Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật Nước ngoài dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế thị trường đang được áp dụng tại hầu hết các quốc gia cho phép chủ thể tham gia nền kinh tế tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật. Nền kinh tế với quyền tự do cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được coi là mô hình tốt nhất thỏa mãn các quan hệ cung cầu của nền kinh tế đồng thời đáp ứng một cách tốt nhất lợi ích của người tiêu dùng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Tuy nhiên, cùng với tự do cạnh tranh những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác cũng thường xuyên diễn ra. Những hành vi vi phạm có thể diễn ra dưới nhiều hình thức, từ những hành vi trái luật nhưng vô hạn tới những hành vi gian lận hiểm độc cố ý làm hại những đối thủ cạnh tranh hay những hành vi xâm phạm quyền SHCN. Những hiện tượng nói trên có thể thấy rõ tại mọi quốc gia vào mọi thời điểm cho dù với một hệ thống chính trị – xã hội như thế nào.

Trong các đối tượng sở hữu công nghiệp thì nhãn hiệu là đối tượng gắn chặt nhất với lưu thông hàng hóa. Bằng nhãn hiệu nhà sản xuất có thể đánh dấu hàng hóa của mình sản xuất khi đưa ra thị trường, có thể quảng cáo nhãn hiệu của mình thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Mặt khác thông qua nhãn hiệu người tiêu dùng có thể dễ dàng lựa chọn hàng hóa theo nhãn hiệu phù hợp với nhu cầu, sở thích, chất lượng mà mình mong muốn.

Trong bối cảnh hội nhập của các nền kinh tế trên thế giới thành một thể thống nhất. Tổ chức thương mại thế giới (WTO) bao gồm phần lớn các nước trên thế giới và một loạt các nước thuộc các nền kinh tế đang chuyển đổi hoặc kém phát triển cũng đang ráo riết đàm phán để gia nhập tổ chức này. Nền kinh tế toàn cầu đang tiến đến một sân chơi kinh tế thống nhất với luật lệ hài hòa thống nhất. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong hoạt động xuất nhập khẩu đang dần bị bãi bỏ, hoạt động thương mại quốc tế đang ngày càng thông thoáng. Trong bối cảnh đó, ngược với giảm thiểu các hàng rào mậu dịch quốc tế, việc bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp tại nước ngoài lại ngày càng được tăng cường cả về mặt pháp lý lẫn thực thi quyền. Tầm quan trọng của bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật nước ngoài càng được đề cao nhằm bảo đảm và tăng cường tính cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ.

Việc bảo hộ nhãn hiệu không chỉ thực hiện tại nước xuất xứ mà chủ nhãn hiệu cần thiết phải mở rộng sự bảo hộ nhãn hiệu đến những vùng lãnh thổ mà mình sẽ xuất khẩu hàng hóa tới bằng các thủ tục xác lập quyền của mình kịp thời tại các vùng lãnh thổ đó. Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu không những bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu đó mà điều quan trọng hơn là bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì thực trạng vi phạm nhãn hiệu bảo hộ ngày càng phức tạp. Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau với những đặc điểm là không có tính bí mật và dễ bắt chước được. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp đã làm giả, làm nhái nhãn hiệu đã có uy tín trên thị trường nhằm trục lợi cho mình và đã bị các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý. Bên cạnh đó một thực tế là khi nhãn hiệu đã có uy tín trên thị trường trong nước doanh nghiệp muốn phát triển kinh doanh ở nước ngoài trong khi đó lại không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài và bị các nhà sản xuất khác lợi dụng đã đi đăng ký bảo hộ chính nhãn hiệu đó. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO), đây có thể coi là một cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc giao lưu thương mại với các nước khác trên thế giới. Cơ hội để Việt Nam giới thiệu, xúc tiến và hoạt động thương mại với các doanh nghiệp trên thế giới sẽ tạo ra cho các doanh nghiệp Việt Nam xâm nhập và khẳng định vị thế của mình tại các thị trường mới này đặc biệt là các thị trường khắt khe như Mỹ, Nhật, Anh, Trung Quốc. Cùng với các cơ hội nêu trên, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với những thách thức, khó khăn không nhỏ. Chúng ta dễ dàng nhận thấy các doanh nghiệp tại các nước tư bản chủ nghĩa nhận thức rất sớm và đúng đắn về tài sản trí tuệ do nền kinh tế thị trường tại các quốc gia này đã hình thành và phát triển từ rất sớm. Họ đã sớm nhận thức được ý nghĩa cũng như những giá trị kinh tế hết sức to lớn mà các tài sản trí tuệ sẽ mang lại cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tuy nhiên, giá trị của các tài sản trí tuệ không phải được hình thành một cách tự nhiên mà nó phải trải qua cả một quá trình tích luỹ lâu dài bởi các hoạt động đầu tư tài chính của các doanh nghiệp là chủ sở hữu của các tài sản trí tuệ đó. Để loại trừ nguy cơ bị chủ thể khác sử dụng trái phép các tài sản trí tuệ của mình, các chủ đầu tư đã đặc biệt quan tâm tới vấn đề bảo hộ các tài sản trí tuệ đó trên phạm vi lãnh thổ của tất cả các quốc gia được coi là thị trường tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ của mình.

Hơn nữa, một thực tế tại Việt Nam hiện nay là vấn đề bảo hộ quyền SHTT tại nước ngoài chưa được sự quan tâm và đánh giá đúng mức của các doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của mình tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm và sau khi nhãn hiệu của mình bị chủ thể khác sử dụng họ mới tiến hành các biện pháp để giành lại các nhãn hiệu này. Trong trường hợp đó, chi phí và thời gian cho việc khiếu nại là rất lớn điển hình trường hợp vụ tranh chấp nhãn hiệu Trung Nguyên tại Mỹ, vụ tranh chấp nhãn hiệu VINATABA tại Trung Quốc, Inđonexia,.vv là những ví dụ điển hình.

Với các luận điểm trên cho thấy tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở nước ngoài trong thời đại kinh tế “thông thoáng” hiện nay. Đó là lý do chính tôi chọn đề tài “Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật Nước ngoài” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn nghiên cứu quy định của pháp luật nước ngoài đặc biệt là pháp luật của các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản để từ đó đưa ra những đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong các đối tượng SHCN, nhãn hiệu là một trong các đối tượng SHCN hiện nay được đăng ký bảo hộ nhiều nhất ở các nước phát triển cũng như đang phát triển. Nhiều triệu nhãn hiệu đã được đăng ký và đang được bảo hộ hiện nay trên toàn thế giới. Các nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ cho tất cả các sản phẩm hàng hóa được sản xuất trên toàn thế giới (bao gồm 34 nhóm hàng hóa khác nhau) và toàn bộ các loại dịch vụ hiện có (gồm 11 nhóm dịch vụ khác nhau, theo bảng phân loại quốc tế Nice lần thứ 10).

Bảo hộ quyền SHCN đối với Nhãn hiệu đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan, các nhà khoa học, các chuyên gia cũng như các cơ sở đào tạo Luật. Bên cạnh đó cũng có nhiều cuộc hội thảo được tổ chức liên quan đến vấn đề này như Hội thảo khu vực ASEAN của WIPO về bảo hộ quốc tế Nhãn hiệu năm 2001 tại Hà Nội, Hội thảo trong khuôn khổ Cơ chế hợp tác vùng JICA-ASEAN (JARCOM) về Thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Hà Nội tháng 03/2009…Đồng thời đã có nhiều bài viết của nhiều tác giả về sở hữu trí tuệ như bài viết “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo hiệp định TRIPS/ WTO trong mối tương quan so sánh với pháp luật Việt Nam ” -ThS. Vũ Thị Hồng Yến, “Bảo vệ sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam”- TS.Trần Lê Hồng”, “Bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam”- TS. Nguyễn Văn Luật. Những công trình nghiên cứu này chỉ đề cập tới các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung, chủ yếu vào vấn đề bảo hộ Nhãn hiệu theo các quy định của pháp luật Việt Nam mà chưa đi sâu nghiên cứu bảo hộ Nhãn hiệu theo pháp luật các nước có nền kinh tế phát triển. Cho đến nay ở nước ta chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn điện, có hệ thống về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật nước ngoài. Do vậy, đề tài “Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật nước ngoài” mà trọng tâm nghiên cứu những quy định trong pháp luật của Mỹ, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản là một đề tài mới, không trùng lặp. Tuy nhiên tác giả luôn mong muốn học hỏi, tham khảo những kết quả mà các công trình khoa học cũng như các kinh nghiệm thực tiễn có liên quan tới đề tài.

3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu các quy định pháp luật nước ngoài về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu. Trong phạm vi nghiên cứu các quy định pháp luật nước ngoài về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu mà trọng tâm nghiên cứu pháp luật của một số nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nhật Bản để từ đó đưa ra những đề xuất, giải pháp nhằm giúp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ Nhãn hiệu.

Bên cạnh ý nghĩa lý luận đề tài nghiên cứu này còn có ý nghĩa thực tiễn. Trong các đối tượng Sở hữu công nghiệp hiện nay thì Nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ nhiều nhất và cũng là đối tượng bị vi phạm nhiều nhất. Việc bảo hộ nhãn hiệu mang tính chất lãnh thổ thường giới hạn trong một quốc gia, một nhóm nước hoặc một khu vực chấp nhận sự bảo hộ đó. Nhãn hiệu không chỉ được bảo hộ tại nước xuất xứ, mà chủ nhãn hiệu cần thiết phải mở rộng sự bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài khi mà mình sẽ xuất khẩu hàng hóa tới bằng các thủ tục xác lập quyền. Khi nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường thì thực tiễn bảo hộ và thực thi quyền bảo hộ nhãn hiệu ở các nước ngày càng đa dạng. Việc nghiên cứu bảo hộ nhãn hiệu theo Pháp luật nước ngoài sẽ nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam phù hợp với pháp luật của các nước tiên tiến trên thế giới, đồng thời góp phần ngăn chặn chủ nhãn hiệu lợi dụng quyền bảo hộ của mình để thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xâm hại lợi ích của các nhà kinh doanh khác.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin. Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, lôgíc, thống kê, hệ thống hóa….cũng được sử dụng triệt để nhằm làm rõ các vấn đề liên quan đến bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu theo quy định của pháp luật nước ngoài.

5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ về mặt lý luận, cơ sở pháp lý, cơ chế thực thi của việc bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nhật Bản và trên cơ sở đó đưa ra hướng hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về Bảo hộ nhãn hiệu. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Với mục đích trên trong luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật của các nước tiên tiến trên thế giới về bảo hộ Nhãn hiệu để từ đó thấy được những điểm tương đồng cũng như chưa phù hợp để đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ Nhãn hiệu.

6. Những kết quả nghiên cứu mới của đề tài

Đây là đề tài khoa học đầu tiên đi chuyên sâu nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống từ chế định pháp luật, cơ chế thực thi và thực trạng bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật nước ngoài cụ thể là pháp luật của những nước tiên tiến. Trong phạm vi nghiên cứu những nội dung cơ bản, kinh nghiệm thực tiễn và những ưu điểm của pháp luật các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Qua đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ Nhãn hiệu.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành ba Chương với những nội dung cơ bản sau:

  • Chương 1: Tổng quan lý luận chung về bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu theo Pháp luật Nước ngoài.
  • Chương 2: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu theo pháp luật Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nhật Bản.
  • Chương 3: Những quy định của Pháp luật Việt Nam, phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ Nhãn hiệu.

Chương 1 Tổng quan lý luận chung về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật nước ngoài

1. Khái niệm Nhãn hiệu

Nhãn hiệu đã có từ thời cổ đại, thậm chí từ lúc con người còn tự cung tự cấp những gì họ cần cho bản thân nhiều hơn là mua chúng từ những người thợ thủ công. Thời đó có những thương gia sáng tạo đã biết bán hàng hóa ra bên ngoài vùng sinh sống của họ và thậm chí có khi tới những vùng đất rất xa. Cách đây 3000 năm, những người thợ thủ công Ấn Độ đã từng chạm khắc những chữ ký của mình trên những tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng hóa tới Iran. Các nhà sản xuất Trung Quốc đã bán hàng hóa mang nhãn hiệu của mình tại Địa Trung Hải từ 2000 năm trước và cùng thời gian đó hàng nghàn nhãn hiệu đồ gốm La Mã khác nhau đã được sử dụng, kể cả nhãn hiệu FORTIS mà sau này đã trở nên nổi tiếng đến nỗi bị sao chép và làm giả. Nhờ việc kinh doanh phát đạt thời Trung Cổ mà việc sử dụng các dấu hiệu để phân biệt hàng hóa của các thương gia và các nhà sản xuất đã khá phát triển. Tuy vậy, tầm quan trọng về mặt kinh tế của chúng vẫn còn hạn chế.

Các nhãn hiệu bắt đầu đóng một vai trò quan trọng với công cuộc công nghiệp hóa và từ đó đã trở thành một yếu tố quan trọng trong thế giới hiện đại của thương mại quốc tế và nền kinh tế thị trường. Công nghiệp hóa và sự phát triển của hệ thống kinh tế thị trường cho phép các nhà sản xuất và các thương gia cạnh tranh đưa đến người tiêu dùng sự lựa chọn đa dạng cho hàng hóa cùng chủng loại. Thường nếu không có sự khác biệt rõ ràng đối với người tiêu dùng, chúng chỉ thường khác nhau về giá cả và các đặc tính khác. Rõ ràng người tiêu dùng cần được hướng dẫn, giúp họ suy xét các lựa chọn và đi đến quyết định lựa chọn riêng cho mình trong số hàng hóa cạnh tranh. Do đó, hàng hóa phải được đặt tên. Phương tiện để đặt tên hàng hóa trên thị trường chính là nhãn hiệu. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Ngày nay cùng với sự phát triển của nền sản xuất, thương mại mang tính toàn cầu, nhiều chủng loại hàng hóa, dịch vụ cùng với những chiến lược quảng cáo tiếp thị của các nhà sản xuất kinh doanh, thì việc sử dụng đúng đắn chức năng của nhãn hiệu theo đúng pháp luật sẽ tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, trong thực tế của cuộc sống mọi việc không diễn ra một cách lành mạnh như vậy. Do ham lợi, muốn đạt được lợi nhuận nhanh chóng và bằng cách rẻ nhất, người ta đã làm giả, bắt chước hoặc nhái theo các nhãn hiệu được công chúng ưa chuộng, mặc dù các loại hàng này thường có chất lượng thấp hơn hàng thật, thậm chí hoàn toàn không có chức năng sử dụng. Điều này đã xảy ra từ xa xưa, khi bắt đầu xuất hiện việc trao đổi hàng hóa trên trái đất và cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tệ nạn đó ngày càng phát triển cả về quy mô và độ tinh vi, nhất là trong thời đại bùng nổ nền kinh tế hàng hóa như ngày nay. Rõ ràng việc làm giả bắt chước nhãn hiệu như trên sẽ triệt tiêu sức sản xuất trong xã hội, làm người sản xuất không muốn đầu tư để phát triển hàng hóa mang nhãn hiệu của mình, còn người tiêu dùng từ chối mua hàng hóa vì mất niềm tin.

Như vậy, thông qua việc giúp người tiêu dùng có quyết định lựa chọn giữa những hàng hóa đa dạng được chào bán trên thị trường, nhãn hiệu còn khuyến khích chủ sở hữu duy trì và nâng cao chất lượng các sản phẩm bán ra dưới nhãn hiệu đó, để đáp ứng sự mong đợi của người tiêu dùng. Do vậy, nhãn hiệu “thưởng công” cho những người sản xuất hàng hóa chất lượng cao một cách ổn định và kết cục là nhãn hiệu kích thích sự phát triển kinh tế.

Khái niệm Nhãn hiệu đã được các chuyên gia, các nhà lập pháp, các nhà quản lý hay các nhà sản xuất kinh doanh.  đã đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau về Nhãn hiệu. Để làm rõ khái niệm Nhãn hiệu, trong phạm vi nghiên cứu của mình tác giả xin được giới thiệu các khía cạnh nghiên cứu sau.

1.1 Khái niệm Nhãn hiệu theo quan niệm của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới.

Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới (WIPO) là một trong số các tổ chức chuyên môn của hệ thống các tổ chức của Liên Hợp quốc (UN). Công ước thành lập WIPO được ký kết tại Stockholm năm 1967 và có hiệu lực năm 1970. WIPO có trụ sở tại Genever Thụy Sỹ với sứ mệnh là thúc đẩy hợp tác quốc tế trong việc sáng tạo, phổ biến, sử dụng và bảo vệ những sản phẩm trí tuệ của con người nhằm góp phần cân đối giữa khuyến khích sáng tạo trên toàn thế giới, một mặt bằng cách bảo hộ thích đáng các lợi ích vật chất và tinh thần của người sáng tạo, mặt khác là đem lại cơ hội dự thưởng những lợi ích văn hóa và kinh tế xã hội của các sáng tạo đó trên toàn thế giới; khuyến khích việc ký kết các điều ước quốc tế về Sở hữu trí tuệ; giúp cho việc hiện đại hóa pháp luật quốc gia giữa các nước thành viên, quản lý các điều ước quốc tế về Sở hữu trí tuệ.

Theo định nghĩa của WIPO nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp công nghiệp hoặc thương mại hoặc của một nhóm các doanh nghiệp đó. Dấu hiệu này có thể là một hoặc nhiều từ ngữ, chữ, số, hình, hình ảnh, biểu tượng, màu sắc hoặc sự kết hợp các màu sắc, hình thức hoặc sự trình bày đặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm. Dấu hiệu này có thể là sự kết hợp của nhiều yếu tố nói trên. Nhãn hiệu chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó chưa được cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu đó sử dụng hoặc nhãn hiệu hiệu đó không được trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phẩm.

Định nghĩa Nhãn hiệu của WIPO đã xác định các yếu tố và bản chất của nhãn hiệu. Định nghĩa này chính là sự kế thừa những quy định tại Khoản 1 Điều 15 của Hiêp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS): “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu. Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ tương ứng, các Thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng. Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được”.

Theo định nghĩa nhãn hiệu của Hiệp định TRIPS/WTO thì nhãn hiệu bao gồm các yếu tố sau:

  • Một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác; Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
  • Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó. ;
  • Các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu.

Việc xác định một đối tượng nào đó có phải là nhãn hiệu hay không thường được xem xét dựa trên mục đích sử dụng của nó. Để người tiêu dùng có thể dùng để phân biệt một sản phẩm, nhãn hiệu phải chỉ ra được nguồn gốc của hàng hóa. Chỉ khi nhãn hiệu cho phép người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm bán dưới nhãn hiệu đó với những hàng hóa của doanh nghiệp khác bán trên thị trường. Điều này cho thấy không thể tách biệt giữa chức năng phân biệt và chức năng chỉ dẫn nguồn gốc của nhãn hiệu.

Như vậy, khái niệm nhãn hiệu theo quy định của Hiệp định TRIPS/WTO thường khái quát chung chung ở tầm vĩ mô và mang tính quy chuẩn cao. Điều này thể hiện nhận thức đúng đắn của các nhà làm luật về tính phong phú, đa dạng của sự phát triển tư duy con người trong phát triển kinh tế nói chung và trong việc xây dựng nhãn hiệu nói riêng. Pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đi theo xu hướng chung đó khi đưa ra khái niệm về nhãn hiệu. Tuy nhiên, mỗi nước có những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể khác nhau nên cách định nghĩa về nhãn hiệu cũng có những điểm khác nhau.

1.2 Khái niệm Nhãn hiệu theo Pháp luật Mỹ. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Khái niệm nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Mỹ đều dựa trên cơ sở khái niệm nhãn hiệu của Công ước Paris về bảo hộ quyền SHCN năm 1883 của WIPO và của Hiệp định TRIPS//WTO.

Các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu của Mỹ được điều chỉnh bởi Đạo luật Nhãn hiệu (Lanham Act) ban hành năm 1946 và được sửa đổi nhiều lần trong quá trình áp dụng. Theo luật này quy định “Nhãn hiệu bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng được sử dụng bởi một người hoặc được một người đó có ý định chân thành là sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này- để xác định và phân biệt hàng hóa của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng, với những hàng hóa cùng loại được sản xuất hoặc được bán bởi những người khác và để chỉ rõ nguồn gốc của hàng hóa thậm chí mà không xác định được nguồn gốc đó ” và “không có nhãn hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa của người nộp đơn với những hàng hóa của người khác lại bị từ chối đăng ký vào sổ đăng ký…”.

Theo quy định này, bất kỳ dấu hiệu nào thỏa mãn phân biệt được hàng hóa/dịch vụ của một người với các hàng hóa/dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác thì được coi là nhãn hiệu. Khái niệm này có tính mở khi cho phép các loại dấu hiệu mới có thể được cấp bảo hộ nhãn như âm thanh, mùi. Tuy nhiên, trên thực tế do nhu cầu phát triển của nền kinh tế Mỹ đã cho đăng ký nhãn hiệu chứa đựng các yếu tố mới này.

Theo những quy định của Mỹ thì chỉ những dấu hiệu truyền thống bao gồm từ, tên gọi, biểu tượng, hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa các yếu tố đó mới được công nhận là nhãn hiệu. Nhưng dựa vào việc giải thích quy định mở tại Điều 2 Luật nhãn hiệu nên các dấu hiệu khác có khả năng phân biệt hàng hóa /dịch vụ cùng loại của các chủ thể kinh doanh khác nhau như âm thanh hay mùi cũng được thừa nhận là nhãn hiệu và đăng ký. Mỹ là nước đi tiên phong trong việc công nhận trong việc công nhận các dấu hiệu mới như âm thanh, mùi là nhãn hiệu khi chúng đáp ứng yêu cầu tính phân biệt. Theo tinh thần của điều khoản này, trên thực tế có rất nhiều trường hợp đã được bảo hộ ở Mỹ như: mùi hoa cỏ tươi gợi hương hoa Plimeria đã được cấp đăng ký cho mặt hàng chỉ may và sợi thêu năm 1990; âm thanh Prelude cũng được đăng ký dành cho nhóm mặt hàng thiết bị chăm sóc sức khỏe, âm thanh, truyền thông, máy ghi âm,ghi hình, máy bán hàng tự động, máy đếm tiền, thiết bị xử lý thông tin kể cả máy tính, dịch vụ truyền thông, thể thao, giải trí, văn hóa, giáo dục và đào tạo.

1.3 Khái niệm Nhãn hiệu theo Pháp luật Cộng đồng Châu Âu (EU).

Theo Điều 4 bản Quy định số 40/1994 ngày 20/12/1993 của Hội Đồng Châu Âu thì khái niệm Nhãn hiệu được định nghĩa: “được công nhận là nhãn hiệu cộng đồng bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng hiện hữu dưới dạng đồ họa, các chữ cái, tên riêng, các phác họa hình ảnh, từ ngữ, các chữ số, hình dáng của hàng hóa hoặc của bao gói của hàng hóa mà các dấu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác”.

Nhãn hiệu theo pháp luật EU có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng hiện hữu dưới dạng đồ họa, các chữ cái, tên riêng, các phác họa hình ảnh, từ ngữ, các chữ số, hình dáng của hàng hóa …..và các dấu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác nhau. Nhìn chung khái niệm nhãn hiệu theo pháp luật EU phù hợp với những quy định của WIPO và Hiệp định TRIPS/WTO. Bên cạnh liệt kê những yếu tố truyền thống như các dấu hiệu địa lý, tên gọi, hình vẽ, chữ cái.  thì pháp luật cũng đã dự liệu trước các nhân tố mới như mùi hay âm thanh.

1.4 Khái niệm Nhãn hiệu theo Pháp luật của Nhật Bản. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Theo quy định pháp luật Nhật Bản thì Nhãn hiệu có thể là chữ cái, chữ số, dấu hiệu, hình không gian ba chiều, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào giữa chúng, hoặc sự kết hợp của chúng với mầu sắc, được sử dụng cho hàng hóa và dịch vụ, thỏa mãn một trong hai điều kiện: thứ nhất đối với nhãn hiệu gắn lên hàng hóa nó phải được sử dụng đối với hàng hóa mà một người sản xuất, xác nhận, hay đem vào lưu thông; hoặc thứ hai đối với nhãn hiệu dịch vụ nó được sử dụng đối với dịch vụ mà một người cung cấp hay xác nhận trong quá trình thương mại và cho đến thời điểm này pháp luật Nhật Bản vẫn chưa công nhận cho đăng kỹ Nhãn hiệu âm thanh và mùi (Điều 2 Luật nhãn hiệu).

1.5 Khái niệm Nhãn hiệu theo Pháp luật Trung Quốc.

Khái niệm nhãn hiệu theo Luật nhãn hiệu Trung Quốc là dấu hiệu đặc trưng và có khả năng phân biệt. Nhãn hiệu có thể là những từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc (Điều 8 Luật nhãn hiệu).

1.6 Theo quy định của Pháp luật Việt Nam.

Khái niệm nhãn hiệu được quy định tại Điều 785 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 quy định: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”.

Theo quy định này thì đặc điểm trước tiên của một nhãn hiệu là nhãn hiệu đó phải có những dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.

Khái niệm nhãn hiệu tại Điều 785 Bộ luật dân sự năm 1995 cũng thể hiện tính mở vì ngay trong ngôn ngữ của điều luật bao gồm cụm từ “có thể là”, tức là ngoài từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó thì nhãn hiệu còn có thể là những yếu tố khác. Tuy nhiên, cách quy định như vậy chưa thể hiện tính khái quát cao, nhất là trong bối cảnh công việc giải thích pháp luật ở Việt Nam nhìn chung chưa được thực hiện tốt, Toà án không có thẩm quyền giải thích pháp luật thì tính mở của khái niệm nhãn hiệu đã bị giới hạn đáng kể. Thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam cho thấy nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ chỉ bao gồm các dấu hiệu truyền thống là hình ảnh, từ ngữ và sự kết hợp giữa chúng. Các loại dấu hiệu khác dù thoả mãn điều kiện có tính phân biệt các hàng hóa/dịch vụ cùng loại như âm thanh, mùi, dấu hiệu được nhận biết qua xúc giác hoặc sự kết hợp giữa các dấu hiệu đó, thậm chí cả màu sắc cũng chưa được thừa nhận và bảo hộ tại Việt Nam.

So sánh với quy định tại Khoản 1 Điều 6 Hiệp định thương mại Việt Nam -Hoa Kỳ thì nhãn hiệu được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa. Nhãn hiệu bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Các dấu hiệu khác như âm thanh, mùi cũng không được quy định trong hiệp định này.

Những quy định trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có tính chất khái quát hơn và phù hợp với chuẩn mực quốc tế theo quy định của WTO về nhãn hiệu. Đó là một khái niệm về nhãn hiệu tương đối rộng, đầy đủ hơn so với quy định trong Bộ luật dân sự Việt Nam 1995. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Để khắc phục những hạn chế của Điều 785 Bộ luật dân sự năm 1995 thì tại khoản 16 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 đã đưa ra khái niệm nhãn hiệu mang tính khái quát, bao trùm hơn. Theo đó, “Nhãn hiệu là các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Rõ ràng, có thể nói cách tiếp cận trong việc đưa ra khái niệm nhãn hiệu của pháp luật Việt Nam nhìn chung đã tiếp thu những kinh nghiệm của các nước. Điều này cho thấy chúng ta đã nhận thức rõ ràng yêu cầu khách quan của việc tương thích hoá, hài hòa hoá pháp luật của mình phục vụ cho công cuộc hội nhập với thế giới.

Điểm chung của các cách tiếp cận này là sự thể hiện tính mở của quy định, theo đó bất kỳ dấu hiệu nào thoả mãn điều kiện phân biệt được hàng hóa/dịch vụ của một người với hàng hóa/dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác đều được coi là nhãn hiệu. Tính mở của khái niệm cho phép các loại dấu hiệu mới có thể được cấp bảo hộ. Xu hướng khái quát hoá như vậy hoàn toàn phù hợp với thực tiễn phát triển của nhãn hiệu.

2. Khái niệm pháp luật Nước ngoài

Pháp luật Nước ngoài là pháp luật của Quốc gia khác – Foreign law is the law of another country. (Theo Black’s Law Dictionary)

Pháp luật bao gồm luật nội dung và luật hình thức (luật tố tụng). Về nguyên tắc pháp luật của nước nào chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ nước đó, đặc biệt luật tố tụng, như luật tố tụng Việt Nam chỉ áp dụng trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, để tạo điều kiện và thúc đẩy cho giao lưu các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, hôn nhân gia đình giữa công dân nước này với công dân nước khác, tổ chức quốc gia nước này với tổ chức quốc gia khác thì pháp luật các nước cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài (luật nội dung). Theo Khoản 3 Điều 759 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định: “trong trường hợp Bộ luật dân sự, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.

3. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hộ Nhãn hiệu. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

  • Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu trải qua lịch sử phát triển với các giai đoạn khác nhau

3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hộ Nhãn hiệu trên thế giới

Nhãn hiệu có lịch sử từ rất lâu đời trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Nhãn hiệu có mối quan hệ chặt chẽ với sản xuất hàng hóa và trao đổi hàng hóa trên thị trường. Trình độ phát triển của hàng hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển của nhãn hiệu.

Từ thời xa xưa cách đây hàng ngàn năm con người đã biết sử dụng các dấu hiệu để đánh dấu các sản phẩm do mình tạo ra. Ban đầu người nguyên thuỷ sử dụng các dấu hiệu để chỉ rõ quyền sở hữu đối với vật nuôi. Sau đó các dấu hiệu nhận biết được sử dụng để chỉ rõ người sản xuất hàng hóa và nghĩa vụ của họ đối với chất lượng hàng hóa. Việc sử dụng này đạt tới đỉnh cao dưới thời La mã cổ đại.

Tuy nhiên các nhãn hiệu thời kỳ này mới chỉ là vết khắc của các hình vẽ nhỏ hoặc các dạng hình học. Mặc dù các dấu hiệu còn đơn giản nhưng các dấu hiệu đó được coi là “tổ tiên” của nhãn hiệu sau này. Các dấu hiệu được sử dụng nhiều trường hợp là các chữ ký của các chủ sở hữu trên các sản phẩm, là các dấu hiệu có chức năng xác định xưởng sản xuất ra loại gốm đó. Các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ trong suốt thời kỳ cổ đại nhãn hiệu dưới hình thức tồn tại đơn giản thực hiện chức năng chủ yếu là chỉ rõ nguồn gốc của sản phẩm và cho phép xác định rõ chủ sở hữu hay người sản xuất ra sản phẩm đó.

Ở Châu Âu trong thời Trung cổ do sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tác động đến sự phát triển của của các hình thức sản xuất. Bên cạnh các nhãn hiệu cá nhân của các thợ thủ công đã xuất hiện nhãn hiệu của các nghiệp đoàn. Ngay từ thế kỷ thứ XIII luật pháp của các vương quốc đã xác lập các hình thức phạt nghiêm khắc đối với hành vi chiếm đoạt các nhãn hiệu.

Đến giữ thế kỷ thứ XIX cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ đã được con người áp dụng vào sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người đã thúc đẩy sự trao đổi hàng hóa, kích thích sự phát triển của thị trường và thương mại. Chính vì vậy việc bảo hộ nhãn hiệu trở thành mối quan tâm của các nhà sản xuất kinh doanh khi đưa sản phẩm của mình vào lưu thông. Nhãn hiệu cá nhân của các nhà công nghiệp, các thương nhân có những cơ hội mới để phát triển. Các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ vào nửa đầu thế ký XIX ở Tây Âu đã bùng nổ các nhãn hiệu hàng hóa và thương mại trong rất nhiều ngành nghề như ngành dệt, chế biến thuốc dán có nhựa thơm, chế biến bánh mứt kẹo….

Ngoài tên gọi truyền thống của các nhà công nghiệp và các thương nhân, nhãn hiệu thời kỳ này đã mang những đặc trưng mới như sự kết hợp giữa hình ảnh và màu sắc. Cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện các nhãn hiệu hiện đại hơn có sự kết hợp các yếu tố hình họa và từ ngữ. Nhãn hiệu đã được các quốc gia bảo hộ. Trong thế kỷ XIX rất nhiều quốc gia đã ban hành các đạo luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Cùng với sự phát triển của cách mạng công nghiệp, người ta bắt đầu sử dụng các hình thức đóng gói cá nhân cho các sản phẩm cùng loại. Điều đó tạo ra khả năng sử dụng nhãn hiệu vừa với tính chất là phương tiện phân biệt sản phẩm, dịch vụ vừa là phương tiện để quảng cáo. Ví dụ, điển hình về việc sử dụng nhãn hiệu trong giai đoạn này đó là việc công ty sản xuất xà bông và đèn cầy Procter & Gamble (Hoa Kỳ), cho đến trước năm 1880 xà phòng được sản xuất trong điều kiện gia đình và được bán theo trọng lượng, Procter & Gamble đã nghiên cứu và tìm ra công nghệ ưu việt hơn đảm bảo được chất lượng thường xuyên của xà phòng. Những người chủ công ty này đã sử dụng tên gọi IVORY để làm nhãn hiệu cho sản phẩm của mình. Tháng 12 năm 1881, công ty P & G (Procter & Gamble) đã đăng bài quảng cáo đầu tiên về một sản phẩm xà bông thơm có tên là IVORY, “nổi trên mặt nước, trắng như ngà, và 99,44 phần trăm tinh khiết”. Cho đến ngày nay, nhãn hiệu này không chỉ có chức năng phân biệt mà còn được sử dụng để quảng cáo cho biểu tượng chất lượng của sản phẩm.

Trong quá trình cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm, hiện tượng bắt chước nhãn hiệu của nhau và gây thiệt hại cho chủ nhãn hiệu ngày càng nhiều. Số vụ xử kiện tại các toà án ngày càng tăng. Trong các vụ xét xử, nguyên tắc thường được các toà án áp dụng là: quyền thuộc về người đầu tiên sử dụng nhãn hiệu. Lúc đầu các sổ nhãn hiệu chỉ dùng để theo dõi các nhãn hiệu bị tranh chấp, sau đó ghi cả các nhãn hiệu khác chưa bị tranh chấp để đề phòng các tranh chấp sẽ có trong tương lai. Sổ theo dõi nhãn hiệu dần dần trở thành sổ đăng bạ nhãn hiệu, từ đó hình thành phương thức đăng ký nhãn hiệu tại toà án (thường gọi là trình toà). Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu được ghi nhận lần đầu tiên trong Luật về xí nghiệp, cơ sở chế tạo và lò xưởng thủ công năm 1809 của Pháp. Ngày 23/6/1857, Pháp ban hành Luật về ký hiệu, nhãn hiệu chế tạo. Tiếp lần lượt các nước Italia (ngày30/8/1868), Bỉ (ngày 01/4/1879), Hoa Kỳ (ngày 03/03/1881), Anh (ngày 25/8/1883), Đức (ngày 12/3/1894), Nga (ngày 26/02/1896), Nhật Bản (1875), v.v… đã lần lượt ban hành pháp luật về nhãn hiệu của mình. Các đạo luật trên đều quy định khá chi tiết về cơ chế bảo hộ đối với nhãn hiệu: thủ tục xác lập quyền, sử dụng và bảo vệ nhãn hiệu; phạm vi các dấu hiệu có thể được bảo hộ, tập trung hoá quá trình đăng ký nhãn hiệu.  Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, hầu hết các nước đã thông qua những đạo luật mới về bảo hộ nhãn hiệu, đáp ứng yêu cầu phát triển không ngừng của hoạt động sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ trong thời đại mới.

Sự phát triển của sản xuất đã tạo ra nhu cầu to lớn cho sự hình thành và phát triển của thương mại quốc tế. Đến nửa cuối thế kỷ XIX, cùng với sự phát triển của thương mại hàng hóa xuyên quốc gia, tình trạng làm hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu cũng gia tăng. Người ta bắt đầu nhận thấy tính chất quốc tế trong vấn đề bảo hộ SHTT, trong đó có bảo hộ nhãn hiệu. Cũng từ đó nảy sinh nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu vượt ra khỏi phạm vi các quốc gia. Kết quả là vào cuối thế kỷ XIX, các điều ước quốc tế liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu đã lần lượt ra đời. Phản ánh sự đấu tranh đồng thời với sự hợp tác, dung hoà quyền lợi giữa các nhóm lợi ích khác biệt trên thế giới, các điều ước này đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo hộ quốc tế đối với nhãn hiệu, thúc đẩy sự phát triển của thương mại trên phạm vi toàn cầu.

Văn bản đầu tiên là Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp được ký kết ngày 20/3/1883 tại Paris, được xem xét lại và sửa đổi tại Roma năm 1886, tại Mađrit năm 1890, tại Brussels năm 1897 và 1900, tại Washington năm 1911, tại La Hay năm 1925, tại Luân Đôn năm 1934, tại Lisbon năm 1958, tại Stockholm năm 1967 và được sửa đổi vào năm 1979. Tính đến ngày 15/01/2002, có 162 nước là thành viên của Công ước này. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Việc bảo hộ nhãn hiệu theo Công ước Paris được thể hiện trên hai khía cạnh: một là thiết lập những nguyên tắc bảo hộ chung cho tất cả các đối tượng SHCN được quy định trong Công ước, trong đó có nhãn hiệu; hai là, đưa ra những quy định riêng về chế độ bảo hộ đối với nhãn hiệu.

Tuy nhiên, dưới góc độ lập pháp quốc tế, Công ước chưa giải quyết được một số vấn đề quan trọng như việc đăng ký nhãn hiệu vẫn phải được tiến hành tại từng quốc gia nơi người nộp đơn yêu cầu bảo hộ. Công ước cũng chưa quy định một cách cụ thể về nhãn hiệu dịch vụ, chưa thiết lập được một hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu..…

Để khắc phục những thiếu sót trong Công ước Paris, năm 1891, Thỏa ước Mađrit đã được thông qua tại Tây Ban Nha. Tính đến ngày 18/01/2002, Thỏa ước đã thu hút được 52 quốc gia thành viên. Những quy định của Thỏa ước mở ra cơ hội cho việc thiết lập cơ chế đăng ký quốc gia và quốc tế cho cùng một nhãn hiệu, trong đó mỗi nước thành viên Thỏa ước đều có nghĩa vụ công nhận đăng ký này. Thỏa ước không thiết lập một chế độ bảo hộ duy nhất đối với nhãn hiệu ở tất cả các nước thành viên tham gia mà chỉ làm đơn giản hơn quá trình đăng ký bảo hộ đồng thời ở nhiều quốc gia, tạo điều kiện cho người nộp đơn có thể xin đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của mình ở nhiều quốc gia mà không phải đăng ký trực tiếp ở từng quốc gia đó. Chính điều này sẽ dẫn tới việc giảm thiểu đáng kể những chi phí đăng ký cho người nộp đơn.

Cho đến nay Thỏa ước Madrit vẫn là điều ước quốc tế quan trọng nhằm khắc phục nguyên tắc lãnh thổ trong bảo hộ nhãn hiệu tại các quốc gia. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, Thỏa ước vẫn còn có những điểm bất cập:

Thứ nhất, đó là quá trình đăng ký hai giai đoạn: đầu tiên là ở cấp độ quốc gia, sau đó là ở cấp độ quốc tế. Điều này sẽ tạo ra những bất lợi nhất định cho người nộp đơn tại nước nơi mà thủ tục xét nghiệm về nhãn hiệu được tiến hành cẩn trọng, khắt khe hơn hoặc nơi mà việc sử dụng nhãn hiệu được coi là điều kiện bắt buộc để nhãn hiệu có thể được đăng ký.

Thứ hai, quy định về thời hạn từ chối đăng ký nhãn hiệu của quốc gia thành viên trong vòng 12 tháng làm cho thời gian xét nghiệm nhãn hiệu một cách nghiêm túc trở nên quá ngắn, nhất là trong điều kiện số lượng lớn đơn nộp yêu cầu bảo hộ.

Thứ ba, mức lệ phí tương đối thấp cho việc đăng ký nhãn hiệu ở các cơ quan có thẩm quyền tại các quốc gia không thể chi trả hết được những chi phí cho việc tiến hành xét nghiệm nhãn hiệu một cách nghiêm túc.

Thứ tư, sự phụ thuộc của hiệu lực đăng ký quốc tế vào hiệu lực đăng ký cơ sở (cho dù chỉ là trong vòng 5 năm đầu tiên) không đáp ứng được lợi ích của người nộp đơn ở các quốc gia nơi mà nhãn hiệu thường hay bị đình chỉ, huỷ bỏ vì nhiều lý do khác nhau. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Mặc dù Thỏa ước Madrit ra đời từ hơn một trăm năm nay và đã qua nhiều lần sửa đổi song vẫn vắng bóng sự tham gia của một số cường quốc về nhãn hiệu, trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản và Anh.

Với mục đích nhằm mở rộng hệ thống đăng ký, thu hút nhiều nước tham gia hơn nữa, năm 1995, Nghị định thư Madrit đã ra đời. So với Thỏa ước Madrit, Nghị định thư đã có một số cải cách cơ bản như: việc đăng ký quốc tế không chỉ dựa trên cơ sở đăng ký quốc gia mà còn có thể dựa trên đơn đăng ký quốc gia; Thời hạn từ chối đăng ký cho mỗi quốc gia là 18 tháng thay vì 1 năm như trước đây; Mức lệ phí được tăng lên và các quốc gia được phép thu lệ phí riêng cho việc đăng ký; Một đăng ký quốc tế bị huỷ bỏ có thể chuyển thành một đăng ký quốc gia ở mỗi quốc gia được chỉ định. Đến ngày 18/01/2002 đã có 55 quốc gia là thành viên của Nghị định thư Madrit. Việt Nam đã gia nhập Điều ước quốc tế này từ ngày 11/7/2006, Mỹ gia nhập 01/11/2003, còn Anh gia nhập 01/12/1995.

Thủ tục đăng ký nhãn hiệu ở mỗi nước được quy định là tương đối khác nhau. Những thủ tục này đôi khi đòi hỏi các thể thức rất khác nhau, gây ít nhiều khó khăn cho người nộp đơn và chủ sở hữu nhãn hiệu. Một thành công đáng kể trong việc tiến tới hài hoà hoá, đơn giản hoá các thể thức đó là việc thông qua Hiệp ước luật nhãn hiệu ngày 27 tháng 10 năm 1994.

Các quy định của Hiệp ước đưa ra những tiêu chuẩn tối đa về thủ tục mà cơ quan có thẩm quyền đăng ký nhãn hiệu được phép hay không được phép đòi hỏi người nộp đơn hoặc chủ sở hữu nhãn hiệu. Hiệp ước loại bỏ một số yêu cầu được coi là gánh nặng (như việc hợp pháp hoá chữ ký); đề ra một số điểm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các thủ tục; v.v…Nhìn chung Hiệp ước luật nhãn hiệu mang lại lợi ích không chỉ cho người nộp đơn, chủ sở hữu nhãn hiệu mà còn cho cả cơ quan đăng ký của các quốc gia và các đại diện SHTT.

Đến tháng 10/ 2004, Hiệp ước đã được 27 nước phê chuẩn, trong đó có Hoa Kỳ. Mặc dù Việt Nam chưa tham gia Hiệp ước song hệ thống pháp luật của nước ta có hầu hết các quy định trong hiệp ước. Tuy nhiên, có một số điều bị cấm và thiếu một số quy định bắt buộc.

Năm 1994, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (TRIPS) đã được thông qua. Hiệp định TRIPS quy định việc bảo hộ nhiều đối tượng SHTT khác nhau, trong đó có đã được thông qua. Hiệp định TRIPS đã khẳng định lại và mở rộng các chuẩn mực và quy định của Công ước Paris. Hơn nữa, Hiệp định TRIPS đã vượt ra ngoài Công ước Paris khi lần đầu tiên đưa ra một nguyên tắc mới là đối xử tối huệ quốc (MNF), đồng thời quy định các biện pháp thực thi quyền SHTT khá chặt chẽ và hệ thống hình phạt đối với các thành viên không đảm bảo sự bảo hộ tối thiểu về quyền SHTT, kể cả các tiêu chuẩn tối thiểu về nghĩa vụ thực thi quyền. Các hình phạt này hoàn toàn không có trong Công ước Paris.

Nhằm tăng cường bảo hộ các đối tượng của quyền SHTT trong đó có đã được thông qua trên quy mô toàn thế giới, năm 1970, Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) đã được thành lập và chính thức đi vào hoạt động.

3.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật bảo hộ Nhãn hiệu ở Việt Nam Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Vào thế kỷ XV, dưới thời vua Lê Thánh Tông Bộ luật Hồng Đức đã quy định xử phạt về tội làm hàng giả, tuy chưa có những quy định trực tiếp nhưng những quy định này được xem như một cách bảo vệ gián tiếp các nhãn hiệu được công nhận trên thị trường. Đây được coi là một trong những quy định đầu tiên về bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam.

Ngày 8/3/1949, Việt Nam đã gia nhập hai điều ước quốc tế quan trọng đó là Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền SHCN và Thỏa ước Madrit 1891 về đăng ký quốc tế nhãn hiệu.

Giai đoạn 1954 – 1975, đất nước ta bị chia cắt thành hai miền: Miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn còn nằm dưới ách thống trị và sự kìm kẹp của đế quốc Mỹ và nguỵ quyền Sài gòn. Do đó hệ thống pháp luật hai miền hoàn toàn khác nhau. Ở Miền Bắc, ngày 3/1/1958, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 175-TTg có đề cập đến đăng ký nhãn hiệu thương phẩm. Còn ở miền Nam, một số đối tượng SHCN trong đó có nhãn hiệu được bảo hộ tại Luật số 13/57 ngày 1/8/1957 và Luật số 14/59 ngày 11/9/1959 về chống sản xuất hàng giả.

Từ năm 1981 đến trước năm 1989, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật bảo hộ các đối tượng SHCN trong đó có nhãn hiệu. Tuy nhiên, tất cả mới chỉ dừng lại ở các văn bản của Hội đồng Bộ trưởng, cụ thể về nhãn hiệu đã có Điều lệ về nhãn hiệu ban hành kèm theo Nghị định 197/HĐBT ngày 14/12/1982, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 84/HĐBT ngày 20/3/1990; Điều lệ mua bán lixăng ban hành kèm theo Nghị định 201/HĐBT ngày 28/12/1988.

Ngày 11/2/1989, Pháp lệnh bảo hộ quyền SHCN được công bố đã đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về nhãn hiệu. Tiếp theo các văn bản hướng dẫn liên quan đến nhãn hiệu lần lượt ra đời như Thông tư số 437 ngày 19/3/1993 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn bổ sung về đăng ký nhãn hiệu; Thông tư số 163 ngày 15/4/1994 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn các quy định về phê duyệt và đăng ký hợp đồng lixăng.

Hiến pháp 1992 đã ghi nhận việc Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, trong đó có nhãn hiệu. Với sự ra đời của Bộ luật dân sự 1995, hệ thống pháp luật nước ta về bảo hộ quyền SHTT nói chung và nhãn hiệu nói riêng đã có bước phát triển về chất. Quyền SHTT và chuyển giao công nghệ (trong đó có nhãn hiệu) được quy định tại Phần thứ sáu của bộ luật. Tiếp theo, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành các quy định pháp luật này. Liên quan đến nhãn hiệu có thể kể ra một số văn bản tiêu biểu sau: Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

  • Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về SHCN.
  • Nghị định 60/CP ngày 6/6/1997 của Chính phủ hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
  • Thông tư số 3055/TT-SHCN ngày 31/12/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục xác lập quyền SHCN và một số thủ tục khác trong Nghị định 63/CP của Chính phủ.
  • Nghị định 06/CP ngày 01/02/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 63/CP quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp.
  • Thông tư số 132/TT-BTC ngày 30/12/2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí SHCN.

Ngày 14/6/2005 Quốc hội khoá XI đã thông qua Bộ luật dân sự 2005. Khác với Bộ luật dân sự 1995, Bộ luật dân sự 2005 chỉ quy định những vấn đề chung mang tính nguyên tắc về quyền SHTT, trong đó có nhãn hiệu.

Ngày 29/11/ 2005 Quốc hội đã thông qua Luật SHTT, được sửa đổi 2009. Đây là lần đầu tiên các quy phạm pháp luật về nhãn hiệu cùng với các quy định pháp luật về các đối tượng khác về SHTT được ban hành thống nhất trong một văn bản chuyên biệt. Điều đó đánh dấu bước phát triển đáng kể của hệ thống pháp luật về SHTT nói chung và nhãn hiệu nói riêng ở nước ta.

Một số Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành liên quan đến nhãn hiệu như Nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp; Nghị định 105/2006/NĐ-Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT; Thông tư 18/2011/TT-BKHCN Ngày 22/7/2011 sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp; Nghị định số 122/2010/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN và bản lồng ghép với Nghị định số 103/2006/NĐ-CP; Nghị định số 119/2010/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT và bản lồng ghép với Nghị định số 105/2006/NĐ-CP.

Bên cạnh các văn bản quy định về tiêu chuẩn bảo hộ quyền và trình tự, thủ tục xác lập quyền đối với nhãn hiệu, các quy định về thực thi quyền cũng lần lượt ra đời như Bộ luật hình sự năm 1999, đã sửa đổi, bổ sung; Nghị định 12/1999/NĐ-CP năm 1999 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; Thông tư số 825/TT BKHCNMT ngày 3/5/2000 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành nghị định số 12/1999/CP/NĐ-CP ngày 6/3/1999 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN; Bộ luật tố tụng dân sự 2004(sửa đổi 2011); Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi 2007,2008); Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996, sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006; Luật Hải quan năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2005 …

Ngoài ra, còn rất nhiều văn bản khác liên quan đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu như: Luật đầu tư 2005, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp… Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Song song với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, chúng ta cũng nhận thức một cách sâu sắc rằng vấn đề bảo hộ quốc tế nhãn hiệu có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vì vậy, Việt Nam cũng đã tích cực tham gia và ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến việc bảo hộ Luật SHTT. Cho đến nay, chúng ta đã là thành viên của các điều ước quốc tế sau:

  • Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền SHCN kể từ ngày 8/3/1949;
  • Thỏa ước Madrit 1891 kể từ ngày 8/3/1949;
  • Công ước Stockholm về thành lập Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) kể từ ngày 2/7/1976;
  • Hiệp định khung về SHTT của ASEAN ngày 15/12/1995;
  • Hiệp định giữa Việt Nam với Thuỵ Sỹ về bảo hộ SHTT và hợp tác trong lĩnh vực SHTT ngày 7/7/1999;
  • Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ngày 13/7/2000;
  • Nghị định thư Mađrit kể từ ngày 11/7/2006;
  • Ngày 07/11/2006, Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của “đại gia đình thương mại” WTO, điều đó cũng đồng nghĩa với việc chúng ta gia nhập Hiệp định TRIPS – điều ước quốc tế đa phương toàn diện nhất về SHTT, trong đó có Luật

Nhìn chung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu nói riêng của nước ta là tương đối đầy đủ và ngày càng chi tiết hơn, hoàn thiện hơn so với các thời kỳ trước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế việc bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam cũng có những bước phát triển đáng kể trong việc tiến tới tương thích hoá, hài hoà hoá với pháp luật các nước và các chuẩn mực bảo hộ quốc tế. Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nhãn hiệu vẫn còn tồn tại một số bất cập so với yêu cầu của thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu vốn phong phú, đa dạng và rất phức tạp. Trước yêu cầu đặt ra của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam sẽ phải ngày càng hoàn thiện hơn về pháp luật SHTT.

4. Cơ sở pháp lý của việc bảo hộ Nhãn hiệu. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

4.1 Các dấu hiệu cấu thành Nhãn hiệu.

Qua tìm hiểu khái niệm nhãn hiệu của các nước cũng như các điều ước quốc tế, có thể thấy pháp luật về nhãn hiệu các nước cũng không liệt kê một danh sách các dấu hiệu cố định mà chỉ đưa ra các loại dấu hiệu phổ biến, cơ bản. Các loại dấu hiệu có khả năng là nhãn hiệu rất đa dạng. Vì vậy, theo xu hướng quốc tế hiện nay thì các dấu hiệu có thể được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu rất phong phú, nó có thể bao gồm bất kỳ yếu tố nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác và thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu ghi nhận những dấu hiệu sau có thể được dùng làm nhãn hiệu:

Từ ngữ: là loại dấu hiệu được dùng phổ biến nhất và chiếm số lượng rất lớn khi đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Loại dấu hiệu này bao gồm tên công ty, họ, tên, tên địa lý, khẩu hiệu và bất kỳ từ ngữ nào được sáng tạo hay không. Từ ngữ không nhất thiết phải có nghĩa, chẳng hạn như nhãn hiệu SONY, nhãn hiệu KODAK v.v…Ở Mỹ và Châu Âu họ gia đình thường được dùng rất phổ biến làm tên công ty hay nhãn hiệu gắn lên hàng hóa. Tuy nhiên pháp luật đa số các nước kể cả Mỹ và Châu Âu thường không cho phép đăng ký các họ gia đình phổ thông làm nhãn hiệu do nó thiếu tính phân biệt và có thể gây nhầm lẫn với khách hàng.

Chữ cái và con số: gồm có một hay nhiều chữ cái, một hay nhiều số hay sự kết hợp giữa chúng. Đây cũng là một loại dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu một cách khá phổ biến trên thế giới. Ở Việt Nam, không phải mọi chữ cái và con số đều được thừa nhận là nhãn hiệu. Các chữ cái đơn lẻ và không được cách điệu thì thường được coi là không có khả năng phân biệt và do vậy không được đăng ký làm nhãn hiệu. Theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật SHTT năm 2005, các chữ số, chữ cái thuộc các ngôn ngữ không thông dụng bị loại trừ. Tuy nhiên, nếu chúng đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu thì vẫn được chấp nhận. Luật nhãn hiệu của Mỹ không đề cập đến điều kiện về sự kết hợp có thể phát âm được hay với những số lượng chữ cái, chữ số tối thiểu để một nhãn chữ cái hoặc chữ số có thể được đăng ký như một nhãn hiệu. Trong khi đó pháp luật Nhật Bản lại không quy định sự kết hợp các chữ cái phải theo một thứ tự có thể phát âm được, nhãn hiệu bao gồm chữ cái và chữ số, nếu chỉ có một chữ cái hoặc chữ số thì sẽ bị coi là quá đơn giản và không được bảo hộ.

Hình vẽ: Bao gồm các hình hoạ, các nét vẽ, biểu tượng hoặc hình hoạ hai chiều của hàng hóa hoặc bao bì. Pháp luật của hầu hết các nước đều công nhận hình vẽ, biểu tượng có tính phân biệt và có khả năng đăng ký bảo hộ cao. Bên cạnh đó pháp luật của một số nước như Mỹ, Nhật Bản, Việt Nam không chấp nhận cho đăng ký các hình và hình học đơn giản như hình tam giác ngược hoặc xuôi, hình hình hành, hình vuông, hình tròn, hình quả tim… vì chúng bị coi là không có khả năng phân biệt (khoản 2 Điều 74 Luật SHTT năm 2005). Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Sự kết hợp của các yếu tố kể trên: Là những dấu hiệu được tạo ra từ sự kết hợp các dấu hiệu từ ngữ, chữ cái, con số, hình vẽ với nhau. Loại dấu hiệu này được sử dụng rất rộng rãi tại Việt Nam cũng như ở các nước khác.

Màu sắc: Loại dấu hiệu này bao gồm các từ ngữ, hình vẽ và bất kỳ sự kết hợp nào giữa chúng mà có mầu sắc hoặc sự tổ hợp của bản thân các màu sắc. Hiệp định TRIPS quy định không những dấu hiệu cụ thể có thể được đăng ký là nhãn hiệu với những màu sắc nhất định mà bản thân sự kết hợp các mầu sắc với nhau cũng có thể được đăng ký là nhãn hiệu. Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ cũng quy định tổ hợp màu sắc là một loại dấu hiệu có thể đăng ký làm nhãn hiệu. Tuy nhiên, Luật SHTT năm 2005 không thừa nhận dấu hiệu màu sắc có thể được đăng ký là nhãn hiệu mà chỉ xác định màu sắc là phương thức thể hiện của các loại dấu hiệu khác.

Dấu hiệu ba chiều: Là loại dấu hiệu hình khối có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu. Dạng điển hình nhất của dấu hiệu ba chiều là hình dáng hàng hóa hoặc bao bì. Đây là một loại nhãn hiệu mới ngày càng được ưa chuộng với các dấu hiệu và hình ảnh ba chiều thường tạo ra ấn tượng mạnh trong tâm trí người tiêu dùng. Điển hình có thể kể đến một số nhãn hiệu ba chiều tiêu biểu như ngôi sao ba cánh nổi nằm trong vòng tròn của xe Mercedes, con sư tử đứng hai chân nổi của xe Peugeot, hình con ngựa bay đúc nguyên khối của xe Rolls-Royce. Nhãn hiệu ba chiều là loại nhãn hiệu khá phức tạp, nó khác nhãn hiệu hai chiều thông thường ở chỗ những gì thể hiện trên bản vẽ chỉ là sự miêu tả chứ hoàn toàn không phải là chính bản thân nhãn hiệu. Vì vậy, có thể nói pháp luật Việt Nam cũng giống như pháp luật các nước đều công nhận bảo hộ nhãn hiệu ba chiều.

Tuy nhiên, pháp luật các nước khi đã thừa nhận loại dấu hiệu này thì ngoài tính phân biệt của nhãn hiệu đó còn thường thêm yêu cầu điều kiện dấu hiệu ba chiều đó phải có khả năng mô tả được theo hình hoạ hai chiều. Theo Bộ luật dân sự 1995 và các văn bản hướng dẫn về nhãn hiệu trước đây cũng như Luật SHTT năm 2005 đều không quy định rõ về điều kiện để một dấu hiệu ba chiều có thể được đăng ký làm nhãn hiệu. Tại điểm a khoản 2 Điều 74 Luật SHTT quy định: các hình và hình học đơn giản thì không có khả năng phân biệt, do đó có thể hiểu các hình học đơn giản trong không gian ba chiều như hình lập phương, hình cầu, hình trụ, hình chóp… không được pháp luật Việt Nam thừa nhận là nhãn hiệu. Pháp luật Nhật Bản cũng quy định nếu một nhãn hiệu ba chiều mà không thể hiện được qua lời chú giải hoặc hình vẽ là một nhãn hiệu ba chiều đúng với bản thân nó thì không được bảo hộ, ví dụ trong bản vẽ mô tả mà không thể hiện được độ dầy của những mặt đứng của hình khối ba chiều trong nhãn hiệu thì nhãn hiệu ba chiều đó không được đăng ký.

Các dấu hiệu âm thanh (thính giác): Là loại dấu hiệu mới được các chủ thể kinh doanh sử dụng làm nhãn hiệu do nhu cầu phát triển của nền kinh tết thị trường đòi hỏi có sự đa dạng, phong phú về các mặt hàng. Có hai loại nhãn âm thanh thường được sử dụng đó là những nốt nhạc hoặc tiết tấu nhạc ngắn được sáng tác (ví dụ các âm thanh của chương trình Windows) hoặc các âm thanh mô phỏng từ tự nhiên (ví dụ tiếng chim hót, tiếng gầm của mãnh thú, tiếng nước chảy). Các dấu hiệu âm thanh có thể được đăng ký như các dấu hiệu hình nhưng cái được bảo hộ không phải là các tiết tấu nhạc thực sự mà là chuỗi các dấu hiệu âm thanh được đăng ký chống lại sự sử dụng các dấu hiệu tương tự. Để được đăng ký bảo hộ thì nhãn hiệu âm thanh phải được thể hiện thành các nốt nhạc và tiết tấu nhạc trên giấy. Mỹ là quốc gia có nền kinh tế với trình độ khoa học, công nghệ phát triển, đã đi tiên phong trong việc cấp đăng ký nhãn hiệu cho dấu hiệu âm thanh và đã có khá nhiều nhãn hiệu âm thanh được đăng ký, ví dụ nhà sản xuất và bán lẻ kem hàng đầu thế giới Wall của Mỹ đã đăng ký giai điệu âm nhạc trên các xe bán kem lưu động làm nhãn hiệu âm thanh cho sản phẩm kem của mình. Để được đăng ký âm thanh phải được ghi vào băng cát-xét và nộp cho Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO). Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Dấu hiệu mùi (khứu giác): Đây cũng là loại dấu hiệu mới được thừa nhận làm nhãn hiệu và chưa thực sự phát triển như nhãn hiệu âm thanh. Một trong những lý do là mùi rất khó mô tả, đặc biệt là mùi nhân tạo không có trong tự nhiên, do đó người tiêu dùng gặp nhiều khó khăn trong việc phân biệt và nhận ra sản phẩm quen dùng. Cho đến nay mới chỉ có một số được định đăng ký cho một số hàng hóa đặc thù nhất định, đó là những mùi đặc trưng mà chỉ cần mô tả cũng có thể nhận ra, ví dụ mùi vanilla đăng ký cho bánh kẹo, mùi hoa Plimeria đăng ký cho chỉ may và sợi thêu. Hiện nay chỉ có một số quốc gia phát triển trên thế giới, trong đó điển hình là Hoa Kỳ, cho đăng ký nhãn hiệu mùi. Trong khi đó pháp luật Việt Nam và Nhật Bản chưa cho phép đăng ký nhãn hiệu mùi và âm thanh.

Cách thức trình bày sản phẩm: theo pháp luật Mỹ, cách thức trình bày sản phẩm cũng được coi là một nhãn hiệu nếu chúng có khả năng phân biệt ở sự kết hợp các yếu tố và ấn tượng chung mà cách trình bày hàng hóa đó tạo ra đối với người quan sát chúng. Bên cạnh đó nếu cách trình bày hàng hóa đã trở nên thông thường đối với các đối thủ cạnh tranh trong một khu vực thị trường nhất định thì sẽ nhãnh chóng mất đi ưu thế.

Những dấu hiệu khác (không nhìn thấy được): những dấu hiệu loại này mang tính mở và được nhận biết qua xúc giác thường để gắn lên những loại hàng hóa giúp cho người khiếm thính nhận biết được hàng hóa mình cần Do vậy, bất kỳ dấu hiệu nào có thể phân biệt được hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác đều có thể được coi là nhãn hiệu. Đối với hệ thống pháp luật của các nước có thừa nhận án lệ và công tác giải thích pháp luật được thừa nhận tốt những dấu hiệu khác có thể được đăng ký làm nhãn hiệu và giúp cho pháp luật được áp dụng cao trong thực tiễn.

Pháp luật Việt Nam chưa có quy định để bảo hộ và thực tiễn cũng không thừa nhận đối với các loại dấu hiệu âm thanh, mùi và cách thức trình bày sản phẩm. Tuy nhiên với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và nhu cầu hội nhập quốc tế hiện nay thì pháp luật Việt Nam cũng cần có tính dự liệu để trong tương lai những loại dấu hiệu này được bảo hộ.

4.2 Các tiêu chí để được bảo hộ.

Như đã phân tích ở trên mặc dù các nước quy định dấu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hóa hay dịch cụ của chủ nhãn hiệu với hàng hóa cùng loại và mục đích của nó là để người tiêu dùng phân biệt và lựa chọn được loại hàng hóa hay dịch vụ mà mình muốn. Nhưng không phải mọi dấu hiệu gắn với hàng hóa hay dịch vụ được công nhận là nhãn hiệu. Một dấu hiệu để được coi là nhãn hiệu phải thỏa mãn các điều kiện được ghi nhận trong công ước Paris 1883, Điều 6quinquies B các nhãn hiệu được bảo hộ theo Điều 6quinquies A có thể bị từ chối đăng ký chỉ nếu “chúng hoàn toàn thiếu tính phân biệt” hoặc nếu “chúng trái với trật tự công cộng và đạo đức xã hội, đặc biệt khi chúng có tính lừa dối công chúng”. Do vậy, điều kiện này được phân thành hai loại đó là: Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

  • Điều kiện về tính phân biệt của nhãn hiệu;
  • Điều kiện nhãn hiệu không trái với trật tự công cộng và đạo đức xã hội.

4.2.1 Điều kiện về tính phân biệt.

Điều kiện này xuất phát từ chức năng cơ bản của nhãn hiệu, đó là chức năng phân biệt hàng hóa/dịch vụ một doanh nghiệp với hàng hóa/dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp khác. Điều 15.1 TRIPS quy định bất kỳ một dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Trường hợp tự thân dấu hiệu không có khả năng phân biệt thì việc đăng ký chỉ được tiến hành nếu xác định được qua quá trình sử dụng dấu hiệu vẫn có thể đạt được tính phân biệt.

Pháp luật Việt Nam quy định khá chi tiết, đầy đủ về khả năng phân biệt của nhãn hiệu và đặc biệt là cũng như pháp luật Hoa Kỳ, các nhà lập pháp Việt Nam đã ghi nhận cả trường hợp khả năng phân biệt của nhãn hiệu có được qua quá trình sử dụng. Theo tinh thần của Điều 74 Luật SHTT, nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không phải là các dấu hiệu bị loại trừ. Trên thực tế điều kiện về tính phân biệt của nhãn hiệu cũng được đề cập đầy đủ trong pháp luật Trung Quốc, Nhật Bản, Anh. Pháp luật các nước này coi chúng là những trường hợp rõ ràng cần phải từ chối đơn đăng ký chứ không dùng chúng để xây dựng định nghĩa về tính phân biệt. Do vậy, về cơ bản pháp luật Việt Nam quy định về tính phân biệt của nhãn hiệu không khác so với pháp luật các nước nói trên cũng như pháp luật quốc tế.

Với sự đa dạng và phong phú của các loại hàng hóa, dịch vụ thì tính phân biệt của nhãn hiệu cần được đánh giá trong mối liên hệ với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Chẳng hạn từ “APPLE” (quả táo) hoặc hình ảnh quả táo không thể được đăng ký cho hàng hóa là táo, nhưng lại có tính phân biệt cao đối với loại hàng hóa máy tính, do đó được đánh giá là đáp ứng điều kiện về tính phân biệt. Do vậy, tính phân biệt cần phải được đánh giá trong mối liên hệ với những hàng hóa mà nhãn hiệu được áp dụng.

Nhận thức của người tiêu dùng là yếu tố có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu khi xác định nhãn hiệu có mang tính phân biệt hay không, đặc biệt là khi cần giải quyết các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng hoặc liên quan đến vấn đề chống cạnh tranh không lành mạnh. Một nhãn hiệu sẽ mang tính phân biệt đối với hàng hóa khi nó được nhận ra hoặc có khả năng nhận ra được, nhằm giúp xác định đúng nguồn gốc thương mại của hàng hóa.

Tính phân biệt của nhãn hiệu là một khái niệm mang tính tương đối. Phụ thuộc vào các hoạt động của người sử dụng nhãn hiệu hay của bên thứ ba mà nhãn hiệu có thể có được, được tăng cường hay thậm chí mất đi tính phân biệt. Các điều kiện cụ thể như việc sử dụng đối với nhãn hiệu cần phải được các cơ quan quản lý xem xét khi có quan điểm cho rằng dấu hiệu đó không có tính phân biệt vốn có. Có những nhãn hiệu trở thành thuật ngữ gốc cho loại hàng hóa vốn gắn với nhãn hiệu và do vậy mất đi tính phân biệt như nhãn hiệu ASPIRIN cho sản phẩm thuốc giảm đau, CELLOPHANE cho sản phẩm giấy bóng kính.

Có những cấp độ phân biệt khác nhau, căn cứ vào những cấp độ người ta phân thành hai loại tiêu biểu: các nhãn hiệu có tính phân biệt cố hữu (inherently distinctiveness) và các nhãn hiệu có tính phân biệt bằng nghĩa thứ cấp (secondary meaning).

Nhãn hiệu có tính phân biệt cố hữu bao gồm nhãn hiệu tự đặt (fanciful marks), nhãn hiệu tuỳ chọn (arbitrary marks) và nhãn hiệu gợi ý (suggestive marks). Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Nhãn hiệu tự đặt là những dấu hiệu do chủ nhãn hiệu tự sáng tạo ra. Chúng thường là những từ ngữ không tồn tại trong bất kỳ ngôn ngữ nào và do đó không hề có mối liên hệ nào với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Mặt khác chúng lại nhận được sự bảo hộ mạnh của pháp luật và có khả năng đăng ký cao vì chúng thường là độc nhất, không chỉ có khả năng phân biệt các hàng hóa, dịch vụ của chủ nhãn hiệu mà còn khác biệt so với bất kỳ ngôn ngữ nào, chúng có tính chất như một vật đặc định nên mang tính phân biệt rất cao. Tuy nhiên, với loại nhãn hiệu này đòi hỏi chủ sở hữu phải đầu tư nhiều thời gian, công sức cũng như tài chính vào việc xây dựng và quảng cáo nhãn hiệu để người tiêu dùng biết về chúng. Ví dụ, nhãn hiệu KODAK cho các sản phẩm phim chụp ảnh, đó là những dấu hiệu do nhà sản xuất tự sáng tạo ra mà trước đó chưa tồn tại trong tự nhiên, từ KODAK không có nghĩa và càng không có nghĩa là phim chụp ảnh.

Nhãn hiệu tuỳ chọn là những từ ngữ, biểu tượng, hình ảnh được sử dụng hàng ngày và có nghĩa nhất định trong đời sống nhưng ý nghĩa đó không liên quan đến sản phẩm mang nhãn hiệu. Do đó, nhãn hiệu này mang tính phân biệt cao và dễ được các cơ quan Nhà nước cho đăng ký. Nhãn hiệu tuỳ chọn không mô tả hàng hóa/dịch vụ, cũng không chuyển tải bất kỳ đặc tính, thành phần hay chức năng của hàng hóa.Ví dụ nhãn hiệu nổi tiếng CAMEL dùng cho thuốc lá, từ “camel” trong tiếng Anh có nghĩa là con lạc đà và không liên quan gì đến thuốc lá, khi hãng Phillips Morris chọn từ CAMEL cùng hình ảnh con lạc đà làm nhãn hiệu cho thuốc lá của mình thì nó có tính phân biệt cao và người tiêu dùng khi nhìn thấy nó gắn trên bao thuốc lá sẽ biết ngay nhà sản xuất và chất lượng của thuốc.

Nhãn hiệu gợi ý như tên gọi có tính gợi ý hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nhưng không thực sự mô tả hàng hóa, dịch vụ đó. Nhãn hiệu có những dấu hiệu làm cho người tiêu dùng liên tưởng đến sản phẩm mang nhãn hiệu bằng những thông tin liên quan đến các đặc điểm hay chất lượng của sản phẩm mang nhãn hiệu. Đây là yếu tố phân biệt quan trọng chỉ rõ sự khác nhau giữa nhãn hiệu gợi ý và nhãn hiệu mô tả. Một nhãn hiệu gợi ý có thể được đăng ký mà không cần ý nghĩa thứ cấp, trong khi đó nhãn hiệu mô tả phải có được ý nghĩa thứ cấp mới có thể được đăng ký. Ví dụ, tại Mỹ nhãn hiệu ORANGE CRUSH được coi là có tính gợi ý (mà không đơn thuần là mô tả) khi được sử dụng cho loại nước khoáng có hương vị; “Điện Quang” có nghĩa là thắp sáng bằng điện được dùng làm nhãn hiệu cho bóng đèn do công ty bóng đèn Điện Quang sản xuất và sẽ làm cho người tiêu dùng liên tưởng tới bóng đèn ngay cả khi chưa dùng bóng đèn Điện Quang.

Loại nhãn hiệu có tính phân biệt bằng nghĩa thứ cấp: Đây chính là trường hợp nhãn hiệu mô tả (descriptive marks) có ý nghĩa thứ cấp. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

*Nhãn hiệu mô tả có ý nghĩa thứ cấp là nhãn hiệu mà bên cạnh công dụng mô tả, nó còn xác định nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ. Đây là nguyên tắc chung được thừa nhận tại nhiều nước trên thế giới. Ranh giới giữa dấu hiệu thuần mô tả và nhãn hiệu mô tả có ý nghĩa thứ cấp là rất mong manh, trên thực tế nhãn hiệu mô tả được sử dụng trong hoạt động thương mại trong một thời hạn nhất định là yếu tố quan trọng để nhãn hiệu được đăng ký và bảo hộ. Theo quy định tại Luật nhãn hiệu Hoa Kỳ (Lanham Act), nhãn hiệu mô tả có thể được được đăng ký và bảo hộ nếu có ý nghĩa thứ cấp. Ý nghĩa thứ cấp có thể đạt được theo luật định thông qua việc sử dụng nhãn hiệu độc quyền và liên tục trong thời hạn 5 năm (15 U.S.C. Đ1052 (f)Lanham Act). Nếu người tiêu dùng nhận biết được nhãn hiệu như một chỉ dẫn về nguồn gốc của hàng hóa/dịch vụ và có liên hệ trực tiếp với nhãn hiệu thì ý nghĩa thứ cấp đã được xác định và nhãn hiệu không cần đợi qua thời hạn 5 năm để được đăng ký. Đương nhiên, người muốn đăng ký nhãn hiệu mô tả phải có nghĩa vụ chứng minh điều này. Và nhãn hiệu càng có tính mô tả thì việc chứng minh ý nghĩa thứ cấp càng khó khăn. Lúc này, tỷ lệ người tiêu dùng nhận thức được nhãn hiệu là điều vô cùng cần thiết.

Pháp luật Việt Nam không có sự phân định rõ ràng về các loại nhãn hiệu căn cứ vào tính phân biệt của nhãn hiệu, cũng không thừa nhận một nhãn hiệu có tính mô tả có thể được đăng ký bảo hộ vì có ý nghĩa thứ cấp. Theo Điều 74 Khoản 2.c Luật SHTT 2005 quy định: “Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ” sẽ không được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu. Việc bảo hộ những nhãn hiệu mô tả dù có ý nghĩa thứ cấp vẫn có thể tạo ra nguy cơ nhầm lẫn cho người tiêu dùng vì tính phân biệt của nó rất khó xác định.

Hơn nữa Thuật ngữ “….giữa hàng hóa và dịch vụ cùng loại….” trong định nghĩa về nhãn hiệu sẽ làm giới hạn bối cảnh xác định tính phân biệt của nhãn hiệu. Một nhãn hiệu gắn lên một hàng hóa, dịch vụ có tính phân biệt hay không thì phải so sánh nó với những hàng hóa, dịch vụ cạnh tranh với nó. Điều nay không hợp lý vì thông qua việc đặt hàng hóa, dịch vụ trong bối cảnh chung với của tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ trên thị trường nhà sản xuất hay phân phối hàng hóa sẽ đạt được mục đích của mình là nhờ nhãn hiệu làm cho người tiêu dùng phân biệt và lựa chọn hàng hóa, dịch vụ của mình trong sự cạnh tranh với những hàng hóa, dịch vụ cùng loại khác, thêm vào đó các doanh nghiệp có sản phẩm, dịch vụ không cùng loại sẽ lợi dụng đăng ký nhãn nhãn hiệu đó cho mình.

Với những phân tính ở trên chúng ta thấy tính phân biệt của nhãn hiệu có giá trị to lớn. Do đó, các doanh nghiệp cần phải nỗ lực để nâng cao chất lượng, quảng bá sản phẩm và luôn quan tâm đến việc xây dựng, phát triển thương hiệu có nét độc đáo với tính phân biệt cao nhằm tạo ấn tượng cao trong tâm trí người tiêu dùng. Mặt khác dấu hiệu phân biệt của nhãn hiệu còn giúp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép hay không cho phép đăng ký nhãn hiệu.

4.2.2 Các trường hợp không được bảo hộ do thiếu tính phân biệt.

Pháp luật các nước cũng như pháp luật Việt đều quy định những trường hợp không được đăng ký do thiếu tính phân biệt. Tuy nhiên, từng trường hợp cụ thể thì pháp luật các nước lại có những quy định khác nhau, cụ thể là:

  • Dấu hiệu trùng hay tương tự tới mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác

Các dấu hiệu này được coi là thiếu tính phân biệt khi xét chúng trong mối tương quan so sánh với các nhãn hiệu đối chứng mà chúng trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đối chứng. Các nhãn hiệu đối chứng không chỉ là các nhãn hiệu đang được bảo hộ mà còn bao gồm các nhãn hiệu chưa được bảo hộ, hết hiệu lực bảo hộ.

Theo pháp luật Mỹ thì các nhãn hiệu đối chứng bao gồm nhãn hiệu đã được đăng ký tại Cơ quan Sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) hoặc nhãn hiệu hay tên thương mại đã được sử dụng tại Hoa Kỳ trước thời điểm đăng ký bởi một chủ thể khác và không bị từ bỏ. Việc xác định một dấu hiệu tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đối chứng là một vấn đề phức tạp. Ở Hoa Kỳ, người ta thiết kế một biên độ tương đối rộng, linh hoạt các căn cứ, cách thức so sánh cho cơ quan có thẩm quyền quyết định một dấu hiệu là tương tự ở mức độ nào. Khả năng về các nhân tố gây nhầm lẫn thông thường phụ thuộc vào các yếu tố như sức mạnh của nhãn hiệu đối chứng, sự tương tự của nhãn hiệu, hàng hóa, quảng cáo và các kênh bán hàng, mức độ cẩn thận mà khách hàng có khi chọn mua hàng, bằng chứng về sự nhầm lẫn thực sự, ý đồ của người có dấu hiệu đăng ký.

Pháp luật Việt Nam quy định các trường hợp không có khả năng phân biệt do trùng hay tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu khác tại Điều 74.2e,g,h,i,k,l,m,n Luật SHTT 2005: Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên ;

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm;

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hoá;

Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;

Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Các văn bản hiện hành của pháp luật Việt Nam cũng như Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam chưa có quy định về việc xác định mức gây nhầm lẫn của tính tương tự của một nhãn hiệu đối với nhãn hiệu đối chứng. Tuy nhiên, trên thực tế trong quá trình thẩm định nội dung Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam cũng áp dụng một số nguyên tắc như xem xét tương tự về mặt cấu trúc, ý nghĩa và hình thức thể hiện với nhãn hiệu đối chứng, bản chất hàng hóa dịch vụ có tương tự với bản chất hàng hóa dịch vụ của nhãn hiệu đối chứng, sự nổi tiếng của nhãn hiệu đối chứng. Pháp luật Mỹ, Anh, Nhật Bản cũng không có những văn bản chính thức quy định cách thức xác định vấn đề này, nhưng các cơ quan có thẩm quyền đăng ký nhãn hiệu thì thường có những tài liệu hướng dẫn xác định mức độ tương tự có thể gây nhầm lẫn.

Pháp luật Nhật Bản quy định một dấu hiệu có khả năng được đăng ký phải là một dấu hiệu không được không được gây nhầm lẫn về hàng hóa có xuất xứ từ doanh nghiệp hoặc nguồn thương mại khác hay dẫn tới sự hiểu nhầm của công chúng đối với chất lượng của hàng hóa. Các trường hợp cụ thể là:

Các dấu hiệu trùng hay tương tự với những nhãn hiệu nổi tiếng đối với người tiêu dùng và được dùng đối với những hàng hóa, dịch vụ cùng loại đối với hàng hóa,dịch vụ của nhãn hiệu đối chứng đó. Một nhãn hiệu Nhật Bản không chỉ nổi tiếng với người tiêu dùng mà còn phải nổi tiếng đối với những nhà phân phối hàng hóa, dịch vụ đó;

Các dấu hiệu trùng hay tương tự các nhãn hiệu đã đăng ký trước hay nộp đơn với ngày ưu tiên trước đối với hàng hóa, dịch vụ cùng loại;

Các dấu hiệu trùng hay tương tự với các nhãn hiệu lân cận, hay còn gọi là nhãn hiệu phòng vệ (defensive mark) đã đăng ký của người khác và cũng được dùng với hàng hóa, dịch vụ cùng loại;

Các dấu hiệu trùng hay tương tự với các nhãn hiệu đã đăng ký đối với hàng hóa cùng loại của người khác trong thời hạn một năm kể từ ngày nhãn hiệu đối chứng hết hạn hay bị hết hiệu lực theo quy định của tòa án hay cơ quan có thẩm quyền. Quy định này về cơ bản giống với quy định của pháp luật Việt Nam, tuy nhiên thời hạn ngắn hơn có một năm trong khi đó theo pháp luật Việt Nam là năm năm.

Các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên gọi của một họ hạt giống đã được đăng ký theo luật về nhân giống và hạt giống nông nghiệp Nhật Bản (Luật số 83 năm 1998) và được sử dụng trên hạt giống của họ hạt giống đó hay trên các hàng hóa, dịch vụ tương tự. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Luật nhãn hiệu Mỹ 1946 Điều 2.d (U.S.C 1052) quy định đơn xin đăng ký nhãn hiệu sẽ không bị từ chối, trừ khi nó giống một nhãn đã đăng ký tại Cục nhãn hiệu và sáng chế, hoặc một nhãn hiệu hay tên thương mại trước đó đã được sử dụng ở lãnh thổ Hoa Kỳ bởi một người khác mà chưa bị người này từ bỏ quyền sử dụng, khi nhãn hiệu hay tên thương mại này cũng được sử dụng đối với các hàng hóa của người nộp đơn, tới mức có thể gây ra sự hiểu lầm hoặc dối trá. So với pháp luật Việt Nam, Nhật Bản quy định của Mỹ có sự khác biệt: thứ nhất, việc đăng ký nhãn hiệu có thể bị từ chối ngay cả khi nó giống với một tên thương mại, mà một người đã sử dụng trước đó; thứ hai, việc đăng ký có thể bị từ chối ngay cả khi nhãn đối chứng chưa phải là nhãn đã đăng ký mà chỉ cần là nhãn đã sử dụng trước so với nhãn đang xin đăng ký.

Tuy nhiên, pháp luật Mỹ cũng quy định trường hợp ngoại lệ, nếu Cục trưởng cục SHCN Mỹ quả quyết rằng tuy hai nhãn hiệu tương tự nhau nhưng việc sử dụng đồng thời chúng vẫn không thể dẫn tới sự nhầm lẫn hoặc dối trá thì vẫn có thể cho phép đăng ký nhãn hiệu xin đăng ký sau. Ngoại lệ này cũng có thể cho phép áp dụng với nhiều hơn hai nhãn hiệu tương tự nhau.

Pháp luật Anh, theo Điều 5.2b, Điều 5.3 Luật nhãn hiệu 1994, thì một nhãn hiệu sẽ không được đăng ký trong trường hợp:

  • Nhãn hiệu giống với nhãn hiệu đã đăng ký trước và hàng hóa hoặc dịch vụ mà nó xin đăng ký trùng hoặc tương tự với sản phẩm hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu đăng ký trước đã được bảo hộ
  • Trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký trước, khi nhãn hiệu đăng ký trước đã có danh tiếng ở Anh và việc sử dụng nhãn hiệu đó không phải là nguyên nhân dẫn đến sự mất cân bằng, gây thiệt hại cho, dấu hiệu đặc biệt hoặc danh tiếng của nhãn hiệu đăng ký trước.

Pháp luật Trung Quốc, theo Điều 10 Luật Nhãn hiệu Trung Quốc quy định những dấu hiệu sau sẽ không được sử dụng làm nhãn hiệu khi:

  • Các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên quốc gia, quốc kỳ, quốc huy, cờ quân sự hoặc huy chương của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
  • Các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên quốc gia, quốc kỳ, quốc huy, cờ quân sự của bất kỳ quốc gia nào trừ trường hợp được sự đồng ý của quốc gia đó;
  • Các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với cờ, tên hoặc biểu tượng của bất kỳ tổ chức quốc tế liên chính phủ trừ trường hợp được sự đồng ý của tổ chức đó;
  • Các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với dấu hiệu chính thức hoặc dấu hiệu phân biệt mà chỉ rõ đã được kiểm soát và có quyền đối với dấu hiệu đó, trừ khi được sự cho phép;
  • Các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên hoặc biểu tượng của Hội chữ thập đỏ hoặc Trăng lưỡi liềm đỏ.

Tuy nhiên, có một điểm khác biệt với quy định của pháp luật Việt Nam là nhãn hiệu sẽ không được bảo hộ nếu trùng hoặc tương tự với tên địa danh mà cơ quan nhà nước Trung Quốc đặt trụ sở hoặc tên hoặc các dấu hiệu của tòa nhà thuộc quyền sở hữu của Cơ quan nhà nước Trung Quốc. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

  • Dấu hiệu thiếu tính phân biệt do sử dụng các thuật ngữ gốc hay thuật ngữ áp dụng chung (generic terms).

Một dấu hiệu là thuật ngữ chung khi nó trở thành tên gọi thông thường (thuật ngữ gốc, áp dụng chung) của một loại hay một nhóm hàng hóa, dịch vụ trong một ngôn ngữ nào đó. Ví dụ, thuật ngữ “đồ gia dụng” (furniture) chỉ đồ gia dụng nói chung và cũng chỉ bàn, ghế…; “đồ uống”, “cà phê” và “cà phê hòa tan”.

Dấu hiệu là thuật ngữ chung hoàn toàn thiếu tính phân biệt và do đó không được bảo hộ. Đăng ký bảo hộ cho các dấu hiệu là thuật ngữ chung sẽ ngăn cản các chủ thể kinh doanh cạnh tranh sử dụng các thuật ngữ cần thiết để xác định hàng hóa, dịch vụ của họ. Một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại là đảm bảo tính công bằng, lành mạnh trong cạnh tranh và cho phép người tiêu dùng có được khả năng lựa chọn hàng hóa, dịch vụ mong đợi mà không ai được phép độc quyền sở hữu những thuật ngữ gốc đó.

Pháp luật các nước quy định khá thống nhất về thuật ngữ gốc không thể được đăng ký bảo hộ như là nhãn hiệu. Pháp luật Việt Nam quy định “nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến” điểm b khoản 2 Điều 74 Luật SHTT 2005.

Giống với Việt Nam, pháp luật Trung Quốc quy định “các dấu hiệu là tên gọi hoặc hình dáng bên ngoài thông thường của hàng hóa gắn với dấu hiệu đó được nhiều người biết đến thì không được đăng ký dưới danh nghĩa nhãn hiệu” (Điều 11.1 Luật nhãn hiệu Trung Quốc).

Pháp luật Nhật Bản quy định những dấu hiệu này thuộc diện những dấu hiệu được sử dụng chung trong thương mại và được định nghĩa là những dấu hiệu mà một người không thể dùng nó để làm cho hàng hóa, dịch vụ của mình phân biệt với hàng hóa, dịch vụ của người khác được, bởi vì chúng quá chung chung chỉ được sử dụng để chỉ ra những chủng loại của hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, pháp luật không cho phép những nhãn hiệu này thuộc quyền sử dụng riêng của người nào. Ví dụ, “sake”rượu sakê, “mứt bánh bột gạo”, “dịch vụ nhà ở”, “nhôm”, “xử lý văn bản”, “bảo hiểm phi nhân thọ”…

Pháp luật Anh và Mỹ không quy định một cách rõ ràng về vấn đề này. Theo quy định của pháp luật Mỹ, những thuật ngữ gốc mặc dù có thể đạt được ý nghĩa thứ cấp vẫn không thể được đăng ký bảo hộ và xếp loại nhãn hiệu chung này vào các loại dấu hiệu đơn thuần mang tính mô tả tại Điều 2.e (U.S.C. 1052). Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Một dấu hiệu có thể là thuật ngữ gốc ngay từ đầu, tức là ngay từ khi một chủ thể kinh doanh lựa chọn dấu hiệu là thuật ngữ gốc để xin đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Một nhãn hiệu có thể trở thành thuật ngữ gốc thông qua quá trình sử dụng, điển hình là nhãn hiệu ASPIRIN sử dụng cho thuốc giảm đau và nhãn hiệu CELLOPHANE sử dụng cho giấy bóng kính.

  • Dấu hiệu thiếu tính phân biệt do sử dụng các dấu hiệu đơn thuần mang tính mô tả (Descriptive signs)

Dấu hiệu đơn thuần mang tính mô tả là những dấu hiệu được sử dụng trong thương mại, trực tiếp xác định chủng loại, chất lượng, công dụng, thành phần, giá trị, xuất xứ, thời gian sản xuất hoặc bất kỳ đặc tính nào của hàng hóa, dịch vụ dự định mang nhãn hiệu mà không cần có sự liên tưởng của người tiêu dùng.

Một dấu hiệu đơn thuần mang tính mô tả không thể được bảo hộ vì nó chứa đựng những thông tin mà các đối thủ cạnh tranh với chủ thể xin đăng ký dấu hiệu cần để kinh doanh các sản phẩm cùng loại. Những dấu hiệu đơn thuần mang tính mô tả không có khả năng phân biệt vì nó có thể gắn lên các sản phẩm của người khác để mô tả hàng hóa hay một thuộc tính của hàng hóa.

Ví dụ, về dấu hiệu đơn thuần mang tính mô tả như từ “tốt”, “rẻ”, “đẹp nhất”, “tốt nhất”, “mới nhất”, “rẻ nhất”… đều là những thuật ngữ chung mà mọi hàng hóa, dịch vụ nào đều có thể dùng. Do đó, pháp luật Việt Nam, Nhật Bản, Mỹ, Anh và Trung Quốc đều quy định các dấu hiệu đơn thuần mang tính mô tả đều không được đăng ký bảo hộ làm nhãn hiệu.

Những dấu hiệu phức hợp có thể tránh được tính mô tả nếu sự kết hợp giữa các thành phần của dấu hiệu không hoàn toàn mô tả. Nói cách khác, các dấu hiệu thuần mô tả được kết hợp với nhau tạo thành một dấu hiệu mới thì ý tưởng tổng thể của dấu hiệu có thể được xem xét. Hơn nữa, nếu có những phần của dấu hiệu không mang tính mô tả thì tổng thể dấu hiệu không thể bị coi là thuần mô tả và do vậy có khả năng được đăng ký bảo hộ.

  • Các dấu hiệu thiếu tính phân biệt (distinctiveness) thuộc các trường hợp khác.

Các dấu hiệu thiếu tính phân biệt có thể do hình vẽ mà do tính đơn giản hóa hoặc đơn thuần mang đặc điểm trang trí hay minh họa, có thể không thu hút được sự chú ý nào của người tiêu dùng như là một dấu hiệu liên hệ tới nguồn gốc sản phẩm, mà chỉ thu hút sự chú ý đó như một phần minh họa đơn thuần của bao gói sản phẩm giới thiệu đến người tiêu dùng hoàn toàn không đem lại tính phân biệt cho nhãn hiệu. Hay một khẩu hiệu quảng cáo dài giới thiệu hàng hóa tới người tiêu dùng mà khẩu hiệu này ngay cả khi được in trên bao bì thì vẫn phức tạp để người tiêu dùng có thể hiều được.

Pháp luật các nước có sự quy định khác nhau về vấn đề này. Pháp luật Việt Nam tại Điều 74, khoản 2, điểm a,b,k,n Luật SHTT 2005 quy định: Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

  • Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;
  • Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;
  • Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
  • Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu.

Pháp luật Nhật Bản cũng đề cập đến những trường hợp cụ thể tương tự:

  • Các nhãn hiệu chỉ đơn thuần là dấu hiệu chỉ ra một cách chung chung họ gia đình phổ biến hay tên pháp nhân.
  • Các nhãn hiệu chỉ bao gồm các dấu hiệu (từ ngữ hoặc hình dạng) rất đơn giản và phổ biến. Cũng giống như pháp luật Việt Nam, loại này bao gồm các hình tròn, tam giác xuôi, tam giác ngược, hình vuông, hình khối đơn giản, các chữ cái đơn lẻ, các chữ cái kết hợp đơn giản.
  • Các nhãn hiệu gồm các dấu hiệu chỉ ra nguồn gốc xuất xứ của rượu vang hay rượu mạnh của Nhật Bản do cục trưởng Cục SHCN quy định hay các nhãn hiệu chỉ ra nguồn gốc xuất xứ của rượu vang hay rượu mạnh của các nước thành viên
  • Các dấu hiệu chỉ bao gồm các hình dạng ba chiều của hàng hóa hay bao bì của chúng mà những hình dạng này là những hình dạng bắt buộc không thể khác được để hàng hóa hay bao bì của nó thực hiện đúng chức năng của mình. Các hình dạng đó là bắt buộc một cách tự nhiên đối với hàng hóa hay bao gói của chúng, do đó không nhà phân phối hay sản xuất nào độc quyền đăng ký và sử dụng thông qua nhãn hiệu (Điều 4 Luật nhãn hiệu).

Pháp luật Mỹ quy định một số trường hợp khác mà dấu hiệu có thể thiếu tính phân biệt để được đăng ký bảo hộ như một nhãn hiệu: một nhãn hiệu chỉ ra xuất xứ của sản phẩm là rượu vang hay rượu manh khác với xuất xứ thực của loại rượu đó và lần đầu tiên được người đăng ký sử dụng đối với loại rượu đó sau một năm kể từ khi thỏa thuận WTO có hiệu lực đối với Mỹ; một nhãn hiệu sẽ bị coi thiếu tính phân biệt nếu nó chỉ mang tính chỉ dẫn về nguồn gốc địa lý của hàng hóa hoặc chỉ đơn giản là họ gia đình phổ thông; nhãn hiệu bao gồm tên, chân dung hay chữ ký xác định của một cá nhân nhất định mà không được sự đồng ý bằng văn bản của cá nhân đó (Điều 2 Luật nhãn hiệu). Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Pháp luật Trung Quốc “các dấu hiệu chỉ dẫn đến các tên địa lý được nhiều người biết đến (nổi tiếng với công chúng) hoặc các dấu hiệu có tính chất thổi phồng, khuếch đại và sai lệch khi quảng cáo hàng hóa thì không được đăng ký dưới danh nghĩa nhãn hiệu” (Điều 10 Luật nhãn hiệu Trung Quốc)

Pháp luật Anh nhãn hiệu không được đăng ký khi có bản chất lừa dối công chúng (như về bản chất, chất lượng hoặc nguồn gốc địa lý của hàng hóa và dịch vụ (Điều 3.1c.3b Luật nhãn hiệu Anh)

4.2.3 Các trường hợp không được bảo hộ vì các lý do khác

Đây là điều kiện để loại trừ không cấp đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho dù dấu hiệu có tính phân biệt nhưng nếu cấp đăng ký bảo hộ sẽ trái với yêu cầu bảo vệ trật tự công cộng, đạo đức xã hội và có tính lừa dối. Dưới đây là một số dạng dấu hiệu không được đăng ký bảo hộ theo pháp luật các nước:

  • Dấu hiệu có tính lừa dối (deceive)

Dấu hiệu có tính lừa dối không được đăng ký bảo hộ là quy định chung trong pháp luật về nhãn hiệu ở hầu hết các nước nhằm bảo vệ người tiêu dùng khỏi sự lừa dối về bản chất, chất lượng hay bất kỳ đặc điểm nào khác của hàng hóa hay nguồn gốc địa lý vì lợi nhuận bằng mọi giá của người kinh doanh.

Pháp luật Việt Nam quy định “Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ” khoản 5 Điều 73 Luật SHTT 2005.

Pháp luật Anh quy định “nhãn hiệu gây tác dụng lừa dối công chúng về bản chất, chất lượng, nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ sẽ không được bảo hộ” Điều 3.3.b Đạo luật Nhãn hiệu 1994. Quy định này về cơ bản giống với quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo Pháp luật Trung Quốc thì: nhãn hiệu sẽ không được đăng ký và sẽ bị cấm sử dụng nếu nhãn hiệu đó mang chỉ dẫn địa lý về hàng hóa trong khi hàng hóa không có xuất xứ từ khu vực đó nhằm lừa dối người tiêu dùng, theo Điều 16 Luật Nhãn hiệu Trung Quốc.

Pháp luật Nhật Bản cũng chỉ đề cập đến nhãn hiệu có tính chất lừa dối người tiêu dùng về chất lượng của hàng hóa hoặc dịch vụ thì bị cấm. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Pháp luật Hoa Kỳ chỉ dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc là nhãn hiệu để được phép đăng ký không được gây ra hiểu lầm hay lừa dối và để một biên độ rất rộng cho các nhà áp dụng pháp luật khi tiến hành áp dụng pháp luật trên thực tế. Điều 2.a,e.1 Luật Nhãn hiệu Mỹ quy định các nhãn hiệu bao gồm những dấu hiệu dối trá sẽ không được bảo hộ theo pháp luật Mỹ, ngoài ra nhãn hiệu mang tính mô tả hàng hóa một cách không chính xác nhằm lừa dối cũng bị cấm. Ngoại lệ, khi nhãn hiệu mô tả không chính xác nhằm đánh lừa nhưng quá trình sử dụng lâu dài đã tạo ra tính phân biệt đối với người tiêu dùng.

  • Dấu hiệu trái ngược với giá trị đạo đức và lợi ích công cộng

Pháp luật từ chối bảo hộ nhãn hiệu khi có dấu hiệu đi ngược giá trị đạo đức và lợi ích công cộng. Các dấu hiệu thuộc loại này thường là các dấu hiệu có tính chất khiêu dâm, phân biệt chủng tộc, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm đạo đức của người khác hoặc của quốc gia nào đó.

Pháp luật Nhật bản và Mỹ cấm các nhãn hiệu có tính khiêu dâm, phân biệt chủng tộc, xúc phạm mọi người, các dấu hiệu vi phạm đạo đức và lợi ích công cộng, các nhãn hiệu nhằm lăng nhục con người hoặc quốc gia nào đó.

Pháp luật Anh, Trung Quốc về cơ bản giống với quy định của pháp luật Mỹ và Nhật Bản, tuy nhiên mức độ đề cập ở những khía cạnh khác nhau. Pháp luật Anh thiên về nhãn hiệu đi ngược lại với chính sách công cộng hay các nguyên tắc đã được công nhận về đạo đức, theo Điều 3.3.a Đạo Luật nhãn hiệu 1994. Trong khi đó pháp luật Trung Quốc hướng đến những dấu hiệu không được sử dụng làm nhãn hiệu khi có sự phân biệt đối xử nhằm chống lại bất kỳ dân tộc nào, gây thiệt hại đến lợi ích xã hội, hải quan hoặc có những ảnh hưởng không lành mạnh khác theo Điểm 6,8 Điều 10 Luật nhãn hiệu Trung Quốc.

  • Dấu hiệu liên quan đến quyền tuyệt đối của quốc gia về các loại biểu tượng nhà nước và quyền sử dụng các biểu trưng của các tổ chức quốc tế

Pháp luật các nước có quy định tương đối giống nhau về vấn đề này phù hợp với tinh thần của Điều 6ter Công ước Paris về việc bảo hộ các biểu trưng chính thức của các nước thành viên khác và các tổ chức quốc tế liên chính phủ.

Các trường hợp cụ thể này bao gồm: Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

  • Dấu hiệu giống hoặc tương tự với dấu chất lượng, dấu kiểm tra bảo hành của các thiết chế Nhà nước, nước ngoài cũng như Tổ chức quốc tế;
  • Dấu hiệu, tên gọi (bao gồm cả ảnh, tên, biệt hiệu, bút danh),hình vẽ, biểu tượng giống hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân, địa danh, các tổ chức của các quốc gia cũng như của nước ngoài nếu không được các cơ quan có thẩm quyền cho phép;
  • Các nhãn hiệu giống hoặc tương tự như cờ quốc gia, gù mào gà của đế vương, huân chương, huy chương, huy chương danh dự, cờ quốc gia nước ngoài.
  • Các nhãn hiệu tương tự các biểu tượng quốc gia khác ngoài quốc kỳ của các nước là thành viên công ước Paris.
  • Nhãn hiệu tương tự hoặc dấu hiệu chữ thập đỏ trên nền trắng của tổ chức nhân đạo quốc tế.

Bảo lưu sử dụng của các cá nhân

Pháp luật Mỹ (Điều 2 Luật nhãn hiệu) và Việt Nam đều quy định cụ thể các trường hợp dấu hiệu trùng với tên, chân dung hay chữ ký của một người cụ thể thường bị coi là xâm phạm quyền tự do cá nhân của công dân được ghi nhận trong hiến pháp các nước, do đó không có sự đồng ý của thân chủ thì các dấu hiệu không được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Trong khi đó pháp luật Anh, Nhật Bản, Trung Quốc không quy định vấn đề này.

5. Các loại nhãn hiệu.

Việc phân loại nhãn hiệu có ý nghĩa rất lớn, không chỉ về mặt lý luận mà cả trong thực tiễn. Trước hết, phân loại nhãn hiệu cho phép xác định đặc trưng của một loại nhãn hiệu, đặc trưng này không chỉ ảnh hưởng tới yếu tố cảm nhận nhãn hiệu trong người tiêu dùng, tới tính chất của việc sử dụng nhãn hiệu mà còn ảnh hưởng tới cả quá trình đăng ký nhãn hiệu đó. Phân loại nhãn hiệu còn ảnh hưởng tới việc xác định chế độ pháp lý đối với từng loại nhãn hiệu và giúp cho việc phân loại nhãn hiệu với các đối tượng SHCN khác (Kiểu dáng công nghiệp, Tên thương mại, sáng chế…).

Dựa vào loại dấu hiệu được sử dụng làm dấu hiệu, người ta chia nhãn hiệu thành dấu hiệu từ ngữ, dấu hiệu chữ cái, dấu hiệu số, dấu hiệu hình, dấu hiệu màu sắc, dấu hiệu âm thanh. Việc phân chia theo tiêu chí này cho phép chúng ta xác định được phạm vi các dấu hiệu có thể được pháp luật bảo hộ và đánh giá được tính mở của quy định pháp luật về khái niệm nhãn hiệu. Nó phản ánh sự lựa chọn của các nước trong việc mở rộng hay thu hẹp phạm vi bảo hộ nhãn hiệu. Đồng thời, nó cũng phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế của quốc gia đã ban hành ra các quy định pháp luật đó.

Căn cứ vào mức độ phân biệt trong tính phân biệt của nhãn hiệu, người ta chia nhãn hiệu thành nhãn hiệu có tính phân biệt cố hữu và nhãn hiệu có tính phân biệt bằng ý nghĩa thứ cấp. Việc phân chia theo tiêu chí này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định khả năng được đăng ký bảo hộ của nhãn hiệu.

Do mục đích thực tiễn của việc sử dụng nhãn hiệu trong hoạt động thương mại nên pháp luật các nước thường đề cập đến các loại nhãn hiệu sau: nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu nổi tiếng. Tuy nhiên, mức độ đề cập trong hệ thống pháp luật của mỗi nước cho từng loại nhãn hiệu là khác nhau.

5.1 Nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) và nhãn hiệu dịch vụ (NHDV) Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường là sự phong phú, đa dạng của các loại hàng hóa, dịch vụ, vì thế người tiêu dùng luôn phải đối mặt với việc lựa chọn loại hàng hóa, dịch vụ mình cần. Pháp luật Việt Nam, Mỹ, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản khi đề cập tới nhãn hiệu đề có sự phân biệt giữa NHHH và NHDV. Sự khác nhau giữa NHHH và NHDV ở chỗ NHHH là nhãn hiệu được sử dụng để phân biệt các sản phẩm là hàng hóa cạnh tranh còn nhãn hiệu dịch vụ là nhãn hiệu được dùng để phân biệt các dịch vụ cạnh tranh. Tuy nhiên, về cơ bản NHHH và NHDV giống nhau về bản chất vì NHDV cũng mang đầy đủ chức năng biểu hiện nguồn gốc và phân biệt đối với dịch vụ cũng như các chức năng tương tự của NHHH đối với hàng hóa.

Theo quy định của pháp luật Mỹ, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc thì NHDV được đăng ký, gia hạn, hủy bỏ theo cùng một cách như NHHH và được chuyển giao hoặc cấp phép sử dụng theo cùng những điều kiện như NHHH.

Ở Việt Nam, trước đây, thuật ngữ NHDV được đề cập đến trong Nghị định 63/Chính phủ: “NHHH bao gồm cả NHDV (khoản 1 Điều 6, Chương II). Đến Luật SHTT năm 2005, các nhà làm luật không tách bạch giữa khái niệm NHHH và NHDV mà quy định một cách khái quát: nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức cá nhân khác nhau. Như vậy, trong khái niệm nhãn hiệu đã bao hàm cả NHDV.

5.2 Nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận

5.2.1 Nhãn hiệu tập thể

Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu thuộc về một hiệp hội mà hiệp hội đó không sử dụng nhãn hiệu nhưng những thành viên của hiệp hội có quyền sử dụng nhãn hiệu đó nếu họ tuân thủ những yêu cầu trong quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể. Vì vậy, nhãn hiệu tập thể có chức năng thông báo cho công chúng biết những đặc điểm đặc trưng của các sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể. Đương nhiên, việc sử dụng nhãn hiệu tập thể không ngăn cản các thành viên của hiệp hội có những nhãn hiệu riêng của mình.

Nhãn hiệu tập thể đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người tiêu dùng, do đó khi đăng ký nhãn hiệu tập thể, quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể phải được nộp cho cơ quan có thẩm quyền đăng ký nhãn hiệu. Bất kỳ sự sửa đổi nào đối với quy chế sử dụng cũng phải được thông báo cho cơ quan này. Tại nhiều nước trên thế giới, đăng ký nhãn hiệu tập thể sẽ bị huỷ bỏ nếu việc sử dụng nhãn hiệu tập thể trái với các quy định của quy chế sử dụng hoặc việc sử dụng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.

Nhãn hiệu tập thể được ghi nhận tại Điều 7bis, Công ước Paris năm 1883. Tuy nhiên, Công ước này không đưa ra khái niệm về nhãn hiệu tập thể, cũng không quy định về cách thức bảo hộ. Nó chỉ quy định các nước thành viên bảo hộ loại nhãn hiệu này một cách chung chung, theo đó (1) các nước thành viên chấp nhận đơn đăng ký và bảo hộ các nhãn hiệu tập thể thuộc về các tập thể mà sự tồn tại của các tập thể đó không trái với pháp luật của nước xuất xứ ngay cả khi các tập thể đó không có cơ sở công nghiệp và thương mại,(2) mỗi nước phải tự xác định các điều kiện cụ thể để nhãn hiệu tập thể được bảo hộ và có thể từ chối bảo hộ nếu nhãn hiệu đó trái với lợi ích công cộng và (3) việc bảo hộ này không thể bị từ chối đối với tập thể mà sự tồn tại của tập thể đó không trái với pháp luật của nước xuất xứ, với lý do tập thể đó không được thiết lập tại nước được yêu cầu bảo hộ hoặc không được thiết lập tại nước đó. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Theo quy định của pháp luật Mỹ, nhãn hiệu tập thể có thể là nhãn hiệu hàng hóa hay nhãn hiệu dịch vụ được sử dụng hoặc dự định sử dụng trong thương mại bởi các thành viên của một hiệp hội, các nhóm hay tổ chức tập thể khác, hoặc được hiệp hội, nhóm tập thể khác này có ý định chân thành trong việc sử dụng nó với mục đích thương mại và xin đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền và bao gồm các nhãn hiệu chỉ ra mối quan hệ thành viên trong liên minh, trong hiệp hội hay trong tổ chức tập thể (Điều 45 Luật nhãn hiệu).

Do đó, nhãn hiệu tập thể được phân làm hai loại. Thứ nhất, nhãn hiệu tập thể dưới dạng NHHH hay NHDV được đăng ký và sử dụng bởi một tổ chức tập thể và thành viên của tổ chức tập thể, có chức năng phân biệt nguồn gốc thương mại của sản phẩm mang nhãn hiệu của bản thân tổ chức tập thể. Thứ hai, nhãn hiệu tập thể được gọi là nhãn hiệu tư cách thành viên tập thể, chúng được sử dụng bởi các thành viên của một tổ chức tập thể với mục đích chỉ ra tư cách thành viên trong tổ chức đó, người trực tiếp có quyền gắn nhãn hiệu đó lên sản phẩm là các tổ chức thành viên. Vì vậy giữa các thành viên phải có quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể.

Không giống như pháp Luật Mỹ, pháp luật Anh, Trung Quốc và Nhật Bản chỉ quy định nhãn hiệu tập thể được sử dụng bởi các thành viên của tổ chức tập thể.

Pháp luật Anh quy định “nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các thành viên một hiệp hội là chủ sở hữu của nhãn hiệu đó với doanh nghiệp khác” Điều 49.1 Luật Nhãn hiệu 1994. Ngoài ra nhãn hiệu tập thể còn được đề cập ở Mục lục 1-Schedule Luật Nhãn hiệu 1994 với các khía cạnh: (1) nhãn hiệu tập thể có thể được phép chỉ rõ nguồn gốc địa lý của hàng hóa hoặc dịch vụ trong thương mại (Mục lục 1-Schedule 1); (2) tuy nhiên chủ sở hữu không có quyền cấm người khác sử dụng những dấu hiệu chỉ ra nguồn gốc địa lý tương tự trên sản phẩm của họ vì mục đích thương mại; (3) người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể sẽ phải nộp cho cơ quan đăng ký bản quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể đó. Bản quy chế phải ghi rõ những người nào được phép sử dụng nhãn hiệu, điều kiện trở thành thành viên hiệp hội và các điều kiện sử dụng nhãn hiệu kể cả chết tài nếu có. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Pháp luật Nhật Bản quy định nhãn hiệu tập thể được sử dụng chung bởi các thành viên của một tổ chức tập thể, với trình tự, thủ tục đăng ký đơn giản là khi đăng ký nhãn hiệu tập thể tổ chức kinh tế tập thể chỉ cần điền vào mẫu đơn đăng ký được làm sẵn và nộp các tài liệu chứng minh tư cách pháp nhân của mình, còn việc nộp quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể chỉ khi cơ quan thẩm quyền đăng ký yêu cầu thấy cần thiết (Điều 7 ;7-2 Luật nhãn hiệu).

Tương tự như pháp luật Nhật Bản và Anh, Pháp luật Trung Quốc cũng chỉ công nhận nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu được đăng ký dưới tên cơ quan, hiệp hội và tổ chức khác, được các thành viên của tổ chức sử dụng trong hoạt động thương mại nhằm chỉ ra thành viên được sử dụng nhãn hiệu của tổ chức, Điều 3 Luật Nhãn hiệu Trung Quốc.

Ở Việt Nam trước đây nhãn hiệu tập thể không được quy định trong Bộ luật dân sự 1995 mà được đề cập đến trong Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 quy định chi tiết về SHCN và Thông tư 3055/TT-SHCN ngày 31/12/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục xác lập quyền SHCN và một số thủ tục khác trong nghị định 63/CP. Theo đó nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu được tập thể các cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác cùng sử dụng, trong đó mỗi thành viên sử dụng một cách độc lập theo quy chế do thành viên đó quy định (Khoản 8 Điều 2 Nghị định 63/CP). Quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể thuộc về cá nhân, pháp nhân đại diện cho tập thể các cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác cùng tuân theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tương ứng (điểm d khoản 2 Điều 14 Nghị định 63/CP). Khi đăng ký nhãn hiệu tập thể, người nộp đơn phải nộp một bản quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể đó cho cơ quan có thẩm quyền đăng ký (Điểm 8.1, Thông tư 3055).

Theo quy định tại Luật SHTT năm 2005, “Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó” (khoản 17 Điều 4). Đặc biệt, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ có thể được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể (điểm đ khoản 2 Điều 74). Cũng giống như pháp luật Mỹ, pháp luật Việt Nam công nhận nhãn hiệu tập thể được sử dụng bởi cá nhân hoặc pháp nhân là thành viên của tổ chức. Khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể thì phải nộp bản dự thảo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể, đây chính là điểm giống với pháp luật Anh.

5.2.2. Nhãn hiệu chứng nhận Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Nhãn hiệu chứng nhận là một loại nhãn hiệu đặc biệt mới xuất hiện gần đây trong thực tiễn thương mại. Nó hầu như không được đề cập đến trong các Điều ước quốc tế đa phương về SHTT, kể cả Hiệp định TRIPS. Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ cũng chỉ quy định nhãn hiệu chứng nhận là một loại nhãn hiệu mà không có quy định về khái niệm cũng như việc đăng ký và bảo hộ loại nhãn hiệu này. Mỹ là quốc gia tiên phong quy định chi tiết nhất về nhãn hiệu tập thể.

Về bản chất nhãn hiệu chứng nhận không có mục đích xác định nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ. Nó cũng không dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ nhãn hiệu với các loại hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các chủ thể cạnh tranh. Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu được một chủ thể thiết lập và đăng ký để chứng nhận cho hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác. Do vậy, so với các loại nhãn hiệu khác, nhãn hiệu chứng nhận có một đặc điểm rất đặc trưng, đó là ở mục đích chứng nhận của nó.

Theo quy định của pháp luật Mỹ, nhãn hiệu chứng nhận (Certification Marks) có thể là từ ngữ, tên riêng, biểu tượng, hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng, được sử dụng hoặc dự định sử dụng trong thương mại mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép các chủ thể khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của mình để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ hoặc xuất xứ khác của sản phẩm hoặc dịch vụ, nguyên liệu, cách thức sản xuất, chất lượng, độ chính xác hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ hoặc đặc trưng của lao động thể hiện trên hàng hóa, dịch vụ được thực hiện bởi các thành viên của một tổ chức (Điều 45 Luật nhãn hiệu).

Pháp luật Trung Quốc và Anh cũng quy định về nhãn hiệu chứng nhận. Tại Điều 50.1 Luật nhãn hiệu Anh quy định: Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu chỉ dẫn hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan, được chủ sở hữu chứng nhận về xuất xứ, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa hoặc cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, sự chính xác hoặc các hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.

Theo pháp luật Trung Quốc thì nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu đã được kiểm soát bởi tổ chức có quyền giám sát đối với một số loại hàng hóa hoặc dịch vụ mà được sử dụng bởi các tổ chức hoặc cá nhân ngoài tổ chức đó trên hàng hóa hoặc dịch vụ của họ nhằm chứng nhận về nguồn gốc địa lý, vật liệu, cách thức sản xuất, chất lượng hoặc các loại hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu, theo Điều 3 Luật Nhãn hiệu Trung Quốc.

  • Khác với các nước, pháp luật Nhật Bản không có quy định về nhãn hiệu chứng nhận.

Ở Việt Nam trước khi Luật SHTT 2005 ra đời thì chưa có quy định pháp luật điều chỉnh về nhãn hiệu chứng nhận và bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận. Tuy vậy, trong thực tiễn có nhiều doanh nghiệp của chúng ta có được nhãn hiệu chứng nhận thuộc dòng ISO- International Standard Organisation (ISO 9001, ISO 9002, ISO 14000), đây là loại nhãn chứng nhận điển hình trên thế giới. Để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội, hướng tới sự tương thích với pháp luật các nước trên thế giới và để thực thi các cam kết quy định trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Luật SHTT năm 2005 lần đầu tiên ghi nhận về sự tồn tại của nhãn hiệu chứng nhận. Tại khoản 18 Điều 4 định nghĩa: nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Với những trình bày ở trên chúng ta thấy nhãn hiệu chứng nhận có một số đặc trưng cơ bản sau:

  • Nhãn hiệu chứng nhận có mục đích chứng nhận cho hàng hóa, dịch vụ của nhiều chủ thể kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau;
  • Nhãn hiệu chứng nhận không được sử dụng bởi chủ nhãn hiệu. Người được quyền gắn nhãn hiệu chứng nhận lên hàng hóa, dịch vụ của mình là người đáp ứng các tiêu chuẩn của nhãn hiệu chứng nhận và được phép của chủ nhãn hiệu.
  • Nhãn hiệu chứng nhận có thể được sử dụng để chứng nhận về nhiều tiêu thức khác nhau như nguồn gốc xuất xứ địa lý hay xuất xứ khác, nguyên vật liệu sử dụng, độ chính xác, cách thức cung cấp dịch vụ nhưng chủ yếu là để chứng nhận chất lượng của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu;
  • Chủ thể xin đăng ký nhãn hiệu chứng nhận phải có khả năng đảm bảo tiêu chuẩn chứng nhận (competent to certify). Chủ thể này phải là người đại diện cho các sản phẩm có gắn nhãn hiệu chứng nhận. Đây là sự đảm bảo quan trọng cho người tiêu dùng, cho xã hội tránh được những hành vi kinh doanh không trung thực.

Chính vì vậy mà chủ thể kinh doanh thường là các hiệp hội doanh nghiệp, liên minh doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước hoặc chính bản thân nhà nước.

5.3. Nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu nổi tiếng Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

5.3.1 Nhãn hiệu liên kết

Đây là một loại nhãn hiệu mới, việc bảo hộ nhãn hiệu liên kết là một phương tiện pháp lý quan trọng cho phép các chủ thể kinh doanh chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể kinh doanh khác. Để tạo cho các chủ thể kinh doanh chủ động ngăn ngừa hành vi cạnh tranh không lành mạnh pháp luật cho phép họ được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu này. Tuy nhiên, pháp luật các nước không có sự thống nhất khi đề cập đến nhãn hiệu liên kết.

Pháp luật Mỹ không quy định riêng về nhãn hiệu liên kết nhưng lại lồng các quy định tương ứng vào việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Trong khi đó pháp luật Anh và Trung Quốc không quy định về loại nhãn hiệu này.

Pháp luật Nhật Bản khác với pháp luật Việt Nam khi quy định nhãn hiệu liên kết là nhãn hiệu bảo vệ (defensive) và như là một công cụ để bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Chủ sở hữu một nhãn hiệu có thể đăng ký các nhãn hiệu bảo vệ giống hệt với nhãn hiệu đã đăng ký của mình khi nhãn hiệu đã đăng ký trở nên nổi tiếng đối với người tiêu dùng và vì thế người khác có thể sử dụng nhãn hiệu tương tự cho các hàng hóa và dịch vụ không cùng loại, do đó sẽ gây nhầm lẫn về nhãn hiệu đã đăng ký đối với người tiêu dùng (Điều 64 Luật nhãn hiệu).

Theo pháp luật Việt Nam nhãn hiệu liên kết lần đầu tiên được ghi nhận tại khoản 8a Điều 2 Nghị định 63/CP: nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu hàng hóa tương tự với nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản phẩm, dịch vụ cùng loại, tương tự với nhau hoặc có liên quan đến nhau, và các nhãn hiệu hàng hóa trùng nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản phẩm, dịch vụ tương tự với nhau hoặc có liên quan với nhau. Khoản 19 Điều 4 Luật SHTT 2005 cũng kế thừa tinh thần của điều luật trên khi quy định: “Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau”.

Với những phân tích trên chúng ta có thể chia nhãn hiệu liên kết thành hai loại: thứ nhất là các nhãn hiệu tương tự với nhau do một chủ thể đăng ký dùng cho các hàng hóa, dịch vụ cùng loại, tương tự với nhau hoặc có liên quan với nhau. Thứ hai là các nhãn hiệu trùng nhau do cùng một chủ thể đăng ký cho các hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc có liên quan với nhau.

5.3.2. Nhãn hiệu nổi tiếng

Nhãn hiệu nổi tiếng có giá trị to lớn đối với chủ nhãn hiệu, nó được xác định dựa trên khả năng phân biệt cao, được nhiều người biết đến và tính phổ thông, ngoài ra nó còn thể hiện sự cam kết về chất lượng sản phẩm của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng. Do đó, việc sao chép, bị nhái, quyền của chủ nhãn hiệu nổi tiếng bị xâm phạm diễn ra khắp nơi trên khắp thế giới. Vì vậy, trong hệ thống pháp luật của các nước việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được quy định đặc biệt hơn so với nhãn hiệu thông thường ở những cấp độ khác nhau. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Tại Điều 6bis Công ước Paris 1883 đã quy định những khía cạnh của nhãn hiệu nổi tiếng như sau:

  • Các nước thành viên có trách nhiệm bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng bằng việc từ chối hoặc huỷ bỏ đăng ký, ngăn cấm việc sử dụng nhãn hiệu mà nhãn hiệu đó là sự sao chép, bắt chước, chuyển đổi hoặc có thành phần chủ yếu là sự sao chép và có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nổi tiếng.
  • Việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng chỉ giới hạn trong phạm vi các hàng hóa giống hoặc tương tự.
  • Việc xác định một nhãn hiệu là nổi tiếng tuân theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của nước đăng ký hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước mà nhãn hiệu nổi tiếng được sử dụng.
  • Thời hạn tối thiểu để yêu cầu huỷ bỏ nhãn hiệu sao chép, bắt chước, chuyển đổi là 5 năm kể từ ngày đăng ký nhãn hiệu. Đối với nhãn hiệu được đăng ký hoặc sử dụng với dụng ý xấu thì không áp dụng thời hạn.

Có thể thấy với các quy định của công ước Paris còn thể hiện một số hạn chế: thứ nhất, thì quá thiên vị trong việc bảo vệ quyền lợi cho các nước phát triển; thứ hai, các quy định của công ước Paris không áp dụng cho sản phẩm dịch vụ mà chỉ áp dụng cho sản phẩm hàng hóa.

Do đó trên cơ sở kế thừa các quy định của Công ước Paris, Hiệp định TRIPS đã có một số sửa đổi quan trọng, khoản 2 Điều 16 Hiệp định TRIPS quy định:

Việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được mở rộng cho cả các nhãn hiệu dịch vụ. Điều này phản ánh sự phát triển với tốc độ nhanh chóng của thương mại dịch vụ và nhận thức của các nước về tầm quan trọng của thương mại dịch vụ.

Việc xác định một nhãn hiệu nổi tiếng phải dựa trên việc xem xét danh tiếng của nhãn hiệu đó trong bộ phận công chúng có liên quan, kể cả danh tiếng tại nước thành viên tương ứng đạt được nhờ hoạt động quảng cáo nhãn hiệu đó. Như vậy, việc xác định một nhãn hiệu nổi tiếng phải căn cứ cả vào pháp luật nước thành viên mà chủ nhãn hiệu muốn đăng ký bảo hộ tại nước đó.

Công ước Paris được mở rộng để bảo hộ cho nhãn hiệu nổi tiếng theo đó việc gắn nhãn hiệu trùng hoặc tương tự có nguy cơ gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc loại này lên các hàng hóa, dịch vụ thậm chí khác loại làm cho người tiêu dùng hiểu rằng có sự liên quan giữa những hàng hóa, dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu đã đăng ký với điều kiện là lợi ích của chủ sở hữu nhãn hiệu đã đăng ký có nguy cơ bị việc sử dụng đó gây thiệt hại.

Pháp luật Mỹ quy định nhãn hiệu nổi tiếng tại Điều 43.c (U.S.C.1125) Luật Nhãn hiệu Mỹ 1946 thì việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng sẽ dược tiến hành khi có các hành vi bị xem là bắt chước không hợp pháp, chỉ dẫn sai nguồn gốc thương mại dẫn đến làm giảm giá trị của một nhãn hiệu đó. Trong trường hợp này chủ nhãn hiệu nổi tiếng có quyền yêu cầu tòa ra lệnh cấm việc sử dụng vì mục đích thương mại của một người khác đối với nhãn hiệu hay tên thương mại nổi tiếng của mình nếu hành vi sử dụng diễn ra khi nhãn hiệu hay tên thương mại của mình đã trở nên nổi tiếng và gây hại đến sự nổi tiếng của nhãn hiệu. Để quyết định một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không tòa án sẽ xem xét các yếu tố: Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

  • Mức độ của tính phân biệt mà tự bản thân nhãn hiệu có;
  • Thời gian sử dụng và mức độ sử dụng nhãn hiệu đối với hàng hóa, dịch vụ gắn nhãn hiệu;
  • Thời gian và mức độ quảng cáo và đưa ra công chúng nhãn hiệu đó;
  • Phạm vi địa lý của khu vực thương mại, dịch vụ có gắn nhãn hiệu;
  • Mức độ nhận ra nhãn hiệu đó tại các khu vực và kênh thương mại có sự tham gia của chủ nhãn hiệu và chủ nhãn hiệu kiện;
  • Bản chất và mức độ sử dụng các nhãn hiệu trùng hay tương tự bởi bên thứ ba;
  • Nhãn hiệu đó đã được đăng ký theo các luật liên quan của Mỹ chưa.

Dựa vào các căn cứ này toàn án xác định được một nhãn hiệu nào đó là nhãn hiệu nổi tiếng thì chủ nhãn hiệu có quyền yêu cầu toàn án chấm dứt hành vi xâm phạm của người khác đối với nhãn hiệu của mình. Tuy nhiên, nếu một trong ba trường hợp sau xảy ra thì quyền đó của chủ nhãn hiệu nổi tiếng sẽ không được bảo vệ:

  • Hành vi của người khác sử dụng một cách công bằng nhãn hiệu nổi tiếng trong hoạt động quảng cáo hay quảng bá sản phẩm thương mại cạnh tranh nhằm chỉ rõ nguồn gốc thương mại của các sản phẩm, dịch vụ cạnh tranh với sản phẩm của nhãn hiệu nổi tiếng; hoặc
  • Hành vi sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng không vì mục đích thương mại; hoặc
  • Các hình thức báo cáo tin tức hay bình luận tin tức.

Ngoài ra pháp luật Mỹ còn quy định về sự lu mờ của nhãn hiệu nổi tiếng là giảm đi khả năng của một nhãn hiệu nổi tiếng trong việc xác định và phân biệt hàng hóa, dịch vụ, không lệ thuộc vào sự tồn tại hay không tồn tại sự cạnh tranh giữa chủ nhãn hiệu nổi tiếng và các bên khác, hay xảy ra sự nhầm lẫn hay lừa dối.

Nhìn chung, hệ thống pháp luật Mỹ có rất nhiều điểm khác biệt so với pháp luật Châu Âu cũng như các hệ thống pháp luật khác trên thế giới. Điều này là do đặc điểm kinh tế – chính trị và truyền thống pháp luật quy định. Những thành tựu mà Mỹ đã đạt được trong quá trình bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng là hết sức thực tế.

Theo Pháp luật Anh, Nhãn hiệu nổi tiếng được quy định tại Điều 56 Luật nhãn hiệu 1994 phù hợp với Điều 6bis Công ước Paris và Hiệp định WTO: (1) Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu nhãn hiệu nổi tiếng ở Anh khi chủ sở hữu nhãn hiệu :

  • Là thành viên của công ước Paris, hoặc Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
  • Cư trú, hoặc hoạt động kinh doanh thương mại hoặc công nghiệp có hiệu quả ở nước thành viên công ước, dù chủ sở hữu nhãn hiệu có hoạt động kinh doanh hay không hoặc có được sự tín nhiệm của khách hàng ở Anh.

(2) Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo Công ước Paris hoặc hiệp định WTO khi đó một nhãn hiệu nổi tiếng sẽ được quyền ngăn chặn việc sử dụng nhãn hiệu ở Anh theo lệnh của tòa án, hoặc phần nhãn hiệu giống hoặc tương tự với nhãn hiệu của chủ sở hữu, gần giống hoặc tương tự với nhãn hiệu hoặc dịch vụ, mà việc sử dụng đó là nguyên nhân gây nhầm lẫn.

Pháp luật Nhật Bản không có các quy định về các tiêu chuẩn đánh giá một cách cụ thể nhãn hiệu nổi tiếng của một nhãn hiệu. Để đánh giá một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không các cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản trên thực tế thường dựa vào các tiêu chí: (1) thời gian sử dụng nhãn hiệu, thời điểm bắt đầu dử dụng, phạm vi lãnh thổ sử dụng và phạm vi hàng hóa dịch vụ mang nhãn hiệu; (2) mức độ của hoạt động quảng cáo; (3) quy mô của công ty, tình trạng hoạt động, phạm vi kinh doanh và các vấn đề khác của công ty; (4) các kênh thương mại liên quan đến hàng hóa, phương thức sử dụng nhãn hiệu trên sản phẩm mang nhãn hiệu.

Pháp luật Việt Nam cũng quy định về nhãn hiệu nổi tiếng khá tương đồng với quy định của pháp luật Hoa Kỳ đó là “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” (Điều 4, Khoản 20 Luật SHTT 2005).

Trong khi đó Pháp luật Trung Quốc quy định khá chi tiêu về các tiêu chí để đánh giá một nhãn hiệu nổi tiếng tại Điều 14 Luật Nhãn hiệu. Việc xem xét một nhãn hiệu nổi tiếng căn cứ vào các yếu tố sau:

  • Công chúng biết đến danh tiếng của nhãn hiệu;
  • Thời gian sử dụng nhãn hiệu;
  • Thời gian, mức độ và phạm vi địa lý mà nhãn hiệu công khai;
  • Lịch sử bảo hộ nhãn hiệu như là một nhãn hiệu nổi tiếng; và
  • Các yếu tố khác liên quan đến danh tiếng của nhãn hiệu.

6. Những lợi ích của việc bảo hộ nhãn hiệu ra nước ngoài. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài thực sự mang lại những lợi ích to lớn cho doanh nghiệp. Việc đăng ký tạo nên một cơ sở để chủ sở hữu thực hiện những quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời là căn cứ pháp lý chống lại những hành vi xâm hại những quyền năng đó. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có thể nhận được rất nhiều những lợi ích khác từ việc đăng ký, điều này hiển nhiên còn tùy thuộc vào đặc điểm riêng của mỗi doanh nghiệp, song từ góc độ chung nhất có thể kể ra một số lợi ích như sau:

Thứ nhất, việc đăng ký nhãn hiệu tại quốc gia khác cho phép khả năng bảo hộ nhãn hiệu trên một phạm vi rộng lớn hơn về mặt địa lý. Không có được việc đăng ký tại quốc gia khác, kế hoạch mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể là một dự định mang nhiều rủi ro, bất cứ ai đăng ký nhãn hiệu của bạn tại một lãnh thổ khác trước bạn sẽ có khả năng ngăn cản bạn sử dụng nhãn hiệu trên lãnh thổ đó.

Thứ hai, theo các quy định về nhãn hiệu hiện hành ở một số quốc gia, sau một vài năm sử dụng liên tục, thường là 5 năm, kể từ khi được đăng ký, nhãn hiệu đã được đăng ký sẽ không thể bị hủy bỏ. Với quy định này, bạn có thể loại bỏ hầu hết những rắc rối có thể có với nhãn hiệu của mình. Bạn cũng có thể quyên đi những biện pháp tự bảo vệ tốn kém, không một ai dù là thông qua việc khiếu kiện tại một phiên tòa hay khiếu nại trước cơ quan hành chính có thể chứng minh rằng nhãn hiệu đã được đăng ký của bạn không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn đăng ký, ví dụ như không có tính phân biệt hay khả năng phân biệt của nhãn hiệu đó với nhãn hiệu khác. Tất nhiên phải loại trừ trường hợp nhãn hiệu của bạn được đăng ký với mục đích không trung thực. Do đó, sẽ giúp cho bạn duy trì hoạt động kinh doanh ổn định.

Thứ ba, việc đăng ký nhãn hiệu là căn cứ để có thể khiếu nại trước cơ quan hành chính hay khởi kiện trước tòa án tại một quốc gia được đăng ký. Bạn sẽ có những thuận lợi trong việc cung cấp các bằng chứng trước cơ quan hành chính và tòa án. Với một nhãn hiệu đã được đăng ký, bạn sẽ không phải chứng minh nhãn hiệu có hiệu lực hay bạn là chủ sở hữu của nhãn hiệu đó, bên phản đối sẽ đứng trước những khó khăn to lớn và quan tòa hay bồi thẩm đoàn sẽ bị thuyết phục nhiều hơn trên quan điểm của bạn với một con dấu chứng nhận việc đăng ký hợp lệ. Và cuối cùng, việc đăng ký của bạn có tác dụng thông báo cho những đối thủ rằng bạn đã đầu tư tiền bạc và công sức vào nhãn hiệu này, thông điệp này hàm ý bạn sẵn sàng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến khoản đầu tư này.

Thứ tư, với việc đăng ký nhãn hiệu, bạn có khả năng đòi được khoản bồi thường vi phạm, khoản này có thể bằng hoặc lớn hơn so với thiệt hại thực tế cộng với chi phí cho luật sư nếu ai đó xâm phạm những quyền và lợi ích liên quan đến nhãn hiệu đó. Tuy nhiên, trên thực tế việc đền bù như vậy xảy ra không nhiều và đi kèm là yêu cầu phải đưa ra được những bằng chứng rõ rệt về việc vi phạm. Tuy nhiên, rõ ràng rằng chỉ với một nhãn hiệu đã được đăng ký bạn mới có khả năng đòi được khoản bồi thường lớn nhất. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Thứ năm, chỉ với việc đăng ký có hiệu lực bạn mới có thể sử dụng biểu tượng. Việc làm này sẽ tạo nên một thông điệp ngầm hiểu rằng nhãn hiệu đã được bảo hộ độc quyền. Với thông điệp này, bên bị kiện không thể có lý do là vi phạm không có ý, điều mà sẽ dẫn tới tránh được trách nhiệm bồi thường. Việc sử dụng biểu tượng chữ R với một vòng tròn cũng nói lên rằng bạn coi trọng và sẽ bảo vệ những quyền sở hữu trí tuệ của mình. Như vậy, những ai không muốn gặp rắc rối sẽ không sử dụng nhãn hiệu của bạn.

Thứ sáu, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể nhận được sự giúp đỡ to lớn từ phía cơ quan hải quan của nước mà nhãn hiệu đã được đăng ký để chống lại những nhà nhập khẩu gian dối trong việc nhập khẩu những hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu hay những hàng hóa từ chợ đen. Tất nhiên, việc hỗ trợ này không mang tính tự động, để được hưởng sự giúp đỡ nói trên, chủ sở hữu nhãn hiệu cần ghi nhận việc đăng ký của mình với cơ quan hải quan và trong nhiều trường hợp cần giúp đỡ cơ quan hải quan trong việc truy tìm những hành vi vi phạm.

Thứ bảy, một trong những lý do cơ bản của việc đăng ký là để thông báo cho thế giới rằng bạn đã yêu cầu quyền độc quyền sử dụng nhãn hiệu. Việc ngăn cản những tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng nhãn hiệu có thể diễn ra theo hai cách: thứ nhất, cơ quan đăng ký nhãn hiệu tại quốc gia sở tại sẽ từ chối việc đăng ký cho bất cứ nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn nào với nhãn hiệu của bạn. Thứ hai, nhãn hiệu của bạn sẽ xuất hiện trên các báo cáo tra cứu nhãn hiệu khi một doanh nghiệp dự định sẽ sử dụng hay đăng ký một nhãn hiệu tương tự hay giống nhãn hiệu của bạn.

Ngoài ra, việc đăng ký nhãn hiệu cũng cho bạn một công cụ để chống lại những “kẻ đạo tặc” trên mạng internet trong việc biến nhãn hiệu của bạn thành một tên miền. Bởi lẽ một nhãn hiệu đã được đăng ký trong bất kỳ trường hợp nào bạn cũng có cơ sở vững chắc để chống lại việc bị chiếm đoạt một tên miền giống với nhãn hiệu đó. Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu

One thought on “Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464