Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật an toàn thực phẩm từ thực tiễn Sở Công Thương thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Các yêu cầu về hoàn thiện pháp luật an toàn thực phẩm

Cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, vấn đề An toàn thực phẩm không phải là vấn đề của riêng mỗi khu vực, mỗi quốc gia; không phải là vấn đề của riêng cơ quan quản lý nhà nước hay tổ chức, cá nhân nào. Chính vì thế, pháp luật An toàn thực phẩm cần phải hoàn thiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp [10]. Cụ thể:

3.1.1. Tính kế thừa, chọn lọc

Bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào khi đi vào thực tiễn cũng cần tổng kết, đánh giá những ưu điểm, mặt phù hợp để tiếp tục phát huy; những nhược điểm, chưa phù hợp nhằm loại bỏ, sửa đổi những quy định lạc hậu, bất cập, đồng thời kế thừa và bổ sung những quy định đúng đắn, tiến bộ hơn, khả thi hơn và khoa học hơn. Qua thực tiễn và thời gian sửa đổi, hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật sẽ ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với thực tiễn. Chính vì thế pháp luật cần có tính kế thừa, chọn lọc.

Ví dụ, Nghị định 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ về hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm 2010 ra đời năm 2012. Sau 6 năm triển khai thực hiện, tình hình diễn biến An toàn thực phẩm đã thay đổi mà các quy định cũ tại Nghị định 38/2012/NĐ-CP của Chính phủ không đáp ứng được yêu cầu thực tế và yêu cầu quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm. Đó là sự chồng chéo trong phân công trách nhiệm quản lý dẫn tới tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong khi hiệu quả quản lý không cao, tình trạng thực phẩm không đảm bảo chất lượng ảnh hưởng tới sức khỏe người dân, diễn biến phức tạp của tình hình An toàn thực phẩm, yêu cầu hội nhập quốc tế, yêu cầu về cải cách hành chính, tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp, … Tất cả điều đó đặt ra cần thiết phải sửa đổi, thay thế Nghị định 38/2012/NĐ-CP của Chính phủ. Và ngày 02/02/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 15/2018/NĐ-CP thay thế Nghị định 38/2012/NĐ-CP của Chính phủ.

3.1.2. Pháp luật an toàn thực phẩm cần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Một trong những vấn đề pháp luật An toàn thực phẩm hiện nay tại nước ta đó là sự phân đoạn trong phân công quản lý. Pháp luật An toàn thực phẩm hiện đang giao trách nhiệm quản lý cho 3 ngành: Y tế, Nông nghiệp, Công Thương; ngoài ra, Ủy ban nhân dân các cấp với trách nhiệm quản lý An toàn thực phẩm trên địa bàn. Đối với một số sản phẩm thực phẩm hiện nay đang chịu sự quản lý của nhiều cơ quan, nhiều ngành khác nhau. Theo các quy định hiện hành, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn quản lý đối với các sản phẩm ngành Nông nghiệp (sản phẩm từ đánh bắt, nuôi trồng, thu hái,…) nhưng kiểm soát các sản phẩm thực phẩm đó trên thị trường lại do Bộ Công Thương quản lý.

Ví dụ: sữa nguyên liệu (sữa tươi vắt từ con bò) do ngành Nông nghiệp quản lý và quy định quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm tương ứng; sữa chế biến do ngành Công Thương quản lý và ngành Y tế quy định quy chuẩn kỹ thuật.

Điều đó đã tạo ra sự phân đoạn quản lý, bên cạnh các quy định chồng chéo dẫn tới đùn đầy trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Vấn đề đặt ra là pháp luật An toàn thực phẩm cần phân định rõ và nâng cao trách nhiệm cho từng ngành, từng cấp, từng cá nhân, tổ chức trong xã hội.

3.1.3. Pháp luật an toàn thực phẩm cần phải hoàn thiện theo hướng đổi mới phương thức quản lý phù hợp pháp luật quốc tế và xu thế hội nhập.

Cần thay đổi cách tiếp cận từ “quản lý sản phẩm” sang “quản lý quá trình”, quản lý theo “chuỗi thực phẩm” khép kín, tránh tình trạng phân đoạn quản lý như hiện nay.

Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ đã có nhiều điểm mới so với Nghị định 38/2012/NĐ-CP của Chính phủ thể hiện quan điểm quản lý mới: chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, cắt giảm điều kiện, giấy phép cho doanh nghiệp.

Ví dụ: quy định về tự công bố sản phẩm tại Điều 4, Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Thay vì doanh nghiệp phải chờ cơ quan quản lý nhà nước tiếp nhận và xác nhận công bố sản phẩm như trước đây thì giờ doanh nghiệp tự công bố sản phẩm và được kinh doanh sản phẩm ngay sau khi tự công bố sản phẩm mà không phải chờ cơ quan quản lý nhà nước cấp giấy xác nhận công bố sản phẩm. Hay quy định về đối tượng không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm tại Điều 4, Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Nghị định 38/2012/NĐ-CP của Chính phủ chỉ quy định 4 đối tượng không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm thì tới Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ mở rộng thêm 6 đối tượng là 10 đối tượng không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm [7]. Điều này thể hiện quan điểm quản lý mới, thông thoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp sản uất, kinh doanh thực phẩm phát triển.

3.1.4. Pháp luật an toàn thực phẩm phải hướng đến mục tiêu là nhằm bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng.

Pháp luật cần tạo khung pháp lý đầy đủ và hiệu quả cho việc bảo đảm An toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thực phẩm trên thị trường, tạo thuận lợi cho việc phát triển thị trường hàng thực phẩm của Việt Nam. Mục tiêu của pháp luật An toàn thực phẩm hướng tới là sức khỏe con người. Vì thế, các quy định pháp luật An toàn thực phẩm cần chú trọng quyền lợi người tiêu dùng, quy định các điều kiện, các giải pháp nhằm đảm bảo sản phẩm thực phẩm an toàn tới tay người tiêu dùng.

3.1.5. Xây dựng một hệ thống các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm thống nhất trong tất cả các ngành, các lĩnh vực có liên quan. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Một hệ thống các quy định về An toàn thực phẩm tốt, toàn diện được xây dựng phù hợp với điều kiện phát triển của kinh tế – xã hội đất nước, với những mục tiêu cụ thể được xác định rõ ràng sẽ là cơ sở và định hướng cho việc xây dựng và ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật, là tiền đề nhằm tạo ra sự tương thích, phù hợp và thống nhất giữa các quy định liên quan đến vấn đề An toàn thực phẩm trong các quy định pháp luật chuyên ngành khác. Và đó cũng chính là cơ sở để tạo nên sự thống nhất cho toàn bộ hệ thống pháp luật về An toàn thực phẩm.

3.1.6. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật an toàn thực phẩm theo hướng đồng bộ, tiên tiến và có tính khoa học cao, đáp ứng thực tiễn công tác quản lý an toàn thực phẩm trong quá trình phát triển đất nước.

Thực tiễn sau 7 năm thực thi cho thấy, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 về cơ bản là tiến bộ và phù hợp với chính sách An toàn thực phẩm. Cho đến nay Luật An toàn thực phẩm đã phát huy được tốt vai trò trong việc bảo đảm An toàn thực phẩm trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa Luật An toàn thực phẩm là hoàn hảo. Một trong những yêu cầu và đòi hỏi tất yếu hiện nay là phải tiến hành sửa đổi, bổ sung luật này bởi những nguyên nhân chủ quan và khách quan sau: Một là, quá trình thực thi đã gặp phải nhiều khó khăn, một phần do chính sự bất cập và thiếu sót trong các quy định cụ thể của Luật An toàn thực phẩm. Hai là, bản thân pháp luật An toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại cũng có nhiều bất cập, mâu thuẫn. Cụ thể là sự mâu thuẫn và bất cập giữa những quy định của Luật An toàn thực phẩm và các quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành. Hay nói cách khác, bản thân hệ thống pháp luật An toàn thực phẩm đã thiếu tính đồng bộ và thống nhất. Ba là, so với thời kỳ mới ban hành, hiện nay điều kiện kinh tế – xã hội đã có nhiều thay đổi vì vậy việc sửa đổi, bổ sung là cần thiết nhằm đáp ứng những đòi hỏi và xu thế phát triển mới của kinh tế -xã hội, bảo đảm An toàn thực phẩm trong bối cảnh mới. Bốn là, trong những năm gần đây nhiều pháp luật chuyên ngành có xu hướng thoát ly khỏi pháp luật An toàn thực phẩm để xây dựng các quy định riêng liên quan đến vấn đề An toàn thực phẩm.

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

3.2.1. Rà soát, hệ thống hóa quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm

Luật An toàn thực phẩm hiện là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, ban hành năm 2010, giá trị hiệu lực năm 2011. Tính đến nay, luật An toàn thực phẩm đã có hiệu lực được 9 năm, một số các quy định trong Luật An toàn thực phẩm chưa phù hợp, đã lỗi thời. Tại Khoản 3, Điều 12 quy định điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm đã qua chế biến: “Thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn phải đăng ký bản công bố hợp quy với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi lưu thông trên thị trường. Chính phủ quy định cụ thể việc đăng ký bản công bố hợp quy và thời hạn của bản đăng ký công bố hợp quy đối với thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn”. Quy định về công bố hợp quy đã bị bãi bỏ bởi Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ và thay bằng đăng ký bản công bố sản phẩm đối với một số sản phẩm thực phẩm ngành Y tế quản lý và tự công bố sản phẩm thực phẩm đối với sản phẩm thực phẩm thông thường. Vì thế, quy định trên cần phải sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn quản lý.

Để bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật cũng như tính hệ thống, đồng bộ trong việc thực thi pháp luật An toàn thực phẩm, việc rà soát, đánh giá sự tương thích, phù hợp hay mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định của pháp luật về An toàn thực phẩm cũng như các quy định của pháp luật chuyên ngành khác so với pháp luật về An toàn thực phẩm cần phải được các cơ quan chức năng thực hiện.

  • Nội dung rà soát cần tập trung vào các vấn đề sau:

Rà soát các quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm, theo đó phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng ngành trên nguyên tắc “1 cơ sở, 1 sản phẩm chỉ chịu sự quản lý của 1 cơ quan”, trường hợp cần sự phối hợp thì phải quy định cụ thể một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm chính, hạn chế tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong quản lý, điều hành.

Rà soát, bổ sung và hệ thống lại các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật về An toàn thực phẩm đáp ứng yêu cầu quản lý, phù hợp tiêu chuẩn quốc tế. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Rà soát và bổ sung quy chế quản lý nhập khẩu hoá chất, chất kích thích tăng trưởng, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm, các loại thực phẩm không bảo đảm an toàn.

Rà soát, sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật về An toàn thực phẩm và các quy định liên quan nhằm đảm bảo tính thống nhất, tránh chồng chéo, trùng lắp giữa các văn bản quy phạm pháp luật. Cần thống nhất quy định về ghi nhãn, quảng cáo, chất lượng sản phẩm giữa Luật An toàn thực phẩm và các văn bản dưới luật với Luật quản lý chuyên ngành khác và các văn bản dưới luật.

3.2.2. Rà soát, phân loại các nhóm sản phẩm thực phẩm có tính chất, đặc điểm tương đồng.

Cần nhóm và phân loại các loại thực phẩm trên thực tế, sắp xếp từng loại thực phẩm có đặc tính giống nhau, quy trình sản xuất giống nhau vào 1 nhóm sản phẩm cụ thể. Từ đó có cách giải thích hoặc phân biệt cho cán bộ quản lý An toàn thực phẩm và các cơ sở sản xuất, người dân nhận biết và phân biệt được. Chẳng hạn theo tác giả, đối với sản phẩm ô mai: có 2 dòng mặn và ngọt (ô mai mặn là loại chỉ ngâm muối và có bổ sung 1 số phụ gia mà không có chất tạo ngọt và đường; ô mai ngọt là loại có đường hoặc chất tạo ngọt, có thể cho thêm 1 số phụ gia khác). Đối với dòng mứt có thể có 2 loại: mứt từ các loại quả (mứt bí, mứt táo), hoặc mứt từ các loại rau củ (cà rốt). Đối với bánh mì (sử dụng bột mì, đường và 1 số chất khác, tạo xốp bằng phương pháp sinh học là lên men) có thể có 2 dòng: bánh mì mặn (hàm lượng chất béo và độ ngọt thấp như: bánh mì ta, baguette, bánh mì gối), bánh mì ngọt (hàm lượng chất béo và độ ngọt cao: croissant, bánh mì có sốt nước hoa quả, mứt,…). Tuy nhiên trên thực tế cũng có 1 số sản phẩm chưa thể xếp chúng vào nhóm nào. Chẳng hạn như thạch (sản phẩm gồm có nước, chất tạo đông, đường và có thể có thêm 1 số phụ gia khác) (xếp vào nhóm nước giải khát hay nhóm kẹo?); bánh trưng, bánh giò,.. (xếp vào nhóm bánh mứt kẹo hay xếp vào nhóm bánh truyền thống? nhưng khái niệm “truyền thống” ở đây rất “mơ hồ” và khó định nghĩa, cũng không thể liệt kê hết được.) Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

3.2.3. Xây dựng, hoàn thiện các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm

Hiện nay, hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn kỹ thuật về An toàn thực phẩm chưa đầy đủ và chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý. Chính vì thế, việc xây dựng, hoàn thiện các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn kỹ thuật về An toàn thực phẩm làm căn cứ để quản lý và để cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thực hiện, để người tiêu dùng làm căn cứ giám sát, phát hiện các thực phẩm không đạt chất lượng.

Trước tiên, cần hệ thống hóa các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn kỹ thuật về An toàn thực phẩm hiện có. Trên cơ sở đã phân loại nhóm sản phẩm thực phẩm và đặc điểm của từng sản phẩm thực phẩm để quy định cụ thể đối với sản phẩm đó. Ví dụ: đối với sản phẩm kẹo có thể phân làm 4 nhóm: kẹo cứng, kẹo mềm, kẹo dẻo và socola từ đó quy định các chỉ tiêu an toàn đối với từng nhóm sản phẩm như: chỉ tiêu hóa lý, chỉ tiêu vi sinh, chỉ tiêu dư lượng kim loại nặng…

Cần có quy định đầy đủ và chặt chẽ đối với giới hạn các chỉ tiêu an toàn đối với thực phẩm như: giới hạn về ô nhiễm vi sinh vật, giới hạn về ô nhiễm kin loại nặng, giới hạn ô nhiễm độc tố vi nấm, giới hạn về dư lượng chất bảo vệ thực vật,… tạo “rào cản kỹ thuật” đối với sản phẩm thực phẩm không đảm bảo an toàn.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn và quy chuẩn về An toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế và đặc thù của Việt Nam. Từ đó thúc đẩy xuất khẩu thực phẩm và bảo vệ ngành hàng thực phẩm trong nước trước thời điểm các Hiệp định thương mại tự do có hiệu lực.

3.2.4. Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Điều 61 khẳng định Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về An toàn thực phẩm. Tuy nhiên, các Điều 63, 64 lại nêu trách nhiệm của các Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương trong quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm. Sự mẫu thuẫn này sẽ tạo sự chồng chéo trong tư duy quản lý.

Ví dụ: Khoản 4 và 5, Điều 3, Luật an toàn thực phẩm về nguyên tắc quản lý An toàn thực phẩm nêu rõ “Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm” và “Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành”. Khoản 5 Điều 36, Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định nguyên tắc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm: “Bảo đảm nguyên tắc một cửa, một sản phẩm, một cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ chịu sự quản lý của một cơ quan quản lý nhà nước”. Việc phân công trách nhiệm quản lý An toàn thực phẩm hiện đang giao cho 3 Bộ: Y tế, Nông nghiệp và Công Thương nhưng trên thực tế 1 sản phẩm, 1 cơ sở lại lại chịu sự quản lý của nhiều cơ quan, nhiều Bộ khác nhau. Chẳng hạn, đối với sản phẩm trứng gà thuộc quản lý của ngành Nông nghiệp, muốn được lưu thông thì trứng gà đó phải kiểm dịch (nếu lưu thông nội tỉnh không phải kiểm dịch, ngoại tỉnh phải kiểm dịch theo quy định tại Luật Thú y) nhưng khi quả trứng gà đó lưu thông trên thị trường thì thuộc quản lý của ngành Công Thương. Việc phân đoạn thẩm quyền quản lý như vậy sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý, đòi hỏi cần có sự phối hợp và trao đổi thường xuyên, liên tục và chặt chẽ mới đảm bảo kiểm soát thực phẩm an toàn “từ trang trại tới bàn ăn”.

Hiện nay ở nước ta có 3 tỉnh đã thực hiện thí điểm Ban quản lý An toàn thực phẩm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ là Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Bắc Ninh. Ban quản lý An toàn thực phẩm là 1 giải pháp thống nhất cơ quan quản lý nhà nước về 1 đầu mối, thay vì 3 ngành quản lý như trước kia. Tuy nhiên, việc thí điểm này chỉ có giá trị 2 năm và thực hiện thí điểm ở 3 tỉnh, cần sau 1 thời gian mới có thể đánh giá được hiệu quả của chính sách trên. Trước mắt về mặt chủ trương là tương đối đúng đắn nhưng khó khăn trong thực tế thực hiện. Ví dụ: Ban quản lý An toàn thực phẩm chưa có đầy đủ thẩm quyền như một cơ quan quản lý nhà nước (hiện Ban quản lý An toàn thực phẩm vẫn thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra về An toàn thực phẩm nhưng xử lý vi phạm về An toàn thực phẩm lại cần phải trình lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đó do chưa có quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với Trưởng ban quản lý An toàn thực phẩm tại Luật xử lý vi phạm hành chính).

3.2.5. Tiếp tục sửa đổi quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm an toàn thực phẩm

Cần tăng mức xử phạt vi phạm hành chính về An toàn thực phẩm. Nghị định 178/2013/NĐ-CP của Chính phủ trong thời gian qua thực hiện còn nhiều tồn tại, hạn chế về tính thời sự, về quy định mức xử phạt. Do vậy, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm, đồng thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, Nghị định số 115/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, có hiệu lực từ ngày 20/10/2018 và thay thế Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ra đời. Nghị định quy định: Hình thức xử phạt chính là phạt tiền, không quy định hình thức cảnh cáo, tăng mức phạt tiền các hành vi, mức phạt tiền tối đa đến 07 lần giá trị hàng hóa vi phạm; quy định nhiều hành vi bị xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm, đình chỉ hoạt động có thời hạn, tịch thu tang vật vi phạm; xử phạt bổ sung như buộc thu hồi bản tự công bố sản phẩm, buộc tiêu hủy thực phẩm, buộc thu hồi thực phẩm, buộc chịu mọi chi phí cho việc xử lý ngộ độc thực phẩm, buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật vi phạm trong trường hợp tang vật vi phạm không còn. Nghị định cũng quy định tăng mức phạt tiền ở các hành vi, mức phạt tối đa đến 7 lần giá trị hàng hóa vi phạm (so với mức chỉ 3,5 lần trước kia). Hành vi sử dụng động vật chưa qua kiểm tra vệ sinh thú y theo quy định để sản xuất, chế biến thực phẩm thay vì bị phạt tiền bằng 80-100% tổng giá trị thực phẩm vi phạm thì nay với nghị định mới, mức xử phạt tăng lên 1-2 lần theo giá trị thực phẩm. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Thực tế tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng, số lượng các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thực phẩm nhỏ lẻ rất lớn, đặc biệt là các đối tượng không thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh; ngay cả các doanh nghiệp Việt Nam cũng hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhưng công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm tại các tuyến địa phương, đặc biệt là tuyến xã, thậm chí tuyến huyện còn hạn chế. Ở tuyến xã, hầu hết hình thức xử lý chủ yếu là nhắc nhở, phạt cảnh cáo, rất ít trường hợp xử lý vi phạm hành chính bằng phạt tiền. Nguyên nhân chủ yếu do “tâm lý làng xã”, “cả nể”; bên cạnh đó, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cũng hạn chế. Điều 28, Nghị định 115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ quy định thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong xử lý vi phạm hành chính về An toàn thực phẩm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phạt tối đa 5 triệu đồng đối với cá nhân, 10 triệu đồng đối với tổ chức; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phạt tối đa 50 triệu đồng đối với cá nhân, 100 triệu đồng đối với tổ chức.

Với thẩm quyền xử phạt vi phạm tại cấp xã và cấp huyện thấp như vậy rất khó cho việc triển khai công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra tại các địa phương. Hầu hết các vụ vi phạm tại các tuyến xã đều phải hoàn thiện hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về An toàn thực phẩm. Theo ý kiến tác giả, cần tăng mức thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp lên mức từ 2 đến 3 lần; riêng đối với tuyến xã cần tăng lên mức 5 đến 6 lần để đảm bảo hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn.

3.2.6. Hoàn thiện các quy định của pháp luật khác có liên quan.

Sửa đổi quy định về ghi nhãn thực phẩm: Điều 10 và Phụ lục 1, Nghị định 43/2017/NĐ-CP ngày 14/7/2017 của Chính phủ quy định nội dung bắt buộc phải ghi trên nhãn đối với thực phẩm thông thường: Tên hàng hóa, tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa, xuất xứ hàng hóa, định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, thành phần; thông tin, cảnh báo; hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 27/10/2014 của liên Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương quy định nội dung bắt buộc ghi nhãn đối với thực phẩm thông thường: thành phần cấu tạo; định lượng sản phẩm; ngày sản xuất; thời hạn sử dụng và hướng dẫn bảo quản; hướng dẫn sử dụng; tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về sản phẩm; xuất xứ; số Giấy Tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc Giấy Xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm; các khuyến cáo, cảnh báo an toàn thực phẩm.

Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ đã bỏ quy định về “công bố hợp quy/công bố phù hợp quy định An toàn thực phẩm” và thay bằng “tự công bố/đăng ký bản công bố”. Vì thế, cần bỏ quy định về ghi số giấy Tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc Giấy Xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm.

Quy định cụ thể về quảng cáo đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt; Sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi đặc biệt liên quan tới nội dung: tác dụng bồi bổ cơ thể, hỗ trợ điều trị bệnh,…

3.3. Một số giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

3.3.1. Giải pháp chung

  • Hoàn thiện thể chế, chính sách.

Rà soát, đề xuất cơ chế, chính sách cho người dân và doanh nghiệp liên kết chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn; chính sách đầu tư hạ tầng và hỗ trợ phát triển các mô hình chuỗi giá trị thực phẩm theo hướng sản xuất quy mô lớn gắn với thị trường tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu, từ đó nhân rộng ra khắp cả nước.

Tiếp tục thực hiện chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn như: miễn, giảm tiền sử dụng đất; miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước; hỗ trợ tập trung đất đai; tiếp cận, hỗ trợ tín dụng; Hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường; hỗ trợ đầu tư cơ sở: Bảo quản, chế biến nông sản; giết mổ gia súc, gia cầm; chế tạo thiết bị, linh kiện, máy nông nghiệp; sản xuất sản phẩm phụ trợ; hỗ trợ đầu tư cơ sở giết mổ; hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công và đầu tư kết cấu hạ tầng …

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ, xanh và sạch; khuyến khích đầu tư sản xuất, chế biến thực phẩm với quy mô lớn theo chuỗi sản xuất bảo đảm An toàn thực phẩm; đổi mới công nghệ sản xuất thực phẩm, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư, tham gia xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, kiểm nghiệm và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật bảo đảm An toàn thực phẩm.

Đối với Thành phố Hà Nội, các chính sách có thể kể đến như: chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư nông nghiệp công nghệ cao (đất, thuế, công nghệ,…), chính sách hỗ trợ trực tiếp cho các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm công nghiệp và bán công nghiệp; chính sách hỗ trợ các đơn vị đầu tư dây truyền máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm và công nghệ nằm trong chương trình khuyến công của Sở Công Thương,… hay chương trình “mỗi làng 1 sản phẩm” không chỉ với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà còn áp dụng đối với sản phẩm thực phẩm truyền thống (bánh trưng Tranh Khúc, bánh cuốn Thanh Trì, gà mía Sơn Tây, bánh tẻ Sơn Tây, miến Làng So (Quốc Oai),…) Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Bản thân địa phương với đặc điểm đặc thù và điều kiện riêng của từng địa phường có thể ban hành các chính sách riêng hoặc đề xuất cơ quan Trung ương, cơ quan cấp trên cơ chế đặc thù. Ví dụ, Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên thực hiện thí điểm thành lập Ban quản lý An toàn thực phẩm nhưng với Hà Nội do đặc điểm về chính trị, kinh tế xã hội và dân cư thì hiện nay chưa phải là thời điểm thích hợp để thành lập Ban quản lý An toàn thực phẩm (Hà Nội đã có ý tưởng thành lập Ban quản lý An toàn thực phẩm từ năm 2016 khi Sở Nội vụ đề xuất xây dựng Đề án thành lập Ban quản lý An toàn thực phẩm nhưng đến năm 2018 thì tạm dừng để chờ kết quả thí điểm thành lập Ban quản lý An toàn thực phẩm của Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng).

Hà Nội với đặc điểm là địa bàn rộng, số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm lớn, chủ yếu là nhỏ lẻ và thường xuyên biến động. Vì thế, để tăng cường hiệu quả quản lý An toàn thực phẩm, cần phân cấp mạnh thẩm quyền quản lý cho địa phương. Ví dụ, nên phân cấp thẩm quyền cấp giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm, tiến nhận hồ sơ công bố sản phẩm cho Ủy ban nhân dân cấp huyện; phân cấp thẩm quyền quản lý An toàn thực phẩm theo nguyên tắc cơ quan nào cấp đăng kí kinh doanh thì cơ quan đó quản lý. Đối với cơ sở không có đăng kí kinh doanh thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã.

  • Nâng cao năng lực, trình độ quản lý của các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm
  • Hoàn thiện hệ thống cơ quan quản lý an toàn thực phẩm xuyên suốt từ trung ương tới cơ sở.

Như đã phân tích ở trên, hệ thống cơ quan quản lý An toàn thực phẩm ngành Công Thương từ tuyến Trung ương tới địa phương vừa thiếu, vừa mỏng, chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý. Theo quan điểm của tác giả, việc cần làm trước tiên để nâng cao hiệu quả quản lý An toàn thực phẩm là Chính phủ cần xây dựng hệ thống quản lý An toàn thực phẩm xuyên suốt từ tuyến Trung ương tới cơ sở cho cả 3 ngành: Công Thương, Y tế, Nông nghiệp. Có quy định, cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các ngành và các địa phương trong quản lý An toàn thực phẩm.

Đối với ngành Công Thương, trong quản lý An toàn thực phẩm hiện đang tách khâu sản xuất – kinh doanh và lưu thông: Bộ Công Thương giao thẩm quyền cấp phép cho doanh nghiệp sản xuất cho Vụ khoa học & công nghệ, cấp phép cho doanh nghiệp kinh doanh cho Vụ thị trường trong nước, quản lý trong lưu thông thực phẩm cho Tổng cục Quản lý thị trường; Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh như Hà Nội, sở Công Thương Hà Nội, phòng Quản lý công nghiệp quản lý doanh nghiệp sản xuất thực phẩm, phòng Quản lý thương mại quản lý doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm; còn quản lý trong lưu thông vẫn do Cục Quản lý thị trường Hà Nội. Điều này vô hình chung đã phân tách quá trình quản lý thành những mảng khác nhau do nhiều cơ quan, đơn vị quản lý gây khó khăn cho công tác quản lý An toàn thực phẩm. Đối với tuyến huyện, quản lý An toàn thực phẩm ngành Công Thương được giao cho phòng Kinh tế. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Vì thế, cần xây dựng hệ thống quản lý An toàn thực phẩm xuyên suốt từ tuyến Trung ương tới tuyến cơ sở. Theo đề xuất của tác giả, hệ thống quản lý An toàn thực phẩm ngành Công Thương được xây dựng như sau:

  • Tại tuyến Trung ương (Bộ Công Thương): thành lập Vụ an toàn thực phẩm với chức năng quản lý, tham mưu, đề xuất các chính sách về An toàn thực phẩm cho Bộ Công Thương.
  • Tại tuyến tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương (sở Công Thương): thành lập phòng An toàn thực phẩm với chức năng quản lý, tham mưu, đề xuất các chính sách quản lý An toàn thực phẩm ngành Công Thương cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/Thành phố trực thuộc Trung ương.
  • Tại tuyến huyện: thành lập phòng An toàn thực phẩm thống nhất quản lý An toàn thực phẩm tại địa phương từ 3 ngành Y tế, Nông nghiệp, Công Thương trên địa bàn.

Số lượng cán bộ có thể cân đối trong chỉ tiêu tuyển dụng hàng năm hoặc cán bộ tại chỗ của cơ quan đó đảm bảo không tăng biên chế hoặc tăng hạn chế. Có như vậy mới đảm bảo hiệu quả quản lý An toàn thực phẩm, không gây tăng biên chế và tăng ngân sách nhà nước.

  • Đổi mới, nâng cao trình độ, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý an toàn thực phẩm

Để đáp ứng nhu cầu quản lý và tình hình thực tế công tác An toàn thực phẩm hiện nay thì cán bộ quản lý phải có năng lực, trình độ. Muốn có cán bộ quản lý có năng lực, trình độ đòi hỏi rất nhiều khâu, từ khâu tuyển dụng, lựa chọn, cho tới khâu đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cán bộ. Đồng thời cán bộ đó ngoài trình độ, còn cần phải được “cọ xát” với thực tế để nâng cao hiểu biết cũng như kinh nghiệm, trình độ.

Thứ nhất, tăng cường nguồn lực con người trong công tác bảo đảm An toàn thực phẩm bằng việc phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong sử dụng. Tập trung vào các biện pháp đào tạo, tập huấn về An toàn thực phẩm cho đội ngũ chuyên trách, cán bộ quản lý, thanh tra An toàn thực phẩm của các tuyến; đẩy mạnh công tác đào tạo tại các trường đại học, viện nghiên cứu; đưa nội dung giáo dục An toàn thực phẩm vào cấp học phổ thông. Bên cạnh đó, tăng cường biên chế, bố trí đủ cán bộ tại các bộ phận, các đơn vị theo “Đề án vị trí – việc làm” nhằm tối ưu hóa khả năng quản lý và điều hành các hoạt động bảo đảm An toàn thực phẩm trên phạm vi toàn quốc; ban hành chính sách để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên gia có chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện nhiệm vụ quản lý An toàn thực phẩm.

Đối với địa phương cần tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong việc đảm bảo An toàn thực phẩm trên địa bàn, đặc biệt là kiểm soát các chất phụ gia, các chất cấm, các chất kích thích tăng trưởng trong sản xuất, chế biến, thực phẩm; tiếp tục phát triển các vùng nguyên liệu an toàn, chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn; tăng cường kiểm soát thực phẩm nhập lậu, đặc biệt là các tỉnh biên giới. Đẩy mạnh công tác xây dựng quy hoạch và triển khai thực hiện quy hoạch vùng sản xuất An toàn thực phẩm; cơ sở giết mổ tập trung, chợ đầu mối, đấu giá nông sản.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng, lựa chọn cán bộ quản lý An toàn thực phẩm. Cần đặt ra những tiêu chí, yêu cầu đối với cán bộ quản lý An toàn thực phẩm như: có bằng cấp chuyên môn về An toàn thực phẩm, có kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực thực phẩm,… Từ đó tuyển chọn được những cán bộ quản lý có năng lực, có kinh nghiệm thực tế phục vụ công tác quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần:

Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức Cán bộ công chức trực tiếp tham gia xử lí các vi phạm hành chính và giải quyết thủ tục hành chính: Tăng cường các biện pháp giáo dục cho Cán bộ công chức về tinh thần trách nhiệm, ý thực tận tâm, tận tụy với công việc. Ban hành và thực hiện nghiêm quy chế công vụ, công khai hóa hoạt động xử lí vi phạm hành chính, nâng cao trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật của đội ngũ cán bộ… Đào tạo, bồi dưỡng gắn liền với quy hoạch. Trên cơ sở quy hoạch cán bộ, đề án vị trí – việc làm để xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng.

Thứ tư, cần khuyến khích và tạo điều kiện phát triển cho những Cán bộ công chức luôn giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong, không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ nhân dân.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực phục vụ quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm. Đảm bảo có đủ biên chế cho các cơ quan quản lý về An toàn thực phẩm để hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ đã được giao. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chức danh quản lý về An toàn thực phẩm. Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực về quản lý An toàn thực phẩm trên cơ sở khảo sát, đánh giá, tập hợp nhu cầu đào tạo ngắn hạn và dài hạn đối với từng lĩnh vực và chuyên ngành trong hệ thống từ trung ương đến địa phương.

Thứ sáu, tăng cường đào tạo, tập huấn về An toàn thực phẩm:

Tăng cường biên chế cho đội ngũ chuyên trách An toàn thực phẩm của các tuyến, đủ khả năng quản lý và điều hành các hoạt động bảo đảm An toàn thực phẩm trên phạm vi toàn quốc.

  • Đẩy mạnh công tác đào tạo tại các trường đại học, các viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo có đào tạo chuyên môn về an toàn thực phẩm hệ cao đẳng, đại học. Tổ chức đào tạo lại cán bộ quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm tại các tuyến; từng bước tăng tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, trên đại học.
  • Bồi dưỡng, đào tạo, thu hút nguồn nhân lực có chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện nhiệm vụ quản lý an toàn thực phẩm.
  • Đưa nội dung giáo dục an toàn thực phẩm vào các cấp học phổ thông.
  • Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học: Các viện nghiên cứu, các trường đại học tập trung nghiên cứu xác định, đánh giá và các giải pháp can thiệp nhằm cải thiện tình trạng an toàn thực phẩm.

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nhận thức, ý thức trách nhiệm thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm đối với người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Công tác thông tin, tuyên truyền pháp luật đóng vai trò rất lớn trong thực hiện pháp luật. Công tác tuyên truyền càng tốt thì pháp luật càng nhanh đi vào cuộc sống, hiệu quả thực hiện pháp luật càng cao.

Đẩy mạnh công tác thông tin giáo dục truyền thông, đặc biệt là truyền thông thay đổi hành vi. Phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí, truyền hình đưa tin bài, thông tin về tình hình an toàn thực phẩm, phán ánh những thành tựu đạt được trong công tác quản lý An toàn thực phẩm, các vụ vi phạm về An toàn thực phẩm, nêu dương các cơ sở thực hiện tốt các quy định của pháp luật về An toàn thực phẩm. Thông qua các buổi tọa đàm, nói chuyện, hội nghị,… tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về An toàn thực phẩm, đồng thời kêu gọi mọi người cùng chung tay “vì sức khỏe cộng đồng, vì thực phẩm an toàn”

Công tác thông tin, tuyên truyền về lĩnh vực An toàn thực phẩm cần phải đi trước, phải có lộ trình thực hiện mục tiêu phù hợp làm chuyển biến từ nhận thức đến hành vi xã hội. Nội dung thông tin, tuyên truyền phải sát hợp, thiết thực, tránh chung chung, làm cho mỗi người dân thấy được lợi ích cụ thể đối với bản thân và cộng đồng; tạo động lực thúc đẩy các hoạt động nâng cao chất lượng An toàn thực phẩm; nắm vững chế độ chính sách và pháp luật về lĩnh vực chất lượng An toàn thực phẩm, tạo ra nền tảng cơ bản và động lực thực hiện chính sách của Nhà nước có kết quả cao trong cuộc sống.

Phân công cụ thể trách nhiệm thực hiện công tác thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi cho từng Sở, ngành. Các Sở, Phòng, Ban và đoàn thể có trách nhiệm lập kế hoạch và triển khai các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông cho các nhóm đối tượng đặc thù của ngành mình. Ủy ban nhân dân các cấp tăng cường chỉ đạo, triển khai các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi, chú ý tập trung các khu vực, các địa phương trọng điểm về An toàn thực phẩm. Phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể và các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, cộng đồng dân cư để tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công tác An toàn thực phẩm đến đông đảo quần chúng nhân dân, để người dân không tham gia, không tiếp tay cho buôn lậu, gian lận thương mại và sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn, thực phẩm không an toàn…

Tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền đến từng người tiêu dùng và cơ sở sản xuất kinh doanh như: phát tờ rơi, in băng đĩa, pa nô, áp phích… Tận dụng tối đa hệ thống thông tin, truyền thông sẵn có ở địa phương, xã, phường, thị trấn tổ chức một cách thường xuyên, liên tục; đặc biệt đưa công tác giáo dục truyền thông về An toàn thực phẩm vào các dịp lễ, tết, các sự kiện lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội hàng năm; đặt biệt vào các đợt cao điểm về An toàn thực phẩm như: tháng hành động vì An toàn thực phẩm (tháng 4-5 hàng năm); Tết dương lịch, Tết Nguyên đán và Lễ hội (tháng 12 đến tháng 3 hàng năm), Tết trung thu (tháng 7 đến tháng 9 hàng năm),.. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội, của doanh nghiệp, của nhân dân về An toàn thực phẩm, về các chủ trương, chính sách, pháp luật và những kiến thức cần thiết về An toàn thực phẩm; khơi dậy và phát huy tính trung thực, đạo đức kinh doanh, ý thức trách nhiệm vì cộng đồng của từng doanh nghiệp, từng doanh nhân, từng hộ gia đình và từng người dân để bảo đảm An toàn thực phẩm, nhất là trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội phụ nữ và các tổ chức chính trị-xã hội, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội và hội nghề nghiệp trong công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục về An toàn thực phẩm.

Về công tác truyền thông đối với An toàn thực phẩm cần tiếp tục thực hiện một số các công việc sau:

Một là, xây dựng và phát triển các kỹ năng truyền thông về An toàn thực phẩm cần:

  • Sử dụng cách tiếp cận phù hợp với từng đối tượng cụ thể để tuyên truyền, vận động, chú trọng hình thức truyền thông trực tiếp, truyền thông theo nhóm nhỏ.
  • Đào tạo kiến thức chuyên ngành, nội dung tuyên truyền An toàn thực phẩm cho người tham gia công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục An toàn thực phẩm.

Hai là, đa dạng hóa các loại hình truyền thông: Bản tin, phim tài liệu, phóng sự, các trò chơi, xây dựng các tờ rơi, tờ gấp, poster… xuất bản các ấn phẩm để giáo dục. Sử dụng nhiều kênh tuyên truyền khác nhau như trên đài phát thanh thông qua các bài tuyên truyền, trên đài truyền hình thông qua các phóng sự, phim tài liệu, tin ngắn;

Ba là, cần huy động các kênh truyền thông trực tiếp. Tăng cường truyền thông trực tiếp thông qua đội ngũ cán bộ tuyến cơ sở của các Sở, phòng, ban nhằm đưa các nội dung tuyên truyền vận động bảo đảm chất lượng An toàn thực phẩm tới mỗi nhóm đối tượng khác nhau.

Truyền thông trực tiếp qua các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị -xã hội cần tập trung vào mỗi đối tượng của mỗi đoàn thể và tổ chức nhằm thúc đẩy công tác bảo đảm chất lượng An toàn thực phẩm như: Hội Nông dân; Hội Phụ nữ…

Duy trì tuyên truyền thường xuyên qua báo chí, đài truyền hình, đặc biệt là hệ thống phát thanh xã, phường. Huy động chiến dịch truyền thông trong “Tháng hành động vì chất lượng An toàn thực phẩm” và những dịp cao điểm về An toàn thực phẩm như: Tết dương lịch, Tết Nguyên đán, Tháng hành động vì An toàn thực phẩm.

Thực tế, trong những năm qua, công tác An toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế, nhưng người dân chưa thể hiện vai trò của mình trong vấn đề này. Một thực trạng là người tiêu dùng rất ít khi lên tiếng về hiện tượng mất An toàn thực phẩm. Ngay tại Hà Nội, ba Sở: Y tế, Nông Nghiệp, Công Thương đều xây dựng đường dây nóng phản ánh tình trạng mấy An toàn thực phẩm và luôn có người trực 24/24h trên đường dây nóng. Tuy nhiên, số lượng các vụ việc mất An toàn thực phẩm được tiếp nhận qua đường dây nóng còn hạn chế. Vì vậy, ngoài việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các chế tài đủ mạnh để xử phạt vi phạm về An toàn thực phẩm… thì công tác vận động, tuyên truyền, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp hiểu đúng và thực hành đúng về An toàn thực phẩm rất quan trọng. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Bốn là, cần nâng cao chất lượng và hiệu quả giám sát của nhân dân, báo chí, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực An toàn thực phẩm. Để hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực An toàn thực phẩm được công khai, minh bạch, đảm bảo đúng các quy định của pháp luật thì hoạt động giám sát của quần chúng nhân dân, báo chí là vô cùng quan trọng. Thông qua hoạt động này, các hành vi vi phạm trong việc phát hiện, xử lí của các lực lượng thực thi công vụ được phát hiện, chấn chỉnh, xử lí kịp thời qua đó sẽ loại bỏ những Cán bộ công chức có hành vi tiêu cực, kém về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, không tích cực tu dưỡng, rèn luyện, học tập, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao, tạo điều kiện thu hút được các nhân tài, những người có kinh nghiệm, am hiểu pháp luật vào công tác tại các cơ quan có chức năng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực An toàn thực phẩm.

  • Xã hội hóa công tác quản lý an toàn thực phẩm

Để công tác quản lý nhà nước được hiệu quả, hiện nay có 1 quan điểm quản lý mới đó là “xã hội hóa quản lý”. Tức là, thay vì nhà nước là người duy nhất tham gia quản lý thì thay vào đó, nhà nước sẽ ủy quyền hoặc giao cho 1 tổ chức chính trị – xã hội hoặc huy động cộng đồng, người dân, các tổ chức xã hội, chính trị – xã hội tham gia vào công tác quản lý, giám sát công tác quản lý nhà nước. Đối với công tác quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm cũng vậy, muốn quản lý An toàn thực phẩm đạt hiệu quả cao thì một mình nhà nước tham gia quản lý là không đủ, cần có sự tham gia của người dân, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội cùng “chung tay vì sức khỏe cộng đồng, vì thực phẩm an toàn”.

Chủ trương xã hội hóa chất lượng An toàn thực phẩm đã được thể chế hóa trong Quyết định 20/QĐ-TTg ngày 04/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030. Để thực hiện xã hội hóa lĩnh vực chất lượng An toàn thực phẩm theo yêu cầu chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, làm cho lĩnh vực này đi vào đời sống xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước, cần phải thực hiện tốt các công việc sau:

  • Ban hành chính sách, danh mục và lộ trình xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực quản lý An toàn thực phẩm; hoàn thiện cơ chế quản lý, đánh giá, công nhận các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực quản lý An toàn thực phẩm.
  • Đẩy mạnh xã hội hóa một số khâu dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý an toàn thực phẩm; phát huy vai trò của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức đoàn thể trong việc tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm.
  • Phát triển, khuyến khích các cá nhân, tổ chức tham gia đầu tư, liên doanh, liên kết, chuyển giao công nghệ về kiểm nghiệm An toàn thực phẩm và các tổ chức chứng nhận.
  • Khuyến khích các cơ sở duy trì tốt điều kiện an toàn thực phẩm song song với áp dụng chế độ kiểm tra giám sát chặt chẽ đối với các cơ sở vi phạm. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
  • Tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác bảo đảm an toàn thực phẩm. Xã hội hóa, đa dạng các nguồn lực tài chính và từng bước tăng mức đầu tư cho công tác bảo đảm an toàn thực phẩm.

Nhà nước giao cho các Hội chuyên ngành một số nhiệm vụ cụ thể trong lĩnh vực An toàn thực phẩm; đồng thời khuyến khích việc lập các phòng thí nghiệm tư nhân kiểm tra chất lượng An toàn thực phẩm; có cơ chế phù hợp để các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đầu tư trang thiết bị hiện đại cho các phòng thí nghiệm đáp ứng kịp thời đòi hỏi của công tác kiểm nghiệm.

Xã hội hóa công tác bảo đảm An toàn thực phẩm cần được thúc đẩy mạnh mẽ với việc ban hành chính sách, danh mục và lộ trình xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực quản lý An toàn thực phẩm, hoàn thiện cơ chế quản lý, đánh giá, công nhận các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực quản lý An toàn thực phẩm; tập trung xã hội hóa một số khâu dịch vụ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý An toàn thực phẩm, phát huy vai trò các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, các tổ chức đoàn thể trong việc tham gia bảo đảm An toàn thực phẩm; phát triển, khuyến khích các cá nhân, tổ chức tham gia đầu tư, liên doanh, liên kết, chuyển giao công nghệ về kiểm nghiệm An toàn thực phẩm và các tổ chức chứng nhận về An toàn thực phẩm; khuyến khích, có lộ trình áp dụng quản lý An toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm như GMP, HACCP, GAP, GAHP…

Đối với xét nghiệm sản phẩm thực phẩm: Trước kia, doanh nghiệp phải tới các phòng thí nghiệm thuộc cơ quan quản lý nhà nước có giấy chứng nhận ISO 17025 để kiểm nghiệm sản phẩm thì kết quả kiểm nghiệm đó mới có giá trị pháp lý; Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định doanh nghiệp được lựa chọn đơn vị kiểm nghiệm có chứng nhận ISO 17025, không nhất thiết phải là các đơn vị thuộc quản lý của nhà nước. Hay việc các cơ sở có giấy chứng nhận hệ thống quản lý tiên tiên như ISO 22000, HACCP, GMP,.. thì không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm.

Theo ý kiến riêng của tác giả, khi trình độ quản lý và quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đạt đến trình độ nhất định, cơ quan quản lý nhà nước có thể ủy quyền việc cấp các loại giấy chứng nhận, giấy phép cho đơn vị đủ năng lực thực hiện. Đương nhiên đơn vị đó phải được cơ quan quản lý nhà nước thẩm định và cấp phép. Lúc đó, cơ quan quản lý nhà nước sẽ “bớt đi gánh nặng” tập trung vào nhiệm vụ quản lý, thanh kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội như: Mặt trận tổ quốc và Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,… cùng chung tay tham gia vào công tác quản lý, giám sát các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội đối với công tác quản lý An toàn thực phẩm không khác gì “camera giám sát” của các cơ quan quản lý nhà nước tại cơ sở. Trước mắt, nhà nước cần có cơ chế, chính sách giao cho các tổ chức chính trị, xã hội một số nhiệm vụ cụ thể trong công tác quản lý An toàn thực phẩm, có như vậy mới huy động được lực lượng lớn tham gia vào công tác quản lý An toàn thực phẩm.

Trong quá trình hội nhập cùng với sự cạnh tranh hết sức khốc liệt của nền kinh tế thị trường, chất lượng các hàng hóa nói chung và chất lượng các loại thực phẩm nói riêng, đặc biệt là chất lượng An toàn thực phẩm lại càng có một vai trò hết sức quan trọng và có một ý nghĩa quyết định trong sự tồn vong của một doanh nghiệp, rộng hơn là của cả một nền kinh tế của một quốc gia. Do đó, việc điều hành, phối hợp, quản lý chất lượng ở tầm vĩ mô và vi mô toàn bộ hệ thống dây chuyền sản xuất, chế biến, thương mại, tiêu dùng nông sản, lương thực, thực phẩm theo phương châm “từ trang trại đến bàn ăn” phải được đặt ra và thực thi trong thời gian tới ở nước ta thì mới có hy vọng làm cho các loại nông sản, lương thực, thực phẩm Việt Nam có chất lượng tốt, đặc biệt là chất lượng An toàn thực phẩm, đáp ứng mọi yêu cầu của cộng đồng người tiêu dùng Việt Nam và có sức cạnh tranh, gia tăng giá trị và đứng vững trên thị trường đầy khắc nghiệt của khu vực và thế giới.

  • Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí cho công tác quản lý an toàn thực phẩm

Đây là điều kiện cần thiết để duy trì bộ máy quản lý nhà nước và triển khai các hoạt động trong quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm. Nguồn kinh phí để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ. Cơ chế tài chính phù hợp không những khuyến khích, động viên đội ngũ cán bộ nhiệt tình, hăng say, yên tâm trong công tác từ đó nâng cao hiệu quả quản lý mà còn phát triển và đẩy mạnh các hoạt động chuyên môn như mở rộng hệ thống kiểm nghiệm về An toàn thực phẩm, đầu tư trang thiết bị cần thiết cho hoạt động tuyên truyền, tập huấn, thanh tra, kiểm tra.

  • Một là, tăng cường đầu tư cơ bản và bổ sung cơ sở vật chất kỹ thuật

Đầu tư nâng cấp và mở rộng trụ sở làm việc và phòng kiểm nghiệm của các cơ quan quản lý An toàn thực phẩm từ trung ương đến địa phương đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Nâng cấp hiện đại các phòng kiểm nghiệm hiện có tương đương với hệ thống các phòng kiểm nghiệm của các nước trong khu vực. Trang bị đồng bộ thiết bị kiểm nghiệm các chỉ tiêu chất lượng An toàn thực phẩm cho các phòng kiểm nghiệm địa phương, phòng kiểm nghiệm kiểm chứng quốc gia và khu vực.

Các khoản ngân sách thường được huy động từ các nguồn: kinh phí nhà nước, bao gồm cả kinh phí địa phương đóng góp, kinh phí viện trợ và kinh phí huy động từ các nguồn khác. Tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia An toàn thực phẩm. Khuyến khích các thành phần kinh tế, các đơn vị, cá nhân tham gia đầu tư cho các hoạt động bảo đảm An toàn thực phẩm tuyến tỉnh. Thực hiện vốn đầu tư theo hình thức liên doanh, liên kết và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác như: ODA, vay vốn, viện trợ từ các tổ chức quốc tế, tư nhân, thực hiện liên doanh, liên kết trong đầu tư. Ưu tiên cho các dự án hợp tác quốc tế về hỗ trợ vốn, hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao các công nghệ hiện đại.

Hiện đại hóa phương tiện, thiết bị xét nghiệm để cho kết quả nhanh, chính xác và đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Cho phép tạm ứng và thanh toán từ kinh phí xử phạt vi phạm hành chính để xử lý vi phạm (tiêu hủy thực phẩm không an toàn, thuốc BVTV, thuốc thú y, chế phẩm xử lý, cải tạo môi trường giả, kém chất lượng, không an toàn…).

Hỗ trợ về kỹ thuật, kinh phí cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm áp dụng các mô hình quản lý An toàn thực phẩm tiên tiến như: GMP, HACCP… Phát triển các mô hình đầu tư liên doanh, liên kết, chuyển giao công nghệ với các hãng sản xuất trang thiết bị xét nghiệm có uy tín trên thế giới.

Tăng cường chia sẻ thông tin giữa các phòng kiểm nghiệm quốc gia, khu vực, các phòng kiểm nghiệm quốc tế nhằm phổ biến kinh nghiệm hoạt động xét nghiệm đảm bảo An toàn thực phẩm.

Huy động nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác thuộc nhiều thành phần kinh tế, tổ chức chính trị và các lực lượng xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và công dân tham gia tích cực công tác xã hội hóa lĩnh vực chất lượng An toàn thực phẩm, làm cho công tác này trở thành vấn đề quan tâm của cả xã hội; đồng thời, phải có những chế định về trách nhiệm rõ ràng, có kế hoạch cụ thể cho từng ngành, từng tổ chức xã hội cũng như trách nhiệm của mỗi người dân trong việc thực hiện các quy định của Nhà nước. Để tránh chồng chéo hoặc bỏ trống quá trình thực hiện, cần có cơ quan chuyên trách trong tổ chức điều hành và giám sát thực hiện lĩnh vực này. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

  • Hai là, đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu phân tích nguy cơ và các chương trình giám sát

Đầu tư nghiên cứu và xây dựng chương trình phân tích và kiểm soát rủi ro về An toàn thực phẩm, đảm bảo gắn kết với các chương trình kiểm soát dịch bệnh; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chia sẻ thông tin với các bên tham gia.

Tăng cường áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học, tiến bộ công nghệ thông tin vào công tác quản lý giám sát, theo dõi và đánh giá chương trình bảo đảm An toàn thực phẩm để hoạch định các biện pháp can thiệp có hiệu quả. Tăng cường đầu tư cho các nghiên cứu về thực phẩm, an toàn thực phẩm tại các Viện nghiên cứu, trung tâm khoa học,…

Tiếp tục đầu tư về hạ tầng, trang thiết bị cho các Labo của Trung ương đủ năng lực đóng vai trò là labo kiểm chứng về An toàn thực phẩm. Đầu tư kinh phí nâng cấp một số phòng thí nghiệm để đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, nâng cao năng lực các phòng thí nghiệm phân tích hiện có.

  • Ba là, tiếp tục đầu tư và tăng cường kinh phí cho thanh tra chuyên ngành

Hiện Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cho phép Hà Nội triển khai rộng thí điểm thanh tra chuyên ngành An toàn thực phẩm trên địa bàn 30 quận/huyện/thị xã theo Quyết định số 47/2018 /QĐ-TTg ngày 26/11/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm triển khai thanh tra chuyên ngành An toàn thực phẩm. Điều này hứa hẹn sẽ nâng cao hiệu quả quản lý An toàn thực phẩm đặc biệt tại tuyến xã/phường/thị trấn.

  • Bốn là, đầu tư nghiên cứu khoa học về an toàn thực phẩm

Cần đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ đối với các kỹ thuật mới, hiện đại trong công tác quản lý An toàn thực phẩm, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong đổi mới quy trình trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ sau thu hoạch bao gồm cả bảo quản, sơ chế và chế biến thực phẩm. Từ đó nâng cao chuỗi giá trị thực phẩm, đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm cũng như sức khỏe người dân.

Tăng cường hợp tác quốc tế về An toàn thực phẩm thông qua trao đổi chuyên gia, hỗ trợ kinh phí và trang thiết bị cho công tác An toàn thực phẩm và áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong quản lý, kiểm soát chất lượng An toàn thực phẩm. Xây dựng kế hoạch huy động nguồn kinh phí xã hội hóa, đa dạng các nguồn lực tài chính để từng bước tăng mức đầu tư thực tế, nguồn ổn định tương ứng với yêu cầu của các hoạt động bảo đảm An toàn thực phẩm ở Trung ương và địa phương. Huy động nguồn lực quốc tế từ các Tổ chức phi chính phủ, các nước đầu tư cho công tác An toàn thực phẩm. Hiện nay, Việt Nam vẫn nhận được hỗ trợ quốc tế cho lĩnh vực nông nghiệp trong việc nâng cao giá trị chuỗi sản phẩm nông nghiệp Việt Nam. JICA – Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản đã hỗ trợ tích cực Việt Nam trong xây dựng chuỗi giá trị thực phẩm tại các tỉnh: Sơn La, Lâm Đồng, Nghệ An và 1 số tỉnh khác.

3.3.2. Giải pháp riêng từ thực tiễn quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương Thành phố Hà Nội Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

  • Tăng cường công tác điều tra cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm, thường xuyên rà soát, kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn

Đây là bước đầu tiên, quan trọng để quản lý tốt các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Dữ liệu cơ sở ban đầu về các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm cho ta thấy được số lượng, đặc điểm, phân bố hoạt động và quy mô hoạt động của các cơ sở từ đó có những điều chỉnh hợp lý trong quá trình quản lý An toàn thực phẩm. Và vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã rất lớn trong điều tra dữ liệu ban đầu bởi hầu hết các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, trong đó có 1 số lượng không nhỏ các cơ ở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ở quy mô hộ gia đình không thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh. Các đối tượng này chủ yếu sản xuất và kinh doanh tại nhà, các sản phẩm do họ sản xuất, kinh doanh hầu hết bán trong xã hoặc các xã lân cận. Chúng ta có thể thấy rõ nét nhất là các hộ sản xuất rượu thủ công. Họ chỉ làm rượu để bán cho người thân, bạn bè hoặc phục vụ các đám cưới, đám tiệc, nhưng mục đích chính là dùng bã rượu để phục vụ chăn nuôi gia súc; sản lượng hàng ngày cũng chỉ 20 – 30 lít/ngày.

Thực tế, các hộ sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ không thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh theo quy định nên chủ yếu hoạt động tự phát và thường xuyên biến động. Nếu chúng ta không thường xuyên rà soát, nắm bắt thì rất khó kiểm soát được tình hình an toàn thực phẩm. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần huy động số lượng lớn các điều tra viên An toàn thực phẩm, các cộng tác viên An toàn thực phẩm tham gia vào công tác điều tra, thống kê các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên từng địa bàn. Thông qua hình thức tuyên truyền, phát phiếu điều tra An toàn thực phẩm, tổng hợp kết quả và xây dựng cơ sở dữ liệu về các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên từng địa bàn.

Cũng thông qua công tác rà soát, kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm mà đơn vị quản lý nắm được đặc điểm, tình hình của các cơ sở thuộc địa bàn quản lý. Từ đó, đề ra những chính sách, biện pháp, giải pháp quản lý phù hợp.

  • Cải cách hành chính về an toàn thực phẩm Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Cải cách hành chính là một trong những giải pháp đầu tiên và quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý cũng như hiệu quả thực hiện pháp luật. Muốn cải cách hành chính thì trước tiên phải cải cách thủ tục hành chính – đây là một trong những khâu quan trọng, đánh giá hiệu quả hành chính. Đối với lĩnh vực An toàn thực phẩm có 2 thủ tục hành chính: cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm và cấp giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm.

Đối với cải cách thủ tục hành chính, có 3 giải pháp cải cách thủ tục là cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính và cắt giảm hồ sơ hành chính, cải cách phương thức thực hiện thủ tục hành chính. Cụ thể:

  • Về thời gian giải quyết thủ tục hành chính:

Từ năm 2012 đến nay, Sở Công Thương Hà Nội đã 2 lần cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm từ 27 ngày làm việc xuống còn 22 ngày làm việc (năm 2015); và 20 ngày làm việc (năm 2018). Phấn đấu tới năm 2025 có thể giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính xuống còn 15 ngày làm việc.

Từ năm 2014 đến nay, Sở Công Thương Hà Nội đã cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục cấp giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm từ 13 ngày làm việc xuống 11 ngày làm việc. Phấn đấu tới năm 2025 có thể giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính xuống 7 ngày làm việc.

  • Về hồ sơ hành chính cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm:

Sở Công Thương Hà Nội đã thực hiện phương thức đơn giản hóa hồ sơ hành chính: bỏ giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, bản sao có xác nhận của cơ sở giấy khám sức khỏe và giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm thay vì bản công chứng, danh sách khám sức khỏe thay vì giấy khám sức khỏe.

Kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin, có thể tích hợp việc khai báo và nộp hồ sơ hành chính điện tử, vừa giúp giảm chi phí đi lại, chi phí tuân thủ thực hiện thủ tục hành chính, giảm gánh nặng lưu trữ và quản lý cho cơ quan quản lý nhà nước.

  • Về phương thức thực hiện thủ tục hành chính

Thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm được thực hiện ở mức độ 3, thủ tục cấp giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm được thực hiện ở mức độ 4. Cơ sở có thể thông qua dịch vụ bưu điện để nộp hồ sơ thay vì phải đến Sở Công Thương Hà Nội nộp hồ sơ và kết quả sẽ được trả tận nơi thông qua dịch vụ bưu điện.

Đối với thủ tục cấp giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm có nội dung kiểm tra về kiến thức An toàn thực phẩm. Doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức kiểm tra tại doanh nghiệp, tại Sở Công Thương hoặc tại 1 địa điểm do doanh nghiệp chỉ định. Thời gian kiểm tra có thể được bố trí phù hợp đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp. Tiến tới nếu có thể và điều kiện cho phép có thể xây dựng phần mềm kiểm tra trực tuyến. Tổ chức, cá nhân có thể đăng kí và thực hiện kiểm tra trực tuyến trên cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý. Điều này vừa rút ngắn thời gian, chi phí, thủ tục đơn giản, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục hành chính. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

Tất cả các giải pháp trên nhằm mục đích cuối cùng là tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở thực hiện quy định của pháp luật, tiết kiện chi phí cho doanh nghiệp; nâng cao hiệu quả quản lý An toàn thực phẩm trên địa bàn.

  • Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm

Quản lý An toàn thực phẩm không thể thiếu công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về An toàn thực phẩm. Để các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm hoạt động hiệu quả đúng quy định, đáp ứng yêu cầu mục tiêu quản lý, cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm về An toàn thực phẩm. Thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp thanh tra, kiểm tra; bên cạnh hình thức kiểm tra định kỳ thường xuyên, tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Cần thay đổi quan điểm xử phạt từ “phạt cho tồn tại” sang “phạt để xử lý”, các cơ sở vi phạm nghiêm trọng cần dừng hoạt động, thu hồi giấy phép, thậm chí cấm hoạt động trong ngành nghề thực phẩm nếu hành vi vi phạm nghiêm trọng. Đặc biệt, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm An toàn thực phẩm tại các tuyến xã; đưa chỉ tiêu thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm An toàn thực phẩm vào trong tiêu chí chấm điểm thi đua hàng năm, tiêu chí chấm điểm nông thôn mới,…

Đồng thời, cần tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác thanh tra, kiểm tra An toàn thực phẩm, tránh chồng chéo, trùng lắp trong nội dung, đối tượng thanh tra, kiểm tra; vừa tạo điều kiện cho hoạt động của cơ sở, vừa nâng cao hiệu quả quản lý An toàn thực phẩm.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

Căn cứ vào cơ sở lý luận được xây dựng trong Chương 1, dựa vào những đánh giá và phân tích về thực trạng pháp luật An toàn thực phẩm tại Việt Nam và thực hiện pháp luật về An toàn thực phẩm tại sở Công Thương Hà Nội ở Chương 2, học viên đã tiến hành nghiên xây dựng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về An toàn thực phẩm. Trong chương này, luận văn đã đạt được một số kết quả nghiên cứu chính sau: Thứ nhất, phân tích và đưa ra những yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về An toàn thực phẩm; Thứ hai, luận văn đã đề xuất sáu nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật An toàn thực phẩm và tám nhóm giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật An toàn thực phẩm từ thực tiễn Sở Công Thương Hà Nội.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

An toàn thực phẩm là vấn đề mang tính thời sự cao của mọi quốc gia tại mọi thời điểm trong tiến tình phát triển của lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội. Bảo đảm an toàn thực phẩm là hoạt động mang tính xã hội hoá cao, cần sự tham gia tích cực, có hiệu quả của mọi người dân, doanh nghiệp, người trực tiếp sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm, các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức chính trị – xã hội và của toàn bộ hệ thống chính trị. Một sản phẩm thực phẩm an toàn chỉ được tạo ra bởi 1 quy trình sản xuất được quản lý chặt chẽ từ đầu vào nguyên liệu, quá trình sản xuất cho đến sản phẩm đầu ra và tiêu thụ trên thị trường. Một xã hội được bảo đảm An toàn thực phẩm khi thực phẩm đó là sản phẩm của quy trình quản lý an toàn với đầy đủ hệ thống kiểm soát, quản lý An toàn thực phẩm, giám sát chặt chẽ đến từ các nhà quản lý, nhà sản xuất, nhà kinh doanh thực phẩm và người dân trong xã hội đó.

Quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm đóng một vai trò hết sức quan trọng trong các chính sách điều tiết về kính tế, xã hội và văn hóa của đất nước. Hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước mang tính dẫn dắt, thông qua các văn bản quy phạm pháp lậut, các công cụ, chính sách của nhà nước điều chỉnh mối quan hệ pháp luật về An toàn thực phẩm nhằm định hướng phát triển cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm vì mục tiêu thực phẩm an toàn, vì sức khỏe người dân đồng thời phát triển kinh tế-xã hội đất nước.

Thực trạng an toàn thực phẩm ở Việt Nam nói chung và an toàn thực phẩm ngành Công Thương trên địa bàn Hà Nội nói riêng cho thấy một bức tranh đa màu sắc với những mảng đậm – nhạt đan xen. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được với sự cố gắng, nỗ lực của Thành phố Hà Nội và ngành Công Thương thì vẫn tồn tại những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý an toàn thực phẩm; tình trạng mất an toàn thực phẩm đe dọa sức khỏe, tính mạng người dân ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế và an sinh xã hội.

Với rất nhiều nỗ lực trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động trong lĩnh vực quản lý nhà nước an toàn thực phẩm, nghiên cứu đã trình bày lý luận về pháp luật An toàn thực phẩm, đặc biệt đi sâu phân tích pháp luật An toàn thực phẩm lĩnh vực Công Thương; đánh giá kết quả công tác quản lý An toàn thực phẩm lĩnh vực Công Thương trên địa bàn Hà Nội, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong công tác quản lý An toàn thực phẩm. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về An toàn thực phẩm và hiệu quả thi hành pháp luật An toàn thực phẩm. Có 8 nhóm giải pháp bao gồm: hoàn thiện hệ thống pháp luật An toàn thực phẩm và các quy định liên quan; nâng cao năng lực, trình độ quản lý của cơ quan quản lý An toàn thực phẩm; tăng cường tuyên truyền, giáo dục nhận thức, ý thức trách nhiệm thi hành pháp luật An toàn thực phẩm đối với người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm; xã hội hóa công tác quản lý An toàn thực phẩm; tăng cường công tác điều tra cơ sở dữ liệu về An toàn thực phẩm, thường xuyên rà soát, kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí công tác quản lý An toàn thực phẩm, cải cách hành chính về An toàn thực phẩm và các quy định có liên quan; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm An toàn thực phẩm. Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương

One thought on “Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương

  1. Pingback: Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464