Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã viết lên những trang sử vẻ vang với bao chiến công hiển hách chống xâm lược và ách thống trị của ngoại bang. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong những mốc son chói lọi nhất, là thành quả đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam về khát vọng hòa bình, độc lập, tự do. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân vào ngày 2/9/1945.

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ, vì vậy cho nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh lập ủy ban dự thảo Hiến pháp để trình quốc hội. Bản Hiến pháp năm 1946 ra đời tuân thủ theo nguyên tắc “ đảm bảo các quyền tự do dân chủ”; lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam được đảm bảo các quyền tự do, dân chủ được quy định tại Điều 10 : “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.

Xuyên suốt quá trình thay đổi các bản hiến pháp từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 ( Điều 10), Hiến pháp năm 1959 (Điều 28), Hiến pháp năm 1980 (Điều 71), Hiến pháp năm 1992 (Điều 68), Hiến pháp năm 2013 (Điều 23), tự do cư trú luôn là một trong những quyền cơ bản của con người Việt Nam. Không những vậy, trong các nhánh luật như Bộ luật dân sự, Luật cư trú và các văn bản quy phạm pháp luật khác đều quy định rõ quyền tự do cư trú của công dân Việt Nam. Trước sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhất là yêu cầu hội nhập kinh tế, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế. Ngày 29 tháng 11 năm 2006, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật cư trú (Sửa đổi, bổ sung năm 2013) nhằm đáp ứng các đòi hỏi khách quan, để công dân Việt Nam thực hiện quyền tự do cư trú ở trong nước của mình theo quy định của Hiến pháp 2013 và đáp ứng yêu cầu đăng ký thường trú, tạm trú , lưu trú trong tình hình mới, trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế và mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế. Thực hiện pháp luật về cư trú là đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, phục vụ đắc lực cho công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và phát triển đất nước. Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Từ khi Luật Cư trú ra đời vào ngày 25/11/2006 tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XI cho đến khi sửa đổi bổ sung ngày 20/6/2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2014 cho thấy nhiều quy định của pháp luật về cư trú chưa hợp lý, việc đội ngũ cán bộ thực hiện pháp luật về cư trú chưa đúng với quy định, mang nặng cơ chế “xin- cho”, trình tự thủ tục giải quyết còn rườm rà, phức tạp, chưa thực sự dân chủ, thống nhất dẫn đến tình trạng vận dụng tuỳ tiện, gây khó khăn, phiền hà cho công dân.

Ngoài ra, trong thực tế một bộ phận nhân dân chưa thực hiện tốt quy định của pháp luật về đăng ký thường trú, tạm trú, làm cho việc thực hiện pháp luật về cư trú đạt kết quả chưa cao, tạo ra kẽ hở để các phần tử xấu lợi dụng tiến hành hoạt động xâm phạm đến ANCT – Trật tự an toàn xã hội. Với mục đích xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cư trú phù hợp với chủ trương cải cách hành chính; phù hợp với tiến trình hội nhập, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tạo khuôn khổ pháp lý hữu hiệu để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tạo thuận lợi tối đa cho công dân Việt Nam làm ăn, sinh sống, chống phiền hà, tiêu cực; đồng thời, bảo đảm cho công tác thực hiện pháp luật về cư trú có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo. Tạo cơ sở để củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác đăng ký thường trú, tạm trú, đổi mới phương pháp, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học, công nghệ trong việc thực hiện pháp luật về cư trú đạt được những kết quả nhất định. Nhưng đánh giá một cách tổng quát về việc thực hiện pháp luật cư trú vẫn còn những khó khăn, vướng mắc nguyên nhân đến từ rất nhiều phía: Các quy định pháp luật; Các quy trình thực hiện pháp luật, cán bộ làm công tác thực hiện pháp luật; sự hiểu biết của người dân đối với pháp luật về cư trú và ý thức chấp hành pháp luật.[29]

Đối với thành phố Hải Phòng nói chung và quận Ngô Quyền nói riêng đã được Chính phủ quan tâm xây dựng tuyến đường mới kết nối hai trung tâm chính trị Quận Ngô Quyền – Quận Hải An; Kết nối trung tâm hành chính thành phố với sân bay Cát Bi, đó là đường Lê Hồng Phong ( Ngã năm – sân bay Cát Bi ). Đường Lê Hồng Phong được khởi công năm 1997 có chiều dài 5,2 km và 6 làn đường xe chạy, trong quá trình xây dựng con đường trên; Quận Ngô Quyền đã phải di dời; đền bù nhà, đất cho khoảng hơn 2.300 hộ dân thuộc các phường Gia Viên, Lạc Viên, Đông Khê, Đằng Giang. Năm 2004, con đường Lê Hồng Phong đã được thông tuyến khánh thành nhưng những hệ lụy liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cư trú vẫn còn phải giải quyết sau nhiều năm. Vì vậy đề tài “Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng”đã được học viên lựa chọn cho luận văn thạc sỹ.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Vấn đề đăng ký cư trú và thực hiện pháp luật về cư trú gần đây đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học, giảng viên các học viện, trường đại học cũng như đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước về cư trú. Có thể nêu một số công trình như sau:

Giáo trình: “Luật Cư trú và công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú”, Học viện Cảnh sát nhân dân, 2008 [25]. Đây là tài liệu chính thống được sử dụng trong công tác nghiên cứu, giảng dạy tại Học viện Cảnh sát nhân dân. Tài liệu gồm 03 chương: chương 1, những vấn đề cơ bản về Luật Cư trú; chương 2, Công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú; chương 3, Cơ sở dữ liệu về cư trú. Tại chương 2, Giáo trình đã cung cấp những kiến thức lý luận cơ bản có tính chất tác nghiệp cho sinh viên chuyên ngành quản lý hành chính về trật tự xã hội trong thực hiện quản lý nhà nước về cư trú.

Sách tham khảo: “Quy trình công tác của Cảnh sát khu vực”, PGS, TS Trần Hải Âu, Ths Cù Ngọc Trang, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2014[39].Trong chương 4, nhóm tác giả đã chỉ dẫn một số nhóm quy trình đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú cụ thể như: quy trình rà soát, lập danh sách nhân, hộ khẩu; quy trình nắm tình hình về nhân, hộ khẩu, quy trình hướng dẫn bản khai nhân khẩu; quy trình công tác phân loại nhân khẩu; quy trình công tác kiểm tra hộ khẩu định kỳ; quy trình kiểm tra tạm trú, tạm vắng; quy trình giải quyết đăng ký tạm trú; quy trình tiếp nhận tạm vắng; quy trình quản lý học sinh, sinh viên tạm trú trong địa bàn; quy trình xác lập và quản lý các loại trong hộ,… Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Sách tham khảo: “Cẩm nang công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú”, TS Vũ Xuân Trường, Cù Ngọc Trang, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2008 [42] .Cuốn sách giải quyết các nội dung cơ bản của Luật Cư trú và các văn bản pháp luật có liên quan; hệ thống các văn bản của Nhà nước và ngành Công an điều chỉnh hoạt động đăng ký quản lý cư trú. Cuốn sách trang bị các kiến thức về công tác đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú, cung cấp thông tin phục vụ các ngành, các cấp trên lĩnh vực quản lý nhà nước, cho mọi công dân trong xã hội để thực hiện quyền tự do cư trú của mình. Đồng thời, còn là tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu giảng dạy trong các trường Công an nhân dân về vấn đề đăng ký, quản lý nhà nước về cư trú.

Sách tham khảo: “Luật cư trú, hỏi đáp về luật cư trú dành cho cán bộ quản lý hành chính”, TS. Đinh Thế Cát, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2017 [18]. Là cuốn sách có hàm lượng thông tin phong phú, đa dạng. Trên cơ sở những câu hỏi, tình huống được khái quát từ cả góc độ lý luận và thực tiễn công tác đăng ký và quản lý cư trú đối với công dân, kết hợp và vận dụng nhuần nhuyễn kiến thức với kinh nghiệm lâu năm của các giảng viên chuyên ngành Cảnh sát quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội của Học viện Cảnh sát nhân dân, tác giả đã khái quát Luật cư trú và các văn bản liên quan, đặc biệt là những văn bản mới nhất của Luật cư trú. những câu hỏi lý thuyết, tình huống thực tiễn được rút ra từ quá trình giảng dạy, và thâm nhập thực tế. Cuốn sách đã giải quyết những vấn đề phức tạp như xác định về chổ ở hợp pháp để đăng ký cư trú, đăng ký cư trú cho một số đối tượng đặc biệt như chức sắc tôn giáo, các hộ mặt nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, quản lý đối tượng tạm trú, tạm vắng … Cuốn sách đã vận dụng lý luận để giải quyết những tình huống phức tạp phát sinh trong thực tiễn công tác quản lý cư trú. Là nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu và áp dụng vào thực tế.

Sách tham khảo: “Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật cư trú được sửa đổi, bổ sung năm 2013” tập thể tác giả do Thiếu tướng GS.TS. Nguyễn Ngọc Anh chủ biên nhà xuất bản Giao thông vận tải năm 2014 [38]. Các cuốn sách trên gồm 02 phần, phần 1 tác giả đã giới thiệu nội dung cơ bản của Luật cư trú, các Nghị định, Thông tư liên quan đến cư trú và những vấn đề lưu ý khi áp dụng. Phần 2 là toàn văn Luật cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cuốn sách là tài liệu tập huấn chuyên sâu, bồi dưỡng nâng cao trình độ pháp luật về quản lý cư trú cho cán bộ, chiến sỷ công an để thực hiện tốt quyền tự do cư trú của công dân và hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về cư trú.

Đề tài khoa học cấp Bộ Các giải pháp tăng cường công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu và xây dựng Luật Cư trú”, Lê Thành, 2004 [22]. Đề tài đã tập trung phân tích, làm rõ những vấn đề cơ bản về cư trú và quản lý nhà nước về cư trú. Qua đó, tập trung vào các quyền cư trú của công dân, quản lý nhà nước, tăng cường quản lý nhà nước về cư trú; các văn bản quy phạm pháp luật quy định về cư trú của công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Về thực trạng cư trú, tác giả đã đánh giá khái quát đặc điểm dân số và cư trú của một số vùng, miền trong toàn quốc; tình hình biến động của các dạng nhân khẩu ở Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu của tác giả nhằm đưa ra giải pháp tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về cư trú nói trên.

Các đề tài khoa học trên đã nêu được một số vấn đề cơ bản của quản lý nhà nước về cư trú. Nhưng hiện nay chưa có riêng một đề tài nào liên quan đến công tác thực hiện pháp luật về cư trú, tại một địa bàn cụ thể là Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Các đề tài khoa học trên sẽ là nền tảng quan trọng trong quá trình thực hiện luận văn này.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về cư trú và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về cư trú thông qua khái niệm, phân tích đặc điểm, vai trò cũng như các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về cư trú.
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật về cư trú của quận Ngô Quyền; tìm ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
  • Đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận thực hiện pháp luật về cư trú và thực trạng công tác thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi nội dung:Các hoạt động liên quan đến thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
  • Phạm vi không gian: Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền từ năm 2013 (năm ban hành Luật Cư trú sửa đổi, bổ sung) cho đến nay.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Cơ sở lý luận: Để đạt được những mục tiêu phương hướng đã đề ra, trong quá trình thực hiện đề tài luận văn tác giả đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; kết hợp với nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp pháp luật của Nhà nước, nguyên tắc, điều lệnh Cánh sát khu vực của ngành Công an trong công tác thực hiện pháp luật về cư trú [2].

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả đã sử dụng các phương pháp: phân tích – tổng hợp, đối chiếu so sánh, thống kê, chứng minh biện luận, hệ thống.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận nhà nước: Trong công tác đảm bảo An ninh trật tự – Trật tự an toàn xã hội, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và xây dựng hệ thống tài liệu tham khảo phục vụ học tập, nghiên cứu. Những kết luận khoa học trong luận văn và các nội dung giải pháp được đề xuất góp phần rất lớn cho việc nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về cư trú góp phần giữ vững An ninh trật tự và Trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận Ngô Quyền nói riêng và trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói chung. Đề tài nghiên cứu được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu học tập cho cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện công tác thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về cư trú.
  • Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng.
  • Chương 3: Định hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật cư trú tại quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng.

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƯ TRÚ

1.1. Cư trú và pháp luật về cư trú

1.1.1. Quan niệm về cư trú Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú có vai trò quan trọng đối với quản lý xã hội của nhà nước. Đối với hoạt động quản lý xã hội của đất nước, công tác đăng ký cư trú là nhằm xác định việc cư trú và những thông tin cơ bản nhất về nhân thân của công dân để phục vụ, thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, đồng thời phục vụ cho công tác giữ gìn an ninh, trật tự, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm. Quản lý xã hội thực chất là quản lý con người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Con người luôn luôn là chủ thể của mọi hoạt động xã hội và là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, vì vậy đăng ký, quản lý cư trú được hình thành, phát triển rất lâu và nó diễn ra hầu như ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Từ đó cho thấy đăng ký quản lý cư trú là một tất yếu khách quan vì trong xã hội có giai cấp, phải có quản lý xã hội, đồng thời nó đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội phải quản lý con người, mà trước hết là qua hoạt động cư trú. Vì thế có thể khẳng định: Trên thế giới vấn đề đăng ký quản lý cư trú của con người đã có từ rất lâu, do bản chất của từng nhà nước khác nhau mà mục đích, hình thức, biện pháp đăng ký quản lý cư trú khác nhau.

Luật cư trú ở Việt Nam năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2013 đã làm rõ các khái niệm về cư trú, đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú. “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc phường, xã, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú” (Điều 1) “Đăng ký thường trú là việc công dân đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu cho họ” (Điều 18) “Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ”.

Đăng ký thường trú, tạm trú là quá trình cơ quan Công an dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước để tiến hành đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Phục vụ cho công tác quản lý xã hội của nhà nước; công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các phạm pháp về an ninh, trật tự.

Đăng ký thường trú là việc đăng ký ghi nhận vào sổ hộ khẩu và áp dụng các biện pháp để quản lý đối với những người thường xuyên cư trú trên một địa bàn nhất định theo đơn vị hành chính.

Đăng ký tạm trú là quản lý những người thường trú ở một nơi nhưng do nhiều lý do khác nhau họ đến ở lại một địa phương khác trong thời gian nhất định. Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Tóm lại, có thể hiểu: Cư trú là việc công dân sinh sống thường xuyên tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn hoặc huyện đảo nơi chưa tổ chức đơn vị hành chính cấp xã được nhà nước quản lý thông qua hình thức đăng ký thường trú hoặc tạm trú.[37]

1.1.2. Quan niệm pháp luật về cư trú

Ở Việt Nam: Thời kỳ cổ và trung đại, theo sách sử để lại thì các quy định về quản lý con người đã xuất hiện trước công nguyên đến thế kỷ thứ 7. Hình thức quản lý đơn giản, theo trình độ phát triển, trong giai đoạn cổ đại và Nhà nước phong kiến vấn đề quản lý cư trú của con người nhằm mục đích áp đặt sự thống trị giai cấp của nhà nước đó.

Thời kỳ thống trị của thực dân Pháp (từ năm 1858 – 1945): Thực dân Pháp thực hiện các hình thức quản lý chặt chẽ, tỷ mỷ ở thành phố, thị xã. Quản lý từng người, từng gia đình, có sổ theo dõi quản lý, đối với những người từ 15 tuổi trở lên đều có danh chỉ bản. Mục đích: nộp tô, thuế, bắt lính, bắt phu… phục vụ cho hoạt động cai trị, bóc lột và khai thác thuộc địa. Thời kỳ đấu tranh chống Đế quốc Mỹ: Ở miền Nam, dưới chế độ Mỹ, Ngụy chính sách quản lý cư trú chặt chẽ và có hệ thống, bao gồm vùng nội thành và vùng giáp ranh với vùng tự do. Thể hiện các quy định về lập hồ sơ, sổ sách từng người, từng gia đình, có dán ảnh được bảo quản và khai thác một cách quy mô và hệ thống. Mục đích: Phục vụ bắt lính, quản dân, thực hiện các chính sách chống cộng; Ở miền Bắc, sau hòa bình lập lại (1954) Nhà nước nghiên cứu, tổ chức chỉ đạo đăng ký quản lý cư trú nhằm tăng cường quản lý xã hội, củng cố chính quyền cách mạng (năm 1955 công tác đăng ký hộ khẩu được tiến hành một số nơi như: Thành phố Nam Định, thị xã Bắc Ninh, thị xã Sơn Tây, Hà Nội, Thái Nguyên, Hà Đông, năm 1956 mở rộng công tác này đến Hải Phòng, Đồng Hới, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Việt Trì, năm 1959 cơ bản hoàn thành trên phạm vi toàn miền Bắc). Các quy định cụ thể về quản lý hộ khẩu trong giai đoạn này: Năm 1954 Ủy ban hành chính từng tỉnh, thành phố công bố quy định tạm thời trên địa phương mình; năm 1957 Bản điều lệ tạm thời về đăng ký hộ khẩu được điều chỉnh, bổ sung; năm 1965 Hội đồng Chính phủ chính thức ban hành Bản điều lệ đăng ký hộ khẩu bằng Nghị định 104/CP ngày 27/6/1964 và thực hiện thống nhất trên toàn miền Bắc; Năm 1968 đáp ứng yêu cầu chống cuộc chiến tranh phá hoại của địch, chống hoạt động tình báo, xâm nhập, hoạt động gián điệp… lấy số liệu dân số chuẩn bị bầu cử toàn quốc, nên yêu cầu kết hợp quản lý dân số, quản lý cư trú với quản lý đi lại. Vì thế, ngày 29/02/1968 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định 32/CP thống nhất công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu với thống kê dân số và công tác hộ tịch. (Kết hợp hộ tịch Nghị Định 04/CP (Bộ nội vụ) và hộ khẩu Nghị Định 104/CP (Bộ công an) = Nghị Định 32/CP). Năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Chính phủ ban hành Quyết định 54/CP ngày 17/8/1976 điều chỉnh công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu trên phạm vi toàn miền Nam. Quyết Định 167/CP ngày 18/9/1976 hướng dẫn, bổ sung và chỉ đạo công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu phù hợp với tình hình miền Nam. Sau nhiều năm thực hiện các quy định về đăng ký hộ khẩu xuất hiện nhiều vấn đề mới, nhất là cần phân tách công tác hộ tịch và hộ khẩu vì về bản chất là 2 mặt công tác khác nhau và do 2 cơ quan Nhà nước khác nhau tiến hành. Vì thế, ngày 07/01/1988 Chính phủ ban hành Nghị định 04/CP ban hành Điều lệ đăng ký, quản lý hộ khẩu. Trong đó ngoài đăng ký, quản lý Bộ Công an thực hiện khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn… Bộ Tư pháp thực hiện các cải chính về họ tên, ngày tháng năm sinh…(theo Nghị định 219/HĐBT ngày 20-11-1987); năm 1997, qua 10 năm thực hiện Nghị Định 04/CP ngày 07/01/1988 đã bộc lộ những hạn chế, không đáp ứng được tình hình trong xu thế đổi mới, nhất là quản lý tình hình di dân tự do và yêu cầu dịch chuyển lao động trong nền kinh tế thị trường … vì thế đòi hỏi phải có một quy định mới phù hợp. Ngày 10/5/1997 Chính phủ ban hành Nghị định 51/CP quy định đăng ký, quản lý hộ khẩu thay thế các quy định trước đây và được thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Sau hơn 7 năm thực hiện một số nội dung của Nghị định 51/CP không đáp ứng được yêu cầu, chủ yếu là các quy định về nhà ở hợp pháp; quy định điều kiện đăng ký hộ khẩu vào thành phố, thị xã. Do đó, Bộ Công an đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định 108/2005/NĐ-CP ngày 19/8/2005. Để công dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, ngày 29/11/2006 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật cư trú, đây là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất quy định về quyền tự do cư trú của công dân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trình tự, thủ tục đăng ký thường trú hoặc tạm trú, quyền, trách nhiệm của công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú. Quá trình thực hiện Luật cư trú năm 2006 còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới. Ngày 20/6/2013, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú. Chính phủ ban hành Nghị định 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật cư trú. Như vậy quản lý cư trú thông qua đăng ký hộ khẩu được xác định là một nội dung cơ bản của công tác quản lý hành chính về an ninh, trật tự. Thực chất là quá trình đăng ký, quản lý hoạt động cư trú của con người, có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu. Điều 1 Nghị định 51/CP Ngày 10/5/1997 của Chính phủ xác định rõ: “ Đăng ký, quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của Nhà nước nhằm xác định việc cư trú của công dân, tăng cường quản lý xã hội, giữ vững An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) phụ trách việc đăng ký, quản lý hộ khẩu ”. Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Theo quy định của Luật cư trú hiện hành thì cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú.(Điều 1); Nơi cư trú của công dân là chổ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc tạm trú. Chổ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chổ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật (Điều 12).[31]

Ở nước ta, tự do cư trú là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận ngay từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và đến nay, quyền này vẫn tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013, trong Bộ Luật dân sự, Luật cư trú và các luật khác có liên quan.

Theo quy định, tại Điều 23 Hiến pháp năm 2013 thì công dân có quyền tự do cư trú trong nước, việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định[32]. Tại Mục 3, các điều 40, 41, 42, 43, 44, và 45 của Bộ luật dân sự hiện hành có quy định cụ thể về nơi cư trú của mọi người nói chung, của người chưa thành niên, của người được giám hộ, của vợ chồng, của quân nhân, của người làm nghề lưu động.

  • Những quy định chung về quyền cư trú của công dân được ghi trong các Điều 3, 5 và Điều 9 Luật cư trú hiện hành là:

Điều 3 quy định: Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của pháp luật cư trú và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Công dân có đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thường trú, tạm trú.

Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. [45] Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Điều 5 quy định: Nhà nước đảm bảo quyền tự do cư trú của công dân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền tự do cư trú của công dân phải bị xử lý nghiêm minh. Nhà nước có chính sách và biện pháp đồng bộ để đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do cư trú của công dân.[31]

Điều 9 Luật cư trú hiện hành quy định cụ thể quyền của công dân về cư trú theo đó, công dân có quyền:

  • Lựa chọn, quyết định nơi thường trú, tạm trú của mình phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
  • Được cấp, cấp lại, đổi hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến nơi cư trú. Được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện quyền cư trú.
  • Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện biện pháp bảo vệ quyền cư trú của mình.
  • Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với hành vi vi phạm pháp luật về cư trú theo quy định của pháp luật.[31]
  • Tuy nhiên Điều 10 Luật cư trú hiện hành cũng quy định các trường hợp bị hạn chế quyền tự do cư trú, bao gồm:
  • Người bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;

Người bị tòa án áp dụng hình phạt cấm cư trú; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án, được hưởng án treo hoặc đang được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; người đang bị quản chế;

Người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành.[31]

Điều 11 Luật Cư trú quy định trách nhiệm của công dân về cư trú:

  • Chấp hành các quy định của pháp luật về cư trú.
  • Cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu về cư trú của mình cho cơ quan, người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về thông tin, tài liệu đã cung cấp.
  • Nộp lệ phí đăng ký cư trú.
  • Xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú khi cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu.
  • Báo ngay với cơ quan đã đăng ký cư trú khi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú bị mất hoặc bị hư hỏng.[45]
  • Như vậy, pháp luật về cư trú là một chế định pháp luật thuộc ngành Luật hành chính là cơ sở để quản lý hành chính nhà nước về cư trú.

Từ những vấn đề trên có thể hiểu: Pháp luật về cư trú là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước về cư trú, bao gồm quyền, trách nhiệm của công dân về cư trú, đăng ký thường trú, tạm trú, tạm vắng, khai báo lưu trú, trách nhiệm quản lý cư trú của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền.

1.2. Thực hiện pháp luật về cư trú Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm thực hiện pháp luật về cư trú

Nhà nước ban hành pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, xác định khả năng xử sự của mọi cá nhân, tổ chức. Khả năng đó chỉ trở thành hiện thực trong đời sống xã hội khi các chủ thể pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật.

Pháp luật chỉ có ý nghĩa đích thực khi được thực hiện, các quy định của pháp luật trở thành hành vi và hoạt động của các chủ thể pháp luật. Vì vậy, xây dựng, ban hành pháp luật và thực hiện pháp luật là hai hoạt động có quan hệ mật thiết với nhau, là tiền đề của nhau, là hai giai đoạn của quá trình mô hình hóa hành vi thành các quy tắc và từ quy tắc đến hành vi thực tế của các chủ thể pháp luật.

Như vậy, “Thực hiện pháp luật là hoạt động của các chủ thể pháp luật làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” .

Hay nói cách khác: Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích mà các chủ thể pháp luật bằng hành vi của mình thực hiện các quy định pháp luật trong thực tế đời sống.

Từ những vấn đề nêu trên có thể hiểu: Thực hiện pháp luật về cư trú là quá trình, mà các chủ thể pháp luật về cư trú bằng hành vi của mình thực hiện các quy định của pháp luật về cư trú.[40]

  • Thực hiện pháp luật về cư trú có các đặc điểm sau đây:

Thực hiện pháp luật về cư trú là thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhân dân đối với hoạt động đăng ký cư trú và là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước khi đăng ký quản lý cư trú, khác với thực hiện pháp luật trong các lĩnh vực, các ngành luật khác ở các chủ thể, phạm vi, nội dung và các hình thức thực hiện.

Chủ thể thực hiện pháp luật về cư trú trước hết là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến việc thực hiện pháp luật về cư trú gồm có: Chính phủ, Bộ Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan đăng ký, quản lý lưu trú…

Phạm vi thực hiện pháp luật về cư trú diễn ra giữa các chủ thể mà một bên bao giờ cũng là công dân sống trong một đơn vị hành chính lãnh thổ.

Chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện pháp luật về cư trú vừa mang tính chất quản lý hành chính vừa mang tính chất tự quản. Nội dung thực hiện pháp luật về cư trú khá rộng lớn, có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân nơi cư trú.

1.2.2. Hình thức thực hiện pháp luật về cư trú Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Trong khoa học luật ở trong nước, cũng như ngoài nước các nhà khoa học đều quan niệm thực hiện pháp luật bao gồm 4 hình thức: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật. Việc phân chia thành các hình thức thực hiện pháp luật là nhằm phân biệt, thấy được đặc điểm, đặc thù của từng hoạt động, còn trong thực tiễn đôi khi những hành thức này lại đan xen, “lồng chứa” vào nhau. Trong hình thức này lại có hình thức khác, ví dụ trong áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước, chứa luôn cả tuân thủ và thi hành pháp luật .

Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật về cư trú, trên cơ sở nhận thức chung về các hình thức thực hiện pháp luật về cư trú, có thể xác định những hình thức thực hiện pháp luật về cư trú bao gồm các hình thức sau:

Tuân thủ pháp luật về cư trú: Là một hình thức thực hiện pháp luật về cư trú trong đó các chủ thể pháp luật về cư trú kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm. Ở hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dưới dạng không hành động. Như việc nhân dân phải chấp hành các quy định của pháp luật về sử dụng sổ hộ khẩu, không được dùng sổ hộ khẩu đề thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật như cho thuê, mượn sổ hộ khẩu …

Thi hành pháp luật về cư trú: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Như việc mọi người dân phải chấp hành các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký thường trú. Khác với tuân thủ pháp luật, trong hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý dưới dạng hành động tích cực, ví dụ cá nhân phải tự giác đến cơ quan nhà nước để đăng ký nơi cư trú, tạm trú, khai báo khi vắng mặt.

Sử dụng pháp luật về cư trú: Là một hình thức thực hiện pháp luật về cư trú, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép). Sử dụng pháp luật trong cư trú đó là việc cơ quan nhà nước sử dụng các quyền của mình để thực hiện các công việc được quy định trong luật. Như việc cơ quan công an đăng ký tạm trú cho công dân đến tạm trú trên địa bàn mình quản lý. Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Áp dụng pháp luật về cư trú: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Trong áp dụng pháp luật về cư trú, có thể hiểu đó là việc áp dụng các quy định của pháp luật để đăng ký thường trú, hoặc không đăng ký thường trú cho công dân.Áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước hoặc người có có thẩm quyền.

1.2.3. Nội dung thực hiện pháp luật về cư trú

Để pháp luật đi vào cuộc sống đòi hỏi các cơ quan nhà nước, cá nhân phải thực hiện các hoạt động cụ thể khác nhau, bao gồm:

Tuyên truyền pháp luật về cư trú: Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về cư trú nói riêng là nhiệm vụ của các cấp, các ngành. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và không ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật về cư trú trong đăng ký thường trú, đăng ký tạm vắng, tạm trú cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu; bảo đảm bảo tạo sự thống nhất quản lý Nhà nước về cư trú ở các cấp chính quyền, tạo sự chuyển biến rõ nét cả về nhận thức và hành động của các cấp, các ngành và nhân dân trong thực hiện Luật Cư trú, qua đó đảm bảo giữ gìn trật tự an ninh có hiệu quả.

Công tác tuyên truyền đã được thực hiện thông qua nhiều hình thức như tổ chức hội nghị giới thiệu, tập huấn chuyên sâu về Luật Cư trú; mở các chuyên trang, chuyên mục trên ấn phẩm của ngành, địa phương, in ấn tài liệu hỏi đáp, hướng dẫn pháp luật về cư trú, cấp phát tờ gấp pháp luật, treo panô, áp phích….

Triển khai thực hiện pháp luật về cư trú: Công tác triển khai, thực hiện pháp luật trong cuộc sống nói chung và triển khai thực hiện pháp luật về cư trú nói riêng chủ yếu thuộc về trách nhiệm và là chức năng của cơ quan hành pháp. Đó là quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực (Con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất để triển khai thực hiện luật cư trú) bảo đảm sẵn sàng, phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập, quán triệt, vận dụng để mọi hành vi ứng xử của các chủ thể đều phù hợp với quy định của pháp luật liên quan.

Luật cư trú được Quốc hội Nước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 01/7/2007, được sửa đổi năm Sau khi Luật cư trú được thông qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 29/3/2007 về việc triển khai luật cư trú, quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ Công An, các Bộ ngành có liên quan, và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong tổ chức thực hiện Luật cư trú. Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an, các Bộ, ngành và địa phương đã triển khai thực hiện đúng chức năng có hiệu quả các quy định về thực hiện Luật cư trú.

1.2.4. Chủ thể thực hiện pháp luật về cư trú: Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Chính phủ: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại điều 96, chương VII Hiến Pháp năm 2013. Chính phủ ban hành các Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật cư trú. Thủ tướng Chính Phủ ban hành các Chỉ thị về việc triển khai Luật cư trú, quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ Công An, các Bộ ngành có liên quan, và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong tổ chức thực hiện Luật cư trú.

Bộ Công an: Các hoạt động của Bộ Công an được quy định tại điều 33 Luật cư trú gồm:

  1. Xây dựng và trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về cư trú.
  2. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú.
  3. Đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền bãi bỏ những quy định về quản lý cư trú trái với quy định của Luật này.
  4. Ban hành các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về cư trú.
  5. Tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quản lý cư trú.
  6. Thống kê nhà nước về cư trú, tổng kết, nghiên cứu khoa học về quản lý cư trú, tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cư trú.
  7. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cư trú.
  8. Hợp tác quốc tế về quản lý cư trú. [31]

Uỷ ban nhân dân: Uỷ ban nhân dân các cấp trong thực hiện pháp luật về cư trú được quy định tại điều 34 gồm các hoạt động cụ thể sau:

  1. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú tại địa phương.
  2. Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan ở địa phương về quản lý cư trú.
  3. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cư trú.
  4. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cư trú theo quy định của pháp luật. [31]

Cơ quan đăng ký, quản lý lưu trú:Các cơ quan đăng ký, quản lý cư trú thực hiện các hoạt động được quy định tại điều 35 Luật cư trú gồm: Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

  1. Niêm yết công khai, hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về cư trú.
  2. Bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt làm công tác đăng ký, quản lý cư trú.
  3. Cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú đúng thời hạn cho công dân theo quy định của Luật này.
  4. Quản lý, lưu trữ hồ sơ, tài liệu về đăng ký, quản lý cư trú.
  5. Giải quyết kịp thời kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến cư trú, quản lý cư trú. [31]

Người trực tiếp làm công tác đăng ký, quản lý cư trú: Người làm công tác đăng ký, quản lý cư trú được quy định thực hiện các hoạt động tại Điều 36 Luật cư trú gồm:

  1. Người làm công tác đăng ký, quản lý cư trú phải được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm vụ được giao.
  2. Người làm công tác đăng ký, quản lý cư trú trong khi thực hiện nhiệm vụ phải có thái độ, lời nói, cử chỉ nghiêm túc, khiêm tốn, hoà nhã; tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, tài liệu có liên quan, viết biên nhận, hẹn ngày trả kết quả và giải quyết đúng thời hạn theo quy định của Luật này; trường hợp hồ sơ còn thiếu hoặc chưa đúng thì hướng dẫn cụ thể, đầy đủ bằng văn bản và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc hướng dẫn đó[45].

1.2.5. Vai trò của việc thực hiện pháp luật cư trú

  • Thứ nhất, góp phần đảm bảo quyền tự do cư trú của công dân

Hiến pháp năm 2013 đã quy định quyền tự do cư trú, đi lại, giao dịch, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là quyền con người, quyền công dân được nhà nước công nhận, tôn trọng và bảo vệ. Luật cư trú ra đời vào ngày 29/11/2006 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XI và được sửa đổi bổ sung vào ngày 20/6/2013 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIII là đạo luật được xây dựng trên cơ cở quán triệt và cụ thể hóa quan điểm chủ trương, chính sách của Đảng về việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cư trú, phù hợp với chủ trương cải cách hành chính. Luật cư trú đã tạo bước tiến mới trong công cuộc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về cư trú của Nhà nước ta nói riêng. Phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội,đảm bảo quyền tự do cư trú của con người Việt Nam.

  • Thứ hai, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị – pháp lý phức tạp được hiểu và nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau. Song theo quan điểm chung nhất, đó là nhà nước thượng tôn pháp luật: nhà nước được tổ chức, hoạt động theo pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật. Pháp luật trong nhà nước pháp quyền được các chủ thể thực hiện một cách tự giác chứ không ép buộc, bởi pháp luật xuất phát từ con người và về con người, là pháp luật của dân chủ, bình đẳng và văn minh.

Thực hiện pháp luật về cư trú là khẳng định được quyền tự do cư trú (lựa chọn địa điểm tại thôn, xóm,phố trong xã phường, thị trấn làm nơi ở và sinh hoạt lâu dài ). Đây là một quyền cơ bản trong quyền con người được Hiến pháp ghi nhận trong rất nhiều điều. Quyền tự do cư trú được luật cư trú quy định theo các điều,là công dân Việt Nam được cơ quan nhà nước cho đăng ký thường trú tại địa điểm sinh sống ăn ở sinh hoạt lâu dài; đăng ký tạm trú tại nơi ở mới không phải là nơi đăng ký thường trú. Mở rộng quyền tự do cư trú chính là quyền tự do đi lại trên lãnh thổ đất nước Việt Nam của người dân Việt Nam. Không có một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cá nhân nào được hạn chế hoặc tước bỏ quyền tự do đi lại của người dân Việt Nam.[1] Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Trong nhà nước pháp quyền, việc thượng tôn pháp luật, xem pháp luật là nguyên tắc tối thượng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh hoặc đang diễn ra là một điều kiện khách quan toàn diện. Tuy nhiên cần phải có những cơ chế kiếm chế xu hướng lợi ích “nhóm” tha hóa, lạm dụng quyền lực nhà nước của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào – công chức và quan chức nhà nước – là những người đại diện cho nhân dân. Thực hiện pháp luật về cư trú là các hoạt động của cơ quan nhà nước đảm bảo điều kiện cho người dân Việt Nam thực hiện quyền tự do cư trú, đi lại, ăn ở, sinh hoạt, học tập, lao động…theo đúng quy định của pháp luật. Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ thống pháp luật dân chủ và công bằng. Bản chất của nhà nước pháp quyền là nhà nước tôn trọng giá trị nhân quyền và đảm bảo cho các giá trị đó được thực thi trong thực tế, đánh giá một cách khách quan từ khi luật cư trú đi vào đời sống nhân dân đã góp đảm bảo quyền cư trú, tự do đi lại của người dân cũng như tháo gỡ những thủ tục hành chính gắn với công tác đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú của người dân mà trước đây các văn bản quy phạm pháp luật còn có nhiêu ràng buộc gây khó khăn cho người dân khi thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên đất nước Việt Nam.

  • Thứ ba, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong tình hình mới

Tình hình an ninh chính trị thế giới, khu vực có những diễn biến đa dạng, phức tạp, khó lường, xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố quốc tế tiếp tục gia tăng. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chủ nghĩa dân tộc thực dụng, cực đoan, bảo hộ mậu dịch ngày càng lan rộng. Thế giới đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức lớn về an ninh phi truyền thống, nhất là tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, khủng hoảng di cư, biến đổi khí hậu, dịch bệnh… Ở trong nước, các thế lực thù địch tiếp tục gây sức ép với Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền, công khai tiếp xúc, hỗ trợ số đối tượng chống đối, gia tăng các hoạt động thâm nhập, tác động chuyển hóa nội bộ, tuyên truyền chống Việt Nam, kích động gây rối, gây bạo loạn nhằm gây mất ổn định chính trị – xã hội ở nước ta. Bên cạnh đó, tình hình tội phạm còn diễn biến phức tạp, tính chất tinh vi, táo bạo, sử dụng vũ khí nóng gây nhiều vụ án nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Các loại tội phạm có tổ chức hoạt động theo kiểu xã hội đen, giết người, cờ bạc, buôn lậu, trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mua bán phụ nữ, trẻ em, chống người thi hành công vụ, đâm thuê, chém mướn, bảo kê, buôn bán ma túy, bắt cóc tống tiền, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm do người chưa thành niên thực hiện còn xảy ra ở nhiều nơi, hoạt động với tính chất côn đồ, hung hãn gây ra những hậu quả nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp tới tính mạng, sức khỏe người dân, gây lo lắng trong nhân dân. Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Tại Nghị quyết số 111/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội khóa XIII về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm đã đề ra nhiệm vụ: Thực hiện tốt công tác phòng ngừa xã hội, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; tạo chuyển biến rõ rệt về an ninh, trật tự,an toàn xã hội. Do đó, để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được Quốc hội giao thì cần phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước về cư trú, góp phần tích cực, có hiệu quả trong việc phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật.

Vì vậy, trước yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới, Đảng ủy Công an Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/ĐUCA ngày 08/01/2018 về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, xây dựng lực lượng Công an nhân dân năm 2018 và những năm tiếp theo; theo đó, Nghị quyết đã đặt ra nhiệm vụ: Tăng cường quản lý cư trú, quản lý dân cư, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong tình hình mới.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về cư trú Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

1.3.1. Yếu tố chính trị

Yếu tố chính trị là toàn bộ yếu tố tạo nên đời sống chính trị của xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, bao gồm môi trường chính trị, hệ thống các chuẩn mực chính trị, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và quá trình tổ chức, thực hiện chúng; các quan hệ chính trị và ý thức chính trị, hoạt động của hệ thống chính trị. Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu qủa của hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, đặc biệt là các cá nhân, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật. Một đất nước có môi trường chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật, bởi nó củng cố niềm tin của người dân, để họ tin và đi theo Đảng. Một đất nước bất ổn về chính trị sẽ luôn khiến người dân hoang mang, lo lắng, dao động…và dẫn đến việc thực hiện pháp luật không tốt. Nhận thấy đây là một trong những yếu tố quan trọng cho việc thực hiện pháp luật hiệu quả, chính xác. Hiện nay Đảng ta luôn quan tâm chỉ đạo sâu sát đối với việc tuyên truyền và phổ biến kiến thức nhằm nâng cao ý thức chính trị cũng như hiểu biết pháp luật cho các Đảng viên và đã đạt được kết quả tốt đẹp, để các Đảng viên luôn là những người đi trước, gương mẫu thực hiện pháp luật, từ đó tăng được lòng tin của quần chúng nhân dân.

Ý thức chính trị cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động thực hiện pháp luật. Nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực Nhà nước, thể hiện trực tiếp và tập trung nhất lợi ích giai cấp. Ở nước ta, hệ thống chính trị được thể hiện trong cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng cũng như trong các chính sách, pháp luật của Nhà nước dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện và vì lợi ích của đông đảo các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động. Trong hoạt động thực hiện pháp luật về cư trú, ý thức chính trị thể hiện trước hết ở việc các chủ thể có chức năng áp dụng pháp luật như Chính phủ, Bộ Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp … quán triệt, thấm nhuần nhiệm vụ chính trị của mình, lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật, giữ nghiêm kỷ cương, phép nước. Điều đó sẽ giúp cho hoạt động thực hiện pháp luật về cư trú thực sự đạt được chất lượng, hiệu quả cao, khơi dậy ý thức, trách nhiệm chính trị của các chủ thể khác trong thực hiện pháp luật.

Quá trình thực hiện pháp luật về cư trú, có thể thấy được ở địa phương nào công khai, minh bạch được các thủ tục hành chính, cán bộ hướng dẫn tận tình, chu đáo, ở địa phương đó nhân dân sẻ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào sự điều hành của chính quyền, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.[37]

1.3.2. Yếu tố kinh tế Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Yếu tố kinh tế xã hội bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế – xã hội, hệ thống các chính sách kinh tế, chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong thực tế xã hội. Nền kinh tế – xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của các tầng lớp xã hội. Ngược lại, nền kinh tế – xã hội chậm phát triển, kém năng động và hiệu quả sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật. Yếu tố kinh tế là nền tảng của sự nhận thức, hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật.

Quá trình thực hiện pháp luật về cư trú chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển kinh tế – xã hội. Nước ta là một nước đang phát triển, trình độ kinh tế xã hội ở mỗi vùng miền là khác nhau, do đó nó cũng ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện pháp luật về cư trú ở nước ta. Kinh tế có phát triển, đời sống vật chất của các tầng lớp dân cư được cải thiện, lợi ích kinh tế được đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn khởi, tin tưởng vào đường lối kinh tế, chính sách pháp luật, sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động điều hành, quản lý của Nhà nước. Khi đó, nhân dân sẻ tự giác chấp hành các quy định của pháp luật về cư trú như đang ký thường trú, tạm trú, lưu trú… để được hưởng các quyền lợi của bản thân và phù hợp với chuẩn mực pháp luật hiện hành.[37]

Khi kinh tế phát triển, đời sống tinh thần, vật chất đươc cải thiện, các cán bộ, công chức Nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện mua sắm các phương tiện nghe, nhìn, có điều kiện thõa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng và cập nhật các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ dàng đến được với đông đảo cán bộ và nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị thông tin, kiến thức pháp luật trở thành nhu cầu tự giác, thường trực trong suy nghĩ và hành động của họ. Điều đó giúp cho hoạt động thực hiên pháp luật của các chủ thể mang tính tự giác, tích cực. Còn khi kinh tế chậm phát triển, thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp gia tăng, lợi ích kinh tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ, nhân dân gặp khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn biến phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh, tác động tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật về cư trú.

Cơ chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về cư trú. Cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp trước đây đã tạo ra tâm lý thụ động, ỷ lại. Do đó nhận thức pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật thường mang tính phiến diện, một chiều theo kiểu mệnh lệnh – phục tùng. Cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay với những mặt tích cực của nó sẽ tạo ra tư duy năng động, sáng tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của hoạt động kinh tế. Từ đó tác động tích cực hơn tới ý thức pháp luật và hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và tiêu dùng. Nhưng mặt trái của cơ chế thị trường sẽ tạo ra tâm lý sùng bái đồng tiền, coi tiền là tất cả, bất chấp các giá trị đạo đức, pháp luật đồng thời sẽ tạo ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện pháp luật, lấy đồng tiền làm thước đo đánh giá các quan hệ giữa người với người. Đây là nguyên nhân phát sinh các hành vi trái pháp luật, là môi trường cho các loại tội phạm nảy sinh và phát triển. Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Việc thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo các nguyên tắc của công bằng xã hội là điều kiện cần thiết cho sự ổn định chính trị, tăng cường pháp chế và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội; củng cố ý thức của con người về cái chung trong các lợi ích, lý tưởng của họ, khơi dậy thái độ tích cực của quần chúng đối với việc tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật; nhờ đó ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật cũng được nâng lên một bước và việc thực hiện pháp luật của các chủ thể trở nên tự giác và chủ động hơn.

1.3.3. Yếu tố văn hóa

Các yếu tố văn hóa – đời sống bao giờ cũng thuộc về một môi trường văn hóa xã hội nhất định gắn liền với một phạm vi không gian xã hội nhất định, nơi các cá nhân và cộng đồng người tổ chức các hoạt động sống, sinh hoạt cùng nhau, tạo dựng, thừa nhận và chia sẻ các giá trị văn hóa, lối sống, phong tục tập quán, lễ nghi… Với những mặt, những khía cạnh biểu hiện của mình, các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện pháp luật, thể hiện trên các điểm sau:

Các phong tục tập quán trong cộng đồng xã hội có ảnh hưởng nhất định tới hoạt động thực hiện pháp luật của các tầng lớp nhân dân, thể hiện đặc biệt rõ nét ở khu vực nông thôn. Bên cạnh những ưu điểm rất căn bản, các phong tục tập quán ở nông thôn cũng đang bộc lộ những nhược điểm nhất định như việc tổ chức hội hè, đình đám, ma chay, giỗ chạp nhiều lúc nhiều nơi còn cồng kềnh, tốn kém và lãng phí; những hủ tục lạc hậu, lỗi thời còn tồn tại; trình độ dân trí còn thấp; thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội phát sinh; tính tích cực chính trị – xã hội của người dân còn hạn chế… Tại một số làng xã, chính quyền và người dân đứng ra tổ chức lễ hội ồn ào, kéo dài, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt, sự chỉ đạo thiếu sâu sát, để cho một số người lợi dụng lễ hội để hành nghề mê tín dị đoan. Trong khi một số thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội như nạn cờ bạc, số đề, mê tín dị đoan, mại dâm…đang xâm nhập vào nông thôn, thì có những người, thay vì tích cực đấu tranh, ngăn chặn, phòng ngừa lại tiếp tay hoặc trực tiếp tham gia vào những thói xấu đó. Những hiện tượng trên đây gây khó khăn cho việc thực hiện đúng đắn pháp luật, đồng thời là những hành vi vi phạm pháp luật, coi thường kỷ cương, phép nước, cần phải có biện pháp xử lý nghiêm minh, thích đáng.[35]

Lối sống đô thị và lối sống nông thôn có ảnh hưởng khác nhau tới hoạt động thực hiện pháp luật. Đặc trưng nổi bật của lối sống đô thị là tích cực chính trị – xã hội ở đô thị cao. Cư dân đô thị có nhiều điều kiện tiếp xúc với các thông tin chính trị – xã hội và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội lớn mà phần nhiều được tổ chức tại các đô thị. Các phong trào có sức huy động quần chúng ở các đô thị thường diễn ra nhanh hơn so với ở nông thôn. Đây cũng là điều dễ hiểu vì đô thị thường là nơi tập trung nhiều thành phần xã hội có trình độ học vấn tương đối cao. Tại các thành phố, phạm vi giao tiếp về xã hội cơ bản tương đối rộng, cường độ giao tiếp cao và mang tính ẩn danh trong giao tiếp. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật và các hình thức thực hiện pháp luật. Mặt khác, đô thị là nơi tập trung phần lớn bộ phận không thể thiếu trong dân cư đô thị thường được gọi dưới cái tên “những phần tử ngoài lề xã hội”. Về phương diện xã hội, đây là môi trường phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm nhiều tới mức đáng báo động, gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội và hoạt động thực thi, bảo vệ pháp luât. Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Lối sống nông thôn là lối sống mang tính cộng đồng rất cao và rất chặt chẽ, liên kết cả thành viên trong làng xã lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác. Điều đó thể hiện ở mối quan hệ gắn bó, sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, lối xóm ở nông thôn. Người dân nông thôn thường sống đoàn kết gắn bó với quê hương làng xóm, rất coi trọng tình làng nghĩa xóm. Đây là một biểu hiện rất riêng, rất đặc thù của lối sống nông thôn Việt.

Tính cộng đồng được coi là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật. Bằng ý thức cộng đồng, nó giúp cho các cán bộ pháp luật dễ dàng hơn trong việc phổ biến, tuyên truyền và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đông đảo người dân. Sức mạnh của tinh thần đoàn kết giúp cho các cơ quan hành chính, tư pháp hoàn thành tốt các nhiệm vụ thực thi và bảo vệ pháp luật. Khi truyền thống làng xã được phát huy, người dân cởi mở, thẳng thắn tham gia ý kiến về những cái được và cái chưa được trong hoạt động thực hiện pháp luật.

Sự đề cao tính cộng đồng và chủ nghĩa tập thể dễ dẫn cán bộ làm công tác thực thi và bảo vệ pháp luật đến việc đánh mất ý thức về con người cá nhân, cái tôi bị triệt tiêu, ý thức cá nhân và hành vi cá nhân cũng bị đặt vào lối xử thế hòa cả làng. Tình trạng này khiến cho cán bộ cả nước khi phải đối mặt với những việc làm sai trái, khuyết điểm, thậm chí vi phạm pháp luật, thì họ thường tìm cách né tránh trách nhiệm cá nhân và muốn đó là trách nhiệm tập thể. Bên cạnh đó tính cộng đồng thường là cái cớ được cán bộ làm công tác thực thi và bảo vệ pháp luật dùng để biện minh cho thói quen ỷ lại vào tập thể và tâm lý an phận thủ thường. Chính điều này làm hạn chế năng lực sáng tạo, sự chủ động và quyết đoán của họ trong điều hành, giải quyết các công việc chung từ đó ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật.

Các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên đăng tải các thông tin về các sự kiện pháp luật hiện tượng xảy ra trong xã hội, hoạt động thực hiện pháp luật của các tầng lớp xã hội. và của các cơ quan chức năng, nêu lên những tấm gương điển hình người tốt việc tốt trong việc thực hiện pháp luật… Những thông tin đó ở chừng mực khác nhau tác động đến suy nghĩ, nhận thức và hành vi của mỗi con người, khiến cho họ thực hiện pháp luật tốt hơn.

Dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện pháp luật. Dư luận xã hội gắn liền với ý chí cộng đồng của nhóm xã hội mà nó tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của các cá nhân. Trong một chừng mực nhất định người ta có thể không sợ sự trừng phạt của pháp luật khi thực hiện những hành vi sai trái, phạm pháp nhưng chúng lại sợ sự phê phán lên án của dư luận xã hội – một thứ bất thành văn. Trong điều kiện xã hội có nền dân chủ rộng rãi, dư luận xã hội được coi là phương tiện kiểm tra xã hội đối với ý thức pháp luật và hành vi pháp luật của mỗi người. Dưới áp lực của dư luận xã hội, mỗi người luôn phải xem xét, suy nghĩ, kiểm định trước khi thực hiện một hành vi pháp luật nào đó. Những câu hỏi phải được đặt ra về cái đúng, cái sai, nên hay không nên… Nhờ đó, ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật trong mỗi chủ thể cũng được nâng lên một bước.

1.3.4. Yếu tố pháp luật Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

Yếu tố pháp luật là tổng thể các yếu tố tạo nên đời sống pháp luật của xã hội ở từng giai đoạn nhất định bao gồm hệ thống pháp luật, các quan hệ pháp luật… Bản thân pháp luật được sinh ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội là cơ sở để các chủ thể thực hiện pháp luật. Song chính các mặt, khía cạnh khác nhau của các chuẩn mực pháp luật cũng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động thực hiện pháp luật.

Văn hóa pháp luật được hình thành từ tổng thể các hoạt động xã hội –pháp luật trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, văn hóa pháp luật là hệ thống các giá trị, chuẩn mực pháp luật được kết tinh từ trí thức pháp luật, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật và hành vi pháp luật; có ảnh hưởng sâu rộng tới các hình thức pháp luật từ tuân thủ chấp hành sử dụng cho tới áp dụng pháp luật. Văn hóa pháp luật được thể hiện ra trong đời sống pháp luật thông qua quá trình thực hiện pháp luật. Giữa văn hóa pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Văn hóa pháp luật là cơ sở, nền tảng, khuôn mẫu tư duy và chuẩn mực hành vi của hoạt động thực hiện pháp luật, có định hướng đúng đắn. Ngược lại, hoạt động thực hiện pháp luật có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm cho các giá trị chuẩn mực của văn hóa pháp luật. Các yếu tố truyền thống cũng có ảnh hưởng không nhỏ đối với hoạt động thực hiện pháp luật trong giai đoạn hiện tại. Sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật là nhằm khắc phục tính thiển cận, cục bộ trong quá trình phát triển, sản xuất, xây dựng làng xã trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Thông qua pháp luật, Nhà nước nhắc nhở, duy trì mọi nghĩa vụ của người dân và làng xã đối với Nhà nước và xã hội. Trong quá trình phát triển Nhà nước thừa nhận làng có lệ riêng của mình sao cho không trái với nguyên tắc quy định của pháp luật. Hệ thống tự quản chủ yếu dựa vào dư luận xã hội, uy tín của các vị chức sắc và đặc biệt vai trò của lệ làng. Cần kết hợp cả hai hình thức quản lý này trong hoạt động thực hiện pháp luật.

Sự tồn tại dai dẳng của pháp luật do các chế độ cũ để lại có ảnh hưởng nhất định tới hoạt động thực hiện pháp luật. Một số người có quan niệm sai lầm cho rằng pháp luật chỉ chủ yếu là công cụ trừng phạt, do thiếu hiểu biết họ có tâm lý sợ hãi pháp luật. Tâm lý lo sợ đó khiến cho hành vi của con người thiếu ổn định do đó khó có thẻ dẫn đến hành vi xử sự tích cực trước pháp luật và đối với pháp luật.

Tình trạng thờ ơ trước pháp luật hoặc coi thường pháp luật ở một số người tác động tiêu cực đến việc thực hiện pháp luật của những người khác. Vẫn còn tồn tại tình trạng không tuân thủ pháp luật, thờ ơ coi thường pháp luật. Điều này không chỉ ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện pháp luật mà còn có tác động không nhỏ tới xã hội cộng đồng. Ý thức, niềm tin đối với pháp luật của con người có ảnh hưởng quan trọng tới việc thực hiện pháp luật. Bởi lẽ, nếu thiếu sự tin tưởng vào pháp luật, không có niềm tin vững chắc vào tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật…thì việc thực hiện pháp luật không thể tốt và chặt chẽ được.

Sự hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện pháp luật có tác động quan trọng đến việc hoạt động thực hiện pháp luật. Sự can thiệp của các cơ quan chức năng nhằm đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện mỗi khi xảy ra vi phạm pháp luật, tranh chấp là cần thiết, đúng đắn. Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

1.3.5. Yếu tố quốc tế

Công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, tạo điều kiện cho nước ta mở của hội nhập sâu rộng với cộng đồng quốc tế. Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang nổ lực hội nhập sâu rộng vào cộng đồng Quốc tế, do đó sẻ gia tăng người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam để du lịch, công tác, đầu tư làm ăn … tại Việt Nam. Để thu hút đầu tư, tạo công ăn, việc làm, phát triển kinh tế -xã hội, Việt nam phải có các chính sách đổi mới, thuận tiện cho người nước ngoài đến Việt Nam trong đó có các quy định của pháp luật về cư trú. Khi các quy định của pháp luật nói chung và các quy định của pháp luật về cư trú nói riêng tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, phù hợp với thông lệ, quy định của luật quốc tế, sẻ tạo được sự tin tưởng của các nước khi hội nhập, đầu tự, du lịch vào Việt nam.[3]

Để thực hiện tốt các quy định của pháp luật về cứ trú trong quá trình hội nhập, đòi hỏi chúng ta phải có các điều chỉnh các quy định của pháp luật về cư trú, có các chính sách phù hợp để thu hút đầu tư, khách du lịch vào Việt Nam. Cần tăng cương giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý cư trú của công dân với với các quốc gia trên thế giới để học hỏi các kinh nghiệm của các nước trên thế giới và áp dụng vào Việt Nam. Ứng dụng mạnh mẻ công nghệ thông tin, tạo bước đột phá trong quá trình tiếp nhận, đăng ký, quản lý cư trú đối với công dân và hoàn thiện chất lượng văn bản pháp luật về cư trú phù hợp với yêu cầu thực tiễn quản lý củng như phù hợp với xu thế hội nhập.

Tiểu kết chương 1

Cư trú là một quyền hiến định của công dân, đăng ký thường trú, tạm trú, khai báo tạm vắng, lưu trú là quyền, đồng thời là nghĩa vụ của của công dân. Quản lý nhà nước về cư trú là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền nhằm bảo đảm an ninh cho công dân, nhà nước, xã hội, được pháp luật quy định. Pháp luật về cư trú là một chế định thuộc ngành Luật Hành chính, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về cư trú. Pháp luật về cư trú chỉ có ý nghĩa đích thực khi được thực hiện. Thực hiện pháp luật về cư trú thực chất là biến các quy định của pháp luật về cư trú thành các hoạt động của các chủ thể pháp luật về cư trú, bao gồm các hình thức: tuân thủ, thi hành và áp dụng. Thực hiện pháp luật về cư trú chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, pháp luật. Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền

One thought on “Luận văn: Thực hiện pháp luật về cư trú tại quận Ngô Quyền

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp bảo đảm pháp luật cư trú tại quận Ngô Quyền

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464