Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nội dung bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN
2.1.1. Khái quát về quyền nhân thân của cá nhân và quan hệ nhân thân của người phụ nữ trong hệ hôn nhân và gia đình
2.1.1.1. Khái quái về quyền nhân thân của cá nhân
Trong quan hệ dân sự bên cạnh các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân là một trong hai đối tượng chủ yếu của pháp luật dân sự và là một quan hệ mạng tính xã hội sâu sắc, rộng lớn, phản ánh sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Một trong quan hệ pháp luật dân sự nói chung bao gồm ba yếu tố: chủ thể, khách thể và nội dung. Trong đó nội dung là yếu tố cơ bản nhất để phân loại quan hệ đó là quan hệ nhân thân hay tài sản.
Nội dung của quan hệ pháp luật gồm các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ đó. Do vậy quyền nhân thân chính là một nội dung của quan hệ pháp luật dân sự về nhân thân. Nó là những quy định của pháp luật cho phép chủ thể được hưởng, được làm, được đòi hỏi liên quan đến các giá trị nhân thân của mình khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự.
Điều 24 Bộ luật dân sự năm 2005 đưa ra khái niệm về quyền nhân thân của cá nhân như sau: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” [35].
Một số quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật dân sự 2005: Quyền đối với họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền được khai sinh; quyền được khai tử; quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền hiến bộ phận cơ thể; quyền kết hôn; quyền bình đẳng vợ chồng; quyền li hôn; quyền nhận cha, mẹ, con; quyền nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi… Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Quyền nhân thân có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Thuộc về cá nhân: Bộ luật dân sự năm 2005 quy định quyền nhân thân và quyền dân sự của mỗi cá nhân, tổ chức không thể là chủ thể của quyền nhân thân.
- Moi cá nhân đều bình đẳng về quyền nhân thân: Quyền nhân thân được ghi nhận cho tất cả mọi cá nhân từ khi sinh ra cho đến khi chế đi, không phân biệt giới tính, thành phần, giai cấp, tôn giáo, dân tộc…
- Có tính chất phi tài sản: đặc điểm này xuất phát từ đối tượng của quyền nhân thân là các giá trị nhân thân phi tài sản. Các quyền nhân thân không có nội dung kinh tế, không gắn với tài sản của chủ thể. Nó không thể mang lại cho chủ thể quyền một lợi ích vật chất nào vì chúng không thể là đối tượng trao đổi, mua bán, tặng cho. Mặc dù một số quyền nhân thân có thể làm phát sinh một lợi ích vật chất nhất định như quyền tác giả những quyền nhân thân không phải là tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn liền với tài sản và quyền nhân thân không gắn liền với tài sản mà thôi.
- Không được đền bù ngang giá khi bị vi phạm do không định giá được bằng tiền.
- Không thể bị định đoạt: Quyền nhân thân ghi nhận quyền của cá nhân đối với giá trị nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân, nó không thể bị chuyển giao.
- Quyền dân sự tuyệt đối: Chủ thể quyền là xác định, cá biệt hóa, tất cả các chủ thể khác là chủ thể mang nghĩa vụ.
2.1.1.2. Quyền nhân thân của người phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình
Thời kỳ hôn nhân là “khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” [42, Khoản 13 Điều 3]. Như vậy, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân được bắt đầu bằng việc đăng ký kết hôn theo đó vợ và chồng sẽ có thêm các quyền về hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật. Còn sau khi có quyết định, bản án có hiệu lực của Tòa án giải quyết li hôn có hiệu lực hoặc một hoặc hai bên chết hoặc bị tuyên bố là đã chết thì quan hệ về nhân thân giữa vợ và chồng chấm dứt, các quyền cơ bản của vợ chồng mang tính chất Hiến định không bị ảnh hưởng, không thay đổi.
- Đặc điểm của quyền nhân thân trong quan hệ Hôn nhân và gia đình:
Thứ nhất, phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội qua mỗi giai đoạn phát triển của đất nước. Dưới chế độ cũ (phong kiến, thực dân), quyền nhân thân của người phụ nữ được xác định theo giáo lý Nho giáo với nhiều quy định hà khắc, mang tính phân biệt bất bình đẳng. Dưới chế độ nhà nước ta hiện nay, quyền nhân thân của người phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình đã trở thành các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật.
Thứ hai, gắn liền với lợi ích chung của gia đình và xã hội.
Thứ ba, mang tính chất nhân thân, phi tài sản. Trong đó yếu tố tình cảm là nét đặc trưng gắn kết các chủ thể. Quyền và nghĩa vụ nhân thân của người phụ nữ không xuất phát từ tài sản, không mang tính chất đền bù ngang giá và gắn liền với nhân thân các chủ thể, không thể chuyển giao cho người khác.
Qua tìm hiểu, có thể nhận thấy các quyền nhân thân của người phụ nữ xuất phát từ chức năng của gia đình:
- Thứ nhất, chức năng sinh đẻ gắn với quyền sinh con; quyền thừa nhận là mẹ, quyền được nuôi con và nuôi con nuôi..
- Thứ hai, chức năng giáo dục gắn với quyền đại diện giữa vợ và chồng; quyền được hưởng sự chăm sóc của các thành viên trong gia đình..
Ngoài ra, một số quyền nhân thân của người phụ nữ còn xuất phát từ những quyền cơ bản của con người như quyền tự do cư trú, đi lại, quyền bất khả xâm phạm về thân thể.
2.1.2. Nội dung bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ nhân thân Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
2.1.2.1. Bảo vệ quyền tự do kết hôn của người phụ nữ
Với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý kết hôn được hiểu là hình thức xác lập quan hệ vợ chồng, được Nhà nước thừa nhận. Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
Quyền kết hôn là quyền tự nhiên của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong hệ thống pháp luật quốc tế, quyền kết hôn được quy định trong nhiều Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người. Theo điểm b khoản 1 Điều 16 Công ước CEDAW thì quyền bình đẳng như nhau của nam và nữ trong quan hệ hôn nhân gia đình trước hết phải được thể hiện ở sự tự do lựa chọn người để kết hôn, tự do quyết định chuyện hôn nhân và hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện.
Đây cũng chính là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986, 2000 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ hôn nhân cưỡng ép, phụ thuộc vào cha mẹ của chế độ Hôn nhân và gia đình phong kiến, xây dựng chế độ Hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa
Pháp luật là công cụ pháp lý quan trọng mang lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ quyền con người nói chung và quyền phụ nữ nói chung. Việc ghi nhận quyền tự do kết hôn của người phụ nữ là một phương thức bảo vệ quyền phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình bảo vệ quyền tự do kết hôn của người phụ nữ thể hiện trên những khía cạnh sau đây:
Bảo vệ quyền tự do kết hôn của phụ nữ thể hiện trong những quy định về điều kiện kết hôn.
- Khái niệm kết hôn dưới góc độ pháp lý:
Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (phần chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình) của Trường Đại học Luật Hà Nội giải thích: “Kết hôn là việc nam và nữ chính thức lấy nhau làm vợ, chồng theo quy định của pháp luật. Kết hôn được hiểu là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được công nhân là hợp pháp” [48, tr. 238].
Với cách giải thích này, thuật ngữ kết hôn có mối liên hệ không thể tách rời với hình thức xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật. Theo đó, nam, nữ chỉ được coi là “kết hôn” khi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, dưới góc độ pháp lý, việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng theo nghi thức truyền thống hay nghi thức tôn giáo mà không đăng ký kết hôn thì không được xác định là “kết hôn”. Do đó, trong khoa học pháp lý cũng xuất hiện thuật ngữ “nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn” để phân biệt với trường hợp “kết hôn”. Như vậy, dưới góc độ pháp lý, kết hôn được hiểu là một hình thức xác lập quan hệ vợ chồng nhưng phải là hình thức được nhà nước thừa nhận. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán cũng như truyền thống văn hóa, pháp luật của mỗi quốc gia có những lựa chọn khác nhau về hình thức xác lập quan hệ vợ chồng. Theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành, nghi thức duy nhất có giá trị pháp lý là nghi thức đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Bảo vệ quyền tự do kết hôn của phụ nữ thông qua nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ.
Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà với mục đích là tạo dựng một gia đình. Vì vậy, xét về mặt bản chất, hôn nhân là sự liên kết hoàn toàn tự nguyện của những người kết hôn. Từ đó, các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề kết hôn phải cụ thể hóa nguyên tắc này. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận và bảo vệ quyền tự do kết hôn của người phụ nữ thông qua quy định tại Điều 8. Theo Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:
- Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
- Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này [42]. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Theo đó, người phụ nữ từ đủ 18 tuổi trở lên, không mất năng lực hành vi dân sự và không thuộc các trường hợp cấm kết hôn, được tự nguyện quyết định việc kết hôn của mình. Sự tự nguyện của người phụ nữ là điều kiện quan trọng mà luật định; nếu thiếu sự tự nguyện và không từ 18 tuổi trở lên thì không đủ điều kiện kết hôn, trường hợp đã xác lập quan hệ hôn nhân thì quan hệ hôn nhân đó không được chấp nhận.
- Điều kiện kết hôn:
Điều kiện kết hôn là những yêu cầu của pháp luật thể hiện dưới dạng những quy pháp pháp luật buộc người kết hôn phải tuân thủ, nhằm mục đích thiết lập những cuộc hôn nhân phù hợp với lợi ích của người kết hôn, lợi ích của gia đình và xã hội.
Định nghĩa trên cho thấy, tuân thủ pháp luật về điều kiện kết hôn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân phải thực hiện. Tiếp cận dưới góc độ quyền, có thể kết luận rằng, cá nhân khi thực hiện quyền kết hôn phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật về điều kiện kết hôn. Xét trên phương diện này, quyền kết hôn không còn là quyền tự nhiên thuần túy mà là quyền con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. có thể nhận thấy điều kiện kết hôn đã nêu rõ, người kết hôn phải tuân thủ pháp luật như thế nào. Đây chính là ranh giới cần thiết để phân biệt quyền kết hôn với tư cách là một quyền tự nhiên với quyền kết hôn với tư cách là quyền con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Pháp luật bảo vệ quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân nhưng là sự tự do trong khuôn khổ luật định. Bằng các quy định về điều kiện kết hôn Nhà nước bảo vệ quyền được tự mình lựa chọn và quyết định việc kết hôn của mỗi cá nhân nói chung và phụ nữ nói riêng. Cùng với sự tự nguyện, tuổi kết hôn cũng có mối liên hệ nhất định với điều kiện về sự tự nguyện. Vì xét ở khía cạnh nhất định, tuổi kết hôn của người phụ nữ có mối liên hệ với khả năng nhận thức của cá nhân. Theo đó, người phụ nữ ở độ tuổi nhất định mới có thể tự mình quyết định việc kết hôn mà không bị ảnh hưởng của người khác. Xét ở khía cạnh rộng hơn, tuổi kết hôn của người phụ nữ còn thể hiện sự phát triển toàn diện về cả thể chất và trí tuệ của chính họ. Từ đó, khi kết hôn họ có thể sinh ra những thế hệ đời sau khỏe mạnh. Tuổi kết hôn do đó không chỉ là bảo vệ quyền của người phụ nữ mà một mặt còn hướng tới lợi ích của cộng đồng và xã hội.
- Đăng ký kết hôn: Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Quyền tự do kết hôn của người phụ nữ được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống Hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, việc đăng ký kết hôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính là căn cứ để Nhà nước bảo hộ các quyền Hôn nhân và gia đình cho người phụ nữ và các chủ thể có liên quan. Vì thế, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn cũng chú trọng ghi nhận về vấn đề đăng ký kết hôn.
Xét dưới góc độ quản lý hộ tịch, đăng ký kết hôn là một thủ tục do cơ quan có thẩm quyền tiến hành nhằm kiểm tra các điều kiện kết hôn và xác nhận việc kết hôn của người phụ nữ thông qua việc cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy, việc đăng ký kết hôn không chỉ có ý nghĩa đối với người kết hôn mà thông qua thủ tục này nhà nước cũng kiểm soát được việc kết hôn nhằm xác lập những cuộc hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc xác lập quan hệ vợ chồng phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo đó, đăng ký kết hôn được hiểu như một điều kiện về hình thức mà qua đó Nhà nước công nhận quan hệ hôn nhân của người phụ nữ và nam giới. Do vậy, người phụ nữ xác lập quan hệ vợ chồng đều phải tuân thủ điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
Kết hôn có vai trò quan trọng đối với đời sống Hôn nhân và gia đình. Thông qua sự kiện đăng ký kết hôn, Nhà nước kiểm soát được việc tuân thủ pháp luật về điều kiện kết hôn, thực hiện quản lý nhà nước về kết hôn nhằm đảm bảo cho việc kết hôn được xác lập phù hợp với lợi ích của gia đình và xã hội. Quyền kết hôn là quyền tự do cơ bản của mỗi người nhưng khi thực hiện quyền kết hôn, người kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn. Trường hợp, xét thấy chỉ một điều kiện kết hôn không được đảm bảo, cơ quan có thẩm quyền sẽ từ chối việc đăng ký kết hôn. Như vậy, thông qua việc đăng ký kết hôn, cuộc hôn nhân được xác lập không chỉ đảm bảo một cách hài hòa lợi ích của gia đình và xã hội. Sự kiện kết hôn còn là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ. Bởi vì, kết hôn theo đúng quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ được bảo vệ bằng pháp luật. Ví dụ, hai người kết hôn hợp pháp thì giữa họ phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Trường hợp hai người sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn hoặc kết hôn trái pháp luật sẽ không được bảo vệ với tư cách là người vợ. Vì vậy, việc kết hôn theo quy định của pháp luật là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ.
- Cơ chế đảm bảo quyền tự do kết hôn của phụ nữ Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Song song với việc ghi nhận các nguyên tắc và nội dung bảo vệ quyền tự do kết hôn của người phụ nữ, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quy định một số biện pháp, cách thức bảo vệ quyền phụ nữ trong lĩnh vực này.
Theo Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành pháp luật nghiêm cấm các hành vi kết hôn giả tạo; tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; và đảm bảo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Đảm bảo cho người phụ nữ được tự do kết hôn vì vậy việc tự nguyện quyết định chuyện hôn nhân của người phụ nữ được các nhà làm luật ghi nhận và bảo vệ. Theo đó, các hành vi cưỡng ép, giả tạo, cản trở và vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đều bị pháp luật nghiêm cấm. Hôn nhân một vợ một chồng là một giá trị văn minh của xã hội loài người. Đó là hôn nhân tiến bộ. Hôn nhân một vợ một chồng cũng là điều kiện quan trọng để người phụ nữ xây dựng một cuộc hôn nhân bình đẳng, bền vững, hạnh phúc và làm nền tảng để tạo dựng gia đình, góp phần đảm bảo mục đích của cuộc hôn nhân. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc đặc trưng của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành. Theo đó, nhà làm luật Việt Nam quy định việc cấm kết hôn với người đang có vợ, chồng. Theo đó, chỉ những người chưa có vợ, có chồng hoặc đã có vợ, có chồng nhưng quan hệ hôn nhân đã chấm dứt mới được phép kết hôn. Trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Vì vậy, mỗi cá nhân phải tôn trọng pháp luật về điều kiện kết hôn, tôn trọng quyền tự do kết hôn của người phụ nữ và đặc biệt là loại bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu cản trở việc tự do kết hôn và nguyên tắc một vợ một chồng.
Ngoài những trường hợp việc đăng ký kết hôn bị từ chối do vi phạm về điều kiện kết hôn pháp luật còn quy định: người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức đề nghị hủy việc kết hôn trái pháp luật. Đây là quy định rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ khi bị cưỡng ép, lừa dối kết hôn trái pháp luật.
Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không chỉ ghi nhận quyền tự do kết hôn đối với phụ nữ mà còn đảm bảo cho quyền đó được thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế. Mặc dù đã thể hiện được các nội dung cơ bản liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ trong việc tự do kết hôn nhưng hệ thống các quy định này vẫn còn chưa đầy đủ và rõ ràng, và các chế tài xử lý hành vi xâm phạm đến quyền tự do kết hôn của phụ nữ chưa thật sự nghiêm khắc, đủ sức răn đe và phòng chống các hành vi vi phạm. Vì vậy, để đảm bảo một cách có hiệu quả quyền tự do kết hôn của người phụ nữ cần phải tại ta những cơ hội để họ thực hiện quyền này trên thực tế.
2.1.2.2. Bảo vệ quyền bình đẳng của người phụ nữ trong quan hệ hôn nhân.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình người vợ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc giáo dục con cái, lựa chọn chỗ ở, nghề nghiệp, tôn giáo, tín ngưỡng không phụ thuộc vào địa vị xã hội, thu nhập. Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành không thiết lập một tôn ti trật tự giữa vợ và chồng, trong đó người chồng giữ vụ trí chủ gia đình, là người bảo hộ đối với người vợ. Các quyền và nghĩa vụ của người vợ mang tính chất tương hỗ cho nhau, ngang nhau. Hôn nhân không làm cho vợ chồng hòa thành một chủ thể duy nhất của quan hệ pháp luật, vợ chồng tiếp tục giữ lai lịch pháp lý cá nhân riêng của mình, có danh dự, nhân phẩm riêng của mình, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi riêng của mình cả trong quan hệ nội bộ và trong quan hệ với người thứ ba. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
- Bảo vệ quyền tự do lựa chọn nơi cư trú của người vợ
Để thực hiện quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 cũng như nhằm loại trừ định kiến của xã hội trong việc xác định vai trò của người vợ trong gia đình theo tư tưởng: “thuyền theo lái, gái theo chồng”, pháp luật Việt Nam cộng nhận quyền bình đẳng giữa vợ và chồng về nhân thân liên quan đến việc lựa chọn nơi ở.
Điều 55 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “nơi cư trú chung của vợ chồng là nơi thường xuyên chung sống” [35]. Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng được thực hiện trên cơ sở sự thỏa thuận giữa vợ và chồng. Điều 20 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính” [42]. Để đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và điều kiện làm việc của mỗi bên thì vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận quyết định chọn nơi cư trú. Quy định của pháp luật nhằm xóa bỏ quan niệm, tập tục có tính chất bắt buộc chỗ ở chung của người phụ nữ sau khi kết hôn theo nguyên tắc “thuyền theo lái, gái theo chồng” hay tập tục ở rể của đồng bào một số dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nhà làm luật cho phép vợ chồng tự do thỏa thuận về việc không chung sống dưới cùng một mái nhà. Điều đó đi ngược lại mục đích của hôn nhân, phá vỡ nghĩa vụ chung sống của vợ chồng cũng như củng cố quan hệ vợ chồng.
- Bảo vệ quyền lựa chọn tín ngưỡng, tôn giáo
Điều 22 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; không được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào” [42]. Điều luật này nhằm cụ thể quy định của Hiến pháp năm 2013, theo đó, người vợ không bị cưỡng ép theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Thông thường vấn đề tôn giáo được các bên giải quyết trước khi kết hôn. Nhưng trong quá trình chung sống họ hoàn toàn có thể thay đổi tín ngưỡng, tôn giáo. Người vợ có quyền thực hiện các sinh hoạt tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật, không được gây mất trật tự trong sinh hoạt gia đình.
- Bảo vệ quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, học tập và tham gia các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội
Điều 23 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ; tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội” [42]. Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành đã ghi nhận quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp học tập và tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của người phụ nữ. Việc tự chọn nghề nghiệp của người phụ nữ là tự do, do người phụ nữ tự quyết định, người chồng chỉ có thể tham gia ý kiến về việc lựa chọn của người phụ nữ.
- Bảo vệ quyền được đại diện giữa vợ và chồng Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “vợ chồng có quyền ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng” [42]. Khoản 3 quy định:
Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ tường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan [42].
Quyền đại diện trong gia đình là bình đẳng không được phân biệt. Cụ thể hơn theo Khoản 1 Điều 62 Bộ luật dân sự năm 2005 thì “trong trường hợp người vợ mất năng lực hành vi dân sự thì người chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ” [35].
Ví dụ, đơn giản là trường hợp người chồng bị tai nạn giao thông, bất tỉnh và phải mổ gấp do mất nhiều máu đồng thời phải cắt bỏ một cánh tay đã bị dập nát. Khi đó người thân thích mà thường là người vợ sẽ ký xác nhận đồng ý việc mổ và cắt bỏ phần thân thể bị dập nát của người chồng. Ngoài ra, khi người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự, thì việc công bố, sử dụng thông tin, tài liệu của người chồng phải được sự cho phép của người vợ trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.1.2.3. Bảo vệ quyền làm mẹ của người phụ nữ
Quyền làm mẹ là quyền thiêng liêng và cao quý của người phụ nữ. Quyền đó trước hết xuất phát từ chức năng sinh học tự nhiên của người phụ nữ mà không ai có thể thay đổi được. Nhờ có chức năng cao quý đó của người phụ nữ mà thế giới luôn tồn tại, phát triển và đổi mới. Vì lẽ đó mà vai trò của người mẹ luôn được thừa nhận và tôn trọng.
Quyền làm mẹ của người phụ nữ Việt Nam đã được quy định, bảo vệ bằng các quy định cụ thể của pháp luật và các quy định đó ngày càng đầy đủ, hoàn thiện và phù hợp với đời sống xã hội, nhằm bảo đảm có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người phụ nữ.
Quyền làm mẹ của người phụ nữ được quy định trong Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bênh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ” [39]. Trên cơ sở của Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tại Khoản 4 Điều 2 như sau: “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình” [42]. Quyền làm mẹ được thể hiện trong thực tế đời sống xã hội và theo Luật Hôn nhân và gia đình bằng các phương thức cơ bản sau đây:
- Quyền sinh con Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Quyền sinh con là quyền của người phụ nữ được tự mình thụ thai, mang thai và sinh con. Quyền này gắn liền với chức năng sinh học tự nhiên của người phụ nữ mà không ai có thể thay thế được. Quyền này được thừa nhận và đảm bảo thực hiện thông qua các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tại Mục 2 Chương V về xác định cha, mẹ con. Trong những trường hợp đặc biệt quyền sinh con của người phụ nữ còn được đảm bảo thực hiện bằng các phương pháp khoa học được pháp luật công nhận.
Quyền sinh con chỉ có thể thực hiện được khi người phụ nữ có thể thụ thai nuôi dưỡng thai nhi. Theo quy định của pháp luật và căn cứ vào thực tiễn hiện nay, người phụ nữ quyền làm mẹ thông qua bốn cách sau:
- Cách thứ nhất: thụ thai thông thường thông qua quan hệ sinh lý với một người khác giới tính (như quan hệ vợ chồng…)
- Cách thứ hai: Thụ tinh nhân tạo, thủ thuật là bơm tinh trùng của người cho tinh trùng vào tử cung của người có nhu cầu sinh con để tạo phôi;
- Cách thứ 3: Thụ tinh trong ống nghiệm, là sự kết hợp của noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi
- Cách thứ 4: Mang thai vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.
Pháp luật nước ta đã cho phép áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và cho phép thực hiện việc mang thai vì mục đích nhân đạo để đảm bảo tốt nhất quyền làm mẹ của người phụ nữ.
Quyền sinh con của người phụ nữ gắn liền với quyền yêu cầu xác định một người đàn ông nào đó là cha của con mình. Tuy nhiên người mẹ của đứa trẻ chỉ được quyền yêu cầu xác định cha cho con trong những trường hợp thụ thai tự nhiên, thông thường mà không có quyền xác định cha cho con trong trường hợp sinh con nhờ áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Bởi vì trước khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản người mẹ đã tự nguyện tuân thủ nguyên tắc bí mật về thông tin của người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi. Trẻ ra đời do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ và cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân, trong trường hợp mang thai vì mục đích nhân đạo và những người này luôn luôn được xác định là cha, mẹ của đứa trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Khoản 3 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha mẹ và giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra” [42]. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Để đảm bảo lợi ích của đứa trẻ sinh ra do áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, cũng như tránh các hậu quả trong việc lặp lại giống nòi ở thế hệ sau, pháp luật quy định rõ ràng là tinh trùng, noãn, phôi của người cho chỉ được sử dụng cho một người. Quy định đó vẫn đảm bảo bí mật các thông tin về bản thân người cho tinh trùng, noãn, người cho phôi nhưng lại đòi hỏi phải xác định một địa chỉ rõ ràng đối với người nhận tinh trùng, người nhận noãn, người nhận phôi. Điều đó có nghĩa là tinh trùng, noãn, phôi của người cho đã được sử dụng cho người này thì không sử dụng cho bất cứ một người nào khác. Điều đó đòi hỏi các cơ sở y tế có khả năng thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải có trách nhiệm, thận trọng và quản lý tốt việc lưu giữ, bảo quản tinh trùng, phôi đó chỉ cho một người duy nhất mà thôi. Ngược lại, về phía người nhận tinh trùng, người nhận noãn và người nhận phôi thì lại có thể nhận từ nhiều người khác nhau. Bởi vì, người nhận luôn luôn xác định cụ thể, đó là người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân. Vì vậy, người mẹ của đứa trẻ luôn luôn xác định được trong mọi trường hợp.
- Bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ khi ly hôn
- Bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ khi hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng.
Người phụ nữ được gắn liền với thiên chức làm mẹ hay quyền làm mẹ. Quyền làm mẹ của người phụ nữ cần phải được ghi nhận và bảo vệ không chỉ dưới góc độ xã hội mà còn dưới góc độ pháp luật. Dưới góc độ xã hội, quyền làm mẹ là quyền nhân thân gắn liền với phụ nữ, gắn liền với người vợ. Quyền làm mẹ là quyền được sinh con, được có con (trong trường hợp nhận con nuôi), được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người mẹ. Dưới góc độ pháp luật, quyền làm mẹ cũng cần được bảo vệ thông qua các quy định của pháp luật. Trong trường hợp ly hôn, quyền làm mẹ của người phụ nữ cũng phải được ghi nhận và bảo vệ. Mang thai và sinh con là quá trình người phụ nữ phải chịu bao vất vả, và đứa con chính là sự gắn bó máu thịt với người mẹ. Do vậy, pháp luật cần phải bảo vệ người mẹ khi li hôn thông qua việc hạn chế quyền ly hôn của người chồng trong những trường hợp nhất định.
Thực tế, người phụ nữ khi mang thai cần phải đảm bảo tốt với sức khỏe cũng như tinh thần để sinh con khỏe mạnh. Ly hôn thường để lại cho người phụ nữ gánh nặng về mặt tâm lý. Hậu quả xã hội của ly hôn tác động đến cuộc sống của người phụ nữ, làm cho họ không đảm bảo “sức khỏe sinh sản” để mang thai và làm mẹ an toàn. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” [42, Khoản 3 Điều 51]. Với quy định trên, quyền làm mẹ của người vợ đã được đảm bảo một cách vững chắc hơn. Theo đó, trong trường hợp người vợ đang mang thai hoặc sinh con thì người chồng không được quyền ly hôn. Trong thời kỳ mang thai, người phụ nữ rất cần sự chăm sóc của người thân bên cạnh mình, đặc biệt người chồng là người gần gũi nhất với người vợ. Do vậy, nếu khi người vợ đang mang thai mà người chồng yêu cầu ly hôn thì sẽ tác động rất lớn đến người vợ. Tác động này được nhìn nhận dưới tác động vật chất và tác động về tinh thần. Nếu người chồng ly hôn thì người vợ sẽ bị ảnh hưởng xấu đến tinh thần, tình cảm không chỉ đối với bản thân người vợ mà còn đối với cả đứa trẻ chưa sinh. Thêm vào đó, người vợ cũng sẽ không nhận được sự ủng hộ về vật chất từ người chồng trong thời điểm này là một thiệt thòi rất lớn. Điều này sẽ làm ảnh hưởng xấu đến cả người vợ khi mang thai và ảnh hưởng xấu đến thai nhi. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình chưa dự liệu hết được trường hợp nếu người chồng biết rõ người vợ đang mang thai mà thai nhi không phải con mình thì người chồng có hay không quyền yêu cầu ly hôn khi người vợ có thai hoặc sinh con?. Nếu theo cách hiểu của ngôn ngữ văn bản pháp luật thì trong trường hợp này người chồng cũng không được quyền yêu cầu ly hôn. Trên thực tế, pháp luật cũng không dự liệu được hết tất cả các trường hợp nảy sinh trên thực tế cuộc sống. Nhưng đứng dưới góc độ pháp luật hay đạo đức xã hội thì cần quy định để bảo vệ người phụ nữ trong thời kỳ có thai và nuôi con nhỏ. Do vậy, đối với vấn đề này pháp luật cũng cần được cụ thể hóa thông qua các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng ghi nhận việc người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi dù cho đó là con đẻ của các hai vợ chồng hoặc là con nuôi của hai vợ chồng. Quy định này cũng nhằm đảm bảo cho người mẹ được ổn định trong việc nuôi con nhỏ, đảm bảo quyền làm mẹ khi được nuôi con nhỏ. Nhưng nếu đặt ra vấn đề người vợ đang nuôi con nuôi mà do người chồng hoặc người vợ nhận nuôi riêng thì người chồng có yêu cầu xin ly hôn hay không? Theo ngôn ngữ thể hiện thì không có sự phân biệt người vợ nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi là nuôi con nuôi hay là con đẻ. Vấn đề này thiết nghĩ cũng cần phải có sự hướng dẫn bằng văn bản cụ thể.
Ngoài ra, nhiều trường hợp cụ thể mà pháp luật Hôn nhân và gia đình cũng chưa bao quát hết được. Ví dụ, trường hợp người vợ có thai nhưng do người vợ nhận mang thai hộ người khác vì mục đích nhân đạo hoặc người vợ không có khả năng sinh con và đang thực hiện việc nhờ người khác mang thai hộ theo đúng quy định của pháp luật thì người chồng có quyền yêu cầu ly hôn hay không? Hoặc việc người chồng biết rõ là người vợ đang mang thai là con của người khác thì người chồng có quyền yêu cầu ly hôn hay không? Theo quan điểm của người viết thì vẫn không nên cho phép người chồng có quyền yêu cầu ly hôn trong những trường hợp này. Mặc dù con không phải của người chồng nhưng nếu trong trường hợp người vợ mang thai thì người chồng cũng nên quan tâm, chăm sóc người vợ vì nghĩa vụ của vợ chồng là yêu thương chăm sóc nhau. Trong trường hợp này, nếu người chồng ly hôn thì có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý của người vợ.
Tóm lại, pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành đã có những quy định cụ thể bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ thông qua việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong một số trường hợp nhất định. Với quy định như vậy thì quyền làm mẹ đã được pháp luật bảo vệ một cách thiết thực. Tuy nhiên, trong những trường hợp đã nêu cũng cần có những văn bản hướng dẫn cụ thể để thuận tiễn trong việc thực thi pháp luật. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
- Bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ khi xem xét các trường hợp ly hôn và căn cứ ly hôn
- Bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ khi ly hôn còn được pháp luật Hôn nhân và gia đình ghi nhận và bảo vệ thông qua việc xem xét các trường hợp ly hôn.
Để xem xét đánh giá cụ thể những trường hợp này, luận văn đi sâu phân tích một số khía cạnh cụ thể để làm rõ hơn quy định của pháp luật trong việc bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ trong các trường hợp ly hôn.
- Pháp luật cần phải xem xét việc bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ trong những trường hợp thuận tình ly hôn.
Có thể thấy, các quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình về việc thuận tình ly hôn cũng đã hướng tới việc đảm bảo quyền làm mẹ của người vợ bằng việc quy định “chỉ cho phép vợ chồng đồng thuận ly hôn khi đảm bảo được quyền lợi chính đáng của người vợ và con”. Theo quy định của pháp luật, người vợ và người chồng cùng thuận tình lý hôn là thể hiện ý chí, ý nguyện của các bên về việc giải quyết mối quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng. Khi bản thân hai vợ chồng xét thấy cuộc sống gia đình không hạnh phúc, cuộc sống chung có nhiều khúc mắc, không đạt được mục đích của cuộc sống hôn nhân và họ tự nhận thức được việc ly hôn là cần thiết thì hai vợ chồng cũng đồng nhau yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Trong yêu cầu ly hôn này, cả vợ và chồng đều thống nhất và đồng thuận trong việc giải quyết các hậu quả của việc ly hôn: hai bên phân chia tài sản rõ ràng, không có khúc mắc gì; hai bên cùng nhau thỏa thuận đầy đủ về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Với những điều kiện đặt ra như trên thì thật sự có sự đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người vợ và con thì Tòa án nhất trí giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Tuy nhiên, pháp luật lại quy định chặt chẽ hơn, nếu trong trường hợp những vấn đề nêu trên mà không đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người vợ, người con thì Tòa sẽ xem xét, giải quyết.
Căn cứ ly hôn trong trường hợp này đó là dựa trên sự tự nguyện ly hôn và sự thỏa thuận được giữa vợ và chồng về các hậu quả phát sinh trong và sau ly hôn. Căn cứ này được quy định cụ thể căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn [42]. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Với việc quy định như trên cũng đặt ra một số vấn đề cần lưu ý sau: Thế nào là bảo đảm quyền lợi chính đáng của người vợ và con thì điều luật này vẫn chưa đề cập tới. Do vậy, vấn đề này phụ thuộc nhiều vào nhận định từ phía Tòa án. Như vậy sẽ thiếu tính khách quan từ phía Tòa án trong những trường hợp vụ án Hôn nhân và gia đình cụ thể. Một vấn đề nữa, pháp luật quy định nếu không đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người vợ và con thì Tòa án xem xét giải quyết. Vậy, Tòa án xem xét giải quyết như thế nào, Tòa án có xử lý cho ly hôn hay không cho ly hôn, pháp luật lại không có quy định rõ ràng, cụ thể.
Với những phân tích như trên, cần phải có quy định bổ sung, hướng dẫn cụ thể quy định này để đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người vợ trong vấn đề giải quyết thuận tình ly hôn.
- Phải xem xét việc bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ trong trường hợp ly hôn xuất phát từ một bên vợ hoặc bên chồng
Đối với yêu cầu ly hôn xuất phát từ một bên thì pháp luật về Hôn nhân và gia đình hiện hành có quy định cụ thể hơn và cũng đảm bảo quyền lợi của người vợ trong trường hợp này. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy định cụ thể hơn trong trường hợp ly hôn do yêu cầu của một bên.
Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình thì khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà Tòa không hòa giải thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu xét thấy có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng đến quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Thêm nữa, để đảm bảo quyền lợi của người vợ hơn nữa thì trong trường hợp người chồng vắng nhà trong thời gian dài, biệt tích nhiều năm hoặc không còn tin tức của người chồng sau khi gặp các tai nạn hoặc thảm họa thiên nhiên thì theo quy định của pháp luật, Tòa án sẽ tuyên bố người chồng mất tích. Trong trường hợp này, pháp luật cho phép người vợ được quyền ly hôn để đảm bảo quyền và lợi ích cho người vợ. Khi người chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích mà người vợ yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn. Điều này đảm bảo quyền nhân thân của người vợ như việc tham gia quan hệ kết hôn mới… hoặc cũng đảm bảo cho việc quản lý tài sản của người chồng để đảm bảo cho cuộc sống gia đình, phát triển kinh tế.
Ngoài ra, trong trường hợp người vợ sống trong gia đình mà người chồng có hành vi bạo lực gia đình, đánh đập vợ con, gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người vợ thì pháp luật quy định cho người vợ có quyền được yêu cầu ly hôn. Trên thực tế có nhiều trường hợp người vợ phải chịu sự đánh đập, những đòn roi của người chồng. Pháp luật trước đây không có quy định này nên nhiều trường hợp bạo lực gia đình đã xảy ra mà chính quyền địa phương không giải quyết được và người vợ vì nhiều lý do mà không thực hiện quyền yêu cầu ly hôn.
Tóm lại, những trường hợp nêu trên khi mà người vợ hoặc người chồng thực hiện quyền yêu cầu ly hôn thì quyền làm mẹ của người vợ vẫn được đảm bảo thực hiện thông qua các quy định của pháp luật. Theo quy định, người mẹ vẫn được đảm bảo, quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con cái. Trong một số trường hợp, pháp luật còn đảm bảo quyền ưu tiên dành quyền nuôi con cho người vợ khi con dưới 36 tháng tuổi. Như vậy, quyền làm mẹ của người vợ phần nào đã được pháp luật tôn trọng và bảo vệ rất cụ thể. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
- Bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ trong trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu giải quyết việc ly hôn theo Khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Khi xảy ra trường hợp này, theo pháp luật dự liệu người vợ bị tâm thần hoặc bị bệnh khác mà dẫn đến tình trạng mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi và đồng thời bị chồng bạo hành gia đình thì lúc đó cha, mẹ, người thân thích khác sẽ yêu cầu ly hầu để đảm bảo quyền lợi cho người vợ. Quyền làm mẹ của người vợ trong trường hợp này xét về mặt pháp luật thì vẫn được đảm bảo. Xét về khía cạnh pháp luật, người vợ vẫn có đầy đủ quyền làm mẹ, có đầy đủ quyền được chăm sóc con, nuôi dưỡng, thăm nom con. Tuy nhiên, xét về mặt thực tiễn, người vợ không thể tự mình thực hiện những hoạt động trên. Pháp luật quy định cho phép cha mẹ, người thân thích khác được quyền yêu cầu ly hôn nhưng sau khi ly hôn thì hậu quả được xử lý thế nào thì pháp luật chưa có quy định cụ thể. Bởi vấn đề đặt ra là chưa có quy định cụ thể ai là người đại diện hoặc ai là người giám hộ của người vợ sau khi ly hôn trong trường hợp này? Do đó sẽ dẫn đến câu hỏi ai sẽ là người chăm sóc người vợ, quản lý tài sản của người vợ sau khi ly hôn, ai sẽ là người thay mặt người vợ chăm sóc con cái của họ, đảm bảo quyền làm mẹ cho người vợ sau khi ly hôn? Vấn đề này pháp luật còn chưa có quy định cụ thể. Bởi lẽ trong trường hợp này có vấn đề đặt ra là ai sẽ là người giám hộ cho người vợ? Có thể là cha, mẹ đẻ của người vợ, có thể là cha, mẹ nuôi của người vợ; cô, di, chú bác của người vợ, hoặc các con đã thành niên của người vợ… Theo quan điểm của người viết, pháp luật mới chỉ dừng lại ở câu chuyện là quy định cho cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu ly hôn trong trường hợp trên để đảm bảo quyền lợi cho người vợ nhưng lại chưa có quy định cụ thể để đảm bảo cho người vợ như thế nào về quản lý tài sản, về quyền làm mẹ; quyền chăm sóc con của người vợ; quyền của người mẹ nhận được sự chăm sóc từ các con. Do vậy, để hoàn thiện hơn nữa quy định này thì cần phải bổ sung thêm nhiều quy định cụ thể hơn.
Có thể thấy, qua những trường hợp xin ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quyền lợi của người vợ được đảm bảo hơn và có thể hiểu pháp luật đã chú ý đến bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ trong những trường hợp này như đã phân tích ở trên. Tuy nhiên, cần bổ sung thêm những quy định hướng dẫn và cụ thể hóa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để có thể quy định cụ thể và rõ ràng hơn việc bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ trong các trường hợp ly hôn.
- Bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ trong việc giải quyết quan hệ đối với con khi ly hôn
Bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ khi ly hôn còn thể hiện thông qua việc xem xét quan hệ giữa cha mẹ và con khi ly hôn. Theo quy định của pháp luật, sau khi ly hôn thì người cha hoặc người mẹ đều có quyền quan tâm, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con. Bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ trong việc thực hiện mối quan hệ với con được pháp luật ghi nhận khá đầy đủ và thể hiện ở những khía cạnh cụ thể: Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
- Bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ trong trường hợp người mẹ là người trực tiếp nuôi con
Khi ly hôn xảy ra, vấn đề ai là người trực tiếp nuôi dưỡng con luôn là câu hỏi đặt ra cần phải được giải quyết. Pháp luật cũng có quy định đảm bảo cho quyền làm mẹ của người vợ trong những trường hợp này.
Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, sau khi ly hôn thì người vợ bình đẳng với người chồng trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con. Cụ thể: người vợ có quyền trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chưa thành niên, con đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Như vậy, quyền được làm mẹ đối với các con của người vợ đã được pháp luật ghi nhận đảm bảo. Pháp luật đảm bảo và tôn trọng thỏa thuận của vợ chồng về việc người vợ hay người chồng là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Việc thỏa thuận này dựa trên ý chí, nguyện vọng chung của hai vợ chồng và có tính toán đến việc làm thế nào tạo điều kiện tốt nhất cho người con.
Trong trường hợp hai vợ chồng không thỏa thuận được, có tranh chấp về việc nuôi con thì Tòa án sẽ là người phân xử sẽ giao con cho vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con. Theo quy định Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi có căn cứ dựa trên quyền lợi về mọi mặt của con. Trong thực tế, thông thường để chăm sóc các con thì người mẹ sẽ được ưu tiên hơn bởi sự cân nhắc ở nhiều góc độ từ việc đảm bảo kinh tế để nuôi dưỡng cho các con đến thời gian chăm sóc, yêu thương, sự chăm chút cho các con khi các con còn nhỏ. Tòa án sẽ xem xét các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con xét trên góc độ đảm bảo tốt nhất quyền lợi của con. Tuy nhiên, việc phân định ai là người trực tiếp nuôi con còn được xem xét đến nguyện vọng của người con từ 07 tuổi trở lên là phù hợp với tâm lý của trẻ, tôn trọng nguyện vọng của trẻ, không áp đặt trẻ, tạo điều kiện tốt hơn cho đời sống của người con.
Bảo vệ quyền làm mẹ còn thể hiện trong việc pháp luật quy định người mẹ được ưu tiên quyền nuôi con khi con dưới 36 tháng tuổi. Pháp luật quy định như vậy không chỉ bảo vệ quyền làm mẹ cho người vợ mà còn có sự hợp lý nhất định. Khi đứa trẻ dưới 36 tháng tuổi, trên bình diện thông thường thì người mẹ là người có điều kiện chăm sóc nhất, gần gũi nhất với đứa trẻ và trong nhiều trường hợp người cha hay người thân thích khác không thể thay thế được vai trò của người mẹ đối với đứa trẻ trong giai đoạn này. Do vậy, để bảo vệ quyền làm mẹ cho người vợ và đảm bảo quyền lợi cho đứa trẻ thì pháp luật quy định ưu tiên cho người vợ được trực tiếp nuôi con khi con dưới 36 tháng tuổi. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Như vậy, với những quy định như trên quyền làm mẹ của người vợ đã được đảm bảo tốt hơn nhìn dưới góc độ: người mẹ đã được bình đẳng với người chồng trong việc được quyền nuôi con; việc con ở với ai Tòa án phân định dựa trên quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ chứ không phải chỉ dựa vào ai là người có điều kiện vật chất nuôi nấng đứa trẻ hơn; việc được nuôi con còn căn cứ trên nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên; ưu tiên cho người mẹ được quyền chăm sóc con khi con dưới 36 tháng tuổi.
Trong trường hợp người vợ là người trực tiếp nuôi con thì pháp luật cũng cho phép người vợ được quyền yêu cầu người chồng tôn trọng quyền con được sống chung với người vợ, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Điều này là rất cần thiết và quan trọng đối với người vợ, đặc biệt là người vợ trong thời kỳ đầu nuôi con. Thực tế, nhiều trường hợp sau khi Tòa án xử lý ly hôn thì người chồng không hề thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Điều này dễ dẫn đến những gánh nặng tài chính đối với người vợ khi họ phải tự mình chăm sóc con, do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho người vợ và người con thì người mẹ được quyền yêu cầu người chồng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Bên cạnh đó, để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho người vợ trực tiếp nuôi con, pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành đã bổ sung thêm quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ đảm bảo quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của mình. Nếu người chồng lạm dụng việc thăm nom để cản trở, gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người vợ thì người vợ có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người chồng.
- Bảo vệ quyền làm mẹ trong trường hợp người mẹ không trực tiếp nuôi con
Pháp luật Hôn nhân và gia đình cũng có quy định nhằm bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ thông qua việc cấp dưỡng cho con. Việc cấp dưỡng cho con không chỉ đơn giản là nghĩa vụ phải thực hiện của người vợ không trực tiếp nuôi con mà còn thể hiện tình cảm, sự quan tâm của người vợ đối với con. Như vậy, nếu người vợ không trực tiếp nuôi con thì quyền làm mẹ của người vợ cũng không bị mất đi. Pháp luật vẫn đảm bảo cho người vợ thực hiện quyền làm mẹ thông qua việc người vợ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng với con. Thực tiễn, nhiều vụ việc xảy ra là người chồng được trực tiếp nuôi con lại có những hành động nói xấu người vợ, có hành vi làm cản trở việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của người vợ với con.
Thêm vào đó, trong trường hợp người vợ không phải là người trực tiếp nuôi con thì pháp luật cũng đảm bảo cho người vợ được quyền thăm nom con mà không vướng vào bất kỳ sự cản trở nào từ phía người chồng hoặc gia đình nhà chồng. Pháp luật cũng quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở”. Quy định này rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ quyền làm mẹ cho người vợ đó là quyền được thăm nom, chăm sóc, yêu thương con cái. Bản năng thông thường của người phụ nữ là yêu thương, chăm sóc bảo vệ con cái của mình. Thực tế cho thấy có rất nhiều trường hợp sau khi ly hôn nếu con do người chồng trực tiếp nuôi dưỡng thì bằng nhiều cách thức đã hạn chế, cản trở người vợ thăm con, không cho người vợ tiếp xúc, gặp gỡ con. Rất nhiều trường hợp như vậy đã làm ảnh hưởng đến tâm lý, tình cảm của cả người vợ và con. Như vậy, trong trường hợp người vợ không được trực tiếp nuôi con vẫn được đảm bảo quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Quyền làm mẹ của người vợ được pháp luật bảo vệ thông qua quy định yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Khi người vợ thấy rằng người chồng không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con để mình có thể nhận nuôi con. Khi Tòa án xét thấy người vợ có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì người vợ sẽ được quyền nuôi con. Căn cứ để thay đổi người trực tiếp nuôi con là khi chưa có thỏa thuận của cha mẹ về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con. Với căn cứ trên người mẹ cũng được đảm bảo tốt hơn quyền làm mẹ, quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc con của mình. Ngoài ra, để đảm bảo tốt hơn nữa quyền làm mẹ thì pháp luật quy định thêm các chủ thể khác có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi người trực tiếp nuôi con không có đủ điều kiện trông nom, chăm sóc và giáo dục con cái. Chủ thể đó bao gồm: người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ. Quy định như trên bởi sau khi ly hôn, người vợ có thể có cuộc sống gia đình khác, có thể ở xa, không nắm bắt được việc nuôi dưỡng chăm sóc con của người chồng thì khó có thể thực hiện việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Đồng thời những cơ quan nêu trên là những cơ quan gần gũi, dễ dàng nắm bắt thông tin về người chồng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nên có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con để đảm bảo quyền lợi của người con cũng như quyền làm mẹ của người vợ.
Tóm lại, sau khi ly hôn quyền làm mẹ của người vợ đã được pháp luật nhìn nhận và bảo vệ dưới nhiều góc độ. Với quy định hiện hành thì quyền làm mẹ của người vợ sau khi ly hôn đã được bảo vệ cụ thể và đảm bảo tốt hơn.
2.1.2.4. Bảo vệ quyền tự do li hôn của người vợ
Bảo đảm quyền con người là một trong nhưng nội dung quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại nói chung và trong xã hội xã hội chủ nghĩa nói riêng. Trong đời sống Hôn nhân và gia đình, bảo vệ quyền con người được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau. Bảo vệ quyền tự do li hôn của người vợ cũng được nhắc đến như một khía cạnh để bảo vệ người phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình. Quyền li hôn là quyền nhân thân của người vợ hoặc người chồng để đảm bảo cho họ có quyền chấm dứt đời sống vợ chồng khi mà mục đích của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân không đạt được. Bảo vệ quyền tự do li hôn trong trường hợp người vợ thực hiện quyền li hôn cần được xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Bảo vệ quyền tự do li hôn được xuất phát từ một nguyên tắc Hiến định. Hiến pháp một văn bản quy phạm pháp luật quy định khái quát chung để đảm bảo cho công dân được có những quyền nhân thân nhất định, cụ thể là quyền kết hôn, li hôn của công dân được quy định tại Điều 36 Hiến pháp năm 2013: “Nam, nữ có quyền kết hôn, li hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng tôn trọng lẫn nhau” [39]. Nếu kết hôn được coi là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ Hôn nhân và gia đình thì ngược lại li hôn là sự kiện làm chấm dứt mối quan hệ này. Việc li hôn và kết hôn là những sự kiện cơ bản và đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ Hôn nhân và gia đình. Đây là cơ sở đầu tiên và rất quan trọng để đảm bảo quyền tự do li hôn của người phụ nữ. Nếu như người phụ nữ được đảm bảo về quyền tự do li hôn thù họ mới có thể dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu li hôn của họ trong những trường hợp nhất định. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Quyền tự do li hôn của người phụ nữ còn được ghi nhận thông qua nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và được cụ thể hóa tại Điều 51 như sau: “Vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn” [42]. Với quy định như vậy, pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành đã luật hóa được quy định của Hiến pháp về quyền kết hôn và ly hôn của vợ và chồng. Hơn nữa quy định nêu trên cũng đã góp phần bảo vệ quyền tự do ly hôn của người phụ nữ. Phải thấy rằng với quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành thì quyền tự do ly hôn của người phụ nữ đã được ghi nhận và đảm bảo thực hiện và được xem như một quyền nhân thân bất khả xâm phạm.
Bảo vệ quyền tự do ly hôn của người phụ nữ được pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành ghi nhận thông qua việc cho phép người phụ nữ thực hiện quyền yêu cầu ly hôn trong một số trường hợp cụ thể như sau:
- Một là, người vợ được quyền cùng với người chồng thỏa thuận về việc hai bên cùng nhau thuận tình li hôn.
Trong trường hợp hai vợ chồng thật sự tự nguyện ly hôn, cùng nhau thỏa thuận được việc phân chia tài sản, thỏa thuận được về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái thì cả người vợ và người chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Trong trường hợp này, quyền ly hôn của người vợ đã được pháp luật ghi nhận. Trong trường hợp, vợ chồng thuận tình ly hôn thì mọi thỏa thuận của hai bên đều phải đảm bảo quyền lợi cho người vợ và con. Nếu quyền lợi của người vợ và con không đảm bảo thì Tòa án sẽ là cơ quan giải quyết việc ly hôn. Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về thuận tình ly hôn là căn cứ đảm bảo quyền tự do ly hôn cho người vợ trong trường hợp hai vợ chồng cùng ý chí, cùng thỏa thuận được các vấn đề sau khi li hôn. Tuy nhiên, khi xem xét cụ thể những bất cập có thể xảy ra khi pháp luật đi vào thực tiễn thi hành thì cần xem xét trường hợp thuận tình ly hôn giữa vợ và chồng đặt ra trong từng điều kiện cụ thể.
Tuy nhiên, nếu người vợ thực hiện quyền yêu cầu ly hôn với người chồng nhưng lại đang trong trường hợp có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Trong trường hợp này pháp luật không cho phép giải quyết thuận tình li hôn. Vì nếu đặt trong một hoàn cảnh cụ thể, người vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi mà người chồng thuận tình cùng người vợ yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn thì không bảo vệ được quyền lợi cho người vợ và con. Nếu trường hợp trên xảy ra thì Tòa sẽ hướng dẫn vợ chồng chờ con đủ 12 tháng tuổi thì mới yêu cầu ly hôn. Còn nếu người vợ vẫn muốn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì phải “đơn phương ly hôn”.
- Hai là, người vợ đơn phương ly hôn theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghĩa là pháp luật còn ghi nhận và đảm bảo quyền yêu cầu ly hôn xuất phát từ một bên là người vợ trong những trường hợp sau: Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Như trường hợp nêu trên vừa phân tích khi người vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi mà muốn giải quyết ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết cho người vợ đơn phương ly hôn sau khi xét thấy ly hôn là cần thiết để đảm bảo vệ quyền lợi cho người vợ.
Trường hợp người chồng bị Tòa án tuyên bố là mất tích, người vợ được thực hiện quyền yêu cầu ly hôn. Quy định như trên vừa nhằm đảm bảo quyền tự do yêu cầu ly hôn của người vợ nhưng đồng thời cũng đảm bảo các quyền về nhân thân và tài sản khác của người vợ. Việc Tòa án giải quyết ly hôn cho người vợ trong trường hợp này cũng góp phần tạo điều kiện cho người vợ đảm bảo về mặt pháp lý để giải quyết các hậu quả phát sinh từ việc ly hôn, đặc biệt là việc xử lý tài sản sau khi ly hôn, đồng thời tạo điều kiện cho người vợ có thể tạo lập cuộc sống gia đình mới.
Trường hợp người vợ cũng được đảm bảo quyền yêu cầu ly hôn nếu thực tế có đầy đủ căn cứ để chứng minh người chồng của mình vi phạm quyền và nghĩa vụ làm chồng hoặc người chồng có hành vi bạo lực với mình mà hậu quả dẫn đến là hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, không đạt được mục đích hôn nhân. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không nêu cụ thể thế nào là vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ làm chồng. Cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để tránh những nhận định chủ quan, không thống nhất về vấn đề trên của Tòa án trong khi xét xử các vụ án hôn nhân gia đình. Các hành vi bạo lực gia đình đã được quy định cụ thể trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007.
Đảm bảo quyền tự do ly hôn của người vợ không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ là người vợ tự mình thực hiện quyền yêu cầu ly hôn mà còn được pháp luật xem xét dưới góc độ pháp luật quy định cho phép một số người khác có liên quan đến người vợ thực hiện quyền yêu cầu ly hôn. Theo đó, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:…2. Cha, mẹ, người thân thích có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do bị chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ [42].
Quy định này cũng góp phần giúp người vợ thoát khỏi những đau khổ về mặt tinh thần, thể xác khi sống cùng với người chồng bạo lực gia đình đồng thời đảm bảo cho người vợ các quyền lợi hợp pháp sau khi ly hôn.
Tóm lại, những trường hợp nêu trên được pháp luật quy định nhằm bảo vệ cho người phụ nữ, giúp người phụ nữ thoát khỏi cuộc hôn nhân không thành công, góp phần đảm bảo cho đời sống cho người vợ. Những quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành đảm bảo quyền tự do ly hôn của người phụ nữ vững chắc hơn từ những nguyên tắc hiến định cho đến những quy định pháp luật cụ thể. Thông qua đó, người vợ được đảm bảo quyền yêu cầu ly hôn trong những trường hợp pháp luật quy định và góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người phụ nữ khi ly hôn theo pháp luật hiện hành.
2.2 BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ TÀI SẢN Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Quyền tài sản của vợ chồng hay còn gọi là chế độ tài sản của vợ chồng là một phạm trù thuộc quyền sở hữu tài sản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.
Để đảm bảo thực sự quyền tự định đoạt của công dân, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm chế độ tài sản chung và chế độ tài sản riêng. Điều đó phụ hợp với yêu cầu khách quan của xã hội.
Chế độ tài sản giữa vợ và chồng mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định đã tạo ra môi trường pháp lý đảm bảo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng khi tham gia các giao dịch ngoài xã hội cũng như xã định rõ trách nhiệm, khả năng thanh toán của vợ chồng và đảm bảo quyền và lợi ích của những người khác khi tham gia giao dịch. Mặt khác, đó còn là căn cứ pháp lý để các cấp Tòa án giải quyết thấu đáo, công bằng những vụ tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng. Đây chính là căn cứ để bảo đảm quyền lợi của người phụ nữ trong quan hệ tài sản.
2.2.1. Bảo vệ quyền của phụ nữ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
- Bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong việc xác định tài sản chung
Để đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ, Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của của vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng [42].
Như vậy, căn cứ để xác định tài sản chung của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là: thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc tài sản. Ở từng căn cứ đó, chúng ta sẽ xét nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ thể hiện ở những mức độ nào. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
- Thời kỳ hôn nhân
Thực chất quyền của mỗi bên vợ chồng về tài sản chỉ được thiết lập và đảm bảo một cách công bằng khi xác định đúng thời điểm phát sinh quyền đó. Thời điểm phát sinh tài sản chung cũng chính là bắt đầu thời kỳ hôn nhân. Nó có ý nghĩa là tiền đề, cơ sở trong việc xác lập quyền lợi của người phụ nữ. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Tài sản chung chỉ hình thành từ khi có sự kiện kết hôn và sẽ không còn khi hôn nhân chấm dứt. Theo điểm 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thời kỳ hôn nhân được hiểu là: “khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính kể từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày hôn nhân chấm dứt hôn nhân”. Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể, rõ ràng về thời điểm phát sinh và chấm dứt tài sản chung vợ chồng, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm thiết lập quyền của mỗi bên, từ đó có cơ chế bảo vệ quyền của người vợ trong quan hệ tài sản. Người phụ nữ có thể dựa vào đó để bảo vệ quyền lợi của mình.
Khác với trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không được pháp luật công nhận, sẽ không xác định được thời kỳ hôn nhân. Vì vậy mà quyền của người phụ nữ không được đảm bảo vì không xác định được thời điểm xác lập quyền đối với tài sản. Việc xác định tài sản chung và tài sản riêng không có cơ sở rõ ràng, vì thế thực tế khi xảy ra tranh chấp sẽ không bảo vệ được quyền lợi chính đáng của người vợ.
- Nguồn gốc của tài sản
Nếu xác định thời kỳ hôn nhân (thời điểm phát sinh tài sản chung) là cơ sở tiền đề để thực hiện nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người vợ, thì quy định về nguồn gốc tài sản chung là bước cụ thể hóa nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong việc xác định tài sản chung. Thông qua quy định những tài sản nào thuộc về tài sản chung vợ chồng có thể nhận thấy nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ đã được áp dụng để xác định. Những tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
- Thứ nhất: Tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân.
Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra” [42]. Ngay từ mặt hình thức, cái dấu phẩy trong luật đã chứa đựng ý chí của Nhà nước khi xây dựng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Rằng chỉ cần một bên vợ hoặc chồng tạo ra tài sản trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản đó được coi là tài sản chung vợ chồng. Hành vi tạo ra tài sản không nhất thiết phải do hai vợ chồng cùng thực hiện. Xuất phát từ việc nhìn nhận vai trò của cả hai bên đối với tài sản chung là ngang nhau, nên pháp luật mới xác lập quyền sở hữu chung dựa trên nguồn gốc như vậy. Tuy nhiên, tạo ra chỉ được hiểu theo quan niệm các nhà làm luật, mà chưa được các văn bản pháp luật quy định cụ thể: “tạo ra” có nghĩa là một bên vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng bằng sức lao động trực tiếp của mình để tạo ra tài sản cho gia đình; hoặc cũng có thể do vợ, chồng dùng thu nhập hoặc các vật có giá trị trao đổi khác trong khối tài sản chung thuê hoặc mua quyền sở hữu tài sản do người thứ ba trực tiếp làm ra. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Như vậy, dù trực tiếp hay mua lại quyền sở hữu tài sản riêng của bên thứ ba và lấy tiền hay những vật có giá trị trao đổi từ khối tài sản chung, thì việc xác lập tài sản chung không căn cứ vào việc cả hai vợ chồng phải là người thực hiện; mà chỉ cần một trong hai người tạo ra tài sản cho gia đình; hoặc một bên người chồng xác lập giao dịch vì quyền lợi của cả gia đình, thì tất yếu sẽ xác lập đó là tài sản chung. Pháp luật quy định như vậy là xuất phát từ việc nhìn nhận vị trí vai trò của người phụ nữ là như nhau, không phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong gia đình.
- Thứ hai: Thu nhập vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân.
Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 kế thừa quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ghi nhận: “thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng là tài sản chung vợ chồng” [42]. Theo Từ điển tiếng Việt thu nhập được hiểu là “nhận được của cải vật chất từ một hoạt động nào đó”. Như vậy, thu nhập của vợ chồng có thể được hiểu là những lợi ích vật chất mà vợ chồng có được bao gồm các khoản tiền công, tiền lương phát sinh từ các hoạt động lao động mang tính chất nghề nghiệp, không mang tính chất nghề nghiệp hoặc các khoản lợi tức phát sinh từ các hoạt động sử dụng, quản lý tài sản trong sản xuất, kinh doanh hoặc trong giao lưu dân sự. Như vậy, những khoản thu nhập có thể có từ rất nhiều nguồn, pháp luật đã quy định chỉ cần do cá nhân vợ hoặc chồng có được trong thời kỳ hôn nhân thì đó là tài sản chung của vợ chồng. Do quá trình phân công lao động sản xuất mà người vợ, người chồng có thể làm những công việc khác nhau, phù hợp với khả năng của mỗi bên. Bất kể là một bên hoặc hai bên làm ra trong thời kỳ hôn nhân thì đó vẫn được coi là tài sản chung vợ chồng. Nếu gia đình chỉ có người chồng đi làm và tạo ra thu nhập, còn người vợ ở nhà làm công việc nhà và không tạo ra thu nhập thì thu nhập tạo ra vẫn là của chung hai vợ chồng. Pháp luật quy định như vậy là dựa vào bản chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân gia đình. Xuất phát từ yếu tố tình cảm mà gắn kết hôn nhân, tài sản tạo ra cũng là để xây dựng gia đình và để củng cố tình cảm, vì thế mà không phân biệt tài sản là do người chồng làm ra, nó đều là tài sản chung vợ chồng. Chính sự không phân biệt về thu nhập này là một trong những cơ sở để đảm bảo quyền lợi của người vợ trong quan hệ tài sản.
- Thứ ba: Tài sản do vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung.
Đây là trường hợp xác lập quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng phụ thuộc vào sự định đoạt của chủ sở hữu hoặc theo quy định pháp luật về thừa kế (BLDS). Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
- Thứ tư: Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn.
Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được thừa kế riêng. Như vậy, trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được tặng cho riêng, thừa kế riêng, nếu vợ chồng hoặc một bên người chồng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao hoặc cho thuê đất ở, giao đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng thì quyền sử dụng các loại đất này cũng được xác định là tài sản chung ngay cả khi người vợ không trực tiếp sử dụng đất đó. Như vậy, dựa vào bản chất của hôn nhân, mục đích chung sống cùng gây dựng sự nghiệp mà pháp luật quy định dù chỉ giao cho một bên là người chồng thì đất đai sẽ thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Vì đất đai thường được sử dụng để làm kinh tế hoặc nếu vì lý do khác cũng phục vụ lợi ích của cả gia đình, nên quy định nó là tài sản chung. Quy định này càng khẳng định quyền của người vợ đối với tài sản chung trong gia đình là ngang nhau trong khối tài sản trong gia đình.
- Thứ năm: Tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cả những tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung thì cũng là tài sản chung. Cụ thể trong hai trường hợp vợ chồng có thể thỏa thuận đó là:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận: “vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung” [42]. Quy định như vậy là xuất phát từ quyền của mỗi bên vợ chồng. Pháp luật đã thừa nhận quyền của người phụ nữ trong quan hệ tài sản, sự thỏa thuận là biểu hiện cao nhất của sự công bằng, bình đẳng giữa vợ và chồng. Theo đó, vợ chồng có thể thỏa thuận là tài sản chung đối với tài sản có khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ trong trường hợp tài sản chung chia trong thời kỳ hôn nhân; đồ dùng tư trang cá nhân. Việc thỏa thuận này ghi nhận sự bình đẳng trong việc thể hiện ý chí của vợ, chông đối với khối tài sản chung. Nếu người chồng muốn nhập tài sản riêng vào tài sản chung nhưng người vợ không đồng ý thì sẽ không được nhập.
Việc khôi phục chế độ tài sản chung sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng được xác định dựa trên sự thỏa thuận của vợ chồng, tức là tôn trong quyền của mỗi cá nhân nói chung và của người phụ nữ nói riêng.
- Thứ sáu: Tài sản chung là những tài sản không đủ chứng cứ xác định là tài sản riêng.
Khi xác định tái sản trong trường hợp có tranh chấp, không kể đó là tài sản riêng của người chồng nhưng nếu như không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng thì đó là tài sản chung của vợ chồng. Quy định như vậy nhằm nâng cao trách nhiệm của mỗi bên, không phân biệt là bên vợ hoặc bên chồng đều phải chú ý bảo vệ quyền sở hữu của mình. Nguyên tắc suy đoán pháp lý này là một điểm mới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và tiếp tục được kế thừa trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung” [42, Khoản 4 Điều 33]. Trong trường hợp người chồng nhận tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng của mình nhưng không có đủ chứng cứ chứng minh thì tài sản đó được xác định là tài sản chung vợ chồng.
- Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ còn thể hiện qua quy định: Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất” [42]. Đây là điều luật cụ thể hóa Điều 233 Bộ luật dân sự. Đối với tài sản chung của vợ chồng là đồng sở hữu chủ, trong đó phần quyền của mỗi bên không được xác định cụ thể. Việc quy định quyền sở hữu đặc biệt không phân chia như vậy được vì Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam ghi nhận vị trí vai trò của vợ, chồng là như nhau. Nó thực sự thể hiện được bản chất của hôn nhân là nam nữ bình đẳng, dựa trên cơ sở tình cảm gây dựng cuộc sống, xóa bỏ sự phân biệt về giới, về đóng góp công sức. Nhờ có quy định như vậy, mà người phụ nữ được đánh giá, thụ hưởng ngang nhau các thành quả của sự phát triển khi lập gia đình.
- Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ được thể hiện thông qua quy định tài sản chung của vợ chồng phải được đăng ký theo quy định của pháp luật.
Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng” [42]. Quy định một số tài sản có đăng ký quyền sở hữu phải ghi họ tên của cả hai vợ chồng có ý nghĩa rất quan trọng, nó khẳng định sự bình đẳng về tư cách chủ thể của người vợ trong quan hệ sở hữu chung hợp nhất, đồng thời tạo điều kiện cho việc đưa tài sản vào tham gia các giao dịch dân sự hoặc kinh tế. Quy định đó chứng tỏ các nhà làm luật đã dự kiệu sự bình đẳng có đảm bảo cho người phụ nữ. Ghi tên của người vợ đối với các tài sản phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu chính là ghi nhận quyền sở hữu tương đương nhau đối với tài sản chung, nhất là những tài sản có giá trị lớn.
Trên thực tế, giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tái sản chung chỉ ghi tên một bên vợ, chồng, khi giải quyết Tòa án vẫn công nhận tài sản chung. Bởi vì pháp luật Hôn nhân và gia đình đã dự liệu để đảm bảo quyền của người vợ cũng như người chồng nếu không được ghi tên trong khối tài sản chung.
Pháp luật quy định như vậy là nhằm bảo vệ quyền lợi tối đa của người vợ đối với khối tài sản chung. Vì tài sản chung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo cho gia đình có một cơ sở vật chất ổn định để thực hiện các chức năng gia đình và các chức năng xã hội. Vì vậy, pháp luật luôn dự liệu những quy định chặt chẽ với tài sản chung của vợ chồng dựa trên nguyên tắc bình đẳng, đảm bảo cuộc sống gia đình bền vững, góp phần nâng cao dân chủ và hạnh phúc trong gia đình.
- Bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong việc tạo lập và bảo vệ khối tài sản chung.
Pháp luật quy định nghĩa vụ chung của vợ chồng, để tùy vào hoàn cảnh gia đình, điều kiện sức khỏe công tác mà tạo lập, phát triển khối tài sản chung. Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “Tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản do vợ, chồng tạo ra, những thu nhập hợp pháp mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân (trừ những trường hợp pháp luật quy định là tài sản riêng)… Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất” [42], quy định như vậy thể hiện tính hợp nhất của quyền sở hữu, ghi nhận vai trò ngang nhau của cả vợ, chồng trong quan hệ sở hữu. Đó là một đặc trưng thường chỉ xuất hiện trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, xuất phát từ tính chất cộng đồng của hôn nhân mà dẫn đến vợ, chồng cùng chung sức, cũng chung ý chí trong việc tạo lập khối tài sản chung. Trong thực tế cuộc sống, sự đóng góp công sức của vợ chồng vào khối tài sản chung có thể ngang nhau, do sự khác biệt từ đặc điểm về giới tính quy định, điều kiện nghề nghiệp, lao động… quyết định, thì một bên vợ, chồng cũng không thể giảm sút quyền sở hữu đối với bên còn lại. Ví dụ: Vợ làm công việc nội trợ, chồng đi làm và kiếm được 1 tỷ, thì 1 tỷ này là tài sản chung của vợ chồng chứ không phải là tài sản riêng của người chồng, mặc dù người vợ không cùng tạo ra tài sản. Vì từ xưa, ông cha ta đã có câu: “của chồng công vợ”, đó là sự đúc kết qua bao đời mà cho đến thời đại ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Mọi thành công của người chồng để phản ánh sức hữu hình là hỗ trợ trực tiếp bằng vật chất, sức lao động; hoặc hỗ trợ vô hình bằng tinh thần cho người chồng đã làm thay cho người chồng các công việc như nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái và các công việc khác… để người chồng có thể toàn tâm toàn ý đi làm. Như vậy, việc quy định tài sản chung vợ chồng là tài sản chung hợp nhất là hoàn toàn hợp lý. Nó vừa ghi nhận vai trò của người vợ trong việc tạo lập tài sản là ngang nhau, vừa thể hiện đúng mục đích và bản chất của Luật Hôn nhân và gia đình của nhà nước ta nhằm mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc, vì lợi ích chung. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Điểm b khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quy định: “Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập” [42]. Như vậy, pháp luật đã dự liệu đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ vì phải làm công việc nhà mà không trực tiếp làm ra của cải thì quyền sở hữu vẫn ngang bằng với người chồng. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tạo điều kiện cho người vợ có điều kiện phát hiện khả năng của mình là như nhau. Dù có làm chức năng nào, sản xuất hay tái sản xuất thì quyền sở hữu vẫn được đảm bảo. Vì do phân công lao động, mỗi bên vợ chồng làm các chức năng khác nhau, và lao động trong gia đình không trực tiếp tạo ra lợi tức nhưng được coi như có thu nhập. Quy định này hướng tới đối tượng là phụ nữ là chính. Bởi vì phụ nữ thường đảm nhiệm chức năng tái sản xuất mà từ xưa đến nay thường bị coi rẻ, bị áp bức bất công, nay được nhìn nhận có vai trò to lớn ngang với người chồng. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dự liệu như vậy là hướng chủ yếu đến người vợ, tuy nhiên không có nghĩa là dành đặc quyền cho họ, là bất bình đẳng mà chỉ là ghi nhận những quyền của họ đáng được hưởng từ lâu.
- Bảo vệ quyền của phụ nữ trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung mà không căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên.
Điều 233 Bộ luật dân sự, Khoản 1 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận” [42]. Để có sự ổn định và an toàn về cơ sở vật chất trong gia đình, trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng ý chí của cả hai vợ chồng. Khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau: a) Bất động sản; b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình” [42]. Người chồng không thể tự ý quyết định những tài sản mang tính quan trọng đối với gia đình mà không thỏa thuận bàn bạc với người vợ. Việc thỏa thuận này có ý nghĩa rất lớn, trước hết nó đem lại sự bình đẳng về mặt ý chí của người vợ. Bên cạnh đó nó giúp duy trì cuộc sống gia đình ấm no hạnh phúc, vì việc chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản làm chuyển dịch hay tăng, giảm tài sản chung hợp nhất. Những tài sản có giá trị lớn có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cuộc sống gia đình hạnh phúc. Pháp luật quy định bắt buộc phải có sự thỏa thuận của vợ chồng chính là đảm bảo nguyên tắc vợ chồng bình đẳng cũng như bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người phụ nữ đối với tài sản chung.
Vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Pháp luật không phân biệt chức năng kinh tế do chồng hay vợ thực hiện mà đó là trách nhiệm chung của hai vợ chồng. Trong trường hợp vì lý do giới tính, sức khỏe, nghề nghiệp, mức thu nhập mà công sức đóng góp ít hơn thì cũng không làm giảm hoặc mất quyền sở hữu của họ đối với tái sản chung, lao động trong gia đình được tính ngang với lao động tạo ra của cải vật chất. Trong các giao dịch có đối tượng là tài sản chung thì vợ chồng bình đẳng với nhau khi tham gia giao dịch có giá trị tài sản chung lớn, tài sản chung đưa vào kinh doanh, tài sản là nguồn sống duy nhất của gia đình thì phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của hai vợ chồng.
2.2.2. Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ khi vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Trong đời sống Hôn nhân và gia đình hiện nay bị ảnh hưởng rất nhiều bởi nhiều yếu tố. Cơ sở vững chắc để tiến đến hôn nhân của cả người nam và nữa đó là tình yêu. Khi giữa hai người còn tồn tại tình yêu thì mọi việc đều được giải quyết dễ dàng. Tuy nhiên, khi tình yêu không còn và vấn đề ly hôn được đặt ra trong thực tiễn đã xảy ra nhiều tranh chấp về tài sản rất khó giải quyết. Khó khăn ở đây chính là việc xác định tài sản của mỗi bên vợ và chồng khi ly hôn xảy ra. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ ghi nhận tài sản hình thành trong quá trình hôn nhân là tài sản chung nên chưa bao trùm các vấn đề nảy sinh. Bên cạnh đó, theo quy định của Luật này thì việc xác định tài sản chung và tài sản riêng không hề đơn giản. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định về việc thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng. Dưới góc độ pháp luật, quyền sở hữu về tài sản của người vợ và người chồng được đảm bảo hơn thông qua việc xác lập cụ thể tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng trước ngày đăng ký kết hôn. Dưới góc độ xã hội, việc thỏa thuận tài sản trước khi kết hôn dường như cũng được thừa nhận một cách rộng rãi trong đời sống của người dân. Nguyên nhân cũng có thể là do quan niệm về hôn nhân của xã hội ta: hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa hai bên. Sự liên kết này không phụ thuộc vào tính toán vật chất, mà dựa trên cơ sở tình yêu thương, bình đẳng và tự nguyện giữa vợ và chồng, với mục đích xây dựng mối quan hệ bền vững. Tuy nhiên, nhìn nhận dưới góc độ duy lý thì thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng cũng góp phần đảm bảo quyền sở hữu tài sản của cả người vợ và người chồng khi ly hôn xảy ra. Theo quy định của pháp luật, trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Sau khi thỏa thuận về tài sản của vợ chồng thì thỏa thuận này được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn. Như vậy, thông qua thỏa thuận về tài sản của vợ chồng thì tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng được xác định. Trên cơ sở đó sẽ xác định được quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và các giao dịch có liên quan. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng được quy định cụ thể tại Điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Với nội dung quy định như trên thì rõ ràng việc định liệu về tài sản được lập trước khi kết hôn vừa đảm bảo quyền sở hữu tài sản vợ, chồng vừa là các ứng xử công bằng và tiến bộ cho cả hai bên vợ, chồng. Có thể thấy rằng quyền sở hữu tài sản được đảm bảo một cách vững chắc thông qua chế độ thỏa thuận về tài sản trước hôn nhân. Tuy nhiên, trong điều kiện xã hội Việt Nam hiện tại để thực thi quy định này trong thực tiễn còn có nhiều vướng mắc cần phải giải quyết.
Về thời điểm xác lập chế độ tài sản của vợ chồng: Theo Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khi vợ chồng kết hôn mà lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này bắt buộc phải được lập trước khi kết hôn. Xét về khía cạnh quyền nhân thân, việc thiết lập chế độ tài sản theo thỏa thuận là quyền của vợ chồng thì việc xác lập vào thời điểm nào phải dựa trên ý nguyện, điều kiện cụ thể của vợ, chồng. Do vậy, nếu pháp luật chỉ giới hạn thỏa thuận chế độ tài sản vợ chồng phải lập trước khi kết hôn cũng chưa đảm bảo hết quyền tài sản của vợ chồng. Đặt ra trường hợp, trước khi kết hôn thì vợ chồng có rất ít tài sản nên vợ chồng không có ý định thiết lập chế độ tài sản theo thỏa thuận. Trong quá trình hôn nhân, vợ chồng được thừa kế hoặc vợ chồng tạo lập được khối tài sản khá lớn và mong muốn xác lập về chế độ tài sản theo thỏa thuận thì pháp luật lại không cho phép. Việc lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận không chỉ được hiểu có ý nghĩa riêng đối với vợ, chồng mà còn có ý nghĩa phân định tài sản cho người thứ ba khác ngoài vợ chồng. Nếu quy định như trên thì sẽ chưa mở rộng quyền cho vợ chồng trong việc định đoạt tài sản. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Đối với các tài sản vợ chồng mà chưa thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng: Trong trường hợp này pháp luật lại dẫn chiếu áp dụng Điều 29, 30, 31, 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định để giải quyết. Như vậy, dường như pháp luật vẫn quy định ưu tiên cho hướng áp dụng các quy định của pháp luật để phân định về tài sản của vợ chồng. Trong trường hợp tài sản chưa được thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì vẫn có thể cho phép vợ chồng tiến hành thỏa thuận mà không cần áp dụng những quy định về chế độ tài sản theo luật định để giải quyết. Trên thực tế ý chí định đoạt tài sản thỏa thuận không trái pháp luật nhiều khi không đồng nhất với việc phân định tài sản theo quy định của pháp luật.
Nội dung của thỏa thuận còn nhiều bất cập: Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 cũng chỉ quy định chung về tài sản vợ chồng, nguyên tắc phân định, xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Điều 125 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP cũng chỉ mới nêu được thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng có thể lựa chọn: vợ chồng có thể có tài sản chung, tài sản riêng trong quá trình hôn nhân; tài sản vợ chồng trong quá trình hôn nhân là tài sản chung toàn bộ. Như vậy, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng sau khi ly hôn thì lại căn cứ theo nguyên tắc phân chia tài sản theo luật định. Với quy định như trên thì chế độ tài sản theo thỏa thuận chưa mang lại nhiều ý nghĩa trong thực tiễn thực thi. Một vấn đề đặt ra là chế độ tài sản theo thỏa thuận cũng chưa nêu rõ quy định nếu khi vợ chồng ly hôn thì người vợ hoặc người chồng được hưởng phần tài sản nào từ tài sản chung của vợ chồng hoặc phần tài sản nào từ tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng. Như vậy, quyền lợi của người vợ về tài sản trong những trường hợp nêu trên cũng chưa được đảm bảo một cách cụ thể. Hơn nữa, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không quy định chế độ ly thân nhưng thực tiễn đời sống có rất nhiều cặp vợ chồng ly thân. Vậy nếu hai vợ chồng ly thân và người vợ đảm nhiệm nuôi con thì người vợ được hưởng phần tài sản như thế nào thì chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận cũng chưa quy định cụ thể.
Tóm lại, với việc vợ chồng xác định rõ về việc sở hữu tài sản trước khi kết hôn cũng là một phương thức bảo vệ quyền sở hữu tài sản của cả hai bên khi ly hôn xảy ra. Quy định này góp phần đảm bảo cho việc xác định rõ khối tài sản của vợ chồng và góp phần đảm bảo tốt hơn cho việc phân chia tài sản của vợ chồng sau khi li hôn. Nhìn ở khía cạnh chung, quy định về chế độ thỏa thuận tài sản của vợ chồng cũng góp phần đảm bảo quyền sở hữu tài sản cho người vợ khi phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
2.2.3. Bảo vệ quyền xác lập, chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản riêng của người phụ nữ
- Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ thông qua việc xác định tài sản riêng
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bên cạnh việc thừa nhận quyền sở hữu chung hợp nhất còn thừa nhận quyền có tài sản riêng của người phụ nữ. Pháp luật đã tôn trọng quyền của mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho người phụ nữ có sự độc lập nhất định về tài sản để giải quyết những công việc cá nhân. Bởi vì ngoài quan hệ gia đình thì người phụ nữ còn nhiều mối quan hệ xã hội khác không thể thiếu, đặc biệt là tham gia vào các giao dịch dân sự, kinh tế.
Pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành đã tôn trọng quyền của người phụ nữ bằng việc quy định cho người phụ nữ quyền có tài sản riêng. Khoản 1 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng [42].
Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã xác định tài sản riêng của người phụ nữ dựa vào thời điểm phát sinh trước khi kết hôn; dựa vào sự định đoạt của người để lại di sản hoặc người tặng cho di sản; dựa vào sự kiện chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Ở từng căn cứ, thì quyền của người phụ nữ được xác lập một cách khách quan, được đảm bảo ngang nhau với người chồng. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Một là, tài sản của người vợ có trước khi kết hôn. Pháp luật đã đảm bảo quyền của người vợ dựa vào bản chất của tài sản. Những tài sản có trước khi kết hôn không được tạo ra trên nguồn gốc của cuộc sống gia đình, không dựa trên tính chất của cuộc hôn nhân. Nếu vì pháp luật quy định mà gộp nó vào là tài sản chung thì đã tước đi quyền định đoạt của công dân. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã tạo điều kiện cho người phụ nữ có quyền định đoạt đối với tài sản mà xét về bản chất nó là tài sản riêng. Như vậy, các nhà làm luật đã dự liệu cho người phụ nữ có điều kiện ngang nhau phát huy hết khả năng tạo thu nhập và tài sản để làm giàu cho cá nhân và xã hội. Việc tạo ra tài sản và có thu nhập được thể hiện thông qua lao động sản xuất kinh doanh, hoặc do chuyển dịch quyền sở hữu từ chủ thể khác.
Hai là, tài sản mà người vợ được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Việc dự liệu cho người phụ nữ được hưởng ngang với người chồng từ những tài sản được tặng cho, được thừa kế là đảm đảm quyền được thừa kế tài sản của người phụ nữ. Dựa vào ý chí của người tặng cho di sản và người để lại thừa kế, thì người vợ có quyền hưởng thụ khối tài sản đó và được coi là tài sản riêng của mình.
Ba là, tài sản vợ chồng được chia trong trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của người vợ trong thời kỳ hôn nhân. Những căn cứ xác lập quyền tài sản riêng đó đều dựa trên cơ sở khách quan đảm bảo sự bình đẳng của người vợ đối với tài sản riêng. Dựa vào những căn cứ khách quan như: sau khi chia tài sản chung; và những hoa lợi đối với tài sản riêng thì cả vợ và chồng đều được đảm bảo quyền lợi ngang nhau.
Như vậy, trong việc xác định tài sản riêng của người phụ nữ bao gồm cả căn cứ xác định, nguồn gốc tài sản thì đều được xây dựng dựa trên nguyên tắc bình đẳng vợ chồng. Xuất phát từ việc đánh giá khách quan, chính xác, đúng đắn về nỗ lực của mỗi bên, nên pháp luật quy định đảm bảo sự bình đẳng bằng việc ghi nhận vai trò của mỗi bên là ngang nhau, và dự liệu cho từng cá nhân hưởng thụ ngang nhau thành quả của sự phát triển. Các căn cứ xác định về tài sản vì thế rất khách quan; đồng thời chế độ tài sản cũng đảm bảo sự bình quyền một cách cao nhất, không phân biệt về mặt giới tính.
- Bảo vệ quyền chiếm hữu sử dụng, định đoạt tài sản riêng của người phụ nữ
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thừa nhận quyền sở hữu riêng của người phụ nữ. Trong cuộc sống gia đình, người vợ có quyền nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung để thống nhất mà không muốn phân biệt về tài sản chung, riêng. Tuy nhiên, để ổn định trong giao dịch dân sự và dễ dàng cho việc giải quyết tranh chấp, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định đối với tài sản riêng có giá trị lớn hoặc bất động sản, thì khi nhập vào khối tài sản chung, cần lập thành văn bản có chữ ký của cả hai vợ chồng. Đó là quy định xuất phát từ sự tôn trọng và đánh giá quyền của người vợ và chồng là ngang nhau.
Hơn nữa, các nhà làm luật cũng dự liệu nguyên tắc tự do sử dụng quyền của chủ sở hữu đối với tài sản riêng của mỗi bên. “Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình” [42, Khoản 1 Điều 44]. Trong trường hợp người có tài sản riêng không có điều kiện trực tiếp quản lý tài sản riêng của mình do điều kiện vế sức khỏe, đi công tác xa.. có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản của mình, ngay cả chồng cũng không phải là người quản lý đương nhiên, mà chỉ có quyền đó khi nhận được sự ủy quyền của người vợ có tài sản (Khoản 2 Điều 44). Như vậy, quyền của người vợ đối với tài sản riêng là độc lập với nhau. Không phụ thuộc vào ý chí của người chồng. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Ngay cả việc bị hạn chế quyền đối với tài sản riêng thì người chồng cũng có nghĩa vụ như nhau. Vợ chồng có nghĩa vụ như nhau trong việc dùng tài sản riêng để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của gia đình; Theo khoản 2 Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên. Như vậy, pháp luật quy định nghĩa vụ bình đẳng giữa hai bên, không phân biệt vợ hay chồng. Hơn nữa, vợ, chồng bình đẳng trong việc thỏa thuận định đoạt tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp tài sản riêng của người chồng là đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng sẽ vô hiệu nếu không có sự thỏa thuận và đồng ý của người vợ (Khoản 4 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Pháp luật đã dự liệu để bảo vệ quyền lợi của cả hai bên vợ chồng, lợi ích của bất cứ vợ hay chồng đều phải gắn với lợi ích của cả gia đình.
Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã trao quyền định đoạt tài sản tương đối độc lập cho người phụ nữ bằng việc dự liệu người phụ nữ cũng có quyền tài sản riêng. Quy định đó đã tạo điều kiện cho vợ, chồng có thể thực hiện các giao dịch dân sự, đặc biệt là kinh doanh thương mại một cách chủ động, không phân biệt, đem lại đặc quyền cho bên nào. Tương ứng với quyền đó, là nghĩa vụ bắt buộc dành cho cả vợ và chồng. Cả hai đều có nghĩa vụ ngang nhau vì đảm bảo đời sống gia đình khi tài sản chung không đủ để thanh toán…
Tóm lại, vợ chồng bình đẳng với nhau về mọi mặt trong gia đình cũng như ngoài xã hội, là một nguyên tắc nhất quán trong quan hệ Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình. Nó đã giải phóng người phụ nữ khỏi những tàn dư của sự kìm hãm của tư tưởng gia đình phong kiến, đồng thời bảo vệ tối đa quyền lợi cho người phụ nữ về quan hệ tài sản.
2.2.4. Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Thông thường, chế độ tài sản chung gắn với thời kỳ hôn nhân, và tài sản chung chỉ được chia khi hôn nhân đã chấm dứt nhưng pháp luật đã tạo điều kiện cho mỗi bên vợ, chồng có thể sử dụng định đoạt tài sản trong khối tài sản chung mà bên kia không đồng ý. Ví dụ: Người vợ muốn sử dụng tài sản chung vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng người chồng không đồng ý; người vợ phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng nhưng người chồng không đồng ý sử dụng tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ đó. Tóm lại, chỉ cần người vợ có nhu cầu sử dụng tài sản chung mà không muốn ly hôn khi người chồng không đồng ý, người vợ có quyền yêu cầu chia tài sản chung. Quy định linh hoạt như vậy là đảm bảo quyền độc lập về tài sản của người vợ và tránh được những mâu thuẫn. Hơn nữa, nhà làm luật đã tạo điều kiện cho người vợ có thể độc lập trong cuộc sống bằng cách trao cho họ các quyền đó. Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết” [42]. Quy định này đảm bảo quyền định đoạt tài sản của vợ chồng đối với tài sản chung, đồng thời tạo sự thông thoáng về thủ tục, đặc biệt khi chia tài sản chung để một bên vợ chồng tham gia vào các giao dịch dân sự hoặc kinh tế. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được coi là một điểm đặc biệt trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, bởi vì nó không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ, chồng như chế định ly thân ở các nước phương tây. Chính vì đánh giá khách quan về vai trò của vợ, chồng là ngang nhau nên ngay cả việc chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật cũng tôn trọng quyền thỏa thuận của hai bên. Chỉ khi không thỏa thuận được mới nhờ Tòa án can thiệp.
Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tài thì tài sản chung vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt về mặt pháp lý như: ly hôn, một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Nhưng các nhà làm luật vẫn đặt ra vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, là xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội, của các quan hệ Hôn nhân và gia đình trong những năm qua.
Một số trường hợp vợ chồng dù có mâu thuẫn sâu sắc, tình cảm không còn nhưng vì lý do nào đó như: sợ ảnh hưởng tới hòa khí trong gia đình, ảnh hưởng tới con cái, sợ hàng xóm chê cười, ảnh hưởng tới danh dự của nhau… mà người vợ không yêu cầu ly hôn, chỉ yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng. Chính vì vậy, việc chia tài sản chung khi hôn nhân tồn tại trở thành một nhu cầu tất yếu, đáp ứng được thực tế đặt ra cho các cá nhân tự phát huy các khả năng của mình trong xã hội. Mặt khác, vừa giảm thiểu một tỷ lệ lớn các cặp vợ chồng xin ly hôn, hạn chế thấp nhất tranh chấp phát sinh giữa vợ và chồng.
Ngoài ra, việc quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng thể hiện được tư tưởng lập pháp tiến bộ của nhà nước ta, đó là quan tâm đến lợi ích của người phụ nữ trong gia đình và trong các mối quan hệ ngoài xã hội. với việc quy định vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ là cơ sở để Tòa án giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng đều chấm dứt khi phán quyết li hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Ngay cả khi tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, hai bên không thể chung sống thì pháp luật vẫn dự liệu bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ. Việc chia tài sản chung theo thỏa thuận của hai bên, nếu không thỏa thuận được có thể nhờ Tòa án giải quyết. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn đảm bảo quyền bình đẳng cho cả hai bên vợ chồng thông qua việc dự liệu cho họ thỏa thuận chia tài sản chung. Vì thỏa thuận là biểu hiện cao nhất của sự bình đẳng ý chí giữa hai bên vợ chồng.
Trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận chia tài sản chung, có thể yêu cầu Tòa án giải quyết, và nguyên tắc giải quyết của Tòa án theo khoản 2 Điều 59:
Về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên trong việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ chồng trong gia đình được coi như lao động có thua nhập; bảo vệ quyền lợi của vợ và con chưa thành niên… Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch. Việc chia tài sản cũng bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh [42].
Như vậy, tài sản chung vợ chồng được chia theo nguyên tắc chia đôi chứng tỏ pháp luật ghi nhận vai trò ngang nhau của phụ nữ trong việc tạo lập khối tài sản chung. Đặc biệt, quy định về lao động trong gia đình là lao động có thu nhập, thực sự xóa nhòa mọi ranh giới, khẳng định lại quyền lợi chủ yếu cho người vợ, từ xưa quyền đó đã bị vùi dập. Đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ trong gia đình là cơ sở cho sự bình đẳng thực sự. Bên cạnh đó chia tài sản chung căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên là biểu hiện của nguyên tắc bình đẳng vợ chồng. Vì cần hiểu công sức đóng góp ở đây không chỉ tính theo thu nhập bằng tiền mà là công sức nói chung, về cả ba vai trò: tái sản xuất, sản xuất và cộng đồng của vợ chồng.
Khi chia tài sản phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và con chưa thành niên. Đây là quy định trực tiếp nói đến vấn đề bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ. Pháp luật Hôn nhân và gia đình luôn quan tâm đến quyền lợi của người phụ nữ trong quan hệ Hôn nhân và gia đình nói chung và trong quan hệ tài sản nói riêng. Bởi vì phụ nữ do đặc điểm về giới tính, về thiên chức làm mẹ, về sức khỏe, họ là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nên việc ghi nhận và có cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ là một việc làm hết sức cần thiết.
Pháp luật cũng ghi nhận quyền thỏa thuận khôi phục lại chế độ tài sản chung của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Theo Điều 41 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Hình thức của thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 38 của Luật này” [42]. Quy định này trao quyền cho người phụ nữ một quyền hạn rất lớn. Các nhà làm luật thực sự đã ghi nhận nguyên tắc bình đẳng vợ chồng, bằng cách thể chế hóa cao độ quyền tự do thỏa thuận của mỗi các nhân trong việc yêu cầu chia tài sản hay khôi phục tài sản trong thời kỳ hôn nhân.
2.2.5. Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ khi li hôn
Vấn đề tài sản là một trong những vấn đề quan trọng trong đời sống Hôn nhân và gia đình cũng như sau khi vợ chồng ly hôn. Trong việc giải quyết hậu quả pháp lý của ly hôn, vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng là điều cần thiết, bảo đảm điều kiện sống cho mỗi bên sau khi ly hôn. Song đây cũng là hậu quả pháp lý nặng nề nhất, chứng kiến sự tan rã toàn bộ các cơ sở tinh thần, vật chất của gia đình với tư cách là tế bảo của xã hội. Do vậy, pháp luật cũng cần phải đặt ra những quy định để đảm bảo quyền lợi về tài sản của người vợ khi vợ chồng ly hôn. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
- Thứ nhất, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ theo nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn.
Khi ly hôn xảy ra vấn đề chia tài sản cho vợ chồng như thế nào để đảm bảo quyền lợi của các bên là vấn đề rất quan trọng. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã đưa ra nguyên tắc chung để chia tài sản chung vợ chồng sau khi ly hôn. Nguyên tắc chung này cũng đã góp phần đảm bảo quyền lợi của người vợ sau khi li hôn. Theo nguyên tắc chung, tài sản vợ chồng được chia đôi cho hai người. Quan điểm đưa ra rằng, tài sản chung vợ chồng là tài sản chung hợp nhất nên không phân biệt được ai có nhiều phần hơn ai trong số tài sản chung đó. Do vậy, vợ chồng về nguyên tắc được sở hữu ngang nhau với tài sản chung của vợ chồng và khi chia thì chia đều cho cả hai vợ chồng. Tuy nhiên, để đảm bảo cho quyền sở hữu tài sản của người vợ thì khi chia pháp luật còn yêu cầu xem xét đến các yếu tố khác nữa.
Khi chia tài sản chung thì cần phải xem xét đến hoàn cảnh của gia đình và bên vợ và bên chồng. Việc xem xét yếu tố này để đảm bảo công bằng hơn cho người vợ. Có thể chia tài sản chung mà căn cứ vào yếu tố hoàn cảnh của các bên thì tỷ lệ nhận được tài sản của hai bên có thể có chênh lệch đôi chút và không giữ nguyên tỷ lệ là 50/50 mà là một tỷ lệ khác để đảm bảo công bằng hơn. Hoặc giả sử tài sản chung vợ chồng chỉ có một căn nhà nhỏ. Về nguyên tắc vợ chồng mỗi người một nửa giá trị tài sản của ngôi nhà. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh người vợ khó khăn và số tiền nhận được không thể đủ tạo lập nơi ở mới thì Tòa án có thể tuyên việc ngăn đôi căn nhà để người vợ được quyền sở hữu một nửa căn nhà, đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ. Bên cạnh đó, pháp luật đảm bảo cho người vợ được sở hữu tài sản riêng của mình. Khoản 4 Điều 59 quy định:
Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác [42].
Theo đó, người vợ sẽ được chuyển quyền sở hữu đối với toàn bộ tài sản riêng của mình, trừ tài sản riêng mà người vợ đã thỏa thuận nhập vào tài sản chung của hai vợ chồng. Khi tài sản của người vợ sáp nhập hoặc trộn lẫn vào tài sản chung của hai vợ chồng thì người vợ được thanh toán phần giá trị mà mình đóng góp vào khối tài sản chung đó. Với quy định như trên, quyền sử hữu của người vợ được bảo đảm một cách cụ thể. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Khi chia tài sản phải tính đến công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Quy định này rất quan trọng bởi khi xét đến phần công sức đóng góp để tạo lập nên khối tài sản chung cũng chính là việc xem xét một cách công bằng cho cả hai bên vợ chồng khi được hưởng phần tài sản chung đó. Về mặt nguyên tắc là phải tìm được cơ sở để chứng minh cho việc đóng góp công sức vào khối tài sản này. Như vậy, quy định này cũng góp phần đảm bảo cho quyền sở hữu tài sản của người vợ khi phân chia tài sản khi ly hôn. Ví dụ: Trong nhiều trường hợp vợ chồng có tài sản chung do bố mẹ chồng để lại. Người chồng thì mắc vào nhiều tệ nạn xã hội như lô, đề, cờ bạc… có thể dẫn đến phá tán tài sản. Nhưng người vợ chỉ lo làm ăn, chăm lo cho gia đình, cũng góp sức xây dựng được tài sản chung nhiều hơn chồng. Vậy nên khi phân chia tài sản phải tính toán đến công sức của người vợ để đảm bảo quyền lợi về tài sản cho người vợ. Thêm nữa, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã coi công sức của người vợ lao động trong gia đình là lao động có thu nhập cũng góp phần đảm bảo tốt hơn cho người vợ được sở hữu phần tài sản của họ và pháp luật cũng thể hiện tính công bằng hơn trong những trường hợp này. Thực tế, tỷ lệ phần trăm người vợ thực hiện công việc lao đồng trong gia đình trước đây là rất lớn nhưng khi phân chia tài sản thì công sức của họ lại không được thừa nhận. Điều này dẫn đến sự không công bằng cho người vợ. Với quy định của pháp luật hiện hành thì quyền sở hữu tài sản của người vợ đã được đảm bảo một cách cụ thể và kỹ càng hơn. Điều này cũng góp phần bảo vệ quyền sở hữu tài sản cho người vợ. Ở nước ta, người vợ thường phải đảm nhiệm nhiều công việc kể cả công việc ngoài xã hội và cả công việc trong gia đình. Đặc biệt hơn nhiều gia đình người vợ chấp nhận xin nghỉ việc để chăm lo, săn sóc công việc gia đình để người chồng tham gia công việc ngoài xã hội. Điều này dẫn đến người chồng có thời gian cống hiến và thành quả đạt được là tạo dựng được khối tài sản chung lớn cho gia đình. Nếu ly hôn mà không xem xét đến yếu tố cống hiến của người vợ trong trường hợp này sẽ là một thiệt thòi cho người vợ. Quy định nêu trên cũng đã góp phần đảm bảo quyền sở hữu tài sản của người vợ. Tuy pháp luật coi việc lao động trong gia đình là lao động có thu nhập nhưng hiện tại thì chưa có văn bản nào hướng dẫn hoặc làm rõ nội dung này. Và việc lượng hóa việc lao động trong gia đình được quy định như thế nào cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. Nếu quy định cụ thể hơn sẽ góp phần tốt hơn trong việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản của phụ nữ khi ly hôn.
Khi phân chia tài sản còn xem xét dưới khía cạnh bảo vệ chính đáng quyền lợi của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động, tạo thu nhập. Đây là quy định rất hợp lý góp phần bảo vệ tốt hơn quyền sở hữu tài sản của người vợ khi ly hôn trong những trường hợp nhất định. Ví dụ: Người vợ tham gia hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, hoạt động kinh doanh tốt, doanh nghiệp của vợ xây dựng trên diện tích đất chung của vợ chồng. Khi hai người ly hôn tài sản chủ yếu là bất động sản là mảnh đất hiện đang có nhà xưởng do doanh nghiệp của người vợ đang sản xuất. Nếu theo nguyên tắc phân chia tài sản cho hai vợ chồng mỗi người được hưởng một nửa diện tích đất nhà xưởng thì sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của người vợ. Nếu phân chia như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp, làm sụt giảm nguồn khách hàng của doanh nghiệp… như vậy sẽ không đảm bảo quyền sở hữu tài sản của người vợ. Do vậy, quy định như pháp luật nêu trên là rất hợp lý. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Ngoài các yếu tố trên khi phân chia tài sản ly hôn thì pháp luật còn xem xét về lỗi của các bên trong việc vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Xem xét phần lỗi này thể hiện việc công bằng hơn trong việc đảm bảo quyền sở hữu tài sản của người phụ nữ khi ly hôn. Tuy nhiên, việc xem xét lỗi này chỉ có tính chất định tính và rất khó định lượng được bởi vì quan hệ hôn nhân là quan hệ nhân thân gắn liền với mỗi người vợ, chồng. Việc vi phạm ít hay nhiều, tìm ra được vi phạm nhiều hay ít tùy thuộc vào nhiều yếu tố như tình tiết vụ việc, trình độ nhận thức của người xét xử, sự thành ý hay không thành ý của người vợ, người chồng trong giải quyết việc ly hôn. Do vậy, để cụ thể hơn pháp luật cần quy định cụ thể hơn trong vấn đề này để khi xét xử thì có đầy đủ căn cứ hơn. Đặt quy định này trong bối cảnh của nạn bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay thì thấy rằng đây cũng là quy định góp phần bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người phụ nữ khi ly hôn. Thực tế, sau một thời gian chung sống vợ chồng cùng nhau tạo lập được khối tài sản chung khá lớn nhưng nhiều trường hợp nạn bạo lực gia đình xảy ra, người vợ thường xuyên bị đánh đập, hành hạ. Do không thể chung sống được với nhau nữa thì phải tiến hành việc ly hôn. Khi phân chia tài sản chung có tính yếu tố lỗi của mỗi bên trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng thì cũng góp phần đảm bảo tốt hơn cho quyền sở hữu tài sản của người vợ trong trường hợp nêu trên. Quy định như trên cũng rất khó khăn trong vấn đề lượng hóa phần lỗi để phân định tài sản chung. Thiết nghĩ pháp luật quy định như trên về cơ bản để đảm bảo quyền lợi cho một trong các bên khi bên kia vi phạm lỗi trong phạm vi quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Nhưng việc định lượng và đảm bảo quyền sở hữu tài sản của người vợ, người chồng thực tiễn đến đâu và như thế nào thì cần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể và phụ thuộc phần lớn vào kinh nghiệm và nhận định của đội ngũ thẩm phán tham gia xét xử.
- Thứ hai, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ trong trường hợp quan hệ giao dịch với người thứ ba.
Trong quan hệ với người thứ ba, pháp luật cũng có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ khi ly hôn. Theo quy định chung, quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn nếu vợ, chồng và người thứ ba không có thỏa thuận khác. Với quy định như trên đã góp phần đảm bảo quyền lợi cho người thứ ba khi giao dịch với vợ chồng có yêu cầu ly hôn. Nhưng pháp luật cũng rõ ràng hơn về quyền lợi chung của vợ chồng với người thứ ba được đảm bảo, cũng như nghĩa vụ của người chồng với người thứ ba không thể mất đi sau khi ly hôn. Để đảm bảo quyền lợi cho người vợ, pháp luật quy định về trách nhiệm liên đới các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Theo đó, khi giao dịch với người thứ ba nếu người vợ không thể thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì người chồng sẽ phải thực hiện nghĩa vụ này. Điều này cũng đảm bảo quyền lợi cho người vợ sở hữu tài sản của người vợ trong một khía cạnh nhất định. Theo quy định của pháp luật, để đảm bảo quyền sở hữu tài sản, pháp luật quy định về nghĩa vợ chung của vợ chồng đó là: nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ, chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật chồng cũng phải chịu trách nhiệm; Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình; Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường; Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan. Quy định về nghĩa vụ chung như trên khi người vợ không thể thực hiện được nghĩa trong giao dịch chung với người thứ ba trước hoặc sau ky hôn thì người chồng phải thực thi nghĩa vụ đó. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định, nếu người chồng xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba mà không vì nhu cầu của gia đình thì người chồng phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình. Đây là quy định mới bổ sung nhưng đáp ứng khá tốt trong thực tế vận dụng. Thực tế có rất nhiều trường hợp người chồng thực hiện những khoản vay vì việc riêng của mình nhưng khi người thứ ba thường yêu cầu lấy tài sản chung của vợ chồng để thực hiện việc thanh toán nợ. Quy định như trên nhằm bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ, tránh cho người vợ phải thực hiện nghĩa vụ mà do người chồng thực hiện mà không vì nhu cầu của gia đình. Để đảm bảo quyền sở hữu tài sản của người vợ hơn nữa, pháp luật quy định nếu người chồng có nghĩa vụ về tài sản phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của mình thì phải tự chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng.
- Thứ ba, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ trong trường hợp sống chung với gia đình. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Trong trường hợp người vợ sống chung với gia đình mà xảy ra việc ly hôn thì pháp luật cũng cần bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ trong trường hợp này. Trường hợp thứ nhất đặt ra, tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không thể xác định được thì pháp luật vẫn đảm bảo cho vợ, chồng được hưởng một phần trong khối tài sản chung của gia đình. Việc cho người vợ được hưởng bao nhiêu phần trong khối tài sản chung đó dựa trên căn cứ việc đóng góp công sức tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung đó. Pháp luật cũng đảm bảo quyền tài sản của người vợ trong trường hợp này dựa trên nguyên tắc thỏa thuận. Nếu các bên không thể thỏa thuận được thì mới phải nhờ đến Tòa án. Trường hợp thứ hai, vợ chồng chung sống với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình xác định được theo phần thì khi ly hôn phần tài sản của vợ chồng được chia theo nguyên tắc chia tài sản chung đã phân tích ở trên.
Như vậy, trước đây pháp luật Hôn nhân và gia đình không quy định trường hợp này nhưng trên thực tế khi ly hôn lại xảy ra rất nhiều trường hợp trên. Do vậy, khi có quy định làm rõ về quyền sở hữu tài sản của người vợ trong trường hợp sống chung với gia đình là căn cứ rất tốt để đảm bảo cho quyền lợi của người phụ nữ khi ly hôn.
- Thứ tư, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ trong trường hợp phân chia quyền sử dụng đất.
Việc ghi nhận quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi ly hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ, chồng được thừa kế riêng, tặng cho riêng cũng là quy định nhằm đảm bảo quyền sở hữu tài sản của người vợ. Thực tế, nhiều trường hợp trong gia đình do quá trình làm ăn, người chồng có kinh tế và thực hiện giao dịch mua bán quyền sử dụng đất. Khi đứng ra làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể chỉ ghi nhận tên người chủ sở hữu là tên người chồng. Trong khi đó, người vợ phải chăm sóc gia đình và không biết đến chuyện làm ăn của người chồng. Khi xảy ra ly hôn, người chồng coi tài sản tạo lập đó là của riêng mình và người vợ trong nhiều trường hợp vẫn chấp nhận điều đó. Như vậy, quyền sở hữu tài sản của người vợ không được đảm bảo. Tuy nhiên, với quy định cụ thể này thì pháp luật chỉ ra rằng trong trường hợp này người vợ vẫn có đầy đủ quyền sở hữu đối với khối tài sản do người chồng tạo lập. Pháp luật còn tạo ra cơ chế bảo vệ hơn cho quyền lợi tài sản của người vợ với việc quy định rằng nếu người chồng không chứng minh được tài sản trên là tài sản riêng thì theo quy định đó là tài sản chung vợ, chồng. Thêm nữa, việc quy định quyền sử dụng đất của vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung vợ, chồng cũng góp phần đảm bảo quyền lợi của người vợ khi có sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người thứ ba. Trong thực tế, có rất nhiều trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ do một bên là người chồng thực hiện. Những trường hợp như vậy đã xảy ra và người vợ cũng không được biết về việc xác lập giao dịch trên, không bảo vệ được quyền sở hữu tài sản của mình. Và nếu có bảo vệ được thì phải trải qua những vòng tố tụng kiện đòi tài sản rất phức tạp, tốn thời gian và công sức. Thêm nữa, hậu quả để lại là làm cho các dân sự trong những trường hợp này rất phức tạp, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người thứ ba. Ngoài ra, pháp luật bảo vệ quyền lợi của người vợ thông qua quy định nếu không có được sự thỏa thuận bằng văn bản của cả vợ và chồng về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì sẽ dẫn đến hậu quả là giao dịch có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự.
- Thứ năm, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào sản xuất kinh doanh. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh nhằm phân định rõ quyền sở hữu tài sản của vợ chồng. Theo quy định của pháp luật, nếu người vợ, người chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác. Với quy định như trên, quyền lợi của các bên vợ, chồng đều được đảm bảo. Quy định này không chỉ bảo vệ quyền sở hữu về tài sản của người vợ mà còn giúp các bên ổn định tình hình sản xuất kinh doanh, công việc, đời sống, thu nhập từ việc khai thác tài sản chung không bị ảnh hưởng bởi sự kiện ly hôn của vợ hoặc chồng. Nhìn dưới góc độ tài sản là những tài sản hữu hình của vợ chồng đưa vào kinh doanh có thể được thực hiện được việc một bên có quyền nhận tài sản và thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng. Tuy nhiên, nếu tài sản đó mang tính chất vô hình thì rất khó có thể thực hiện việc chia tài sản chung trong trường hợp này, ví dụ: tài sản chung của vợ chồng là nhãn hiệu hàng hóa mà hai vợ chồng cùng gây dựng nên trong quá trình kinh doanh… Những trường hợp trên đặt ra câu hỏi rất khó cho việc xác định được phần tài sản phải thanh toán cho phía bên kia để người vợ hoặc người chồng được quyền giữ lại tài sản chung để tiếp tục thực hiện việc kinh doanh.
Tuy nhiên, với quy định như trên pháp luật Hôn nhân và gia đình đã hướng đến việc bảo vệ rất tốt quyền lợi của người vợ sau khi ly hôn trong việc phân chia tài sản chung mà vợ, chồng đưa vào kinh doanh.
2.2.6. Bảo vệ quyền có chỗ ở của người vợ sau khi ly hôn Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Sau khi kết hôn, vợ chồng phải tạo lập cuộc sống chung cùng với nhau. Thông thường, vợ chồng sẽ cùng nhau chung sống và tạo lập một chỗ ở nhất định. Vợ chồng có thể sống cùng nhà với gia đình hai bên hoặc có thể tạo lập nhà riêng để sinh sống hoặc có thể chung sống tại một nơi nhất định nào đó. Tuy nhiên, khi vợ chồng ly hôn thông thường sẽ dẫn đến việc phân chia tài sản của cả hai bên vợ và bên chồng. Trong việc phân định tài sản đó có thể bao gồm cả việc phân định về chỗ ở của vợ chồng. Do vậy, cũng cần xem xét việc bảo vệ quyền lợi của người vợ thông qua việc bảo vệ quyền lợi của người vợ về chỗ ở sau khi ly hôn.
- Trường hợp thứ nhất, phân chia nhà ở khi nhà ở là tài sản chung của vợ chồng.
Khi nhà ở là tài sản chung của vợ chồng thì khi phân chua tài sản dựa trên nguyên tắc quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo nguyên tắc này, khi phân chia tài sản chung là nhà ở thì tuân theo quy định: “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” [42, Khoản 5 Điều 59]. Như vậy, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng là nhà ở thì pháp luật cũng có quy định về việc bảo vệ quyền lợi của người vợ. Tuy nhiên Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mới chỉ quy định điều này về mặt nguyên tắc, còn quy định bảo vệ cụ thể về quyền lợi của người vợ như thế nào thì chưa được ghi nhận một cách cụ thể. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng chưa ghi nhận cụ thể việc ưu tiên cho việc người vợ được nhận tài sản là ngôi nhà khi phân chia tài sản. Xét dưới góc độ đời sống, ngôi nhà được coi là rất quan trọng trong văn hóa người Việt Nam. Ngôi nhà có thể là nơi gắn bó kỷ niệm của gia đình, có thể là một môi trường sống quen thuộc, gắn bó với những tình cảm gia đình. Trong nhiều trường hợp, khi phân chia tài sản cần ưu tiên phân cho vợ quyền được nhận toàn bộ hay một phần ngôi nhà để đảm bảo quyền có chỗ ở của người vợ. Thực tế này xuất phát từ việc có thể người vợ cần có nơi để chăm sóc con nhỏ, cần được sống trong môi trường ổn định, thân quen với môi trường sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên, đây là vấn đề mang tính thực tiễn cao và phải phụ thuộc khá nhiều vào thực tế vụ việc và nhận định mang tính chủ quan của của thẩm phán khi xét xử phân chia tài sản vợ chồng. Tuy nhiên, việc ghi nhận có sự ưu tiên trong việc đảm bảo có chỗ ở cho người vợ cũng góp phần bảo vệ chung cho quyền lợi của người vợ. Nếu ghi nhận như quy định trên thì sẽ thiết thực hơn trong việc đảm bảo quyền có chỗ ở của người vợ sau khi ly hôn.
- Trường hợp thứ hai, phân chia nhà ở là tài sản riêng của người chồng.
Nếu nhà ở là tài sản riêng của người chồng thì khi ly hôn cũng cần đặt ra việc bảo vệ quyền có nơi ở của người vợ. Pháp luật cũng đã có những quy định để giải quyết trường hợp này. Đối với trường hợp này thì pháp luật cũng quy định người vợ có được “quyền lưu cư”. Bởi khi pháp luật quy định về “quyền lưu cư” của người vợ tức là pháp luật cho phép người vợ được thực hiện quyền đó và người chồng trong trường hợp này phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật và tôn trọng quyền lưu cư của người vợ. Theo quy định tại Điều 63 về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn:
Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp người vợ hoặc người chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác [42]. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
Với việc quy định về quyền lưu cư thì pháp luật cũng góp phần đảm bảo hơn quyền có nơi ở cho người vợ bởi nhiều trường hợp, ngay sau khi ly hôn người vợ hụt hẫng, khó có thể ổn định ngay được cuộc sống của mình. Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chưa có quy định về quyền lưu cư. Thực tế, nhiều cặp vợ chồng ngay sau khi ly hôn, người vợ thường bị “đuổi ra khỏi nhà ngay” dẫn đến với người vợ gặp rất nhiều khó khăn trong đời sống và trong sinh hoạt hàng ngày. Với quy định về quyền lưu cư thì pháp luật Hôn nhân và gia đình đã tạo ra quyền vơ bản cho người vợ không phải là chủ sở hữu nhà đối với nhà ở của người chồng. Quy định này cũng phù hợp với thực tiễn đời sống hiện đại và góp phần làm ổn định đời sống của người vợ sau khi ly hôn.
- Trường hợp thứ ba, phân chia nhà ở khi nhà ở của vợ chồng là tài sản của người khác.
Trong trường hợp nhà ở của vợ chồng là tài sản của người khác thì pháp luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa có văn bản hướng dẫn đề cập trực tiếp đến vấn đề này. Về nguyên tắc, khi ly hôn và phân chia tài sản thì vợ chồng đều có nghĩa vụ tài sản đối với chủ sở hữu ngôi nhà. Khi giải quyết vấn đề liên quan đến tài sản thì vẫn áp dụng nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Tuy nhiên, trong thực tiễn có những trường hợp đặt ra cần phải có quy định cụ thể, thông qua đó quyền lợi của người vợ mới được đảm bảo. Trong trường hợp hai vợ chồng không có nhà ở, phải thuê nhà của người thứ ba để ở thì vấn đề giải quyết chỗ ở của vợ, chồng sau khi ly hôn thường dựa trên thỏa thuận giữa các bên và có tính đến yếu tố đảm bảo quyền lợi cho vợ và con. Tuy nhiên, pháp luật Hôn nhân và gia đình không quy định cụ thể được vấn đề này vì còn liên quan đến nhiều thỏa thuận của vợ, chồng và thỏa thuận dân sự giữa các bên.
- Trường hợp thứ tư, hợp đồng thuê nhà lại chỉ cho một bên vợ hoặc chồng thực hiện.
Việc bảo vệ quyền có chỗ ở của người vợ trong trường hợp người vợ là người trực tiếp thuê nhà thì có thể thỏa thuận để đảm bảo quyền có nơi ở cho người vợ. Trong trường hợp người chồng là người trực tiếp thuê nhà để ở, sau khi ly hôn người chồng có thể chấm dứt hợp đồng thuê nhà làm cho người vợ không được đảm bảo quyền có chỗ ở. Trong trường hợp này pháp luật Hôn nhân và gia đình chưa dự liệu được mà chủ yếu điều chỉnh thông qua pháp luật dân sự. Tuy nhiên, pháp luật Hôn nhân và gia đình cần thiết phải điều chỉnh những trường hợp này trên thực tế của xã hội hiện đại sẽ có những gia đình thực hiện hợp đồng thuê nhà dài hạn để sinh sống. Để đảm bảo quyền lợi của người vợ về quyền có nơi ở thì pháp luật Hôn nhân và gia đình cần có những quy định cụ thể, rõ ràng hơn. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
2.2.7. Bảo vệ quyền được cấp dưỡng của người vợ khi li hôn
Vấn đề cấp dưỡng là một trong những vấn đề chung của đời sống gia đình, thể hiện mối quan tâm giữa các thành viên trong gia đình. Theo quy định khi những thành viên trong gia đình rơi vào hoàn cảnh nhất định thì phải được nhận cấp dưỡng từ các thành viên khác. Theo quy định hiện hành:
Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không chung sống với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự mình nuôi mình hoặc người khó khăn túng thiếu [42, Khoản 24 Điều 2].
Như vậy, quan hệ cấp dưỡng được đặt ra trên nền tảng quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng phù hợp. Trên cơ sở đó, quan hệ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh, chị em với nhau; giữa ông, bà nội, ông bà ngoại với cháu; giữa cô, di, chú, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn. Theo đó, điều kiện cấp dưỡng được đặt ra là khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình. Với quy định của pháp luật như trên, quyền lợi của người vợ vẫn được đảm bảo nếu khi người vợ quá khó khăn, túng thiếu vẫn có quyền yêu cầu cấp dưỡng từ phía người chồng. Trong thực tiễn đời sống, phần đông phụ nữ khi ly hôn gặp khó khăn về kinh tế. Trong những trường hợp nhất định, người phụ nữ này có thể bị đau yếu, không có khả năng lao động, hoàn cảnh kinh tế khó khăn… Do vậy, họ cần nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ nhất định từ phía người chồng. Hoặc trong những trường hợp khác, người vợ hi sinh công việc ngoài xã hội chỉ chăm lo công việc gia đình, sống phụ thuộc vào người chồng và nếu khi xảy ra ly hôn thì người vợ sẽ ít có điều kiện về kinh tế, có thể gặp túng thiếu nhất định. Pháp luật đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng cũng nhằm mục tiêu bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ trong những trường hợp đã nêu. Pháp luật cũng thực hiện việc bảo vệ quyền được cấp dưỡng của người vợ khi vợ chồng thực hiện việc ly hôn.
Phương thức cấp dưỡng theo quy định việc cấp dưỡng có thể được thực hiện hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Như vậy, việc cấp dưỡng được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau để các bên có thể lựa chọn cho phù hợp. Mỗi phương thức cấp dưỡng đều phải dựa trên căn cứ thực tế để lựa chọn phương thức nào để áp dụng. Thông thường khi ly hôn xảy ra, tình cảm của các bên không còn, người vợ khó khăn yêu cầu cấp dưỡng thì các bên thường lựa chọn phương thức cấp dưỡng một lần. Phương thức này nhanh chóng đề giải quyết mối quan hệ giữa các bên. Các bên thực hiện một lần và không còn sự liên quan nào nữa về vấn đề tiền bạn hay cấp dưỡng. Trong trường hợp người vợ túng thiếu, khó khăn, phải đi chữa bệnh lâu dài thì phương thức cấp dưỡng một lần sẽ khó đảm bảo quyền lợi cho người vợ. Vì vậy, Tòa án có thể áp dụng trường hợp cấp dưỡng theo định kỳ để đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người phụ nữ. Người vợ sẽ được hưởng khoản cấp dưỡng định kỳ để đảm bảo tốt hơn cuộc sống của mình.
Trong trường hợp có lý do chính đáng, pháp luật cũng cho phép thay đổi mức cấp dưỡng để đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho người phụ nữ. Trong trường hợp người vợ lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế thì có thể yêu cầu việc thay đổi phương thức cấp dưỡng để đảm bảo cho cuộc sống đời thường của mình. Ngoài ra, để đảm bảo cho việc thực hiện cấp dưỡng khi người chồng trốn tránh nghĩa vụ thì người vợ có quyền yêu cầu Tòa án buộc người chồng phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Để đảm bảo quyền yêu cầu thực hiện cấp dưỡng, pháp luật còn quy định những người có quyền yêu cầu thực hiện việc cấp dưỡng: người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, Hội liên hiện phụ nữ. Có thể thấy, trong những trường hợp nhất định, người vợ không thực hiện được quyền yêu cầu được cấp dưỡng của mình thì đã có cơ quan, tổ chức khác có thể thực hiện quyền yêu cầu này. Với quy đình này thì quyền được yêu cầu cấp dưỡng của người vợ cũng đã có cơ chế tốt hơn để bảo vệ. Luận văn: Thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Luật Hôn nhân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Bảo vệ quyền lợi phụ nữ theo Luật Hôn nhân