Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài luận văn

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng mà toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang không ngừng phấn đấu thực hiện. Trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thường xuyên quan tâm đến vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước nói chung và của Hội đồng nhân dân nói riêng (HĐND). Quốc hội khóa XIII đã ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015 (thay thế cho Luật Tổ chức Hội đồng nhân và Ủy ban nhân dân năm 2003). Ở nước ta hiện nay, vấn đề cải cách, kiện toàn tổ chức của bộ máy nhà nước nói chung và hệ thông chính quyền địa phương nói riêng trong đó có Hội đồng nhân dân các cấp là yếu tố khách quan và tất yếu.

Quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và hoạt động giám sát là hai chức năng chủ yếu và cơ bản nhất của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Trong hai chức năng đó, giám sát có một vị trí, vai trò rất quan trọng bảo đảm Hội đồng nhân dân thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thực hiện đúng nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện tốt chức năng giám sát là một trong những yêu cầu cơ bản để nâng cao hiệu quả của hoạt động của Hội đồng nhân dân.

Thực trạng kinh tế – xã hội và nâng cao năng lực quản lý của chính quyền địa phương ở tỉnh Quảng Ngãi là những thách thức trong quá trình phát triển của tỉnh. Vấn đề đang đặt ra đối với chính quyền địa phương là phải tạo bước đột phá, giữ vững tốc độ tăng trưởng về mọi mặt, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch kinh tế – xã hội qua từng giai đoạn cụ thể, tạo đà cho sự phát triển cao hơn và bền vững trong nhưng năm tiếp theo. Muốn tạo bước đột phá thì nhiệm vụ của giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi là công việc hết sức nặng nề; giám sát để thúc đẩy, đưa pháp luật vào cuộc sống và góp phần đảm bảo trật tự kỷ cương, đồng thời thông qua đó tạo sự năng động tạo đà cho tỉnh phát triển. Đặc biệt là từ khi Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015 (thay thế cho Luật Tổ chức Hội đồng nhân và Ủy ban nhân dân năm 2003), trong đó cũng quy định rõ: Cấp chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã. Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn; luật có hiệu lực thi hành và đi vào cuộc sống thì công tác giám sát được tiến hành thuận lợi hơn, song hiện nay trên đị bàn tỉnh đang diễn ra nhiều vấn đề phức tạp cần được giải quyết đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách người có công, giáo dục – đào tạo, y tế,…Trước tình trạng như vậy, đòi hỏi cần phải tăng cường công tác quản lý của các cấp, các ngành với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; đặc biệt là vai trò giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm vi phân cấp.

Năm 2015 là năm cuối cùng thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm, giai đoạn 2011 -2016 của tỉnh Quảng Ngãi, cùng với nhiều nguồn lực đầu tư, hỗ trợ để tỉnh phát triển, bên cạnh đó tình trạng sử dụng các nguồn vốn phân tán, đầu tư dàn trải, nợ xây dựng cơ bản lớn, gây lãng phí, thất thoát, hiệu quả thấp, các chính sách xã hội đầu tư chưa đồng đều, tỷ lệ học sinh bỏ học vẫn còn cao, y tế chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa cơ sở vẫn còn rất lạc hậu, một số vấn đề giao thông, tội phạm vẫn còn diễn biến phức tạp. Một trong những nguyên nhân dẫn đến những bất cập này là hoạt động quản lý Nhà nước nói chung và giám sát của Hội đồng nhân dân nói riêng chưa thực sự hiệu quả; theo đánh giá của nhiều nhà khoa học, nhiều báo cáo chính thức, hoạt động của Hội đồng nhân dân vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại, hoạt động còn mang tính hình thức, chưa thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ như luật định; hiệu lực, hiệu quả còn thấp, chưa có thực quyền, hoạt động giám sát chưa đi vào chiều sâu, còn mang tính hình thức chung chung, hiệu quả giám sát chưa cao, chưa chỉ ra được các vấn đề mấu chốt của giám sát, chưa đưa ra giải pháp khắc phục có tính khả thi cao; việc thực hiện kiến nghị của cơ quan giám sát chưa nghiêm khắc; các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát chưa thực sự coi trọng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Từ thực trạng nêu trên cho thấy rằng, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân là nhu cầu cấp thiết trong cơ chế lãnh đạo, quản lý, điều hành của Nhà nước ta hiện nay. Việc đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi có ý nghĩa sâu sắc. Vì vậy, từ những phân tích nêu trên cho thấy nghiên cứu đề tài: “Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn Thạc sĩ luật là cần thiết.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Trải qua gần 70 mươi năm kể từ khi ra đời, vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước ngày càng được khẳng định.

Vấn đề giám sát và nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta đã được đề cập nhiều trên sách báo, tạp chí, có những đề tài, công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này đã có một số công trình tiêu biểu cụ thể như:

  • Nâng cao năng lực giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, luận văn của Thạc sĩ Luật học Vũ Mạnh Thông, Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh 1998.
  • Quyền giám sát của Hội đồng nhân dân và kỹ năng giám sát cơ bản, TS Phạm Ngọc Ký (2001), Nxb Tư pháp, Hà Nội.
  • Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, Nguyễn Quốc Tuấn, Tạp chí Tổ chức Nhà nước 6/2002.
  • Bàn về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân trong điều kiện cải cách bộ máy nhà nước hiện nay, PGS – TS Bùi Xuân Đức, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 12/2003.
  • Tổ chức và hoạt động của các ban của Hội đồng nhân dân, Trương Đắc Linh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2/2003.
  • Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004 -2009, Đinh Ngọc Quang, Tạp chí Nhà nước số 2/2005.
  • Năng lực thực hiện chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương đối với quản lý hành chính nhà nước về đất đai, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Phạm Quang Hưng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2007.
  • Nguyễn Sỹ Tháng “Nâng cao năng lực giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường”, Luận văn thạc sĩ Hành chính công, Học việc Hành chính quốc gia TP. HCM, 2004.
  • TS. Nguyễn tất Viễn “Nhân bầu cử Quốc hội và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, suy nghỉ về vấn đề tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” Tạp chí Tổ chức nhà nước số 3/2011.

Tình hình trên cho thấy việc nghiên cứu hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân tỉnh nói riêng trong những năm qua đã được chú trọng và có bước phát triển đáng kể. Nhìn chung, các đề tài dưới nhiều góc độ khác nhau đã đề cập đến các vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân như chủ thể giám sát, đối tượng giám sát, hình thức giám sát.

Các công trình nêu trên chủ yếu tiếp cận Hội đồng nhân dân từ góc độ tổ chức và hoạt động một cách chung chung, còn về chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân chỉ khai thác ở khía cạnh nâng cao hiệu lực. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã có nhiều vấn đề mới được đặt ra cả về lý luận và thực tiễn, nhưng chưa nhiều các công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và đầy đủ, nhất là ở địa bàn cụ thể ở tỉnh Quảng Ngãi với tính chất là một đề tài độc lập đi sâu nghiên cứu thực tiễn, đánh giá mặt được, mặt chưa được qua đó đưa ra được giải pháp có giá trị, sát thực tiễn nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

3.1. Mục đích nghiên cứu

Phân tích, đánh giá thực trạng, đề xuất những quan điểm và giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi hiện nay.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:

  • Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận về vị trí về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân; làm rõ khái niệm giám sát; phân tích đặc điểm, nội dung và hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh cũng như các yếu tố ảnh hưởng và điều kiển hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh.
  • Làm sáng tỏ thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi hiện nay để tìm ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế.
  • Từ cơ sở trên, đề xuất những quan điểm và giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Về thời gian : Từ năm 2012 đến năm
  • Về không gian: Nghiên cứu hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Trong quá trình nghiên cứu, dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác giám sát của Hội đồng nhân dân.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Có rất nhiều phương pháp nghiên cứu, ở đây tác giả chủ yếu dùng các phương pháp phân tích những tài liệu sẵn có; phương pháp thu thập và xử lý thông tin; phương pháp thống kê, phân tích và xử lý số liệu; phương pháp so sánh, đánh giá; phương pháp quan sát… để nghiên cứu. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng và kế thừa thành quả của một số công trình nghiên cứu, bài viết, báo cáo và các tài liệu liên quan khác.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Qua nghiên cứu đề tài sẽ khái quát những nét cơ bản về nội dung giám sát cũng như đặc điểm giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Làm rõ về mặt lý luận khái niệm giám sát, hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giám sát, các tiêu chí đánh giá hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Quá trình nghiên cứu đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa lý luận cơ bản về công tác giám sát của Hội đồng nhân dân làm cơ sở cho các nghiên cứu về vấn đề này.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả quá trình nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa cho việc nâng cao nhận thức pháp lý trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh trong cả nước nói chung và của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nói riêng; qua đó đưa ra được các giải pháp để tăng cường hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

7. Kết cấu của luận văn Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
  • Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi hiện nay
  • Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi hiện nay.

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH

1.1. Quan niệm về giám sát và hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh

1.1.1. Nhận thức chung về giám sát

  • Khái niệm giám sát

Có rất nhiều định nghĩa giám sát khác nhau được đưa ra tùy theo phạm vi rộng, hẹp của nội dung nghiên cứu cụ thể.

Đại từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, 1998 do Nguyễn Như Ý Chủ biên định nghĩa giám sát là ―theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ‖.

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính của nhà xuất bản Khoa học – xã hội Hà nội năm 1988, thì giám sát là “sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh”. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Có rất nhiều định nghĩa giám sát khác nhau được đưa ra thùy theo phạm vi rộng, hẹp của nội dung nghiên cứu cụ thể.

Theo quan điểm của học thuyết Mác – Lênin, nhà nước mang bản chất giai cấp. Nhà nước chỉ ra đời từ khi xã hội phân chia giai cấp. Giai cấp nào thì nhà nước đó. Do trong xã hội nguyên thủy không có phân chia giai cấp, nên trong xã hội nguyên thủy không có Nhà nước. Cho đến nay, đã có 4 kiểu Nhà nước được hình thành: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước vô sản (Nhà nước xã hội chủ nghĩa). Nhà nước được giai cấp thống trị thành lập để duy trì sự thống trị của giai cấp mình, để làm người đại diện cho giai cấp mình, bảo vệ lợi ích của giai cấp mình. Bản chất nhà nước có hai thuộc tính: tính xã hội và tính giai cấp cùng tồn tại trong một thể thống nhất không thể tách rời và có quan hệ biện chứng với nhau. Tính giai cấp là thuộc tính cơ bản, vốn có của bất kỳ nhà nước nào. Nhà nước ra đời trước hết phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị; tính xã hội của nhà nước thể hiện ở chỗ nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội, và ở mức độ này hay mức độ khác nhà nước thực hiện bảo vệ lợi ích cơ bản, lâu dài của quốc gia dân tộc và công dân mình.

Theo sự phát triển của xã hội, Nhà nước ngày càng phải can thiệp sâu vào nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội và thể hiện rõ là một bộ phận quan trọng trong đời sống xã hội. Để hoàn thành được nhiệm vụ của mình, Nhà nước phải tổ chức ra bộ máy gồm nhiều bộ phận với những cơ cấu khác nhau tạo nên một hệ thống thống nhất các cơ quan nhà nước. Trong bộ máy Nhà nước đó, Nhà nước tổ chức các loại cơ quan khác nhau, có vị trí, vai trò khác nhau tùy thuộc vào từng chế độ Nhà nước. Đối với Nhà nước phong kiến, bộ máy là một cơ cấu thống nhất từ vua đến các thượng thư và quan chức địa phương. Bộ máy nhà nước tư sản gồm các cơ quan Nghị viện (cơ quan lập pháp), Chính phủ (cơ quan hành pháp) và Tòa án (cơ quan tư pháp), trong đó, tùy thuộc vào mức độ phân định các quyền mà vị trí, vai trò của từng cơ quan trên có những khác biệt (mức độ phân quyền). Còn trong chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa thì bộ máy nhà nước lấy nền tảng là các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước (Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp), các cơ quan nhà nước khác như Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân là những cơ quan phái sinh từ cơ quan quyền lực nhà nước, và là những cơ quan phải chịu sự giám sát, chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước.

Ở nước ta, từ khi Cách mạng tháng tám thành công, xây dựng nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân”. Đảng ta cũng khẳng định “bản thân các cơ quan nhà nước không tự có quyền, mà được Nhân dân ủy nhiệm theo thẩm quyền cụ thể do pháp luật quy định. Điều đó cho thấy nguồn gốc, bản chất quyền lực nhà nước là quyền lực Nhân dân “Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua các cơ quan đại diện của mình đó là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp”. “Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước; Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương”.

  • Phân biệt giám sát với kiểm tra và thanh tra Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Trong hoạt động của bộ máy nhà nước ta, để kiểm soát đối với quyền lực nhà nước, có nhiều hình thức khác nhau, trong giám sát, kiểm tra, thanh tra là những hình thức cơ bạn, trong đó:

Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Kiểm tra là khái niệm rộng được vận dụng theo hai hướng. Một là, kiểm tra hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới nhằm xem xét, đánh giá mọi mặt hoạt động của cấp dưới khi cần thiết, hoặc kiểm tra một vấn đề cụ thể, việc thực hiện một quyết định quả lý hành chính nhà nước nào đó; ở đây, hoạt động kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc. Vì vậy, khi thực hiện kiểm tra, cơ quan cấp trên, thủ trưởng cơ quan có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kỷ luật, biện pháp bồi thường thiệt hại vật chất, tinh thần. Hai là, kiểm tra là hoạt động của tổ chức, xã hội đối với hành chính nhà nước. Vì vậy, kiểm tra ở phạm vi này ít mang tính quyền lực nhà nước, mà chỉ áp dụng các biện pháp tác động mang tính xã hội.

Thanh tra là một phạm trù dùng để chỉ hoạt động của các tổ chức thanh tra nhà nước, gồm có thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành (thanh tra bộ, ngành; thanh tra sở). Cơ quan thanh tra và đối tượng bị thanh tra thường không có quan hệ trực thuộc. Tuy nhiên, các cơ quan thanh tra do thủ trưởng các cơ quan hành chính thành lập, do vậy nó hoạt động với tư cách là cơ quan chức năng giúp thủ trưởng cùng cấp. Vì vậy, có thể coi hoạt động thanh tra được cơ quan cấp trên tiến hành trong quan hệ đối với cơ quan trực thuộc. Trong quá trình thanh tra, cơ quan thanh tra có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm công tác thanh tra, kể cả các biện pháp trách nhiệm kỷ luật (tạm đình chỉ công tác…) và xử lý vi phạm hành chính, nhưng không có quyền sửa đổi, bãi bỏ quyết định của đối tượng bị thanh tra mà chỉ có quyền tạm đình chỉ việc thi hành một số loại quyết định quản lý hành chính nhà nước nào đó, trong những trường hợp đặc biệt cần thiết, hoặc đình chỉ hành vi hành chính trái qui định pháp luật.

Từ những phân tích, đánh giá trên có thể nhận thấy giám sát khác với kiểm tra và thanh tra ở nhiều điểm:

  • Giám sát khác với thanh tra

Thanh tra và giám sát có chỗ giống nhau là đều có hoạt động ―xem xét, đánh giá‖ nhưng khác nhau ở chỗ giám sát là sự ―chủ động theo dõi‖ còn thanh tra thường chỉ xem xét khi có dấu hiệu, sự việc vi phạm xảy ra. Hậu quả pháp lý của giám sát chủ yếu là hình thức ―kiến nghị‖ còn thanh tra là áp dụng những biện pháp xử lý cụ thể. Thanh tra được tiến hành bởi chủ thể xác định, có thẩm quyền, với trình tự, thủ tục chặt chẽ theo luật định, là hoạt động đặc thù của hệ thống hành pháp. Còn giám sát được tiến hành bởi nhiều chủ thể và mỗi chủ thể lại có quyền, trách nhiệm khác nhau do địa vị chính trị pháp lý khác nhau qui định.

  • Giám sát khác với kiểm tra Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Kiểm tra là khái niệm bao hàm những thao tác có tính xác định, tính cụ thể rõ hơn. Kiểm tra được thực hiện khi có dấu hiệu hoặc sự việc sai phạm xảy ra là ―xem xét cụ thể công việc‖. Chủ thể và đối tượng kiểm tra có thể cùng hệ thống với nhau (tự kiểm tra, cấp trên kiểm tra cấp dưới). Giám sát khác với kiểm tra ở chỗ: giám sát là hành vi độc lập, từ bên ngoài, còn kiểm tra là hoạt động thường xuyên từ bên trong tổ chức hành pháp.

Có thể nói, giám sát, kiểm tra, thanh tra là những thuật ngữ có nội dung tương đối gần nghĩa dùng để chỉ những hoạt động có phạm vi, tính chất gần nhau, thậm chí có biểu hiện khách quan khá giống nhau (xem xét, đánh giá) nằm trong cơ chế kiểm soát đối với quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, chúng có sự khác nhau về quan hệ pháp lý, chủ thể, đối tượng, phạm vi, phương pháp thực hiện và hậu quả pháp lý.

1.1.2. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân

  • Vị trí, vai trò và chức năng của Hội đồng nhân dân
  • Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân tỉnh

Trong bộ máy nhà nước ở Việt Nam, Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ nhân dân ở địa phương đó. Hội đồng nhân dân có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương theo quy định pháp luật. Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc xây dựng, củng cố và phát triển Hội đồng nhân dân các cấp, đặc biệt là cấp tỉnh. Vì thế, Hội đồng nhân dân tỉnh đã làm được nhiều việc ích nước lợi dân, đã thể hiện được vai trò là cơ quan đại biểu của nhân dân, là chỗ dựa vững chắc để nhân dân xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng ngày càng lớn mạnh. Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh có khả năng đoàn kết tập hợp được quần chúng, thống nhất ý chí và hành động của quần chúng, động viên được mọi nguồn lực vật chất và tinh thần ở mỗi địa phương, góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh còn là cầu nối giữa chính quyền Trung ương với chính quyền địa phương, vừa đảm bảo sự tập trung thống nhất trong hoạt động của bộ máy nhà nước trên phạm vi toàn quốc, vừa đảm bảo phát huy được nội lực ở từng địa phương, cơ sở. Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 ―Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên ‖. Như vậy, Hội đồng nhân dân tỉnh cũng như Hội đồng nhân dân các cấp có hai tính chất cơ bản: ―là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương‖ và ―là cơ quan đại biểu của nhân dân ở địa phương‖. Tính quyền lực nhà nước của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thể hiện ở quyền đơn phương quyết định và quyết định này có tính bắt buộc thực hiện đối với mọi cơ quan, tổ chức có liên quan trên địa bàn quản lý của tỉnh. Nhưng vì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương nên một mặt, những quyết định này chỉ có hiệu lực trong địa bàn quản lý của tỉnh và chỉ giới hạn trong phạm vi thẩm quyền được giao theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, mặt khác những quyết định đó không được trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước ở cấp trên. Chính vì vậy, theo điều 113 Hiến pháp năm 2013 xác định, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh dù là cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp cao nhất trên địa bàn tỉnh, nhưng Hội đồng nhân dân tỉnh cũng phải căn cứ vào Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước ở trung ương. căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế của tỉnh để quyết định các chủ trương, biện pháp quan trọng nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, phát huy tiềm năng của tỉnh, xây dựng và phát triển tỉnh về kinh tế- xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, làm tròn nghĩa vụ của tỉnh đối với cả nước. Các nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh được ban hành trong phạm vi thẩm quyền được giao có tính bắt buộc thực hiện đối với tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Cũng do tính quyền lực nhà nước của Hội đồng nhân dân đã được Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 xác định, nên Hội đồng nhân dân tỉnh còn thực hiện quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật, cũng như giám sát hoạt động công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

Cùng với tính quyền lực nhà nước, Hội đồng nhân dân tỉnh còn là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyên vọng của nhân dân địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra. Theo điều 79 hiến pháp 2013 quy định “HĐND là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương và đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương”.

Tính chất đại diện và tính chất quyền lực của Hội đồng nhân dân có quan hệ biện chứng ràng buộc chạt chẽ với nhau. Tính đại diện là tiền đề bảo đảm để Hội đồng nhân dân trở thành cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Và chỉ có thể là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, Hội đồng nhân dân mới có đủ quyền năng thực hiện được tính chất đại diện cho nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương.

Với vị trí, tính chất đặc biệt của Hội đồng nhân dân được Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định thì Hội đồng nhân dân vừa là một cơ quan trong bộ máy nhà nước, vừa là chủ thể quyền lực, đại diện cho nhân dân địa phương và có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân ở địa phương nhằm phát huy tiềm năng trên mọi mặt đời sống, xã hội của địa phương.

  • Chức năng của Hội đồng nhân dân tỉnh Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Theo Hiến pháp năm 1992(sửa đổi), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và theo quy định của pháp luật hiện hành, Hội đồng nhân dân các cấp đều có hai chức năng cơ bản: chức năng quyết định và chức năng giám sát.

Chức năng quyết định Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 ghi nhận như sau: “HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước”. Để có cơ sở pháp lý cho Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện tốt chức năng này, tại Điều 19 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã xác định cụ thể nội dung những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân bao gồm các lĩnh vực sau đây: Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; xây dựng chính quyền; kinh tế, tài nguyên, môi trường; giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế, lao động và thực hiện chính sách xã hội; dân tộc, tôn giáo; quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Như vậy, nội dung chức năng quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh rất rộng, bao gồm tất cả các mặt của đời sống kinh tế – xã hội, văn hoá, khoa học, quốc phòng, an ninh. Điều này một lần nữa khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò và tầm quan trọng của Hội đồng nhân dân trong chính quyền địa phương. Mặt khác, đây cũng là căn cứ pháp lý để tạo ra môi trường thuận lợi cho chính quyền địa phương khai thác hết mọi tiềm năng, thế mạnh, nội lực sẵn có của mình, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ với cử tri và cấp trên.

Chức năng giám sát Giám sát là một trong hai chức năng cơ bản của Hội đồng nhân dân, có mối quan hệ và tác động qua lại với chức năng quyết định của Hội đồng nhân dân. Thực hiện đúng và có hiệu quả chức năng quyết định, Hội đồng nhân dân phải có được đầy đủ những thông tin về tình hình kinh tế xã – hội của địa phương, về thực tế thực hiện Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, về việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân trước đó đã ban hành nếu thiếu thông tin, Hội đồng nhân dân không thể quyết định được những chủ trương, biện pháp phù hợp và đáp ứng nhu cầu mà xã hội đòi hỏi. Để có được những thông tin như thế thì một kênh rất quan trọng cần thiết là hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân. Vì vậy, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được xem như một khâu không thể thiếu của quá trình ban hành các quyết định của Hội đồng nhân dân.

Theo Điều 19 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và văn bản của Hội đồng nhân dân huyện Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Hội đồng nhân dân giám sát thông qua các hoạt động sau đây:

  • Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân cùng cấp;
  • Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HDND cùng cấp;
  • Thành lập Đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết;
  • Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu.

Như vậy, giống như thiết chế của một số nhà nước khác trên thế giới, trong bộ máy nhà nước ta, Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do Nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân ở địa phương đó; Hội đồng nhân dân có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương theo quy định của pháp luật. Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc xây dựng củng cố và phát triển Hội đồng nhân dân. Vì thế, Hội đồng nhân dân đã làm được nhiều việc có lợi cho nước, cho dân, đã thể hiện được vai trò là cơ quan đại biểu của Nhân dân, là chỗ dựa vững chắc để Nhân dân xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng ngày càng lớn mạnh.

Song hiện nay chúng ta lại chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của từng cấp và tổng kết kinh nghiệm trong hoạt động của Hội đồng nhân dân; vì thế trên thực tế cả về mặt tổ chức cũng như hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp vẫn còn là một trong những khâu yếu kém của bộ máy nhà nước. Vì vậy có ý kiến cho rằng: cần bỏ Hội đồng nhân dân, hay nói cách khác sự tồn tại của Hội đồng nhân dân không cần thiết vì hoạt động của nó rất hình thức, làm cho bộ máy nhà nước thêm cồng kềnh, tốn kém. Như vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải tăng cường củng cố, kiện toàn Hội đồng nhân dân, để Hội đồng nhân dân hoạt động thực chất hơn và ngày càng có hiệu lực, hiệu quả tương xứng với vị trí, vai trò của HĐND như các bản Hiến pháp trước đó và Hiến pháp 2013 đã khẳng định.

Vị trí, vai trò quan trọng của Hội đồng nhân dân trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta được khẳng định dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây: Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

HĐND các cấp trong suốt quá trình tồn tại và phát triển đã khẳng định được vị trí, vai trò, trách nhiệm của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đại diện cho Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân có khả năng đoàn kết tập hợp được quần chúng, thống nhất ý chí và hành động của các tầng lớp Nhân dân, động viên được mọi nguồn lực vật chất và tinh thần của mỗi địa phương góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng của nước ta.

Sự hiện diện của Hội đồng nhân dân các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng có vai trò to lớn trong việc hình thành nhà nước kiểu mới ở nước ta, thể hiện được tính giai cấp sâu sắc, tính chất Nhân dân thực sự của nhà nước, tạo niềm tin vững chắc cho Nhân dân về một chính quyền do Nhân dân quyết định.

HĐND các cấp với tư cách là người đại diện về quyền làm chủ Nhân dân. Những người đủ năng lực, phẩm chất trong Nhân dân sẽ tham gia vào Hội đồng nhân dân và thông qua các đại biểu của Nhân dân, Hội đồng nhân dân trở thành diễn đàn để người dân thực hiện quyền làm chủ Nhà nước và xã hội của mình. Thực tiễn hoạt động của Hội đồng nhân dân từ khi ra đời đến nay thực sự là tài sản và kinh nghiệm quý giá cho quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

HĐND là cầu nối giữa chính quyền Trung ương và cấp trên với chính quyền địa phương, cơ sở vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất trong hoạt động của bộ máy nhà nước trên phạm vi toàn quốc, vừa đảm bảo phát huy được nội lực từng địa phương. Thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân, bằng quyền dân chủ trực tiếp của mình, Nhân dân thực hiện được quyền làm chủ trên phạm vi cả nước và trước hết làm chủ ở ngay địa phương, cơ sở họ đang sinh sống.

Trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đó, Điều 113 Hiến pháp 2013 và Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đều xác định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” (Hp, tr.66). Hiến pháp cũng quy định thẩm quyền rộng rãi của Hội đồng nhân dân đảm bảo cho nó thật sự là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm và toàn quyền quyết định những vấn đề trọng đại ở địa phương trong khuôn khổ quy định của Hiến pháp và pháp luật. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách; về quốc phòng an ninh ở địa phương, về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của Nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho.

Từ những quy định của Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, có thể khái quát vị trí, vai trò, bản chất pháp lý của Hội đồng nhân dân được thể hiện ở hai phương diện cơ bản là tính đại diện và tính quyền lực.

  • Thứ nhất: Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện của Nhân dân địa phương.

Ở địa phương, Hội đồng nhân dân là cơ quan duy nhất được thành lập bằng một cuộc bầu cử do cử tri địa phương trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân chủ yếu thông qua kỳ họp toàn thể. Mọi quyết định của Hội đồng nhân dân được thông qua bằng việc biểu quyết theo nguyên tắc đa số. Tính chất đại diện của Hội đồng nhân dân về mặt hình thức được thể hiện rõ nét nhất ở vấn đề cơ cấu đại biểu trong Hội đồng. Mỗi Hội đồng nhân dân có một số lượng đại biểu nhất định đại diện cho nữ giới, người dân tộc, tôn giáo, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân và cơ quan nhà nước khác tại địa phương. Điều này có nghĩa HĐND không đại diện cho một đảng phái, tổ chức nào mà đại diện cho toàn thể Nhân dân; thành phần trong Hội đồng nhân dân thể hiện khối đại đoàn kết của toàn dân sống trong phạm vi một địa phương. Tuy nhiên, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, cách thành lập Hội đồng nhân dân, cơ cấu thành phần đại biểu, hình thức tổ chức hoạt động mới chỉ là dấu hiệu về mặt hình thức, còn hiệu quả hoạt động trong thực tế là cơ sở phản ánh đầy đủ nhất tính chất đại diện của Hội đồng nhân dân. Điều đáng quan tâm hiện nay là hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và lòng mong đợi của Nhân dân, vì thế nó chỉ mới phản ảnh và xác nhận được phần nào bản chất dân chủ của chế độ Nhà nước ta.

Thứ hai: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương thể hiện trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền.

  • Có quyền căn cứ vào pháp luật để bầu, miễn nhiệm, bãi miễn các chức danh của Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của mình; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp cũng như có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Hội đồng nhân dân bầu ra.
  • Có quyền căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật ra Nghị quyết để triển khai các mặt công tác ở địa phương.
  • Có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương…

Như vậy, tính chất quyền lực của Hội đồng nhân dân được thể hiện trên nhiều phương diện, là cơ quan quyền lực nhà nước có quyền ban hành nghị quyết để quyết định nhiều vấn đề quan trọng ở địa phương.

Từ những vấn đề nêu trên, có thể hiểu: Giám sát là sự theo dõi, quan sát, kiểm tra hoạt động của chủ thể có quyền đối với chủ thể khác để biết được đối tượng bị giám sát có thực thi đúng, đủ theo quy định hay không và quy định đối với hành vi giám sát phải và được làm có phù hợp với điều kiện thực tiễn hay không và làm rõ được nguyên nhân của sự vi phạm, sự không phù hợp này. Vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào nào để Hội đồng nhân dân thực hiện được quyền lực của mình trên thực tiễn là mục đích hướng tới của công cuộc đổi mới và hoàn thiện bộ máy nhà nước nói chung và Hội đồng nhân dân các cấp nói riêng.)

  • Khái niệm và đặc điểm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
  • Khái niệm Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Luật Giám sát của Quốc hội năm 2003 đã giải thích rõ tại khoản 1, điều 2 về giám sát của Quốc hội, nhưng đối với giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung, Hội đồng nhân dân tỉnh nói riêng trong các văn bản pháp luật hiện hành chưa có điều khoản nào giải thích cụ thể về hoạt động này mặc dù Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 cũng đã dành hẳn chương III (từ điều 57 đến điều 81) quy định những vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân.

Ngày 20/11/2015, Quốc hội khoá XIII đã ban hành Luật Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân nhằm cụ thể hoá hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp mà trước đó chỉ có Luật giám sát của Quốc hội. Trên cơ sở đó hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân sẽ được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm: Giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp; giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân; giám sát của các ban Hội đồng nhân dân và giám sát của Tổ đại biểu, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Từ các khái niệm chung về giám sát trên, căn cứ đối tượng giám sát của Hội đồng nhân dân, có thể hiểu khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh như sau:

Giám sát là việc Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, xã theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân đóng trên địa bàn trong việc tuân theo: Hiến pháp và pháp luật.

Từ khái niệm về giám sát và trên cơ sở những mối tương đồng giữa Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và Hội đồng nhân dân – cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, có thể hiểu như sau:

Giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh là việc theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan ở địa phương trong việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân Ủy ban nhân dân, Toàn án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương theo quy định của pháp luật.

  • Đặc điểm Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Với quan niệm này, giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh có một số đặc điểm sau đây:

Trước hết, giám sát là một chức năng luật định, tức là gắn với quyền hạn và là trách nhiệm của Hội đồng nhân dân. Chức năng này được bảo đảm bởi một số hình thức hoạt động và công cụ đặc thù, cách làm đặc thù của Hội đồng nhân dân. Nói tới vai trò giám sát là nói tới vị thế của Hội đồng nhân dân với tư cách tổ chức và đại biểu Hội đồng nhân dân với tư cách cá nhân trong thực hiện chức trách theo quy định của pháp luật.

Mục đích của giám sát là nhằm bảo đảm việc thi hành các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân ở địa phương được nghiêm túc, có chất lượng, hiệu quả; giám sát để khẳng định những kết quả đạt được, đồng thời phát hiện những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, từ đó kiến nghị, đề xuất, quyết định các biện pháp, giải pháp thực hiện tốt hơn.

Chủ thể thực hiện quyền giám sát gồm giám sát của tập thể Hội đồng nhân dân tại kỳ họp; giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân; giám sát của các ban của Hội đồng nhân dân và giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh.

Tại Điều 5 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đã thể hiện rõ thẩm quyền giám sát của Hội đồng nhân dân như sau:

Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp;

Thường trực Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Hội đồng nhân dân cấp dưới; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp; giúp Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của Hội đồng nhân dân; Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Ban của Hội đồng nhân dân giúp Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Ban phụ trách;

Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp hoặc về vấn đề do Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân phân công;

Đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh,…của công dân ở địa phương.

Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân tiến hành giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương.

Đối tượng thuộc quyền giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp nói chung, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nói riêng bao gồm nhiều loại khác nhau gồm: giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương. Tuy nhiên, ở phạm vi của đề tài này, tác giả chỉ mới tập trung đi sâu vào nghiên cứu đối tượng thuộc quyền giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh là Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh.

Nguyên tắc giám sát là bảo đảm công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo qui định của pháp luật và không làm cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.

Hình thức giám sát gồm xem xét báo cáo công tác của các đối tượng thuộc quyền giám sát; xem xét việc trả lời chất vấn của những đối tượng này; xem xét việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp; tổ chức các đoàn giám sát; bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Hội đồng nhân dân bầu; thông qua việc tiếp dân và theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, yêu cầu của công dân gửi đến Hội đồng nhân dân; tiếp xúc cử tri. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Các chế tài của giám sát đó là Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp chấm dứt hành vi vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của các đối tượng giám sát có hành vi vi phạm; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp nếu các văn bản đó trái pháp luật, gây thiệt hại về KT-XH, ảnh hưởng an ninh, quốc phòng; bãi nhiệm, miễn nhiệm, đối với các chức danh do Hội đồng nhân dân bầu; ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn; quyết định giải tán Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp.

Sau giám sát, các chủ thể sẽ báo cáo về hoạt động giám sát của mình trước cử tri địa phương, trước các cơ quan liên quan bằng văn bản trực tiếp hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng và hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân. Các chủ thể giám sát sẽ chịu trách nhiệm về báo cáo, nghị quyết, kết luận, yêu cầu và kiến nghị sau giám sát của mình.

  • Hình thức, phương thức giám sát của Hội đồng nhân dân

Trước hết, giám sát là một chức năng được thực hiện theo luật định, tức là gắn với quyền hạn và là trách nhiệm của Hội đồng nhân dân. Chức năng này được bảo đảm bởi một số hình thức hoạt động và công cụ đặc thù, cách làm đặc thù của Hội đồng nhân dân. Nói tới vai trò giám sát là nói tới vị thế của Hội đồng nhân dân với tư cách tổ chức và đại biểu Hội đồng nhân dân với tư cách cá nhân trong thực hiện chức trách theo quy định của pháp luật.

Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp;

Giám sát của Hội đồng nhân dân gồm xem xét báo cáo công tác của các đối tượng thuộc quyền giám sát; xem xét việc trả lời chất vấn của những đối tượng này; xem xét việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp; tổ chức các đoàn giám sát; bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Hội đồng nhân dân bầu; thông qua việc tiếp dân và theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến Hội đồng nhân dân, tiếp xúc cử tri. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

  • Vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
  • Đảm bảo cho Hội đồng nhân dân thật sự là cơ quan đại diện của nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương. Ở địa phương, Hội đồng nhân dân là cơ quan duy nhất được thành lập bằng một cuộc bầu cử do cử tri địa phương trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, bỏ phiếu kín. Hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân chủ yếu thông qua kỳ họp toàn thể. Mọi quyết định của Hội đồng được thông qua bằng việc biểu quyết theo nguyên tắc đa số tương đối hoặc đa số tuyệt đối. Tính chất đại diện của Hội đồng nhân dân về mặt hình thức được thể hiện rõ nét nhất ở vấn đề cơ cấu đại biểu trong Hội đồng nhân dân. Mỗi Hội đồng nhân dân có một số lượng đại biểu nhất định đại diện cho nữ giới, người dân tộc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân và các cơ quan nhà nước khác đóng tại địa phương. Điều này có nghĩa, Hội đồng nhân dân đại diện cho toàn thể nhân dân; thành phần trong Hội đồng nhân dân thể hiện khối đại đoàn kết của toàn dân sống trên địa phương. Hội đồng nhân dân là cơ quan chỉ đại diện cho nhân dân địa phương bầu ra mình, đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương đó và cơ quan nhà nước cấp trên.

  • Bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật được tuân thủ thống nhất, nghiêm chỉnh trên phạm vi địa phương và bảo đảm việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 quy định: Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương. Cụ thể, Hội đồng nhân dân tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện các quyết định của Hội đồng nhân dân trong phạm vi địa phương. Các quyết định của Hội đồng nhân dân đều được thể hiện dưới hình thức nghị quyết. Vì thế, chức năng này được triển khai trên các mặt công tác: tuyên truyền, phổ biến nghị quyết trong nhân dân qua hoạt động của đại biểu, Tổ đại biểu và các cơ quan chức năng thuộc Ủy ban nhân dân; Thường trực Hội đồng nhân dân chỉ đạo, đôn đốc Ủy ban nhân dân triển khai thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân, trong đó có việc ban hành các văn bản cụ thể hóa đề ra các biện pháp thực hiện. Hội đồng nhân dân giám sát việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của các cơ quan chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cùng cấp, thông qua việc xem xét các báo cáo của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Toàn án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, thông qua hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân trong kỳ họp và giữa hai kỳ họp nhất là qua chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân.

Chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân bao giờ cũng gắn liền với chức năng quyết định những vấn đề cơ bản về kinh tế, xã hội của Hội đồng nhân dân. Thực hiện tốt chức năng này không những cho phép Hội đồng nhân dân kiểm tra, đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân mà còn cho phép Hội đồng nhân dân phát hiện được sự không phù hợp, thiếu thực tế của các Nghị quyết do Hội đồng nhân dân ban hành để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ. Kết quả giám sát sẽ là căn cứ để Hội đồng nhân dân thực hiện quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức vụ chủ chốt hoặc sẽ là căn cứ để Hội đồng nhân dân bãi bỏ những quyết định sai trái của Ủy ban nhân dân cùng cấp, những nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp. Như vậy, Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, vị trí, vai trò và chức năng của Hội đồng nhân dân rất lớn. Vấn đề đặt ra hiện nay là chúng ta phải làm thế nào để Hội đồng nhân dân thể hiện và phát huy tốt vị trí, vai trò và chức năng trên thực tế; đảm bảo sự phối hợp, hợp tác với nhau nhằm mang lại cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc cho nhân dân địa phương. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân nói riêng và của bộ máy nhà nước ở địa phương nói chung; Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên.

Như vậy, cùng với chịu trách nhiệm trước nhân dân thì Hội đồng nhân dân tỉnh phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Chính phủ, bộ, ngành trung ương về việc bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cấp trên; điều này sẽ bảo đảm cho sự tập trung thống nhất trong hoạt động của bộ máy nhà nước trên phạm vi toàn quốc. Mặt khác Hội đồng nhân dân tỉnh là cấp bảo đảm các điều kiện để quyết định và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, bảo đảm phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đời sống của nhân dân trên phạm vi toàn tỉnh. Xét ở cấp độ địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan hoạch định, quyết định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trên cơ sở cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Trung ương cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh có vai trò quan trọng trong việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung.

1.2. Nội dung hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

1.2.1. Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh

Việc xem xét, thảo luận, đánh giá các báo cáo của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Viện KSND và Toàn án nhân dân tại các kỳ họp là hoạt động giám sát quan trọng, trực tiếp của Hội đồng nhân dân được các đại biểu đặc biệt quan tâm. Hoạt động này tập trung chủ yếu tại các kỳ họp thường lệ, hoặc kỳ họp chuyên đề quyết định các nội dung quan trọng khác. Tại kỳ họp cuối năm, Hội đồng nhân dân xem xét, thảo luận báo công tác hàng năm của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Toàn án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp. Tại kỳ họp giữa năm, các cơ quan này gửi báo cáo công tác đến đại biểu Hội đồng nhân dân; khi cần thiết, Hội đồng nhân dân có thể xem xét, thảo luận. Tại kỳ họp cuối nhiệm kỳ, Hội đồng nhân dân xem xét, thảo luận báo cáo công tác cả nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Toàn án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp. Hội đồng nhân dân có thể yêu cầu báo cáo về những vấn đề khác khi xét thấy cần thiết. Riêng đối với báo cáo của Ủy ban nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Toàn án nhân dân phải được các Ban của Hội đồng nhân dân thẩm tra theo sự phân công của Thường trực Hội đồng nhân dân.

Việc xem xét, thảo luận các báo cáo phải đảm bảo đúng các trình tự: Người đứng đầu các cơ quan bị giám sát trình bày báo cáo trước Thường trực; Trưởng ban Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trình bày báo cáo thẩm tra; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thảo luận; người đứng đầu cơ quan trình báo cáo có thể trình bày, giải trình thêm những vấn đề có liên quan mà Hội đồng nhân dân quan tâm; Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về báo cáo công tác khi xét thấy cần thiết. Việc xem xét báo cáo buộc chủ thể bị giám sát phải báo cáo về công việc của mình là một hình thức giám sát quan trọng. Trên cơ sở đó Hội đồng nhân dân có thể kiểm soát tình hình thực thi Hiến pháp, pháp luật và các văn bản pháp luật cũng như nghị quyết của Hội đồng nhân dân trong thực tiễn đời sống xã hội, tăng cường trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu Ủy ban nhân dân và các ban ngành về công tác của họ trước Hội đồng nhân dân.

Để hoạt động xem xét báo cáo của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Viện KSND và Toàn án nhân dân một cách khoa học, ngoài việc thực hiện đúng quy trình xây dựng báo cáo, công tác thẩm tra các báo cáo phải được Thường trực Hội đồng nhân dân phân công cho các Ban của Hội đồng nhân dân thực hiện một cách tích cực khoa học. Các Ban phải tiến hành làm việc với các cơ quan chuẩn bị báo cáo, đi khảo sát nắm tình hình cơ sở, tiếp xúc cử tri, tổ chức đoàn giám sát, họp Ban và thông qua báo cáo thẩm tra tại kỳ họp nhằm cung cấp cho các đại biểu Hội đồng nhân dân cơ sở pháp lý, tính thực tiễn, những nhận định đánh giá khách quan, tính khả thi làm cơ sở để các đại biểu Hội đồng nhân dân nghiên cứu, thảo luận và xem xét các báo cáo. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Tại kỳ họp, Hội đồng nhân dân phải thảo luận tại hội trường hoặc qua các tổ đại biểu; đại biểu quan tâm vấn đề nào hơn thì ưu tiên thảo luận vấn đề đó; một đại biểu có thể tham gia thảo luận nhiều nội dung. Những vấn đề mà các đại biểu quan tâm hoặc có ý kiến khác nhau thì chủ toạ kỳ họp đưa ra thảo luận, lấy biểu quyết riêng trước khi biểu quyết chung thông qua nghị quyết.

1.2.2. Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên của Ủy ban nhân dân, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh

Chất vấn là hoạt động giám sát quan trọng đặc biệt, thể hiện quyền lực của cơ quan dân cử ở địa phương. Tại kỳ họp, chất vấn là nội dung thu hút được sự quan tâm của đông đảo nhân dân. Thông qua chất vấn, các đại biểu thể hiện trách nhiệm của mình đối với cử tri. Đồng thời, qua việc trả lời chất vấn, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng.

Dưới góc độ thực hiện chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân, quyền chất vấn được xem là một trong những hình thức giám sát quan trọng nhất, thể hiện năng lực, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của người đại biểu Hội đồng nhân dân. Để thực hiện quyền chất vấn, đòi hỏi người đại biểu phải có một quá trình theo dõi, xem xét, tiếp xúc, nghe phản ánh từ nhân dân, phải có quá trình thu thập thông tin, số liệu, chứng cứ, phải nắm vững và hiểu biết về pháp luật, hiểu được phạm vi, chức năng, nhiệm vụ đối tượng mà mình chất vấn.

Thực chất hoạt động chất vấn là việc đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đưa ra các câu hỏi chất vấn cho các đối tượng bị chất vấn, nội dung của câu hỏi này thường xoay quanh các vấn đề nóng bỏng mà nhân dân địa phương quan tâm thuộc lĩnh vực quản lý trực tiếp hoặc có liên quan đến đối tượng bị chất vấn.

Theo quy định của pháp luật, đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân tỉnh, Chánh án Toàn án nhân dân tỉnh, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh và Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh tại kỳ họp.

Việc trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể của Hội đồng nhân dân được thực hiện theo trình tự: Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ về các nội dung mà đại biểu Hội đồng nhân dân đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục. Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể nêu câu hỏi liên quan đến nội dung đã chất vấn. Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu đại biểu Hội đồng nhân dân không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó hoặc đưa ra thảo luận tại phiên họp khác hoặc kiến nghị Hội đồng nhân dân xem xét trách nhiệm của người bị chất vấn. Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết.

1.2.3. Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, pháp luật Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Đây là hình thức Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh và nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện. Nếu Hội đồng nhân dân tỉnh phát hiện thấy những văn bản này có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc Hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện thì Hội đồng nhân dân sẽ xem xét, quyết định việc bãi bỏ văn bản đó.

Việc quy định thẩm quyền xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh như hiện nay, một mặt giảm bớt được gánh nặng công việc cho Quốc Hội, mặt khác góp phần bảo đảm tính thống nhất cao của pháp luật. Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, nắm vững tình hình của địa phương về mọi mặt, đảm nhiệm công việc này sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn.

Việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện phải đảm bảo trình tự như sau:

Đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân trình văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;

Hội đồng nhân dân thảo luận. Trong quá trình thảo luận, người đứng đầu cơ quan đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật có thể trình bày bổ sung những vấn đề có liên quan;

Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về việc văn bản quy phạm pháp luật không trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.

Có thể nói, hoạt động xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có vai trò rất quan trọng. Thông qua hoạt động này mới loại bỏ được những văn bản pháp luật sai trái, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

1.2.4. Thành lập đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết

Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, xét thấy khi cần thiết phải xác minh, làm rõ, hoặc muốn biết một số thông tin cụ thể trong quá trình hoạt động của các đối tượng chịu giám sát thì Hội đồng nhân dân thành lập Đoàn giám sát.

Hàng năm, căn cứ vào chương trình giám sát đề ra hoặc theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban Hội đồng nhân dân hoặc của đại biểu Hội đồng nhân dân; Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định thành lập Đoàn giám sát. Khác với hoạt động thanh tra, kiểm tra, những nội dung hoạt động của Đoàn giám sát bao giờ cũng được thông báo trước cho đối tượng bị giám sát trong thời gian chậm nhất là 7 ngày trước khi Đoàn giám sát bắt đầu các hoạt động giám sát. Trong quá trình làm việc với đối tượng bị giám sát, Đoàn giám sát có quyền xem xét, xác minh tất cả những vấn đề mà Đoàn xét thấy cần thiết; có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát; đồng thời giải trình tất cả những vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

Bỏ phiếu tín nhiệm với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết  số 35/2012/QH13 ngày 22/4/2012 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 35/2012/QH13 thể hiện sự quyết tâm của Đảng của cả hệ thống chính trị và cũng là một bước cụ thể hóa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay‖ và các quy định hiện hành của Hiến pháp, pháp luật; tạo cơ sở pháp lý để Quốc hội, Hội đồng nhân dân thực hiện giám sát chặt chẽ, thường xuyên hơn đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân được bầu hoặc phê chuẩn; trên cơ sở đó, nâng cao hơn nữa trách nhiệm của những người này trước Quốc hội, Hội đồng nhân dân và nhân dân cả nước; đáp ứng nhu cầu quản lý, sử dụng cán bộ, về bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Thời gian tổ chức việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm được Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp tiến hành định kỳ hàng năm kể từ năm thứ hai của nhiệm kỳ; riêng đối với nhiệm kỳ 2011-2016 thì việc lấy phiếu tín nhiệm lần đầu được tiến hành ngay từ kỳ họp thường kỳ đầu tiên năm 2013.

Thực hiện cơ chế giám sát những người có chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu phải trở thành chế độ thường xuyên vì đó là cơ sở khách quan để góp phần khắc phục tệ quan liêu, xa dân của đội ngũ cán bộ có chức, có quyền. Mục tiêu của việc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Hội đồng nhân dân bầu nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các đại biểu Hội đồng nhân dân thay mặt cử tri đánh giá, thể hiện sự tín nhiệm của mình đối với người do Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, qua đó, tăng cường trách nhiệm của những người này trước Hội đồng nhân dân nói riêng và cử tri trong tỉnh nói chung. Kết quả của việc lấy phiếu tín nhiệm sẽ góp phần tham mưu cho Đảng, Nhà nước đánh giá chính xác, hiệu quả hơn năng lực trình độ của người giữ chức vụ quyền hạn, kịp thời đưa ra khỏi hàng ngũ những người không đủ đức, đủ tài, kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp.

Vì vậy, việc lấy phiếu tín nhiệm hàng năm tại kỳ họp Hội đồng nhân dân rất cần có sự lãnh đạo tập trung, xuyên suốt của cấp ủy Đảng; sự thống nhất trong tổ chức thực hiện của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Bên cạnh đó, Uỷ ban MTTQ và các tổ chức đoàn thể cần phải nêu cao vai trò giám sát, phản biện xã hội để cung cấp thông tin nhiều hơn về quá trình công tác, đạo lức, lối sống của người được lấy phiếu tín nhiệm. Hội đồng nhân dân cần quy định chế độ các đại biểu giữ các chức vụ, quyền hạn do Hội đồng nhân dân bầu, định kỳ tiếp xúc cử tri tại nơi cư trú và định kỳ lấy ý kiến đóng góp của cử tri tại cơ quan và nơi cư trú.

1.3. Các yêu cầu và các yếu tố bảo đảm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

1.3.1. Các yêu cầu đối với hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh

Để hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh được thực hiện một cách đồng bộ, đúng với vị thế và trách nhiệm của cơ quan dân cử, cần đảm bảo các yêu cầu sau đây:

Thứ nhất, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục với một chương trình, kế hoạch hợp lý và không cản trở hoạt động bình thường của đối tượng chịu sự giám sát.

Để có cơ sở thực tế và căn cứ khoa học cho Hội đồng nhân dân tỉnh đưa ra các nhận xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị hoặc ra nghị quyết đối với hoạt động của các đối tượng chịu giám sát, thì hoạt động giám sát phải được tiến hành một cách khoa học và phải tôn trọng sự thật khách quan. Giám sát phải được tiến hành theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, có nghĩa hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh phải được tiến hành theo những quy trình và quy định do luật định. Đây là cơ sở pháp lý đảm bảo cho hoạt động giám sát tiến hành một cách khách quan và thống nhất, tránh được tình trạng tùy tiện trong hoạt động giám sát.

Thứ hai, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật và phải đảm bảo tôn trọng sự thật khách quan. Để có cơ sở thực tế và căn cứ khoa học cho Hội đồng nhân dân đưa ra các nhận xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị hoặc ra nghị quyết đối với hoạt động của các đối tượng chịu giám sát, thì hoạt động giám sát phải được tiến hành một cách khoa học và phải tôn trọng sự thật khách quan. Giám sát phải được tiến hành theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý đảm bảo cho hoạt động giám sát tiến hành một cách khách quan và thống nhất, tránh được tình trạng tùy tiện trong hoạt động giám sát.

Thứ ba, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh phải đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng chịu sự giám sát phải được phát hiện chính xác và kịp thời

Thông qua hoạt động giám sát, Hội đồng nhân dân tỉnh kịp thời phát hiện những nhân tố mới để khẳng định, đồng thời phát hiện những yếu kém, trì trệ trong tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh để kịp thời chấn chỉnh, áp dụng các biện pháp pháp lý cần thiết thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật, khắc phục sự yếu kém, trì trệ, cũng như những vi phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh và những người có liên quan. Ví dụ: thông qua hoạt động giám sát, Hội đồng nhân dân có quyền bãi bỏ các văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp trái pháp luật, trái nghị quyết Hội đồng nhân dân nhằm bảo đảm trật tự pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và nhân dân ở địa phương. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, trong nhiều trường hợp, góp phần quan trọng vào việc đấu tranh chống tham nhũng, chống những biểu hiện của thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền của những cán bộ, công chức, kịp thời loại ra khỏi các cơ quan công quyền ở địa phương những cán bộ, công chức thoái hoá, biến chất này để lấy lại niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước, đối với chính quyền.

Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân còn bảo đảm và tạo điều kiện Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện tốt nguyên tắc pháp chế và tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương, nhằm xây dựng và phát triển địa phương về mọi mặt, ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở địa phương, làm tròn nhiệm vụ của địa phương.

Thứ tư, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh phải mang lại hiệu quả thực tế Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân phải đem lại những kết quả cụ thể và thiết thực. Hoạt động giám sát tại kỳ họp và giữa hai kỳ họp cần phải được tiến hành một cách khoa học, đúng theo quy định của pháp luật. Thông qua hoạt động giám sát Hội đồng nhân dân phát hiện kịp thời những tồn tại, hạn chế cụ thể của các đối tượng chịu sự giám sát để từ đó đưa ra các kiến nghị phù hợp nhằm khắc phục được những tồn tại, hạn chế và đưa ra các giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của các cơ quan này. Hiệu quả của hoạt động giám sát còn thể hiện ở chỗ, thông qua giám sát Hội đồng nhân dân nắm bắt được tình hình thực tế diễn ra tại địa phương để từ đó ban hành nghị quyết có tính khả thi cao.

Thứ năm, đảm bảo sự phối hợp hợp lý với hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội nhằm tránh sự mâu thuẫn, chồng chéo.

Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh là một mắt khâu quan trọng trong cơ chế giám sát. Cơ chế đó bao gồm hệ thống các yếu tố tác động qua lại với nhau từ giám sát tối cao của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, giám sát của Mặt trận Tổ quốc, giám sát của nhân dân… đến hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát, thanh tra của các cơ quan ban ngành. Mỗi chủ thể có một nhiệm vụ giám sát khác nhau nhưng tất cả đều có chung mục đích bảo đảm tăng cường pháp chế, giữ vững trật tự xã hội và bảo vệ pháp luật nhà nước. Do vậy, Hội đồng nhân dân tỉnh cần chú trọng phối hợp với các chủ thể giám sát khác, với các cấp các ngành cũng như các chuyên gia để tránh sự chồng chéo và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giám sát. Theo đó, cần tăng cường mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp tỉnh với các cơ quan, tổ chức  – Tăng cường mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với Tỉnh ủy và các Ban của Tỉnh ủy Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Một trong những nguyên nhân làm Hội đồng nhân dân tỉnh ít sử dụng các biện pháp pháp lý là do sự chi phối của Đảng đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh, trong đó có hoạt động giám sát. Do đó, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng ở địa phương đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh nhưng phải theo đúng nguyên tắc mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

  • Tăng cường mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận

MTTQVN và các thành viên của Mặt trận (Liên đoàn lao động, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân…) cũng như các tổ chức đoàn thể khác của nhân dân ở tỉnh là hình thức tập hợp đông đảo nhất sự tham gia của nhân dân trên địa bàn tỉnh, thu thập và phản ánh các ý kiến, kiến nghị, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân ở địa phương.

Chính vì vậy, Hội đồng nhân dân tỉnh cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với MTTQ và các tổ chức xã hội ở địa bàn tỉnh để dựa vào “tai mắt” của nhân dân kiểm tra, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật, nhất là công cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong chính bộ máy chính quyền tỉnh.

Ngoài ra cần tăng cường mối liên hệ của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bằng cách phối hợp với MTTQ dự họp với chính quyền trong các buổi tiếp công dân tại đơn vị mình ứng cử, cùng tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị qua đó thực hiện quyền giám sát, đôn đốc của đại biểu theo Luật định. Hội đồng nhân dân tỉnh cần thường xuyên giám sát hiện tượng “thương mại hóa” trong lĩnh vực báo chí khi phản ánh những vấn đề của xã hội nói chung cũng như lĩnh vực giám sát nói riêng bằng cách xét báo cáo của Sở Văn hóa-Thông tin, Ủy ban nhân dân tỉnh và yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Văn hóa-Thông tin phải có biện pháp chỉ đạo, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật trong lĩnh vực báo chí.

Tăng cường phối hợp với các cơ quan ban ngành liên quan nhằm cung cấp thêm thông tin cho giám sát. Ví dụ: Thường trực Hội đồng nhân dân và các Ban của Hội đồng phải tham gia đầy đủ các cuộc họp của Ủy ban nhân dân; yêu cầu các sở, ban, ngành nhất là cơ quan Tư pháp, các cơ quan chuyên môn tổng hợp như Sở Kế hoạch đầu tư, tài chính, ngân hàng, kho bạc… phải cung cấp đầy đủ thông tin hoạt động hàng quý, hàng tháng cho Hội đồng. Có như thế, cùng với nguồn thông tin khác nhau (do nhân dân phản ánh, qua phương tiện thông tin đại chúng,…) Hội đồng nhân dân mới có đủ căn cứ xác định các đối tượng và nội dung cần tập trung giám sát.

Tăng cường phối hợp với các đoàn giám sát của Quốc hội. Khi có đoàn đại biểu Quốc hội xuống địa phương giám sát, Thường trực, các ban của Hội đồng nhân dân có thể kết hợp thực hiện nhiệm vụ của mình. Như vậy, vừa tránh được chồng chéo, vừa tranh thủ được trí tuệ của các đại biểu Quốc hội trong việc tháo gỡ những vướng mắc cho địa phương, đồng thời giảm bớt việc gây phiền hà cho các đơn vị bị giám sát.

Tăng cường phối hợp với các đơn vị được giám sát để tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cũng như các nội dung, hiện trường phục vụ giám sát. Khi báo cáo yêu cầu các đơn vị phải quán triệt quan điểm khách quan, trình bày đúng thực trạng hoạt động của cơ quan đơn vị mình. Mặt khác, Hội đồng nhân dân phải chỉ rõ cho các đơn vị thấy rằng: giám sát là để ngăn chặn tồn tại, giúp nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ, đó là động lực để phát triển chứ không phải gây cản trở, phiền hà cho nhau hay vạch lá tìm sâu.

1.3.2. Các yếu tố bảo đảm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

  • Yếu tố chính trị

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Điều đó đã được khẳng định trong suốt chặng đường lịch sử đấu tranh cách mạng, giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Đối với Hội đồng nhân dân các cấp, Đảng lãnh đạo thông qua đường lối, chủ trương chính sách chung của Đảng trong việc xây dựng hệ thống chính quyền nhà nước ở địa phương; thông qua sự chỉ đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân. Như vậy hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân không chỉ phụ thuộc vào chủ chương, đường lối của Đảng nói chung mà còn phụ thuộc nhiều vào sự quan tâm và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của từng cấp ủy Đảng ở địa phương.

Dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân được quy định trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, cấp uỷ Đảng ở địa phương lãnh đạo Hội đồng nhân dân thông qua việc đề ra các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương, làm căn cứ cho Hội đồng nhân dân cụ thể hoá bằng Nghị quyết; thông qua hoạt động của Đảng đoàn trong Hội đồng nhân dân và thông qua các đảng viên là đại biểu Hội đồng nhân dân.

Đối với hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh, sự lãnh đạo của Đảng chính là yếu tố quan trọng đầu tiên quyết định chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động này. Mọi hoạt động giám sát đều phải căn cứ vào quan điểm chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, từ việc xây dựng nghị quyết về chương trình giám sát hàng năm của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân đến việc tổ chức kỳ họp… đều phải xin ý kiến của cấp uỷ Đảng. Trước và sau cuộc giám sát, những vấn đề nổi lên, liên quan đến cơ chế, chính sách, đến cán bộ lãnh đạo đều được tổng hợp, báo cáo tranh thủ ý kiến của cấp uỷ Đảng để có phương án xử lý đúng đắn. Đảm bảo Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân được chấp hành có hiệu quả; nâng cao trách nhiệm của đại biểu trước nhân dân, trách nhiệm của cán bộ công chức, của các cấp, các ngành trước yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

Do việc lựa chọn nội dung giám sát có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác giám sát, chính vì vậy trước khi quyết định nội dung giám sát cụ thể phải tổ chức thảo luận, thống nhất trong tập thể Đảng đoàn Hội đồng nhân dân và báo cáo xin ý kiến của Ban thường vụ hoặc Thường trực Tỉnh uỷ. Trong quá trình giám sát của Hội đồng nhân dân phải thường xuyên có sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ với cơ quan kiểm tra, nội chính của cấp uỷ để trao đổi, cung cấp thông tin có liên quan đến nội dung giám sát. Việc kết luận và kiến nghị các biện pháp xử lý qua giám sát của Hội đồng nhân dân về nguyên tắc phải đảm bảo tính thực tiễn khách quan, đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

Hoạt động giám sát nhằm đảm bảo cho các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân được thực hiện nghiêm túc, chấn chỉnh những sai phạm hoặc phát hiện, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Vì vậy, cấp uỷ Đảng cần phải đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để Hội đồng nhân dân thực hiện tốt quyền giám sát của mình. Đảm bảo giám sát có trọng tâm, trọng điểm, đảm bảo chất lượng của các kết luận, kiến nghị. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Để Hội đồng nhân dân thực hiện tốt chức năng giám sát thì cần phải có sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên Đảng lãnh đạo như thế nào là vấn đề cần xem xét. Các cấp uỷ Đảng chỉ nên thực hiện lãnh đạo Hội đồng nhân dân dựa trên những định hướng và kiểm tra việc thực hiện đường hướng đó. Sự bao biện, làm thay của cấp uỷ Đảng đối với Hội đồng nhân dân sẽ là nguyên nhân biến cơ quan dân cử thành công cụ thực hiện thiếu sức sống, chỉ còn mang tính hình thức, chung chung.

  • Yếu tố pháp lý

Các quy định pháp luật về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân có vai trò tạo cơ sở pháp lý cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện quyền năng giám sát của mình.

Đây là yếu tố quan trọng tác động rất lớn đến hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân, bởi các quy định của pháp luật về giám sát là cơ sở pháp lý cho Hội đồng nhân dân thực hiện quyền năng của mình. Quốc hội khoá XIII đã ban hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân thể hiện rõ những quy định cụ thể về thủ tục, trách nhiệm, quyền hạn,… của các đối tượng liên quan đến hoạt động giám sát, đồng thời việc ghi nhận chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân trong Hiến pháp đã thể hiện yêu cầu, nhiệm vụ và tầm quan trọng của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân. Điều này đã được chứng minh trong thực tiễn phát triển của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Các văn bản nói trên đã cụ thể, chi tiết hoá chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân nên trong thời gian vừa qua đã đem lại nhiều kết quả tích cực, đáng khích lệ.

Vậy, để nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân thì đòi hỏi quan trọng nhất là phải ban hành đủ các văn bản pháp luật trong lĩnh vực giám sát cho Hội đồng nhân dân tỉnh nói riêng và toàn bộ hoạt động của Hội đồng nhân dân nói chung.

  • Yếu tố tổ chức, bộ máy và nguồn nhân lực

Muốn đảm bảo hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh đòi hỏi phải có một bộ máy đủ khả năng thực hiện một cách tốt nhất chức năng giám sát. Bất kỳ cơ quan nào nếu có một tổ chức hợp lý và đồng bộ sẽ tạo nên guồng máy làm việc nhịp nhàng, hiệu quả công việc sẽ cao hơn. Hội đồng nhân dân là cơ quan mang tính chất đại diện ở địa phương, để thực hiện tốt chức năng của mình, đặc biệt là chức năng giám sát, đòi hỏi Hội đồng nhân dân phải có một bộ máy làm việc năng lực đủ mạnh và năng động, phải đảm bảo số lượng đại biểu chuyên trách trong Thường trực, trong các Ban để tránh tình trạng công việc bị ùn tắc, hoạt động mang tính hình thức, thiếu hiệu quả, đồng thời phải đặc biệt quan tâm đến bộ phận giúp việc cho Thường trực và các Ban, có như vậy mới đảm đương được công việc giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Bên cạnh đó, nguồn lực con người có tính quyết định. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Cán bộ là gốc, mọi việc tốt hay xấu đều do cán bộ mà ra. Hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh phụ thuộc trước hết vào phẩm chất, năng lực, trách nhiệm thực hiện chức năng giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương, là cầu nối quan trọng giữa chính quyền Nhà nước với nhân dân, vì thế họ vừa chịu trách nhiệm trước cử tri vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

Với vị trí vai trò đặc biệt quan trọng như vậy, đòi hỏi người đại biểu nhân dân phải là những người có phẩm chất, năng lực, trình độ và tinh thần trách nhiệm cao. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Theo quy định của pháp luật, đại biểu Hội đồng nhân dân phải là người trung thành với Tổ quốc, người tiêu biểu trong nhân dân, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới làm cho dân giàu nước mạnh, có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có trình độ hiểu biết và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân, tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, được nhân dân tín nhiệm. Như vậy ngoài phẩm chất đạo đức tốt đại biểu Hội đồng nhân dân phải có trình độ hiểu biết và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân; tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương. Trình độ hiểu biết và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu thể hiện ở trình độ chuyên môn được đào tạo, sự am hiểu chủ chương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thể hiện ở kết quả làm nhiệm vụ. Còn trách nhiệm đại biểu thể hiện ở việc tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp Hội đồng nhân dân; tích cực thảo luận và biểu quyết những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân; liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân.

Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân, pháp luật hiện hành đã giao một quyền năng pháp lý gắn với tư cách người đại biểu để thực hiện hoạt động giám sát đó là quyền chất vấn. Đây là hình thức giám sát khá chặt chẽ của đại biểu Hội đồng nhân dân đối với Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Thể hiện được tinh thần làm chủ, đấu tranh cao của người đại biểu nhân dân nhằm thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Một đại biểu có năng lực, trình độ, trách nhiệm sẽ lựa chọn được những vấn đề, nội dung cần chất vấn. Đặc biệt là lựa chọn được những vấn đề có tính bức xúc, nổi cộm tại địa phương, đề nghị giải trình, làm rõ biện pháp xử lý mà không nể nang, né tránh, ngại va chạm.

  • Yếu tố kinh tế

Khi nói tới hiệu quả của bất kỳ hoạt động nào nói chung và giám sát nói riêng đòi hỏi phải tính đến mức đầu tư, chi phí hợp lý, tối ưu. Vì thế, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh cần phải đầu tư chi phí và điều kiện vật chất cho hoạt động giám sát.

Một là, tăng cường đầu tư chi phí cho hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân theo yêu cầu của từng nội dung hoạt động. Nếu có đầu tư thoả đáng sẽ góp phần tích cực nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng. Chẳng hạn có những địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng cao rất khó khăn, công việc giám sát chủ yếu lại diễn ra ở cơ sở cho nên cần có chế độ kinh phí bồi dưỡng cho cán bộ trực tiếp xuống giám sát, tạo điều kiện thuận lợi cho đoàn giám sát trong thời gian làm việc tại cơ sở… Đối với các chức danh kiêm nhiệm của Hội đồng nhân dân nên có quy định được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm để họ nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình.

Hai là, đầu tư chi phí cho hoạt động giám sát phải tối ưu nghĩa là chỉ đủ mức cần thiết và triệt để tiết kiệm, chống lãng phí. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta cứ đầu tư chi phí thì khi đó và ở đó, công tác giám sát có hiệu quả. Ngược lại, nhiều khi chỉ với mức kinh phí hạn hẹp, nhưng nếu tổ chức thực hiện tốt, tìm ra những hình thức phương pháp thích hợp, cũng có thể đưa lại hiệu quả cao.

Hơn nữa, trong hoạt động giám sát chúng ta có thực hiện chương trình giám sát đến cùng hay không. Nếu cuộc giám sát đưa lại kết quả tốt không những góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế của địa phương mà còn có tác dụng to lớn trong việc chấn chỉnh các vấn đề chính trị – xã hội.

Tiểu kết Chương 1 Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

Để có căn cứ đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, chương 1 luận văn đã hệ thống hoá, phân tích khái quát làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Từ nhận thức chung về giám sát và sự khác biệt giữa giám sát với kiểm tra, thanh tra; trên cơ sở vị trí, vai trò cũng như chức năng của Hội đồng nhân dân tỉnh theo quy định của pháp luật, đã tập trung phân tích, làm rõ quan niệm về giám sát và hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh; trong đó đi sâu làm rõ khái niệm.

Giám sát là một trong những chức năng của Hội đồng nhân dân. Thực tiễn hoạt động của Hội đồng nhân dân trong những năm qua cho thấy, Hội đồng nhân dân đã có nhiều cố gắng để tăng cường công tác giám sát việc thi hành Hiến Pháp, Luật và các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Tuy nhiên, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân vẫn chưa thường xuyên, hiệu quả giám sát còn hạn chế, một số kiến nghị của Hội đồng nhân dân chưa được các cơ quan hữu quan thực hiện nghiêm túc và kịp thời.

Giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh đảm bảo cho việc quyết định các nhiệm vụ trọng yếu của Hội đồng nhân dân sát đúng với thực tế, theo đúng mục tiêu, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thông qua giám sát, kịp thời điều chỉnh các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội đã được Hội đồng nhân dân quyết định phù hợp với thực tế địa phương. Luận văn: Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Ngãi.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng giám sát của HĐNH tỉnh Quảng Ngãi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464