Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH

Bảo vệ quyền phụ nữ nói chung, quyền của phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ nói riêng là một trong những mục tiêu lớn mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Trong bối cảnh xã hội hiện nay, vấn đền bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình ngày càng được quan tâm, được quy định cụ thể trong pháp luật và hiện thực hóa trong đời sống. Thực tiễn bảo vệ quyền của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ Hôn nhân và gia đình hiện nay phản ánh thực tiễn áp dụng các quy định về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong hệ Hôn nhân và gia đình và được thể hiện ở những nội dung sau đây.

3.1.1. Đánh giá chung

Sau gần một năm thi hành, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã đạt được những kết quả chủ yếu sau đây về vấn đề bảo vệ quyền lợi của phụ nữ:

Một là, góp phần quan trọng vào việc cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quy định của Hiến pháp, các luật có liên quan về vấn đề bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, chống phân biệt đối xử và loại bỏ những hủ tục lạc hậu trong Hôn nhân và gia đình; đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam.

Hai là, trên cơ sở các quy định về nguyên tắc cơ bản của chế độ Hôn nhân và gia đình; kết hôn; quan hệ giữa vợ và chồng; ly hôn; quan hệ cha, mẹ, con, các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; giám hộ; quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài; trách nhiệm của công dân, nhà nước và xã hội đối với gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã tạo cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ và hợp lý về giới, bình đẳng giới, đặc biệt là quyền của phụ nữ, trẻ em trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình;

Ba là, thông qua việc ghi nhận những chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã góp phần tăng cường và phát huy ý thức trách nhiệm của họ trong việc tôn trọng, thực hiện các quyền của phụ nữ; quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; kế thừa, phát huy các truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của gia đình và dân tộc. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Bốn là, nhiều quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã tương thích với cam kết quốc tế của Việt Nam về quyền con người nói chung, quyền của người phụ nữ nói riêng, đặc biệt trong việc chống phân biệt đối xử với phụ nữ và quyền trẻ em.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì vấn đề bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn có những bất cập hạn chế, trong đó:

Thứ nhất, một số quy định liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ còn mang tính hình thức, không thực chất và không khả thi, như:

Trong thực tiễn Hôn nhân và gia đình, vì lý do khách quan hoặc chủ quan mà trong nhiều gia đình, người vợ trở thành yếu thế, họ không có quyền tham gia quyết định hoặc bị thụ động trong việc tham gia các quan hệ gia đình, nhất là quan hệ tài sản. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trở nên có tính hình thức đối với các trường hợp này.

Theo kết quả điều tra gia đình Việt Nam tháng 6 năm 2015 của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch cho thấy, quyền quyết định công việc gia đình giữa vợ và chồng tùy thuộc vào loại công việc. Tính đa dạng của việc quyết định trong gia đình phản ánh tính đa dạng của người chủ gia đình. Người vợ thường quyết định những công việc nhỏ hàng ngày liên quan đến tài sản có giá trị nhỏ. Người chồng thường quyết định những công việc lớn có liên quan đến những tài sản có giá trị lớn; ở khu vực thành thị, vai trò quyết định trong gia đình của người phụ nữ có nhiều tiến bộ hơn so với khu vực nông thôn, miền núi;

Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng phải đứng tên hai vợ chồng” [42]. Quy định này về hình thức đã bảo đảm quyền lợi của người phụ nữ về quyền sở hữu. Tuy nhiên, do chưa thực sự phù hợp với thực tiễn đăng ký sở hữu ở Việt Nam nên nó có tính khả thi không cao, nhiều trường hợp giấy tờ sở hữu về nhà, quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng vẫn ghi tên một người (thường là nam giới trong gia đình), những tài sản gần như không thực hiện được, dẫn tới còn nhiều khó khăn trong việc công nhận và bảo vệ quyền của người phụ nữ khi không được đứng tên trong giấy tờ chứng nhận sở hữu, giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng.

Theo báo cáo tổng kết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thì tỷ lệ người đàn ông/ người chồng đứng tên các giấy tờ sở hữu tài sản lớn của gia đình cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ phụ nữ/người vợ. Điều này bắt nguồn từ bản chất của chế độ hôn nhân phụ hệ trong xã hội Việt Nam truyền thống (ngoại trừ một số dân tộc theo chế độ mẫu hệ). Việc nắm giữ tài sản lớn trong gia đình giải thích phần nào lý do người chồng có tiếng nói và quyền quyết định cao hơn người vợ trong những công việc quan trọng của gia đình.

  • Bảng 3.1: Người đứng tên giấy tờ sở hữu/ quyền sử dụng một số tài sản phân theo thành thị – nông thôn

Thứ hai, một số quan hệ liên quan đến Hôn nhân và gia đình có nhạy cảm về giới chưa được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể, như: Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Việc giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn chưa được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể nên vấn đề giới gần như chưa được xem xét đến trong các quan hệ này, đặc biệt là đối với người phụ nữ và con.

Theo kết quả điều tra gia đình tháng 6/2015 của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch có tới 20% người dân vẫn chưa quan tâm đến vấn đề đăng ký kết hôn, chủ yếu là những người vùng dân tộc ít người, nông thôn, nghèo, học vấn thấp, lứa tuổi trên 50. Trong đó đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tỷ lệ chưa đăng ký kết hôn chiếm khoảng 40%, vùng Tây Bắc 30%, trong đó có tới 46,4% trong nhóm 18-60 tuổi đang có vợ chồng chưa đăng ký kết hôn nêu lý do “không biết phải đăng ký kết hôn”; 13,6% đăng ký sau ngày cưới. Điều đó cho thấy việc chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn đã và đang tồn tại tương đối phổ biến trong xã hội.

  • Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ chưa ĐKKH theo dân tộc của các cặp vợ chồng từ 18-60 tuổi (%)

Thứ ba, một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn chưa đảm bảo tính hệ thống, chưa có sự đồng bộ thống nhất với các văn bản luật có liên quan: Ví dụ: Quy định về độ tuổi kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, tài sản và quyền sở hữu của các thành viên trong gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, thẩm quyền yêu cầu về Hôn nhân và gia đình (hủy kết hôn trái pháp luật, hạn chế quyền của cha, mẹ…) là chưa đồng bộ với các quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản luật có liên quan.

3.1.2. Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong một số vấn đề cụ thể Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

  • Về tuổi kết hôn

Quy định về tuổi kết hôn hiện hành về cơ bản đã đóng góp tích cực trong việc góp phần trong xây dựng chế độ hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc và bền vững; bảo đảm cho cá nhân có được sự phát triển cần thiết về thể chất, trí tuệ, kinh nghiệm xã hội, từ đó tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ trong HN-GĐ. Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, quy định về tuổi kết hôn đã phát sinh một số bất cập, hạn chế sau:

Về năng lực chủ thể, quy định về tuổi kết hôn chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với quy định về người đã thành niên trong Bộ luật dân sự. Theo Điều 19 Bộ luật dân sự 2005, người đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được tham gia tất cả các quan hệ dân sự. Trong khi đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 lại quy định nam từ 20 tuổi trở lên mới có quyền kết hôn đã hạn chế nhiều quyền dân sự đối với họ. Nhiều trường hợp nam công dân kết hôn ở độ tuổi 18 – 20 bị coi là trái luật, trong khi về mặt pháp lý họ là người đã thành niên. Đối với nữ, việc kết hôn của nữ bước sang tuổi 18 được coi là hợp pháp, nhưng pháp luật chưa có quy định cụ thể về quyền của họ trong tham gia các giao dịch, trong khi theo pháp luật hiện hành, nhiều giao dịch (về bất động sản, tín dụng…) đòi hỏi chủ thể của giao dịch phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên;

Về năng lực tham gia tố tụng, khoản 3 Điều 57 Bộ luật tố tụng dân sự quy định một cá nhân chỉ có thể tự mình tham gia quan hệ tố tụng khi đã đủ 18 tuổi trở lên. Trong khi đó, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, nữ bước sang tuổi 18 mà kết hôn được coi là hợp pháp và họ được quyền tự do ly hôn. Tuy nhiên, quyền tự do ly hôn của họ không thể thực hiện được nếu sau khi kết hôn và đến thời điểm có yêu cầu ly hôn họ chưa đủ 18 tuổi;

Về sự phù hợp với pháp luật chuyên ngành: Trong khi Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định độ tuổi kết hôn của nam là từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên thì trong thực tiễn, khi thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các văn bản liên quan, đặc biệt là Nghị định số 110/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, việc xác định hành vi vi phạm bạo lực gia đình, đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vợ là khó khăn vì nếu vi phạm ngay sau khi kết hôn thì người vi phạm chưa đủ 18 tuổi (chưa thành niên). Quy định về tuổi kết hôn cũng chưa đồng bộ với các điều ước quốc tế về giới và bình đẳng giới, ví dụ công ước CEDAW về tuổi trẻ em và bình đẳng nam, nữ trong kết hôn; Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Ngoài ra, thực tiễn thi hành quy định về tuổi kết hôn còn rất nhiều bất cập giữa quy định của pháp luật và tập quán về tuổi kết hôn. Ở một số địa phương, cộng đồng, người dân vẫn kết hôn theo độ tuổi trong tập quán dẫn tới tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại ở các nhóm cộng đồng này. Báo cáo tổng kết của một số địa phương cho thấy, tỷ lệ kết hôn trước tuổi luật định ở vùng cao, nơi đồng bào dân tộc ít người sinh sống còn khá cao. Khi được tuyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bà con hiểu quy định của pháp luật về tuổi kết hôn, nhưng do phong tục, tập quán đã đi vào cuộc sống của người dân từ rất lâu đời, các gia đình thường dựng vợ gả chồng cho con từ rất sớm (15 – 16 tuổi thậm chí từ 14 tuổi). Vì chưa đủ tuổi theo luật định, nên việc kết hôn không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng hai bên gia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong tục; họ hàng hai bên, cộng đồng dân cư của cả bản vẫn mặc nhiên công nhận đó là một cặp vợ chồng. Trong cuộc sống, nhiều cặp vợ chồng này đã duy trì cuộc sống chung ổn định, góp phần tích cực vào đời sống cộng đồng. Đây là vấn đề thực tiễn còn đang gặp rất nhiều khó khăn về phương hướng giải quyết, có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này như: (1) pháp luật cần giảm độ tuổi kết hôn để tương thích với tập quán kết hôn trong thực tiễn; (2) pháp luật không giảm độ tuổi kết hôn nhưng cần tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục pháp luật cùng các biện pháp kinh tế xã hội đồng bộ khác; (3) pháp luật không giảm độ tuổi kết hôn nhưng có chính sách quy định độ tuổi kết hôn đặc thù cho những địa phương, cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn và chịu ảnh hưởng nặng nề của phong tục, tập quán.

  • Về vai trò, quyền, trách nhiệm của vợ chồng trong gia đình

Vấn đề chủ gia đình (chủ hộ): thực tế Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không có quy định về chủ hộ chỉ quy định về nguyên tắc “vợ, chồng bình đẳng với nhau về mọi mặt trong gia đình” và “ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chồng”. Tuy nhiên, Luật chưa quy định cụ thể có tính nguyên tắc trong việc hai vợ chồng hoặc một bên vợ, chồng tham gia giao dịch với người thứ 1.

Sự không rõ ràng về mặt pháp lý dẫn đến thực tế việc xác định vai trò của vợ chồng trong thực hiện các giao dịch thường chịu ảnh hưởng của tập quán, tâm lý truyền thống trong gia đình, trong đó, người đàn ông đa phần được xác định là trụ cột trong gia đình, trở thành chủ hộ trên thực tế, kể cả trường hợp sổ hộ khẩu đã ghi rõ vợ là chủ hộ. Thực tế này đã kéo theo rất nhiều hệ lụy mà có thể gây bất lợi cho hai bên nhưng thường là người phụ nữ.

Bất cập trên một phần xuất phát từ quy định của Luật Hôn nhân và gia đình chưa có sự hài hòa, thống nhất và phù hợp với các quy định pháp luật khác về hộ tịch, tín dụng, giao dịch dân sự… Đồng thời, do Luật cũng chưa cụ thể hóa bình đẳng giữa vợ và chồng trong thực hiện các quyền, nghĩa vụ thuộc các quan hệ khác ngoài quan hệ Hôn nhân và gia đình.

Vấn đề thực hiện các chức năng của gia đình: pháp luật về Hôn nhân và gia đình hiện hành không đề cập đến vấn đề này, chỉ có các quy định về nhân thân và tài sản của vợ chồng thể hiện dưới dạng quyền và trách nhiệm. Các quy định này tuy nhiều nhưng lại không rõ ràng nên khi áp dụng vào thực tế do bị chi phối, tác động bởi tư tưởng định kiến về vai trò, vị trí, trách nhiệm của phụ nữ và nam giới đã tồn tại nhiều cách đánh giá, suy luận khác nhau về cùng một sự việc, hiện tượng xảy ra đã làm mất đi ý nghĩa nhân văn thực sự của các quy định này, không bảo đảm nguyên tắc “vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình”. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Cũng do định kiến, trong các gia đình, phụ nữ thường gắn liền với trách nhiệm không thành văn liên quan đến chức năng sinh sản, nuôi dưỡng, giáo dục và tâm lý tình cảm còn nam giới lại thường gắn với trách nhiệm là người thực hiện chức năng kinh tế của gia đình. Trên cơ sở trách nhiệm này, đã có không ít những đánh giá thiên lệch của một bộ phận xã hội về khả năng thực tế của phụ nữ và nam giới trong gia đình cũng như về khả năng thực hiện các vai trò khác của họ trong xã hội. Gánh nặng công việc, gánh nặng gia đình đã và đang ảnh hưởng tới sức khỏe và sinh hoạt văn hóa của phụ nữ, hạn chế cơ hội của họ tham gia học tập nâng cao trình độ và công tác xã hội. Đây cũng là một trong những lý do hạn chế phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý và trẻ em gái các gia đình khó khăn đi học. Đồng thời cũng tạo ra áp lực cho một bộ phận nam giới khi họ không thể thực hiện tốt trách nhiệm là người thực hiện chức năng kinh tế gia đình. Thực tế này đã tạo áp lực cho cả vợ và chồng dẫn đến nhiều hệ lụy mà hậu quả nặng nề cả hai phải gánh chịu, nhưng tổn thương tinh thần nhiều nhất vẫn thường là phụ nữ.

Bằng quy định trong pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành, lao động gia đình của phụ nữ được coi như lao động có thu nhập. Tuy nhiên, quy định này mới chỉ bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng khi ly hôn, chưa được thể hiện rõ ràng trong các chế định khác, nhất là khi hôn nhân còn đang tồn tại. Điều này cho thấy, do lao động gia đình chưa chính thức được công nhận mang tính bao trùm trong các chế định khác mà chỉ tập trung khi ly hôn đã làm cho sự nhìn nhận về vai trò kinh tế của phụ nữ trong gia đình bị mờ nhạt, mặc dù họ có đóng góp rất lớn và khá quan trọng trọng việc làm ra kinh tế gia đình. Việc pháp luật quy định không rõ ràng cùng với ảnh hưởng của tâm lý, tập quán truyền thống đã dẫn tới thái độ tự ti của một bộ phận không nhỏ phụ nữ. Từ đó, làm cho bộ phận phụ nữ này quan niệm rằng phụ nữ sinh ra đã gắn với thiên chức nội trợ gia đình và chăm sóc con cái và cũng là nguyên cớ để củng cố thêm sự khắt khe của dư luận xã hội đối với người phụ nữ, biểu hiện rõ hơn cách nhìn nhận và suy nghĩ của cộng đồng về vai trò của vợ – chồng trong gia đình là “nam hướng ngoại”, “nữ hướng nội”.

Vấn đề quyền riêng tư của vợ chồng: pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành mới quy định về việc tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của vợ, chồng. Tuy nhiên, để bảo đảm quy định tiến bộ này có tính khả thi thì ngoài Luật Hôn nhân và gia đình cũng cần phải có những giải pháp về pháp lý, chính sách xã hội, giáo dục phù hợp để tạo điều kiện cho vợ, chồng duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội khác ngoài quan hệ gia đình với bạn bè, đồng nghiệp, đối tác làm ăn và những người khác trong xã hội. Thực tế có không ít một bên vợ, chồng (đặc biệt là người chồng), do ích kỷ cá nhân hoặc có thái độ phân biệt đối xử mà đã có những hành vi hạn chế hoặc ngăn cấm vợ hoặc chồng mình tham gia hoặc giảm bớt các hoạt động, giao lưu xã hội. Bất cập này đã làm cho không ít một bên vợ, chồng bị bạn đời cô lập trong môi trường hẹp, ít giao tiếp xã hội và khó duy trì tình cảm với người thân thích, ruột thịt của mình mà thực tế đã chứng minh phần đông phụ nữ đã và đang là nạn nhân. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Vấn đề điều kiện sống của gia đình: pháp luật về Hôn nhân và gia đình hiện hành đã quan tâm đến một trong những tranh luận nhiều nhất trong quan hệ vợ chồng là tài sản chung và riêng bằng những quy định mang tính nguyên tắc xác định trong hai thời điểm trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân. Việc áp dụng các quy định này trên thực tế có nhiều vướng mắc do thời kỳ hôn nhân của nhiều cặp vợ chồng có độ dài trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật với những nguyên tắc xác định tài sản chung, riêng khác nhau. Do đó, làm cho việc xác định quyền, nghĩa vụ về tài sản trong hôn nhân, đặc biệt là người phụ nữ có nhiều biến động, ảnh hưởng đến cuộc sống của họ và gia đình, nhất là khi có tranh chấp.

Theo báo cáo tổng kết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, cho đến tháng 6/2015, tỷ lệ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do nam giới đứng tên là 62%, phụ nữ là 20% còn lại 18% đồng sở hữu; nhiều loại động sản có giá trị thuộc sở hữu chung như ô tô, xe máy, tàu thuyền… phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật vẫn chưa có tên cả vợ và chồng do chưa có hướng dẫn triển khai của cơ quan chức năng. Thực tế này đã hạn chế cơ hội tiếp cận các nguồn lực của phụ nữ. Kết quả điều tra lao động năm 2014 cho thấy thu nhập bình quân của lao động nữ chỉ bằng 75% nam giới. Theo điều tra mức sống hộ gia đình năm 2014, mặc dù 61% doanh nghiệp hộ gia đình phi nông nghiệp do phụ nữ điều hành, nhưng doanh thu trung bình hàng tháng chỉ bằng 30 – 50% so với doanh nghiệp do nam giới điều hành. Việc tài sản, thu nhập của phụ nữ nhìn chung thấp hơn so với nam giới đã tác động không nhỏ tới tiếng nói của họ trong gia đình và không ít người đã bị mất quyền nuôi con, nơi cư trú… thậm chí trắng tay khi gia đình ly tán. Thực tiễn này đòi hỏi cần có các biện pháp tích cực hơn nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất trong quan hệ Hôn nhân và gia đình.

Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành quy định tài sản của vợ chồng mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì phải ghi tên cả hai vợ chồng trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng trên thực tế là chưa hoàn toàn hợp lý vì pháp luật chưa phân tách giữa tài sản của hộ gia đình với tài sản chung của vợ chồng dẫn tới trong thực tiễn áp dụng, nếu xét về nguồn gốc tài sản thì quy định này còn quá hẹp, mới chỉ bảo đảm quyền bình đẳng cho hai chủ thể chính trong gia đình là vợ – chồng, chưa bảo đảm quyền bình đẳng cho các chủ thể khác trong gia đình hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của vợ chồng bị ảnh hưởng do có sự tranh chấp với các thành viên khác trong gia đình, đặc biệt là quyền sử dụng đất vì đa phần diện tích đất đai được giao quyền sử dụng trên tiêu chí là số nhân khẩu trong hộ gia đình trong đó có con. Trong quan hệ tài sản giữa các thành viên gia đình, mặc dù đất đai được giao ổn định lâu dài nhưng do không có các quy định cụ thể về quyền sử dụng của các thành viên trong gia đình khi đến tuổi trưởng thành nên khi người con gái trong gia đình lấy chồng và chuyển đi địa phương khác thì quyền lợi về đất đai của họ không được bảo đảm, đặc biệt đối với những trường hợp ly hôn phải trở về với gia đình. Để bảo đảm quyền lợi cho các thành viên nam – nữ được thực hiện các quyền đối với phần diện tích được giao cho mình theo quy định của pháp luật khi không tiếp tục sống cùng gia đình, pháp luật cần có quy định cụ thể, chi tiết hơn vấn đề này, chẳng hạn quy định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được ban hành dưới hình thức quyển sổ tương tự như sổ hộ khẩu trong đó ghi tên của mọi thành viên trong gia đình là người được hưởng thụ quyền sử dụng đất.

Khảo sát của Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp cho thấy, đa số các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về thi hành pháp luật đều đánh giá gặp rất nhiều vướng mắc trong việc thi hành pháp luật liên quan đến tài sản chung của vợ chồng và tài sản của hộ gia đình. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

  • Biểu đồ 3.2: Phân biệt tài sản chung của hộ gia đình với tài sản riêng thành viên

Tòa dân sự – Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị triển khai công tác ngành Tòa án năm 2015 đã từng nêu bất cập là thực tế có những trường hợp hộ gia đình người chồng đứng tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà cho người khác, nhưng không có ý kiến của người vợ và các con. Hợp đồng này chưa có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc hợp đồng được lập tại cơ quan địa chính nhưng sau đó các bên lại có tranh chấp dẫn tới vụ việc trở nên rất phức tạp, ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, đặc biệt là của phụ nữ và con.

Thực tế cho thấy, vấn đề tài sản chung – riêng chỉ đặt ra mang tính quyết liệt khi hôn nhân có nguy cơ tan vỡ, nó không được đa số các cặp vợ, chồng quan tâm nhiều lắm khi hôn nhân của họ tốt đẹp. Do đó, pháp luật bên cạnh quy định cụ thể, minh bạch về sở hữu trong Hôn nhân và gia đình thì cũng cần đồng bộ thực hiện các giải pháp khác nhau để phù hợp hóa và bảo đảm tính khả thi của các quy định này với điều kiện sống của gia đình.

Theo logic tự nhiên, một cặp nam, nữ kết hôn với nhau sẽ thiết lập một gia đình, để gia đình tồn tại và phát triển cần phải có những điều kiện vật chất nhất định. Điều kiện đó có thể là để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (ăn, mặc, ở, học hành, khám chữa bệnh…) hoặc đáp ứng những nhu cầu phát triển cá nhân tham gia các hoạt động xã hội và phát triển kinh tế làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội. Pháp luật phải tạo hành lang pháp lý để đáp ứng các điều kiện vật chất này của gia đình, trong đó việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình là nghĩa vụ căn bản và bắt buộc của tất cả các cặp vợ chồng. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định rõ ràng, cụ thể về vấn đề này.

Mỗi người khi xây dựng gia đình đều muốn hạnh phúc bền vững, dài lâu, nếu vì lý do nào đó khiến vợ chồng phải ly hôn thì với cách xác định điều kiện sống theo hướng này sẽ bảo đảm quyền lợi cho không chỉ vợ, chồng mà còn các con của họ trên tinh thần chia sẻ và hỗ trợ để các bên tiếp tục có cuộc sống tốt sau khi hôn nhân không còn tồn tại. Do độ dài tuổi sinh lý của phụ nữ ngắn hơn nam giới và sự thay đổi tâm sinh lý sau khi có con chỉ diễn ra đối với riêng phụ nữ nên thực tế đã chứng minh rằng, bất luận hôn nhân tồn tại ngắn hay dài, khi ly hôn bất lợi thường nghiêng về phụ nữ, nhất là những người đã có con và được tòa xử cho nuôi con. Khả năng và cơ hội tái hôn của phụ nữ sau ly hôn thấp hơn rất nhiều so với nam giới. Phụ nữ tái hôn gặp trắc trở trong cuộc sống dẫn đến nhiều hệ lụy cho bản thân và con (đặc biệt là con gái) là chủ yếu và nhiều hơn nam giới. Cũng do tuổi tác và những yếu tố môi trường xã hội tác động, cơ hội sinh con với người chồng mới của phụ nữ sau ly hôn trong nhiều trường hợp là không có… Tất cả những khía cạnh này cho thấy, nếu cuộc hôn nhân đầu tiên thất bại, người phụ nữ có thể được chia một nửa hoặc một phần tài sản từ điều kiện sống của gia đình mà điểm xuất phát của tài sản này chỉ do 1 bên gia đình chồng hỗ trợ hoặc là tài sản của 1 mình chồng làm được (lẽ ra phải coi là tài sản riêng) cũng chỉ là một phần bù đắp cho tuổi thanh xuân mà phụ nữ không bao giờ lấy lại được. Trường hợp ngược lại tài sản là của riêng gia đình hoặc bản thân người vợ thì cần có những quy định hợp lý quan tâm nhiều đến quyền lợi của con. Quy định này không phân biệt đối xử với nam giới mà hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ với tư cách là người mẹ đã được xác định trong CEDAW và các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong Luật bình đẳng giới. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Thực tế đã có một số Tòa án nhận được đơn đề nghị bồi thường tuổi xuân của phụ nữ khi ly hôn nhưng lúng túng vì không biết phải xử lý như thế nào. Nếu Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi quan tâm điều chỉnh vấn đề điều kiện sống của gia đình sẽ là cơ sở pháp lý để Tòa án bảo vệ lợi ích cho phụ nữ và trẻ em một cách tốt nhất và những quy định này cũng sẽ là cơ sở pháp lý để thay đổi nhận thức của cộng đồng trong cách ứng xử nhân văn hơn giữa con người với con người trước, trong và sau thời kỳ hôn nhân, xóa bỏ cách ứng xử “yêu nhau yêu cả đường đi, ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng” của các cặp vợ, chồng đã ly hôn mà hệ lụy thực tế lại dồn chủ yếu lên những đứa trẻ vô tội.

Khi pháp luật quy định theo hướng xác định điều kiện sống của gia đình, cũng cần có thêm các quy định chặt chẽ hơn để bảo đảm quyền lợi cho các con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Đồng thời, Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi cần nghiên cứu cụ thể hóa nguyên tắc “vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình” đã được quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật bình đẳng giới.

Vấn đề tâm, sinh lý vợ chồng: đây là khía cạnh được coi là tế nhị nên pháp luật về hôn nhân gia đình hiện hành chỉ đề cập dưới dạng quy định về tình nghĩa vợ chồng, trong đó đề cập đến sự chung thủy của vợ chồng. Thực tế đã chứng minh do đặc điểm tự nhiên, ngoài khả năng sinh sản không giống nhau, phụ nữ và nam giới có nhiều điểm tương đồng về cấu trúc, cơ địa và một số chức năng cơ thể, nhưng cũng xuất hiện rất nhiều khác biệt ngay trên điểm tương đồng bắt nguồn từ giới tính thực tế của mỗi người. Sự thủy chung, tôn trọng, chia sẻ và hợp tác giữa vợ và chồng chỉ có được khi cả hai cùng thấu hiểu, lắng nghe, chấp nhận những khác biệt không do mình tạo ra và cùng chung sức, đồng lòng để thực hiện các hoạt động phục vụ lợi ích chung của gia đình thì những bất đồng về tâm, sinh lý vợ chồng mới không xảy ra. Do đó, cần có những quy định rõ và cụ thể về vấn đề này. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Cùng với việc mang thai, sinh từ 1-2 con, lại là người chủ yếu chăm sóc con, làm các công việc trong gia đình nên sức khỏe của phụ nữ đã yếu lại càng bị suy giảm hơn khi tiếp tục là người gánh vác chính trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình, dẫn đến tình trạng một bộ phận phụ nữ bị suy dinh dưỡng trường diễn, phụ nữ mang thai thiếu máu, thiếu sắt chiếm tỉ lệ rất cao. Thực tế này đòi hỏi các quy định của pháp luật phải chặt chẽ, cụ thể để nam giới cùng chia sẻ với phụ nữ những công việc trong gia đình và trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình mới có thể cải thiện tốt tình trạng sức khỏe cho phụ nữ và thế hệ tương lai. Do đó, Luật Hôn nhân và gia đình bên cạnh cần sửa đổi theo hướng vợ chồng chia sẻ với nhau trong thực hiện các công việc gia đình thì cũng cần phải tăng cường các giải pháp tuyên truyền, giáo dục về nâng cao kỹ năng sống, trách nhiệm sống giữa vợ và chồng trong thực hiện quyền, nghĩa vụ với con và trong thực hiện chính sách sinh đẻ kế hoạch.

Vấn đề hạn chế quyền ly hôn: Theo Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “ly hôn là chấm dứt hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng” [42]. Như vậy, quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân gắn liền với người vợ, người chồng và không thể chuyển giao cho người khác. Quyền tự do ly hôn của vợ, chồng được pháp luật ghi nhận nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, pháp luật vẫn hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của chồng. Cụ thể, theo Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “trong trường hợp người vợ có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn” [42]. Như vậy, người chồng không thể và không có quyền đơn phương đệ đơn ra Tòa yêu cầu ly hôn trong trường hợp này. Về mặt pháp lý, nếu như trong trường hợp đứa trẻ được người vợ đang mang thai không phải là con của người chồng thì người chồng có được xin ly hôn hay không? Theo quy định hiện hành khi đứa trẻ đã được thành thai trong thời kỳ hôn nhân đương nhiên là con của vợ chồng. Tuy nhiên, đây chính là sự bất cập của pháp luật, vì trên thực tế, khi biết được đứa con người vợ đang mang thai không phải là con của mình, người chồng sẽ có những diễn biến tâm lý bất thường dễ dẫn đến xâm hại tính mạng, sức khỏe của người vợ và con.

Về quyền, nghĩa vụ với con khi ly hôn: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa quy định cụ thể về các trường hợp con chưa đủ 3 tuổi được giao cho cha, người giám hộ khác. Thủ tục bắt buộc khi giải quyết ly hôn là Tòa án phải hỏi ý kiến trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên về việc sống với cha hay với mẹ. Quy định này nhằm lấy ý kiến của con để Tòa án có cơ sở quyết định việc nuôi dưỡng giao cho người mẹ hay người cha theo nguyện vọng của con. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện thủ tục này gặp vướng mắc khi cha mẹ trẻ em không hợp tác. Đây là quy định hợp tình, hợp lý, nhưng cách thực hiện quy định này nên có sự thay đổi, không nên bắt buộc trẻ em đến Tòa làm bản tường trình như hiện nay mà nên lấy ý kiến thông qua người thân, thầy cô của trẻ em để tránh tâm lý nặng nề cho trẻ em. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Quy định về quyền, nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con, người không trực tiếp nuôi con cũng như quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con trong trường hợp con được giao cho người giám hộ chưa cụ thể, còn nhiều bất cập trong thi hành. Ví dụ: Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định người không trực tiếp nuôi con:

Có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó [42].

Nhưng chưa có văn bản dưới luật nào cụ thể hóa quy định trên. Các hành vi “cản trở” hoặc “gây ảnh hướng xấu” của một bên không trực tiếp nuôi con được hiểu như thế nào cho thống nhất? hay nói cách khác những loại hành vi nào được cho là “cản trở” hoặc “gây ảnh hưởng xấu” đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa được quy định cụ thể.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng chưa có quy định về việc cấm hoặc hạn chế người cha quyền thăm con trong trường hợp người này từng có hành vi bạo lực gia đình trong quá khứ (đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi bạo lực gia đình). Ví dụ, trong quá khứ người cha thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình và việc thăm nom của người này có thể sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện tâm lý và tinh thần của trẻ em (vì khi gặp lại cha mình thì những hình ảnh bạo lực gia đình có thể sẽ tái hiện lại trong trí nhớ của trẻ). Nhưng Tòa án không quyết định hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn trong trường hợp trên được vì hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, bởi quyền thăm nom con sau khi ly hôn chỉ bị Tòa án hạn chế khi “lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở và gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con”.

3.2 NGUYÊN NHÂN CỦA BẤT CẬP, HẠN CHẾ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Những bất cập, hạn chế trong công tác triển khai thi hành Luật HN&GĐ 2014 và trong quy định của Luật Hôn nhân và gia đình bắt nguồn từ các nguyên nhân cơ bản sau:

3.2.1. Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, Việt Nam đang hướng tới nền kinh tế thị trường đầy đủ, hội nhập quốc tế sâu rộng, kinh tế – xã hội có nhiều chuyển biến cơ bản, những thách thức mới ngày càng tác động tới các quan hệ Hôn nhân và gia đình, cũng như trong thực hiện bảo vệ quyền về Hôn nhân và gia đình của cá nhân. Thực tiễn đó đã làm cho nhiều quy định của hệ thống pháp luật nói chung, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nói riêng không còn phù hợp với thực tiễn, cần có sự sửa đổi, bổ sung kịp thời.

Thứ hai, các quan hệ trong Hôn nhân và gia đình mang nhiều đặc thù: các mối quan hệ đều gắn với nhân thân, mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc; nó vừa phản ánh quan hệ gia đình trong xã hội hiện đại vừa chịu ảnh ảnh hưởng lớn của phong tục tập quán, yếu tố bản sắc dân tộc; nó vừa là quan hệ tư nhưng cũng vừa chịu tác động nhiều bởi chính sách, chiến lược của Nhà nước về xây dựng và phát triển gia đình… Trong khi đó, nhiều quy định của Luật chưa bao quát được những đặc thù này dẫn tới làm phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật về Hôn nhân và gia đình.

Thứ ba, trong 12 năm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực, nhiều văn bản luật có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung hoặc được ban hành mới, như: Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật dân sự năm 2005, Luật bình đẳng giới năm 2006, Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình năm 2007, Luật quốc tịch năm 2008, Luật người cao tuổi năm 2006, Luật nuôi con nuôi năm 2010… Trong bối cảnh như vậy, nhiều quy định của Luật HN-GĐ đã không còn bảo đảm tính hệ thống, không còn phù hợp hoặc chưa có sự đồng bộ, thống nhất với các văn bản luật có liên quan, ví dụ: quy định về tuổi kết hôn của nữ theo Luật hiện hành (từ 18 tuổi) không đồng bộ với quy định về năng lực chủ thể của cá nhân trong Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự dẫn đến mặc dù pháp luật trao quyền kết hôn cho họ, nhưng pháp luật lại không quy định một cơ chế pháp lý cho công dân quyền về tài sản, giao dịch hoặc tham gia quan hệ tố tụng khi chưa đủ 18 tuổi…

Trong bối cảnh, hệ thống các văn bản pháp luật về Hôn nhân và gia đình thiếu tính ổn định, thường xuyên có nhiều thay đổi, bổ sung, nhưng việc phối hợp của các ngành có liên quan để ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật chưa kịp thời nên đã ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thứ tư, sự phát triển kinh tế thị trường, xu thế hội nhập quốc tế, sự tham gia ngày càng rộng rãi của gia đình và các thành viên gia đình trong giao lưu dân sự đã làm cho các tranh chấp về Hôn nhân và gia đình ngày càng tăng về số lượng và phức tạp về tính chất tranh chấp. Trong khi đó, hệ thống cơ quan xét xử còn rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, trụ sở làm việc và nguồn nhân lực. Đặc biệt là Việt Nam vẫn chưa có Tòa chuyên trách về Hôn nhân và gia đình, việc giải quyết các vụ việc về Hôn nhân và gia đình về cơ bản phải tuân theo thủ tục tố tụng dân sự. Do đó, hiệu quả các giải quyết các vụ việc về Hôn nhân và gia đình chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

Thứ năm, Việt Nam đã và đang không ngừng mở rộng quan hệ ra thế giới và đã đạt được nhiều thành quả trong hội nhập quốc tế. Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức quốc tế và là thành viên nhiều điều ước quốc tế liên quan đến Hôn nhân và gia đình (Công ước CEDAW, Công ước về quyền trẻ em…), đồng thời đã ký kết nhiều hiệp định tương trợ tư pháp với các nước trên thế giới, với những cam kết “phù hợp hóa” luật pháp quốc gia với các hiệp định và quy định của các tổ chức này trong lĩnh vực dân sự nói chung, Hôn nhân và gia đình nói riêng. Hội nhập quốc tế về lĩnh vực Hôn nhân và gia đình cũng đang ngày càng mở rộng và phát triển với những tác động tích cực, bên cạnh đó cũng làm phát sinh rất nhiều hệ lụy về mặt xã hội và quản lý nhà nước, cần được giải quyết về mặt chính sách và pháp luật.

3.2.2. Nguyên nhân chủ quan Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Thứ nhất, công tác quản lý nhà nước về gia đình còn nhiều biến động (trước tháng 8/2007, công tác này được giao cho Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện và hiện nay, nhiệm vụ này được Chính phủ giao cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), ngoài ra nội dung về công tác gia đình thuộc thẩm quyền của nhiều Bộ, ngành khác nhau. Do đó, việc triển khai công tác gia đình và triển khai thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn chưa thực sự bài bản, hệ thống. Số lượng và năng lực cán bộ, công chức làm công tác chuyên trách về lĩnh vực Hôn nhân và gia đình còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc nhận thức và áp dụng pháp luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản pháp luật khác có liên quan trong quá trình giải quyết các quan hệ Hôn nhân và gia đình chưa thống nhất, có nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Thứ hai, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã được thực hiện ở nhiều Bộ, ngành, địa phương và tổ chức có liên quan, nhưng nhìn chung công tác này ở các cấp chính quyền chưa sâu rộng, không thường xuyên, chưa kịp thời, hiệu quả còn thấp nên nhận thức về pháp luật Hôn nhân và gia đình trong nhân dân còn chưa cao.

Thứ ba, trong công tác giải quyết các vụ việc Hôn nhân và gia đình, đội ngũ cán bộ, công chức của Tòa án nhân dân các cấp nhìn chung chưa đủ về số lượng, một bộ phần còn bất cập về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực công tác. Trong khi đó công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ mặc dù đã được quan tâm nhưng vẫn chưa theo kịp yêu cầu của tình hình mới nên thẩm phán còn gặp nhiều khó khăn trong giải quyết các vụ việc Hôn nhân và gia đình, dẫn tới chất lượng giải quyết nhiều vụ việc về Hôn nhân và gia đình còn chưa cao.

Thứ tư, việc phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong phối hợp giải quyết các vụ việc về Hôn nhân và gia đình hoặc trong công nhận, thực hiện và bảo vệ quyền về Hôn nhân và gia đình của người dân còn nhiều bất cập. Các cơ quan, tổ chức có quyền về yêu cầu giải quyền các vụ việc về Hôn nhân và gia đình ít thực hiện được vai trò của mình do thẩm quyền đã thay đổi hoặc không phát huy hết năng lực của cơ quan, tổ chức. Một số cơ quan, chính quyền địa phương chưa phối hợp chặt chẽ, chưa quan tâm đúng mức đến công tác của Tòa án, đặc biệt là việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, công chứng, giám định, thẩm định, đo đạc đất đai của các cơ quan, tổ chức có liên quan không chính xác đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của công tác giải quyết các vụ việc về Hôn nhân và gia đình.

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

3.3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật

Thông qua phân tích những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn áp dụng đã nêu trên, pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ cần được bổ sung và hoàn thiện hơn. Trong giới hạn phạm vi của vấn đề nghiên cứu, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần đảm bảo tốt hơn cho việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình. Cụ thể như sau:

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nội dung cần bổ sung, hoàn thiện bao gồm các vấn đề sau: Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

  • Về tuổi kết hôn

Cần quy định nam, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên được kết hôn. Ý kiến này căn cứ vào các lý do sau:

Một là, quy định độ tuổi kết hôn như vậy để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với các quy định của Bộ luật dân sự, pháp luật về tố tụng dân sự và các luật khác có liên quan. Pháp luật dân sự hiện hành quy định người từ đủ 18 tuổi trở lên là người đã thành niên, nếu không ở tình trạng mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được quyền tham gia tất cả các quan hệ dân sự và tố tụng dân sự. Trong các lĩnh vực hoạt động xã hội khác, pháp luật cũng quy định nam giới từ đủ 18 tuổi đã có đầy đủ năng lực pháp lý để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trước Nhà nước và xã hội. Ví dụ, Luật nghĩa vụ quân sự quy định công dân nam từ đủ 18 tuổi trở lên phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật này…

Hai là, việc quy định độ tuổi kết hôn cũng cần được thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng giới đã được quy định trong Công ước CEDAW mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, quy định nữ từ đủ 18 tuổi trở lên được kết hôn cũng để bảo đảm phù hợp về tuổi của người chưa thành niên theo quy định của Công ước này.

Ba là, trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống, góp phần nâng cao thể chất và trí tuệ của người Việt Nam, vì vậy, việc quy định tuổi kết hôn đối với nam là từ đủ 18 thay vì 20 tuổi như hiện nay là không phù hợp

  • Về quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng

Quy định trách nhiệm của vợ, chồng khi có hành vi vi phạm các quyền, nghĩa vụ về Hôn nhân và gia đình;

Sửa đổi, bổ sung quy định về đại diện giữa vợ và chồng cho phù hợp với thực tiễn, hạn chế các nguy cơ vô hiệu của giao dịch;

Sửa đổi, bổ sung các quy định về đăng ký tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng và các quy định khác về quyền sở hữu của vợ chồng để đảm bảo sự minh bạch, công khai đối với các giao dịch liên quan đến tài sản trong hôn nhân góp phần bảo vệ lợi ích của gia đình, quyền, lợi ích của người thứ ba ngay tình.

  • Về bảo vệ quyền tự do li hôn của người phụ nữ Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Thứ nhất, trong trường hợp yêu cầu ly hôn xuất phát từ một bên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, pháp luật cần nêu rõ cụ thể như thế nào là vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng để đảm bảo quyền lợi cho người vợ.

Thứ hai, cần quy định bổ sung xem xét các trường hợp người vợ bị tâm thần hoặc bị bệnh khác mà không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình đồng thời người chồng không có hành vi bạo lực với người vợ nhưng có hành vi tẩu tán, chiếm đoạt tài sản của người vợ. Trong trường hợp này pháp luật chưa có quy định cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho người vợ.

Thứ ba, quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần phải có những hướng dẫn bổ sung quy định làm rõ các trường hợp sau:

  • Nếu người chồng không có hành vi bạo lực gia đình mà có hành vi tẩu tán, chiếm đoạt tài sản của người vợ thì cha, mẹ, người thân thích cũng được quyền thay mặt người vợ yêu cầu ly hôn.
  • Phải có quy định cha, mẹ được quyền yêu cầu ly hôn là cha mẹ đẻ hay là cha mẹ nuôi. Thứ tự thực hiện các quyền yêu cầu giữa cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, người thân thích là như thế nào?
  • Làm rõ khái niệm người thân thích của người vợ được thực hiện quyền yêu cầu ly hôn. Nếu không còn cha, mẹ thì thứ tự được thực hiện quyền yêu cầu ly hôn là như thế nào?

Về bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ khi ly hôn

Một là, để bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ thì pháp luật đã hẹn chế quyền ly hôn của người chồng trong một số trường hợp. Nhưng cần xem xét một số trường hợp sau để thuận tiện trong việc thực thi pháp luật. Trường hợp người chồng biết rõ và có chứng cứ khẳng định người vợ đang mang thai không phải là con chung của hai người thì cần quy định để người chồng được quyền ly hôn. Trường hợp người vợ nhận nuôi con riêng và con nuôi dưới 12 tháng tuổi, pháp luật nên cho phép người chồng có quyền ly hôn để đảm bảo cuộc sống ổn định của vợ, chồng.

Hai là, pháp luật cần quy định người vợ bị tâm thần, bị bệnh khác mà không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cần có người đại diện hoặc giám hộ để chăm sóc, quản lý tài sản sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

  • Về bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ khi ly hôn

Một là, pháp luật ghi nhận sau khi kết hôn thì quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, để đảm bảo hơn nữa thì ngoài pháp luật Hôn nhân và gia đình thì các quy định pháp luật khác về đăng ký, về chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần có quy định chặt chẽ hơn, phù hợp để đảm bảo quyền sử dụng đất của người vợ.

Hai là, quyền sở hữu tài sản của người vợ trong tài sản chung đưa vào sản xuất kinh doanh cần có quy định cụ thể hơn trong các trường hợp tài sản chung của vợ chồng là các tài sản vô hình, các quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ được đưa vào sản xuất, kinh doanh. Việc phân định tài sản này cho các bên sau khi ly hôn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được so với thực tiễn đặt ra.

Ba là, việc vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận cần được quy định cụ thể hơn. Cần phải cho phép vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận ngay cả khi vợ chồng đã kết hôn thì mới đảm bảo quyền nhân thân về tài sản của vợ chồng cũng như đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Pháp luật cần quy định cụ thể về việc thỏa thuận trong nội dung thỏa thuận về tài sản của vợ chồng. Lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận tức là về nguyên tắc là không cần sử dụng đến quy định của pháp luật khi phân chia tài sản sau ly hôn. Do vậy, cần quy định cụ thể sau khi ly hôn người vợ, người chồng được hưởng phần tài sản như thế nào trong khối tài sản chung và được hưởng thế nào trong khối tài sản riêng của bên kia.

  • Về bảo vệ quyền có chỗ ở của người vợ khi ly hôn

Một là, pháp luật cần quy định cụ thể hóa quyền lưu cư cho người vợ. Về mặt quy định pháp luật người vợ có quyền lưu cư nhưng nếu người chồng không có nghĩa vụ cho người vợ được lưu cư thì rất khó có thể thực hiện quyền này của người vợ. pháp luật cũng chưa dự phòng được những trường hợp thực tế nếu người vợ được quyền lưu cư lại trong nhà của người chồng nhưng người chồng có hành vi cản trở việc thực hiện quyền, có hành vi gây khó khăn trở ngại cho người vợ như cắt điện, cắt nước sinh hoạt, có hành vi chửi bới, mắng đuổi người vợ trong thời gian lưu cư thì pháp luật Hôn nhân và gia đình chưa quy định được chế tài cụ thể để bảo vệ quyền lợi cho người vợ.

Hai là, việc phân chia nhà ở của vợ chồng khi nhà ở là tài sản của người khác cũng chưa có quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi cho người vợ. Pháp luật cần bổ sung thêm quy định bảo vệ sự ổn định về nơi ở của người vợ khi ly hôn trong trường hợp này. Đặt trong bối cảnh cụ thể người vợ khi nuôi con nhỏ rất khó khăn trong trường hợp ổn định nơi ở và nếu sau khi ly hôn người chồng có những hành vi gây trở ngại cho người vợ thì sẽ ảnh hưởng, đảo lộn cuộc sống của người vợ. Do đó, cần bổ sung thêm quy định về trường hợp này. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

  • Về bảo vệ quyền được cấp dưỡng của người vợ

Pháp luật quy định người chồng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người vợ sau khi ly hôn nếu người vợ khó khăn, túng thiếu và có lý do chính đáng. Nếu người chồng không thực hiện việc cấp dưỡng thì theo quy định người vợ có được quyền yêu cầu Tòa án buộc người chồng phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hay không ? Để đảm bảo tốt hơn cho quyền lợi của người vợ thì pháp luật về tố tụng cần quy định những trường hợp này phải được thực hiện trong thời gian tố tụng ngắn nhất và nhanh nhất đồng thời phải trải qua thủ tục tố tụng đơn giản nhất. Thêm vào đó phải bổ sung khái niệm thế nào là khó khăn, túng thiếu.

3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình

Hoàn thiện những quy định của pháp luật hiện hành là giải pháp cần thiết, tạo cơ sở pháp lý cho việc đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ. Tuy nhiên, để đưa những quy định này vào thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của phụ nữ là một chặng đường dài, đòi hỏi những giải pháp có tính đồng bộ, huy động sự tham gia tích cực của toàn xã hội. Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật quy định về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình, theo tác giả, cần thực hiện những biện pháp sau:

  • Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dân trí

Nhà nước cần chú trọng đầu tư, nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào dân tộc thiểu số, các vùng nông thôn, hải đảo, miền núi, các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn. Việc nâng cao trình độ dân trí đồng nghĩa với việc người dân có khả năng tiếp cận thông tin một cách dễ dàng hơn. Từ đây góp phần cải tạo tư duy theo lối mới ở những người lạc hậu bảo thủ.

Đồng thời có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, các đoàn thể xã hội để đào tạo giáo dục, định hướng cho thanh thiếu niên về Hôn nhân và gia đình ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

  • Giải pháp về tuyên truyền, phổ biến pháp luật Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Tuyên truyền, giáo dục pháp luật là giải pháp nhằm mục đích nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của người dân nói chung, người phụ nữ nói riêng để họ chủ động, tích cực bảo vệ quyền của mình và dũng cảm đấu tranh khi các lợi ích của mình bị xâm phạm.

Để việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình đạt hiệu quả, các cơ quan chức năng ở địa phương, Sở Tư pháp cần phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể xã hội trong việc đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình nói chung; pháp luật về bình đẳng giới, pháp luật về bảo vệ quyền lợi, danh dự, nhân phẩm của phụ nữ tại các địa bàn dân cư bằng nhiều hình thức và phương tiện khác nhau như mở lớp tuyên truyền, phố biến giáo dục pháp luật, tổ chức các cuộc thi về tìm hiểu Luật Hôn nhân và gia đình, Luật bình đẳng giới; Luật phòng chống bạo lực gia đình; phát hành tờ rơi, thông tin trên báo đài và các phương tiện truyền thông khác theo quy định của pháp luật… Bên cạnh việc nâng cao hiểu biết pháp luật cần tăng cường nhận thức cho người dân, đặc biệt là chị em phụ nữ ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa về thực trạng tảo hôn, chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn; đưa ra các ví dụ điển hình về số phận của những người phụ nữ bất hạnh khi ly hôn… Từ đó, góp phần thay đổi quan điểm của chị em phụ nữ và nâng cao ý thức bảo vệ mình trong quan hệ Hôn nhân và gia đình.

  • Giải pháp đối với hoạt động của các cơ quan chuyên môn và các tổ chức đoàn thể có liên quan trong việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình

Bảo vệ quyền của phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, tổ chức có thẩm quyền:

Đối với các cơ quan quản lý hộ tịch, việc nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ Tư pháp – Những người trực tiếp thực thi và áp dụng pháp luật về kết hôn cần phải được chú ý. Vì thế, Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp địa phương cần thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm, đảm bảo cán bộ Tư pháp có trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý hộ tịch, góp phần quản lý chặt chẽ, hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật xâm hại tới quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình.

Ngành Tòa án nhân dân có vai trò quan trọng trong việc tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình trong thực hiện, bảo về các quyền về Hôn nhân và gia đình của người dân. Ngành Tòa án cần tích cực thực hiện công tác triển khai thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bên cạnh việc tham gia ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án nhân dân tối cao cần phải tiến hành nhiều hoạt động tập huấn nâng cao nghiệp vụ giải quyết các vụ việc dân sự nói chung, vụ việc về Hôn nhân và gia đình nói riêng để hạn chế ban hành những bản án, quyết định thiếu rõ ràng, có sai sót hoặc khó thi hành… Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Trong thời gian qua, ngành Kiểm sát nhân dân đã đóng vai trò tích cực trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật Hôn nhân và gia đình trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình kịp thời, đúng pháp luật. Đồng thời, ngành Kiểm sát thông qua công tác kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố đã góp phần quan trọng trong việc xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm chế độ Hôn nhân và gia đình, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền, lợi ích chính đáng của người dân được tôn trọng và bảo vệ.

Để thực hiện tốt chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cần tổ chức nhiều đợt tập huấn cho Viện Kiểm sát nhân dân các cấp những nội dung cơ bản, những điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và nghị định hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; đảm bảo cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên nắm vững những quy định của pháp luật trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình để áp dụng cho phù hợp trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát. Ngoài ra, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cần chú trọng tập hợp các vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xây dựng các thông báo rút kinh nghiệm trong nhận thức, áp dụng pháp luật cho Viện Kiểm sát địa phương. Cần chỉ đạo hướng dẫn tập trung, đồng bộ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao cùng với sự tích cực nghiên cứu, tìm hiểu để vận dụng của cán bộ toàn ngành góp phần làm cho ngành Kiểm sát hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

  • Các giải pháp khác:

Hoàn thiện hệ thống chính sách về bình đẳng giới, thực hiện vấn đề lồng ghép bình đẳng giới trong Hôn nhân và gia đình trong các chính sách, pháp luật, chương trình, chiến lược;

Phát triển các hệ thống dịch vụ có chất lượng, hiệu quả để hỗ trợ cho phụ nữ và nam giới tiếp cận và thực hiện được các quyền của mình trong Hôn nhân và gia đình;

Có cơ chế huy động nguồn lực từ xã hội và ngân sách của Nhà nước cho việc thực thi bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong quan hệ trong Hôn nhân và gia đình;

Tăng cường các nghiên cứu liên quan đến bình đẳng giới nói chung, trong việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình nói riêng nhằm cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật về vấn đề này trong Hôn nhân và gia đình;

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế đa phương, song phương và phi Chính phủ, nâng cao hiệu quả hội nhập để người dân có nhiều cơ hội hơn trong tiếp cận các quyền về Hôn nhân và gia đình nói chung và bình đẳng giới nói riêng;

Nâng cao năng lực, thể chế phục vụ công tác bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình. Tăng cường sự chỉ đạo và kiểm tra của các cấp ủy đảng, chính quyền đối với công tác bình đẳng giới nói chung, trong Hôn nhân và gia đình nói riêng nhằm tạo sự thống nhất cả về nhận thức và hành động trong triển khai, thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới trong Hôn nhân và gia đình

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

Quyền con người là quyền thiêng liêng của mỗi cá nhân. Đó là các quyền tất yếu mà con người phải được hưởng và các quốc gia đều phải tôn trọng. Trong quyền con người, quyền phụ nữ là một trong những nội dung cơ bản. Có thể thấy bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ nói chung và bảo vệ quyền lợi của người vợ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình nói riêng đang là những vấn đề đáng được quan tâm trong xã hội hiện nay. Việc quan tâm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ đã được nhiều đề tài, nhiều bài báo quan tâm đề cập nhưng bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ hôn hân và gia đình thì cũng chưa có nhiều tài liệu nói đến. Với kết quả nghiên cứu về vấn đề này, thiết nghĩ luận văn cũng đạt được những giá trị nhất định hàm chứa trong nó.

Trong nội dung luận văn, tác giả đã khái quát chung được những vấn đề cần nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, những công trình nghiên cứu có liên quan, khái quát các quy định của pháp luật về vấn đề này của pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế. Phần thứ hai của luận văn đã đi sâu tìm hiểu những quy định liên quan đến bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Trong phần này, tác gia vừa phân tích điều luật để thấy được khía cạnh đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ, tác giả vừa nêu lên những bất cập trong việc thực thi các quy định này. Phần thứ ba luận văn tập trung vào nghiên cứu thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình. Trong phần này, các số liệu thực tiễn đã nêu ra, đồng thời những vướng mắc đã được nêu lên nhằm làm rõ những phân tích, đánh giá như phần hai của luận văn và nhằm tạo nền tảng cho những kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Luận văn sẽ mang những giá trị khoa học nhất định trong nó, góp phần kiến nghị cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về Hôn nhân và gia đình, đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên và bổ sung tài liệu giảng dạy cho nhà trường. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Bảo vệ quyền lợi phụ nữ theo Luật Hôn nhân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464