này để nâng cao khả năng tự bảo vệ trong những trường hợp tương tự. Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Trẻ em cũng cần có một nơi để tạm lánh để có thời gian cách ly nhất định với người thực hiện hành vi bạo lực. Điều này có tác dụng làm cho cả hai bên có thời gian, cơ hội để nhìn nhận sự việc một cách rõ ràng hơn, bình tĩnh hơn. Với những kẻ thực hiện hành vi bạo lực một cách côn đồ, hung hãn, không có điểm dừng thì nơi tạm lánh này còn là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ các em. Thực tế đã có rất nhiều trường hợp khi hành vi bạo lực bị phát hiện, các em đã được áp dụng một số biện pháp chăm sóc, bảo vệ, người thực hiện hành vi đã được phân tích làm rõ những sai phạm của mình, nhưng vẫn tiếp tục có những hành vi bạo lực, thậm chí còn nặng nề và nguy hiểm hơn. Trong khi đó, những người xung quanh, thậm chí là những người có trách nhiệm do lo sợ bị trả thù, bị vạ lây, bị phiền phức nên đã không dám can thiệp bảo vệ trẻ em bị bạo lực. Tuy nhiên, vì trẻ em là đối tượng rất đặc biệt nên quy định về nơi tạm lánh cần cụ thể hơn, ví dụ như: cần quy định cụ thể chủ thể có quyền yêu cầu tạm lánh trong trường hợp này. Trong những tình huống khẩn cấp có thể chấp nhận yêu cầu tạm lánh trực tiếp từ trẻ trong thời gian chờ cơ quan chức năng giải quyết. Ví dụ như: trẻ em đang bị hành hạ, đánh đuổi phải bỏ chạy thì phải đưa các em vào nơi tạm lánh rồi báo cáo với cơ quan chức năng xử lý.

Nạn nhân bạo lực gia đình cũng phải thực hiện nghĩa vụ nhất định, đó là: cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu. Do tính chất rất nhạy cảm của hành vi bạo lực cũng như mối quan hệ đặc biệt của các chủ thể, pháp luật không đặt ra nghĩa vụ của nạn nhân – bao gồm cả trẻ em trong việc tố giác người có hành vi bạo lực – điều này hoàn toàn hợp lý. Vậy tại sao lại quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin của nạn nhân? Bởi vì hành vi bạo lực dù diễn ra trong gia đình nhưng lại ảnh hưởng tới sự phát triển chung của toàn xã hội, do đó cần phải được xử lý kịp thời; trẻ em là nạn nhân của bạo lực cần được bảo vệ, nhưng các em cũng cần tự bảo vệ mình trong giới hạn nhất định, và đó có thể coi là trách nhiệm của các em với cộng đồng, xã hội. Trong khi đó, rất nhiều trẻ không nhận thức được điều này, nên khi hành vi bạo lực xảy ra chúng chọn cách im lặng, lảng tránh vì đã quá hoảng sợ. Từ đó, chính các em lại gây khó khăn cho việc xử lí hành vi vi phạm, tạo điều kiện cho bạo lực gia đình tái diễn và thậm chí là phát triển hơn, gây ảnh hưởng tới chính bản thân các em, gia đình, những người xung quanh cũng như tác động xấu tới trật tự an toàn xã hội. Một vấn đề đặt ra đó là trong trường hợp cha hoặc mẹ của trẻ em bị bạo lực xâm hại lại không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu mà có hành vi dấu giếm, bao che hành vi bạo lực đối với trẻ em thì sẽ bị xử lí như thế nào? Những người thân trong gia đình thường che dấu hành vi bạo lực xảy ra đối với trẻ em, điều đó gây rất nhiều khó khăn trong việc phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi bạo lực. Mặt khác, khi trẻ em nói ra những hành vi bạo lực xâm phạm đến mình (như xâm phạm tình dục) thì những người lớn trong gia đình thường không tin, không coi đó là sự thật và bỏ qua, nên hành vi xâm hại trẻ em vẫn có cơ hội tiếp diễn. Điều đó làm cho các em càng sợ hãi, căng thẳng hơn và không dám nói ra sự việc. Do vậy, việc cung cấp thông tin về hành vi bạo lực từ phía trẻ em thường khó thực hiện và rất cần đến sự giúp đỡ, can thiệp kịp thời cũng như trách nhiệm của các thành viên khác trong gia đình.

2.2.3 Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, các cơ quan, tổ chức trong phòng chống bạo lực gia đình đối với trẻ em Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

2.2.3.1 Trách nhiệm của cá nhân, gia đình

Điều 31 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về trách nhiệm của cá nhân trong việc phòng, chống bạo lực gia đình. Theo đó, cá nhân có trách nhiệm thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, kịp thời ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và có trách nhiệm thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền. Như vậy, cá nhân ở đây được hiểu bao gồm cả thành viên trong gia đình và những người không phải là thành viên trong gia đình. Nghĩa là bất cứ cá nhân nào cũng cần tuân thủ nghiêm túc pháp luật phòng chống bạo lực gia đình và nếu phát hiện có hành vi bạo lực thì phải kịp thời ngăn chặn không để bạo lực tiếp diễn, đồng thời có trách nhiệm báo cáo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vụ việc.

Bên cạnh đó, điều 32 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình cũng quy định về trách nhiệm gia đình và các thành viên gia đình trong phòng, chống bạo lực gia đình:

  1. Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.
  2. Hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình.
  3. Phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình.
  4. Thực hiện các biện pháp khác về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật này. [26]

Gia đình là môi trường của sự phát triển và hạnh phúc của trẻ em, cha mẹ, các thành viên trong gia đình là nhân tố quyết định và có trách nhiệm tạo ra môi trường lành mạnh đó. Chính vì vậy, các thành viên gia đình đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em. Bất cứ thành viên nào trong gia đình cũng có thể có hành vi bạo lực; đồng thời chính họ cũng dễ dàng trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình. Tuy nhiên, ở đây chỉ đề cập tới họ dưới khía cạnh là người chứng kiến hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ. Cùng chung sống dưới một mái nhà, các thành viên trong gia đình là người chịu tác động trực tiếp của hành vi, có khả năng phát hiện nhanh chóng cũng như tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến, mức độ của hành vi bạo lực; họ cũng là người có khả năng thành công trong việc giáo dục, thuyết phục người có hành vi bạo lực thay đổi hành vi bởi vì hai bên có sự hiểu biết về nhau, có mối quan hệ thân thiết, sâu sát với nhau. Sự tham gia nhắc nhở đó có tính chất thường xuyên và liên tục sẽ mang lại hiệu quả thiết thực trong việc ngăn chặn, giảm thiểu hành vi bạo lực và hậu quả của hành vi bạo lực đối với trẻ em trong gia đình. Bằng chính hành động thực tế của bản thân mà những thành viên trong gia đình sẽ là những tấm gương cho người có hành vi bạo lực noi theo, từ đó sẽ đem lại hiệu quả giáo dục thiết thực, giúp họ hiểu biết và tôn trọng pháp luật. Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy nhiều trường hợp các thành viên khác trong gia đình đã cổ vũ, khuyến khích cho hành vi bạo lực xảy ra như: ông bà yêu cầu phải nghiêm khắc khi dạy dỗ cháu; mẹ ủng hộ bố đánh đập, trừng phạt các con… Những hành động này phần nhiều không xuất phát từ ý xấu mà chỉ là do quan niệm khác nhau của mỗi người, nhưng lại tác động rất lớn tới người thực hiện hành vi bạo lực: họ chịu áp lực “phải” thực hiện hành vi nếu không muốn bị người nhà chê bai, khiển trách; đồng thời khi được ủng hộ, họ càng thấy tự tin, càng cho rằng hành vi đó là đúng đắn và cần thiết.

Chính vì vậy, pháp luật đã quy định gia đình và các thành viên gia đình phải có những trách nhiệm, phải có sự chủ động nhất định trong phòng, chống bạo lực gia đình.

Ngoài ra, thành viên gia đình còn có trách nhiệm hoà giải, can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực và chăm sóc nạn nhân là trẻ em trong trường hợp bạo lực xảy ra. Thành viên trong gia đình cùng chung sống dưới một mái nhà nên họ dễ dàng biết và phát hiện được hành vi bạo lực, chính vì vậy mà khi có bạo lực xảy ra thì những thành viên gia đình có trách nhiệm hoà giải, can ngăn kịp thời để giảm thiểu tối đa hậu quả do hành vi bạo lực gây ra, ngăn chặn bạo lực tiếp diễn. Đặc biệt trẻ em vốn non nớt và yếu đuối lại trở thành nạn nhân của bạo lực thì càng cần được chăm sóc chu đáo bởi những người thân trong gia đình. Đây là những việc mà thành viên trong gia đình hoàn toàn có khả năng thực hiện và cần có trách nhiệm thực hiện.

Bên cạnh đó, Luật Phòng chống bạo lực gia đình cũng quy định những hành vi cá nhân và các thành viên trong gia đình không được làm tại Điều 8 –những hành vi bị nghiêm cấm:

  1. Các hành vi bạo lực gia đình quy định tại Điều 2 của Luật này.
  2. Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình.
  3. Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình.
  4. Trả thù, đe doạ trả thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình.
  5. Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình.
  6. Lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái pháp luật.
  7. Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình.[26]

Với tâm lý hiếu thắng, đề cao sĩ diện vốn rất phổ biến ở Việt Nam, rất nhiều hành vi bạo lực nói chung, bạo lực gia đình nói riêng xuất phát từ sự xúi giục, kích động, khích bác… của những người xung quanh. Những hành vi đó có thể chỉ là lời nói đùa vô ý, sự trêu chọc lẫn nhau, thậm chí là những lời khuyên bảo sai lầm; nhưng đó cũng có thể là ác tâm muốn phá huỷ hạnh phúc gia đình người khác, muốn trục lợi hoặc thực hiện ý đồ xấu khác. Khi hành vi bạo lực xảy ra, người thực hiện hành vi và những người có liên quan đương nhiên muốn trốn tránh, cản trở việc phát hiện và xử lý; nếu không được thì sẽ có tâm lý muốn trả thù người đã phát hiện, khai báo, giúp đỡ nạn nhân… Trong một số trường hợp, những hành vi này đã nhận được sự dung túng, bao che của những người có thẩm quyền. Kết quả là bạo lực gia đình không ngừng gia tăng và tiếp tục để lại những hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội. Chính vì vậy, những hành vi này cần phải bị nghiêm cấm và phải chịu những chế tài phù hợp.

Tuy nhiên, một số quy định trong điều luật này nếu không được giải thích rõ thì việc thực hiện trên thực tế là rất khó khăn. Ví dụ: hiểu thế nào là hành vi kích động, xúi giục người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình? Chỉ là những lời khuyên: yêu cho roi cho vọt… có thể làm phát sinh hành vi bạo lực với trẻ em, nhưng có phải là hành vi vi phạm quy định tại Điều 8 này không? Vấn đề này đều cần được nghiên cứu cụ thể hơn và đưa ra những hướng dẫn rõ ràng.

Những hành vi bị cấm này không chỉ áp dụng với thành viên gia đình mà còn áp dụng cả những cá nhân không phải là thành viên gia đình. Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình còn quy định rõ trách nhiệm của các cá nhân là: “1. Thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; 2. Kịp thời ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền” (Điều 31). Những quy định này nhằm nâng cao tính chủ động, tích cực của các những cá nhân trong xã hội trong việc tham gia phòng, chống bạo lực gia đình cũng như giúp đỡ nạn nhân.

2.2.3.2 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khác Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 41 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã quy định trách nhiệm của rất nhiều cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực này, bao gồm trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Chính Phủ; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Bộ, cơ quan ngang bộ; Uỷ ban nhân dân các cấp. Các cơ quan này đều có trách nhiệm trong việc tuyên truyền, giáo dục nhân dân chấp hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; tham gia công tác phòng, chống bạo lực gia đình; chăm sóc, hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình; kiến nghị những biện pháp cần thiết với cơ quan nhà nước có liên quan để thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.

Trách nhiệm của một số Bộ, ngành cũng được cụ thể hoá tại các quy định của Luật này. Trong đó có thể kể đến vai trò của một số cơ quan có trách nhiệm trực tiếp giải quyết và xử lý hành vi bạo lực gia đình với trẻ em như:

Vai trò của UBND: UBND có trách nhiệm áp dụng các biện pháp phòng chống tội phạm , tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm khác , bao gồm cả việc quyết định xử lý vi phạm hành chính. UBND là nơi tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo và quyết định việc giải quyết vụ việc theo hướng hoà giải, góp ý, phê bình trong cộng đồng, xử phạt hành chính, hay chuyển vụ việc đến cơ quan công an để điều tra theo trình tự tố tụng hình sự. UBND cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục pháp luật cho người dân. Đặc biệt là UBND cấp xã – chính quyền cơ sở là nơi đầu tiên tiếp nhận thông tin, phát hiện sớm hành vi bạo lực gia đình để có thể ngăn chặn kịp thời hành vi bạo lực.

Cơ quan công an: Công an cấp xã, phường có trách nhiệm phòng ngừa tội phạm, bảo vệ an ninh trật tự và thực thi pháp luật. Công an thường được đề nghị can thiệp khi hành vi bạo lực xảy ra hoặc ngay sau đó. Công an có trách nhiệm điều tra triệt để mọi hành vi bạo lực và trong khi điều tra thì tôn trọng quyền và yêu cầu của tất cả các bên liên quan, đặc biệt chú trọng đến nạn nhân bạo lực gia đình là trẻ em để có phương pháp điều tra và bảo vệ phù hợp. Sự can thiệp của cơ quan công an xã, phường thường rất hiệu quả nhằm chấm dứt ngay hành vi bạo lực, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Công an xã, phường là người được phép sử dụng vũ khí để trấn áp hành vi bạo lực, điều đó đem lại hiệu quả cao trong việc ngăn chặn hành vi bạo lực tiếp tục xảy ra, làm cho hành vi bạo lực không có cơ hội tiếp tục tái diễn gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khoẻ, tính mạng và tinh thần của trẻ.

Viện kiểm sát: Kiểm sát viên đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thủ tục tư pháp. Họ là cầu nối giữa cơ quan công an và toà án. Khi hành vi bạo lực gia đình xảy ra có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì Viện kiểm sát sẽ tiến hành những thủ tục cần thiết để khởi tố vụ án hình sự, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em bị bạo lực. Trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ quy định của pháp luật, kiểm sát viên góp phần xây dựng một hệ thống tư pháp hình sự vô tư và công bằng để bảo vệ trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình. Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Toà án: Các thẩm phán có vai trò rất quan trọng trong xử lý bạo lực gia đình. Trong khi xử các vụ hình sự, thẩm phán có thể bảo vệ và đảm bảo sự tôn trọng với nạn nhân, đảm bảo trình tự tố tụng với bị cáo và tuyên phạt phù hợp với tội danh. Thông qua nghị án, các thẩm phán gửi một thông điệp rõ ràng tới cộng đồng rằng bạo lực gia đình đối với trẻ em là không thể dung thứ. Nhân viên tòa án trong quá trình xét xử các vụ án cũng có vai trò quan trọng để nâng cao năng lực của tòa trong việc trợ giúp nạn nhân. Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án góp phần tăng khả năng tiếp cận của người dân với pháp luật, nâng cao hiệu quả trong hoạt động tố tụng và tạo ra môi trường an toàn cho nạn nhân của hành vi bạo lực là trẻ em và nhân chứng.

Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định người phát hiện bạo lực gia đình phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc UBND cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư. UBND cần cân nhắc mời công an vào cuộc trong trường hợp xảy ra bạo lực gia đình để xem xét xử lý hành vi và xác định xem hành vi đó có phải là tội phạm hoặc vi phạm hành chính. Công an cũng có thể giúp thu thập chứng cứ, lấy lời khai của nạn nhân, người gây bạo lực và nhân chứng, góp phần phân tích tình huống một cách toàn diện. UBND và công an cấp xã cần lưu lại tất cả mọi quyết định xử phạt hành chính, trong đó có quyết định xử phạt hành chính về hành vi bạo lực gia đình. Khi góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư, người đứng đầu cộng đồng dân cư phải gửi biên bản cuộc họp tới công chức làm công tác tư pháp ở cấp xã. Công an, kiểm sát viên và chánh án phải lưu giữ đầy đủ hồ sơ của các vụ việc. Việc mời công an địa phương và cán bộ tư pháp như kiểm sát viên, thẩm phán dự các buổi họp tại cộng đồng sẽ làm tăng thêm sức nặng của thông điệp gửi tới cộng đồng rằng bạo lực gia đình đối với trẻ em là không thể dung thứ và sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Điều đó sẽ giúp tăng cường hơn nữa hiệu quả giáo dục đối với cá nhân, gia đình và cộng đồng nhằm bảo vệ trẻ em trước hành vi bạo lực gia đình.

2.3. Các biện pháp cơ bản ngăn chặn, phòng ngừa, bảo vệ và hỗ trợ trẻ em trước hành vi bạo lực Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Để hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình đạt được hiệu quả thì các biện pháp phòng, chống bạo lực phải được áp dụng một cách đồng bộ. Các biện pháp này có thể được thực hiện trên nhiều phương diện (biện pháp xã hội, biện pháp kinh tế, biện pháp pháp lí), có thể do nhiều chủ thể tiến hành (cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức, cộng đồng…). Tuy nhiên, để thực hiện trực tiếp mục đích phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em thì biện pháp phòng ngừa bạo lực, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân và xử lí người vi phạm được coi là cơ bản.

2.3.1 Các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em

Phòng ngừa bạo lực gia đình nhằm hạn chế, giảm thiểu một cách tối đa hành vi bạo lực gia đình và những hậu quả, thiệt hại có thể xảy ra khi có hành vi bạo lực gia đình. Theo quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn bạo lực gia đình bao gồm:

Thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình: nhằm mục đích thay đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, góp phần tiến tới xoá bỏ hiện tượng bạo lực gia đình đối với trẻ em. Việc tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của những thành viên trưởng thành trong gia đình về xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, không có bạo lực.

Việc thông tin, tuyên truyền phải đảm bảo chính xác, rõ ràng, đơn giản, thiết thực; phù hợp với từng đối tượng, trình độ, lứa tuổi, giới tính, truyền thống, văn hoá, bản sắc dân tộc, tôn giáo; không làm ảnh hưởng đến bình đẳng giới, danh dự, nhân phẩm, uy tín của trẻ em là nạn nhân bạo lực gia đình và các thành viên khác trong gia đình.

Nội dung thông tin, tuyên truyền tập trung vào: chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình; quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em; truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt nam; tác hại của bạo lực gia đình đối với trẻ em; biện pháp, mô hình, kinh nghiệm trong phòng, chống bạo lực gia đình; kiến thức về hôn nhân và gia đình; kỹ năng ứng xử, xây dựng gia đình văn hoá và các nội dung khác có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình.

Hình thức thông tin, tuyên truyền: thực hiện trực tiếp; thông qua phương tiện thông tin đại chúng; lồng ghép trong việc giảng dạy, học tập tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và thông qua hoạt động văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và các loại hình văn hoá quần chúng khác.

Biện pháp thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ quyền trẻ em. Việc thông tin, tuyên truyền đầy đủ, đúng đắn sẽ giúp cho cha mẹ, các thành viên khác trong gia đình hiểu rõ và nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Tuyên truyền giúp nâng cao nhận thức của các thành viên trong gia đình, của cá nhân về phương pháp, cách thức, kỹ năng, hành vi được phép làm và không được phép làm trong việc quản lý, chăm sóc và dạy dỗ trẻ em. Hơn nữa, việc thông tin tuyên truyền thường xuyên và liên tục sẽ giúp tạo thói quen ứng xử phù hợp theo đúng quy định của pháp luật. Điều đó góp phần đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ các quyền của trẻ em. Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Như vậy, nếu thực hiện thông tin, tuyên truyền tốt, đạt được hiệu quả thì hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em có thể không xảy ra, đảm bảo được mục đích phòng ngừa hành vi bạo lực đối với trẻ.

  • Hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình:

Hoà giải nhằm mục đích hướng dẫn, giải thích và cung cấp kiến thức pháp luật, kiến thức về bảo vệ quyền trẻ em cho các thành viên trong gia đình, làm cho cho những mâu thuẫn, xích mích trong gia đình được dập tắt hoặc không vượt qua giới hạn gây ra hậu quả nghiêm trọng, giúp cho các thành viên trong gia đình hiểu nhau hơn và tăng cường hiểu biết pháp luật, tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền trẻ em.

Hoà giải mâu thuẫn giữa các thành viên gia đình là trách nhiệm gia đình, người đứng đầu hoặc người có uy tín trong dòng họ, người có uy tín trong cộng đồng dân cư; của cơ quan, tổ chức nơi công tác hoặc sinh sống của các thành viên gia đình; tổ hoà giải ở cơ sở. Việc hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Điều 12 – Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.

Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các tổ chức hoà giải ở cơ sở thực hiện hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình.

  • Tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực gia đình:

Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động tư vấn về gia đình ở cơ sở cho các thành viên trong cộng đồng dân cư, trong đó tập trung vào các đối tượng: người có hành vi bạo lực gia đình; nạn nhân bạo lực gia đình; người nghiện rượu, ma tuý, đánh bạc; người chuẩn bị kết hôn.

Các nội dung tư vấn chủ yếu là cung cấp thông tin, kiến thức, pháp luật về hôn nhân, gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em, chăm sóc và giáo dục trẻ; hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong gia đình; đặc biệt là kĩ năng nuôi dạy con cái, phương pháp giáo dục trẻ; kỹ năng ứng xử khi có mâu thuẫn giữa các thành viên gia đình.

Việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư nhằm làm chuyển biến nhận thức của người có hành vi bạo lực gia đình để họ không tiếp tục có hành vi bạo lực gia đình. Biện pháp này áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên có hành vi bạo lực gia đình đã được tổ hoà giải ở cơ sở hoà giải mà tiếp tục vi phạm. Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp này là người đứng đầu cộng đồng dân cư (trưởng thôn, làng, bản, ấp, tổ trưởng tổ dân phố) hoặc người đứng đầu đơn vị.

Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giúp đỡ, tạo điều kiện cho người đứng đầu cộng đồng dân cư tổ chức việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư đối với người có hành vi bạo lực gia đình.

2.3.2 Các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ trẻ em là nạn nhân bạo lực gia đình Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

2.3.2.1 Các biện pháp trợ giúp về vật chất và tinh thần đối với trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình.

Các biện pháp trợ giúp về vật chất và tinh thần đối với nạn nhân là trẻ em bị bạo lực gia đình bao gồm: phát hiện, báo tin về bạo lực; cấp cứu nạn nhân bị bạo lực; tư vấn; chăm sóc nạn nhân tại các cơ sở khám, chữa bệnh; hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu.

  • Phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình đối với trẻ em

Báo tin khi phát hiện có bạo lực đối với trẻ em vừa thể hiện tình cảm, vừa là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với trẻ em. Việc làm này có thể ngăn chặn hành vi bạo lực và xúc tiến các biện pháp bảo vệ, trợ giúp trẻ em bị bạo lực một cách kịp thời. Theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật phòng, chống bạo lực gia đình, người phát hiện hành vi bạo lực phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực. Ví dụ như: cơ sở khám chữa bệnh nếu phát hiện có dấu hiệu trẻ em bị xâm hại tình dục thì phải thực hiện nghĩa vụ báo tin này. Trong một số trường hợp hoặc với một số đối tượng cần phải giữ bí mật thông tin về bạo lực thì trách nhiệm này sẽ không đặt ra đối với người phát hiện bạo lực. Ví dụ: Người tư vấn về bạo lực có thể phải giữ bí mật thông tin về bạo lực cho người được tư vấn, cơ sở khám chữa bệnh cho nạn nhân bị bạo lực có thể phải giữ thông tin về bạo lực cho bệnh nhân… Song, ngay cả trong những trường hợp này, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện bạo lực vẫn phải báo ngay cho cơ quan công an nơi gần nhất giải quyết.

Cơ quan công an, uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư khi phát hiện hoặc nhận được tin báo về bạo lực gia đình có trách nhiệm kịp thời xử lý hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lí; giữ bí mật về nhân thân và trong trường hợp cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ người phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình.

  • Cấp cứu và chăm sóc nạn nhân bị bạo lực tại cơ sở khám, chữa bệnh

Nạn nhân là trẻ em bị bạo lực gia đình có thể bị tổn hại về tinh thần, sức khoẻ, thậm chí là tính mạng. Đối với những nạn nhân bị tổn hại về sức khoẻ cần được cấp cứu kịp thời và chăm sóc tại các cơ sở khám, chữa bệnh. Chi phí y tế cho việc cấp cứu và chăm sóc nạn nhân bạo lực tại các cơ sở khám, chữa bệnh được xác định tuỳ từng trường hợp. Chẳng hạn những nạn nhân có tham gia bảo hiểm y tế và trẻ em dưới 6 tuổi thì sẽ được hưởng bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế trong thời gian điều trị, những đối tượng khác có thể nhận được sự trợ giúp từ cộng đồng xã hội hoặc từ chính sách trợ giúp xã hội về y tế do Nhà nước quy định nếu đủ điều kiện. Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Việc chăm sóc nạn nhân là trẻ em bị bạo lực tại các cơ sở khám, chữa bệnh không chỉ về thể chất mà còn giúp các em phục hồi về tinh thần. Vì vậy, ngoài việc chữa trị cho nạn nhân như những bệnh nhân thông thường, cơ sở này còn phải đóng vai trò là người tư vấn, góp phần xoa duỵ nỗi đau tinh thần của trẻ em bị bạo lực.

Trường hợp phải giữ bí mật thông tin về nạn nhân và về bạo lực, cơ sở khám chữa bệnh phải thực hiện yêu cầu này. Tuy nhiên, nếu phát hiện dấu hiệu tội phạm, cơ sở khám chữa bệnh cần phải báo ngay cho cơ quan công an nơi gần nhất giải quyết. Ví dụ: cơ sở khám chữa bệnh phát hiện có dấu hiệu trẻ em bị hành hạ, bị đánh đập gây tổn hại sức khoẻ nghiêm trọng đến mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự thì nhất thiết phải báo ngay cơ cơ quan công an nơi gần nhất giải quyết. Việc làm này không bị coi là vi phạm nghĩa vụ giữ bí mật thông tin về bạo lực gia đình, bởi nếu có dấu hiệu tội phạm thì hành vi bạo lực không chỉ xâm phạm đến thể chất, tinh thần của nạn nhân mà còn là hành vi nguy hiểm, xâm hại đến lợi ích chung của xã hội cần phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời.

  • Tư vấn cho nạn nhân là trẻ em bị bạo lực

Tư vấn là biện pháp vừa có tác dụng trong việc phòng tránh bạo lực, vừa có tác dụng trong việc bảo vệ, giúp đỡ nạn nhân là trẻ em bị bạo lực. Biện pháp này có thể giúp các em vượt qua cơn khủng hoảng tinh thần; chỉ dẫn cho các em áp dụng các biện pháp bảo vệ và trợ giúp tiếp theo, như: khám, chữa bệnh, tạm lánh, yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ…; và hướng dẫn cho các em các biện pháp phòng, tránh tái bạo lực. Bên cạnh việc tư vấn cho trẻ em là nạn nhân của bạo lực để các em hiểu rõ quyền của mình, thì biện pháp này đồng thời cũng cần chú trọng áp dụng đối với cha mẹ, người giám hộ của trẻ và thành viên khác trong gia đình để họ cũng ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em, tăng cường kỹ năng xử lý trong trường hợp bạo lực gia đình xảy ra.

Nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau có thể đóng vai trò là người tư vấn cho nạn nhân là trẻ em bị bạo lực, tuỳ từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể mà xác định cho hợp lí, như: Cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; cơ sở khám, chữa bệnh; cơ sở bảo trợ xã hội; địa chỉ tin cậy ở cộng đồng; các cơ sở bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em…

  • Hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân là trẻ em bị bạo lực

Thường thì nạn nhân bạo lực gia đình là trẻ em đều không có điều kiện về kinh tế và nhiều em không nhận được sự chăm sóc của người thân. Vì vậy, ngoài việc tư vấn, chăm sóc sức khoẻ cho các em còn cần phải hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu để các em có thể duy trì cuộc sống tối thiểu hàng ngày và nhanh chóng thoát khỏi tình trạng khốn khó do bị bạo lực. Hình thức hỗ trợ có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật như: lương thực, thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày…hoặc kết hợp cả hai, việc hỗ trợ có thể mang tính đột xuất (một lần) hoặc thường xuyên (hàng tuần, hàng tháng) tuỳ vào nhu cầu thực tế của từng đối tượng. Trách nhiệm thực hiện việc hỗ trợ này thuộc về uỷ ban nhân dân cấp xã, uỷ ban mặt trận tổ quốc và các tổ chức xã hội cùng cấp, các cơ sở trợ giúp xã hội và cộng đồng xã hội được quy định tại Điều 25 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Nếu việc hỗ trợ được thực hiện từ nguồn kinh phí của ngân sách nhà nước hoặc các quỹ xã hội do Nhà nước quản lý thì cần phải xét điều kiện của đối tượng cần trợ giúp đồng thời phải tuân thủ các quy định về mức trợ giúp, thủ tục trợ giúp và các quy định khác có liên quan. Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

2.3.2.2 Các biện pháp nhằm ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em

  • Buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực

Đây là một trong những biện pháp ngăn chặn, bảo vệ được quy định tại Điều 19, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình với mục đích bảo vệ nạn nhân, chấm dứt hành vi bạo lực gia đình, giảm thiểu hậu quả do hành vi bạo lực gây ra. Việc chấm dứt hành vi và đưa nạn nhân đi cấp cứu là nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, trách nhiệm buộc người có hành vi chấm dứt hành vi bạo lực gia đình và cấp cứu nạn nhân được đề cập ở đây thuộc về người có mặt tại nơi xảy ra bạo lực.

Buộc chấm dứt hành vi bạo lực là hành động hướng tới người có hành vi bạo lực gia đình, yêu cầu họ phải chấm dứt ngay hành vi bạo lực để giải thoát nạn nhân khỏi tình trạng bạo lực. Đây là nguyên tắc không thể thay đổi để bảo vệ nạn nhân, bởi vì phòng, chống bạo lực gia đình trước hết phải là ngăn chặn không để cho hành vi bạo lực xảy ra. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định này không phải là dễ vì người có hành vi bạo lực rất ít khi tự nguyện chấm dứt hành vi bạo lực; còn những người có mặt tại nơi xảy ra bạo lực cũng hiếm khi có hành động cụ thể để buộc chấm dứt hành vi bạo lực, bởi vì điều này không đem lại lợi ích gì cho họ mà còn khiến họ đứng trước nguy cơ bị trả thù, bị cho là “xen vào chuyện nhà người khác”, có khi còn bị hiểu lầm là có ý đồ xấu… , chỉ khi những hành động bạo lực quá dã man, gây ra quá nhiều bức xúc thì mới có người can thiệp. Chính vì vậy, việc buộc chấm dứt hành vi bạo lực thường chỉ đạt được hiệu quả khi có sự can thiệp của cơ quan chức năng như công an, chính quyền địa phương.

Việc cấp cứu nạn nhân là việc rất cấp thiết khi mà các em đang lâm vào tình trạng sức khoẻ nguy kịch hoặc nguy hiểm đến tính mạng do hành vi bạo lực gây nên. Tuy nhiên, người thực hiện hành vi cũng rất ít khi thực hiện nghĩa vụ này; còn những người xung quanh nếu không phải có quan hệ thân thiết với nạn nhân thì không có lý do gì can thiệp vào “chuyện gia đình” hay “quyền dạy con” của người khác. Dù đó là việc làm tốt thì họ cũng có phần e dè nhất định vì lí do “ngại”, thậm chí có thể vì chính người thực hiện hành vi bạo lực ngăn chặn, khống chế.

Chính vì những định kiến, những cản trở về mặt xã hội như vậy, pháp luật đã quy định: người có mặt tại nơi xảy ra bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi bạo lực và khả năng của mình có trách nhiệm thực hiện các biện pháp buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình và cấp cứu trẻ em là nạn nhân bạo lực gia đình. Điều này không chỉ có ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm của mọi cá nhân trong xã hội tham gia phòng, chống bạo lực gia đình, đảm bảo quyền lợi cho trẻ em bị bạo lực cũng như người tham gia phòng, chống; mà còn thông qua đó nâng cao ý thức, giáo dục người dân về phòng chống bạo lực gia đình, đặc biệt là trách nhiệm bảo vệ trẻ em. Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Tuy nhiên, nếu chỉ quy định chung chung như vậy thì việc triển khai trên thực tế sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, pháp luật đã có những quy định chặt chẽ hơn về vấn đề này. Cụ thể: Điều 60 NĐ 167/2013/NĐ-CP đã quy định mức xử phạt với hành vi cố ý không ngăn chặn, báo tin và cản trở việc ngăn chặn, báo tin, xử lý hành vi bạo lực gia đình như sau:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với với một trong các hành vi sau:

  1. Biết hành vi bạo lực gia đình, có điều kiện ngăn chặn mà không ngăn chặn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng;
  2. Biết hành vi bạo lực gia đình mà không báo tin cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền;
  3. Cản trở người khác phát hiện, khai báo hành vi bạo lực gia đình.

Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi cản trở việc xử lý hành vi bạo lực gia đình. [10]

Ngược lại, những người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình sẽ được hưởng các chế độ quy định tại Điều 5 NĐ 08/CP như sau:

  1. Người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình mà có thành tích thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng;
  2. Người có hành vi dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân khi trực tiếp thực hiện việc ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình, nếu bị chết thì được xem xét để công nhận là liệt sĩ, nếu bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thì được xem xét để được hưởng chính sách như thương binh theo quy định của pháp luật;
  3. Người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình mà bị thiệt hại về tài sản thì được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra bạo lực gia đình hoàn trả thiệt hại trong trường hợp người gây thiệt hại không có khả năng bồi thường thiệt hại; kinh phí hoàn trả được lấy từ ngân sách của Ủy ban nhân thường tỉnh dành cho thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương.[8]

Như vậy, những quy định này đã đưa ra những hình thức khen thưởng, kỷ luật phù hợp, có tác dụng động viên, khuyến khích, nâng cao trách nhiệm của mỗi công dân trong phòng, chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, mức xử phạt với hành vi cố ý không ngăn chặn, báo tin và cản trở việc ngăn chặn, báo tin, xử lý hành vi bạo lực gia đình còn thấp, chưa có tính răn đe, giáo dục, nhất là với những trường hợp tái phạm nhiều lần. Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

  • Cấm người có hành vi bạo lực tiếp xúc với nạn nhân

Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình là việc không cho phép người có hành vi bạo lực gia đình thực hiện các hành vi sau đây: Đến gần nạn nhân trong khoảng cách dưới 30m, trừ trường hợp giữa người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân có sự ngăn cách như tường, hàng rào hoặc các vật ngăn cách khác, bảo đảm đủ an toàn cho nạn nhân; Sử dụng điện thoại, fax, thư điện tử hoặc các phương tiện thông tin khác để thực hiện hành vi bạo lực với nạn nhân [8].

Thẩm quyền áp dụng biện pháp này thuộc về Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình và Toà án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người có hành vi bạo lực gia đình. Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký và được gửi cho người có hành vi bạo lực gia đình, nạn nhân bạo lực gia đình, người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia đình. Riêng quyết định của Toà án còn phải gửi cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực. Thời hạn cấm tiếp xúc theo Quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã không quá 3 ngày và theo Quyết định của Toà án nhân dân không quá 4 tháng.

Điều kiện để áp dụng biện pháp này bao gồm:

  1. Có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình. Tuy nhiên, điều kiện này sẽ khó áp dụng trong trường hợp chính cha, mẹ hay người giám hộ của trẻ em lại là người thực hiện hành vi bạo lực với trẻ. Như vậy, trong trường hợp cha, mẹ, người giám hộ lại là những đối tượng gây bạo lực với trẻ thì quyền yêu cầu sẽ thuộc về người phát hiện ra hành vi bạo lực. Những cá nhân phát hiện hành vi bạo lực đối với trẻ em có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp giúp đỡ, áp dụng những biện pháp ngăn chặn hành vi bạo lực. Từ đó cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể tiến hành thủ tục làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong trường hợp cần thiết.
  2. Hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khoẻ hoặc đe doạ tính mạng của trẻ em là nạn nhân bạo lực gia đình; Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.
  3. Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc (Nơi ở này bao gồm nhà của người thân, bạn bè, địa chỉ tin cậy hoặc nơi ở khác mà trẻ em bị bạo lực gia đình tự nguyện chuyển đến ở)

Người có hành vi bạo lực gia đình chỉ được tiếp xúc với trẻ em là nạn nhân bạo lực gia đình sau khi báo cáo với người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của trẻ trong một số trường hợp sau: Gia đình có việc tang lễ, cưới hỏi; Gia đình có người bị tai nạn, bị bệnh nặng;

Khi nhận được quyết định cấm tiếp xúc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc của Toà án có thẩm quyền thì người đứng đầu cộng đồng dân cư phối hợp với tổ chức có liên quan ở cơ sở để phân công người giám sát việc thực hiện quyết định cấm tiếp xúc.

Người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính trong các trường hợp: Có đơn đề nghị của nạn nhân bạo lực gia đình; Người vi phạm quyết định cấm tiếp xúc đã bị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhắc nhở nhưng vẫn cố tình vi phạm.

Biện pháp cấm tiếp xúc được huỷ bỏ trong các trường hợp sau đây: Có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình; Biện pháp này không còn cần thiết; Phát hiện những thông tin sai lệch làm căn cứ ra quyết định. Quyết định huỷ bỏ biện pháp cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký.

Việc quy định về việc cấm tiếp xúc trong một thời gian giữa nạn nhân và người có hành vi bạo lực có thể coi là quy định mang tính đột phá để đảm bảo sự an toàn cho nạn nhân, nhất là trong trường hợp người có hành vi bạo lực có thái độ ngoan cố, hung bạo, cố tình tiếp tục hành vi, gây ra nhiều hoang mang, bức xúc cho nạn nhân và cả xã hội. Hơn nữa, đây là cơ hội để hai bên có thời gian cân nhắc, xem xét lại hành động của mình và cũng là để giáo dục người có hành vi bạo lực về tội lỗi của họ. Hiện nay, pháp luật quy định về vấn đề này cũng khá đầy đủ và rõ ràng, mang đến nhiều sự thuận lợi cho người áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật về vấn đề này chưa thực sự hợp lý như: quy định về việc nạn nhân phải tìm được nơi ở khác là điều kiện để thực hiện việc cấm tiếp xúc; không có cơ chế hỗ trợ nạn nhân trong thời gian cấm tiếp xúc; việc cấm tiếp xúc trường hợp phải có yêu cầu hoặc chấp nhận của nạn nhân hoặc người giám hộ; trường hợp trẻ em là nạn nhân của bạo lực do chính cha, mẹ các em gây ra thì sẽ áp dụng ra sao; trường hợp các em “được” cách ly khỏi người gây bạo lực là cha, mẹ mình thì vô hình chung lại xâm phạm đến quyền được chăm sóc trong gia đình của trẻ. Đây là những vấn đề phát sinh trong thực tiễn cần được giải quyết để đảm bảo các quyền của trẻ em.

2.3.2.3 Các biện pháp khác Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Ngoài các biện pháp trên, việc bảo vệ và trợ giúp nạn nhân là trẻ em bị bạo lực gia đình còn có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác tuỳ từng trường hợp và hoàn cảnh cụ thể, ví dụ như: Bố trí cho nạn nhân bạo lực tạm lánh trong một thời gian cần thiết, buộc người có hành vi bạo lực bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần cho nạn nhân bị bạo lực…Việc tổ chức cho trẻ em bị bạo lực tạm lánh giúp các em tách khỏi người có hành vi bạo lực, giảm bớt hậu quả do bạo lực gây ra đồng thời tạo cơ hội cho trẻ em nhận được sự trợ giúp và chia sẻ của cộng đồng, giúp chính bản thân các em bình tĩnh để có thể tìm ra cách ứng xử hợp lý nhằm thoát khỏi tình trạng bạo lực trong hiện tại và tương lai. Đồng thời cũng là biện pháp giáo dục, giúp người gây ra bạo lực điều chỉnh những hành vi ứng xử của mình theo hướng tích cực hơn.

Nhà nước và xã hội luôn khuyến khích những cá nhân, hộ gia đình, tổ chức, cơ quan nhận chăm sóc nạn nhân bạo lực, đặc biệt là nạn nhân là trẻ em.

2.4. Các biện pháp xử lí người có hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em

Theo quy định tại Điều 42 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Đối với cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính thì bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục.

Như vậy, người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình có thể bị xử lý bằng các biện pháp khác nhau, bao gồm:

2.4.1 Xử lý kỉ luật

Hình thức xử lý kỷ luật được áp dụng với những người là cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính. Các hình thức kỷ luật đối với cán bộ bao gồm: khiển trách; cảnh cáo; cách chức; bãi nhiệm. Các hình thức kỷ luật đối với công chức bao gồm: khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; giáng chức; cách chức; buộc thôi việc. Các hình thức kỷ luật đối với viên chức bao gồm: khiển trách; cảnh cáo; cách chức; buộc thôi việc. Việc áp dụng các hình thức kỷ luật với cán bộ, công chức, viên chức tuân thủ theo những quy định của pháp luật. Các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền có thể căn cứ vào Điều 42 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và Điều 78, Điều 79 Luật Cán bộ công chức năm 2008, Điều 52 Luật Viên chức năm 2010 để đưa ra hình thức kỷ luật hợp lý.

Cán bộ, công chức, viên chức không chỉ chiếm số lượng lớn mà còn là đối tượng có khả năng gây ảnh hưởng tới đời sống xã hội. Việc pháp luật quy định về việc kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức có hành vi bạo lực gia đình là cơ sở để thực thi công tác phòng, chống bạo lực gia đình một cách có hiệu quả. Quá trình triển khai công tác kế hoạch hoá gia đình là một minh chứng rõ ràng cho thấy: trong lĩnh vực liên quan đến gia đình, chế tài xử lý kỷ luật có tác động rất tích cực tới ý thức của cán bộ, công chức, và từ đó có sức lan toả ra toàn xã hội.

2.4.2 Xử lý hành chính Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình là hành vi bạo lực gia đình và các hành vi khác do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.

Các hành vi vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình không quy định tại NĐ 08/2009/NĐ-CP và NĐ 167/2013/NĐ-CP thì áp dụng theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan; hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em thì thực hiện xử phạt theo quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định tại NĐ 91/2011/NĐ-CP.

Theo NĐ 167/2013/NĐ-CP, chủ thể có hành vi bạo lực gia đình có thể bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền với mức phạt tối đa đối với cá nhân là 30.000.000 đồng, đối với tổ chức là 60.000.000 đồng (Điều 4). Ngoài ra, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung: tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, Chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Ngoài các hình thức xử phạt trên, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra; buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu.

Bên cạnh đó, người có hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục khi mức độ bạo lực chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Biện pháp này được quy định tại Điều 93, Điều 94 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Điều 43 của Luật phòng chống bạo lực gia đình. Theo Điều 43 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, người thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình đã được góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư mà trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày áp dụng biện pháp này vẫn có hành vi bạo lực gia đình nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Người có hành vi bạo lực gia đình đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà tiếp tục thực hiện hành vi bạo lực gia đình nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; đối với người dưới 18 tuổi thì có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Như vậy, theo quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính thì những đối tượng vi phạm chưa đủ 18 tuổi mới có thể bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng. Do đó, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài người thực hiện hành vi bạo lực với trẻ em là người đã trưởng thành, nên có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình chủ yếu nhằm giáo dục người vi phạm nhận thức được sai phạm, tự nguyện sửa chữa, thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và để răn đe, phòng ngừa chung. Thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định tai NĐ 167/2013/NĐ-CP thuộc về Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Thanh tra Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Tuy nhiên, mức độ xử phạt hành chính có tính răn đe chưa cao, nhiều người có hành vi bạo lực gia đình nộp phạt xong vẫn tiếp tục tái diễn tình trạng bạo hành. Cụ thể, Điều 49 NĐ 167/2013/NĐ-CP quy định mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình; từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời. Hay Điều 51 quy định phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình. Nhiều hành vi bạo lực gia đình gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và tâm lý của trẻ em như hành vi ép buộc trẻ em lao động quá sức, làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; ép buộc trẻ em đi ăn xin hoặc lang thang kiếm sống nhưng mức phạt tiền chỉ từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

Tóm lại, những biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình vẫn chưa phát huy được đầy đủ vai trò trong việc ngăn chặn, phòng ngừa, tránh tái diễn hành vi bạo lực do chế tài chưa đủ sức răn đe.

2.4.3 Xử lý theo pháp luật dân sự

Khoản 4 Điều 4 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình là “Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật”. Khoản 1 Điều 42 của Luật này cũng ghi nhận: “Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình… nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”. Những quy định này là hoàn toàn phù hợp với quy định của Điều 604, Bộ luật Dân sự: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”

Các nguyên tắc bồi thường, xác định thiệt hại… được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, người gây ra thiệt hại phải bồi thường và người được bồi thường lại là những thành viên trong cùng một gia đình với những mối liên hệ chặt chẽ về tình cảm cũng như về kinh tế, nên vấn đề bồi thường trở nên rất nhạy cảm và tế nhị, thực tế khó thực hiện được.

Chẳng hạn như trong quan hệ bồi thường phát sinh giữa cha mẹ đối với con: khi cha mẹ có hành vi bạo lực với con, dù họ chỉ là thực hiện việc giáo dục con mà gây ra những tổn thất về thể chất, tinh thần cho trẻ thì cha mẹ cũng phải bồi thường. Nhưng đứa trẻ sống dưới sự chăm lo, nuôi dưỡng của cha mẹ thì việc cha mẹ bồi thường cho con thực hiện như thế nào? Với những người con chưa thành niên, chưa có khả năng quản lý tài sản thì tài sản của con do cha mẹ quản lý và được phép chi tiêu vào những hoạt động vì lợi ích của con. Điều này rất dễ dẫn tới những sự không rõ ràng khi mà cha mẹ vẫn là người nuôi dưỡng con, họ hoàn toàn có thể dùng tiền phạt của mình để thực hiện nuôi dưỡng và kết quả là họ hầu như không bị ảnh hưởng gì.

Theo quy định tại Điều 41 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, cha mẹ có hành vi bạo lực gia đình đối với con có thể bị hạn chế quyền làm cha, mẹ: Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi truỵ, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì tuỳ từng trường hợp cụ thể Toà án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 42 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Toà án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này. [27]

Với quy định này, khi người cha, mẹ có hành vi bạo lực gia đình với con thì có thể bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con. Việc áp dụng chế tài này có thể đảm bảo quyền lợi của đứa trẻ: hạn chế ảnh hưởng của người đã có hành vi bạo lực với chúng, ngăn chặn những hành vi tương tự xảy ra, bảo đảm sự an toàn, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của chúng. Tuy nhiên, việc tách đứa trẻ ra khỏi bố mẹ có thể làm phát sinh những hậu quả nhất định do đó cần được xem xét và cân nhắc cẩn thận. Do pháp luật chưa có quy định cụ thể về “hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi truỵ, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội” người áp dụng pháp luật cần xem xét từng trường hợp cụ thể, hành vi bạo lực đã rơi vào quy định này hay chưa để đưa ra quyết định đúng đắn.

2.4.4 Xử lý theo pháp luật hình sự

Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) của nước ta không có điều khoản nào trực tiếp quy định về tội danh bạo lực gia đình đối với trẻ em nhưng có nhiều điều khoản liên quan đến việc trừng trị người có hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em. Như vậy, dưới góc độ điều chỉnh của luật hình sự, các hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em có thể gồm các nhóm sau:

Hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ đối với trẻ em phạm các tội: giết người (Điều 93), bức tử (Điều 100), giết con mới đẻ (Điều 94), cố ý gây thương tích (Điều 104), vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em (Điều 228);

Hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của trẻ em phạm các tội: hiếp dâm trẻ em (Điều 112), cưỡng dâm trẻ em (Điều 114), dâm ô với trẻ em (Điều 116), giao cấu với trẻ em (Điều 115), làm nhục người khác (Điều 121), mua dâm người chưa thành niên (Điều 256);

Hành vi xâm phạm quan hệ hôn nhân, gia đình phạm các tội: ngược đãi nghiêm trọng cha, mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151), tổ chức tảo hôn (Điều 148), loạn luân (Điều 150), từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152), mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 228);

Các hình phạt trong bộ luật hình sự nêu ra liên quan đến hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em chủ yếu là phạt tù và nghiêm khắc nhất là tử hình. Biện pháp xử lý hình sự đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giải quyết bạo lực gia đình, bảo đảm hành vi bạo lực gia đình được xử lý như những hành vi vi phạm pháp luật hình sự khác. Đây là hình thức xử lý nghiêm khắc nhất nhằm răn đe, trừng phạt kẻ phạm tội. Mục đích bảo vệ trẻ em bị bạo lực gia đình thông qua biện pháp này thể hiện ở chỗ trả lại sự công bằng cần thiết cho trẻ em và xã hội, cách li nạn nhân là trẻ em với người có hành vi bạo lực, ngăn ngừa hành vi bạo lực trong tương lai bằng cách buộc người gây bạo lực phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của họ cũng như truyền tải đến cộng đồng, xã hội thông điệp: hành vi bạo lực gia đình là không thể tha thứ và nguyên nhân của bạo lực gia đình không phải do lỗi của nạn nhân. Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật phòng chống bạo lực gia đình

One thought on “Luận văn: Thực trạng Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình

  1. Pingback: Luận văn: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464