Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hợp đồng song vụ xác lập nghĩa vụ giữa các bên, bởi vậy khi có nghĩa vụ bị vi phạm, bên có quyền tương ứng có thể áp dụng các chế tài được pháp luật cho phép để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, còn gọi là các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ. Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có một chế định riêng về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng. Các chế tài được quy định rải rác trong các chế định về thực hiện hợp đồng, về sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, trong các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong các hợp đồng thông dụng. Các quy định hiện tại còn chưa làm rõ được nội dung, căn cứ, cơ sở áp dụng, hậu quả pháp lý dẫn đến nhiều cách hiểu, cách áp dụng không thống nhất. Khi vụ việc được giải quyết tại Tòa án thì việc chấp thuận yêu cầu của đương sự về việc áp dụng chế tài bị phụ thuộc vào ý chí, quan điểm của thẩm phán, không đảm bảo nguyên tắc pháp chế, không đảm bảo tối đa sự công bằng, quyền lợi chính đáng của bên bị vi phạm. Việc không có chế định quy định rõ ràng về chế tài đối với vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng là một trong các khiếm khuyết lớn của BLDS 2005, trong khi về mảng pháp luật chuyên ngành, LTM 2005 đã có được một chương riêng về chế tài đối với vi phạm hợp đồng từ Điều 292 đến Điều 316.
Các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ là một trong các nội dung cần được làm rõ để có đầy đủ cơ sở để sử dụng, áp dụng đúng và có hiệu quả, làm rõ được các hạn chế cần khắc phục, đặc biệt trong bối cảnh chuẩn bị cơ chế hướng dẫn thi hành BLDS 2015 mới được thông qua sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2017. Ngoài ra, trong giới khoa học pháp lý, đến nay vẫn chưa có những công trình khoa học chuyên sâu về vấn đề này. Do đó, việc nghiên cứu về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam là vô cùng cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam, hiện nay có một số công trình khoa học sau: Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Luật văn thạc sỹ năm 2006 của tác giả Vũ Tiến Vinh tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam”. Công trình này đã có đề cập đến vấn đề các chế tài khi xác định trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng song vụ, tuy nhiên chưa đi sâu, phân tích và hệ thống hóa các chế tài đối với vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng. Luận văn này mới chỉ tập trung làm rõ các vấn đề chung về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự. Một Luận văn thạc sĩ khác của tác giả Lê Văn Minh thực hiện năm 2013 tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán”. Luận văn này mới dừng lại ở việc làm rõ riêng vấn đề trách nhiệm pháp lý đối với một loại hợp đồng song vụ là hợp đồng mua bán. Công trình này cũng chỉ tập trung làm rõ trách nhiệm dân sự, chưa làm rõ và hệ thống hóa lý luận pháp lý về các chế tài đối với hợp đồng mua bán. Cũng cần phải kể đến đề tài nghiên cứu “Chế tài thương mại trong Luật thương mại Việt Nam 2005” vào năm 2012 là Luật văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Đăng Duy tại Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý đối với các chế tài thương mại trong LTM năm 2005, cũng có các kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên, đề tài này mới để cập đến các chế tài thương mại, trong phạm vi LTM 2005, tập trung vào hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng dịch vụ trong hoạt động thương mại, chưa bao quát làm rõ được các chế tài do vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng. Ngoài ra, vấn đề trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng cũng có được đề cập trong các bài viết, các công trình khoa học khác về vấn đề trách nhiệm dân sự trong các hợp đồng cụ thể. Một số bài viết, sách chuyên khảo cần kể đến như: bài viết của Ts. Phan Thị Thanh Thủy năm 2014 về đề tài “So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980” đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN (Tập 30, (3 (2014)), tr.50 – 60); sách chuyên khảo của Ts. Nguyễn Ngọc Khánh do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2007 mang tên Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam; Giáo trình Luật Hợp đồng – Phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học) của PGS.TS. Ngô Huy Cương được Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2013,…
Như vậy, đến nay chưa có một công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu và tổng thể, hệ thống hóa được cơ sở lý luận, pháp lý, thực tiễn áp dụng và định hướng hoàn thiện chế định riêng về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam. Với tính mới, tính cấp thiết đã đề cập, tác giả nhận thấy nên và cần lựa chọn đề tài “Các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam” để viết Luận văn thạc sĩ trong giai đoạn hiện nay.
3. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà Luận văn đặt ra, tác giả sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin, được vận dụng vào lý giải các vấn đề lý luận và pháp lý về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam. Việc nghiên cứu trước hết làm rõ các vấn đề lý luận, từ đó phân tích làm rõ luật thực định và việc thực thi pháp luật để hệ thống hóa, đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật về vấn đề các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê, …vv. Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành còn được sử dụng gồm: phương pháp phân loại pháp lý, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp mô hình hóa và điển hình hóa, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp trừu tượng hóa, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích quy phạm.
4. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
Mục đích và nghiệm vụ của Luận văn gồm: làm rõ và hệ thống hóa cơ sở lý luận về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ; phân tích làm rõ thực trạng quy định về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam; trên cơ sở đó, đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật Việt Nam về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong dân sự (theo BLDS) trong sự phân tích và so sánh cùng với chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong thương mại (theo LTM).
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn gồm: cơ sở lý luận về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ ở Việt Nam và so sánh với các nước trên thế giới; thực trạng quy định về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong pháp luật Việt Nam; những vấn đề pháp lý tiếp tục cần đặt ra và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
6. Kết cấu của Luận văn Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu gồm 03 Chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam
- Chương 3: Những vấn đề pháp lý tiếp tục cần đặt ra về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Chương 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI ĐỐI VỚI VI PHẠM HỢP ĐỒNG SONG VỤ
1.1 Khái niệm chế tài đối với vi phạm hơp đồng song vụ
1.1.1 Hợp đồng song vụ và vi phạm hợp đồng song vụ
1.1.1.1. Hợp đồng song vụ
Trong thực tiễn, đa số các hợp đồng được thiết lập trên cơ sở các bên thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ đối với nhau để cùng thực hiện nhằm đạt được những mục đích nhất định. Theo loại hợp đồng này, mỗi bên có các nghĩa vụ nhất định, đồng thời có các quyền tương ứng. Sau khi thực hiện hợp đồng, mỗi bên sẽ đạt được những lợi ích mong muốn về tinh thần hay vật chất nào đó. Ví dụ, trong hợp đồng mua bán nói chung, người mua được quyền sở hữu món đồ mua khi được bên bán thực hiện nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu, bên bán được nhận tiền bán hàng khi bên mua thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Khác với loại hợp đồng này, loại hợp đồng khác mà chỉ có một bên của hợp đồng có nghĩa vụ, bên kia chỉ hưởng quyển, ví dự như hợp đồng tặng cho, hợp đồng cho vay,… Dựa trên tiêu chí về tương quan và mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng, đa số các học thuyết pháp lý, trong pháp luật thực định của đa số các quốc gia đều thừa nhận thống nhất một trong các cách phân loại hợp đồng thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ, tương ứng với các loại đã đề cập trên. Trong tiếng Anh, với sự thừa nhận rộng rãi về cách phân loại này, hợp đồng song vụ được dịch là “Bilateral Contract”, hợp đồng đơn vụ được dịch là “Unilateral Contract”.
Ngay từ thời La Mã, việc phân loại hợp đồng thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ cũng đã được ghi nhận và vận dụng. Trong cuốn Giáo trình Luật Hợp đồng – Phần chung (dùng cho đào tạo sau đại học) của PGS.TS Ngô Huy Cương cũng đề cập:
“Đó là các loại hợp đồng thông dụng theo quan niệm của Luật La Mã (luật nghiêm minh), theo đó hợp đồng đơn phương chỉ làm phát sinh nghĩa vụ đối với một bên trong hợp đồng (điển hình là hợp đồng vay mượn), cho nên gắn với nó là tố quyền condictio – tố quyền đòi lại đồ vật từ con nợ. Ngược lại hợp đồng song phương làm phát sinh đối với hiệu lực của cả hai bên đối ước, tức họ có quyền và nghĩa vụ đối với nhau …”[04, tr190].
Hợp đồng đơn phương và hợp đồng song phương vừa trích dẫn được hiểu là một cách gọi khác tương ứng của hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ. Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Trong pháp luật Việt Nam, nhà làm luật cũng sử dụng cách phân loại này. Trong BLDS 2005, Điều 406 quy định định nghĩa: “Hợp đồng gồm các loại chủ yếu sau đây: 1. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau. 2. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ.…”. Trong BLDS 2015 cũng có quy định tương tự tại Điều 402. Do phạm vi của đề tài nên trong các nội dung tiếp theo của Luận văn, tác giả chỉ đi s làm rõ các vấn đề lý luận và pháp lý về hợp đồng song vụ.
- Theo khoa học pháp lý và pháp luật thực định, hợp đồng song vụ có các đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hợp đồng song vụ có đầy đủ các đặc điểm của hợp đồng nói chung. Điều này là đương nhiên bởi lẽ hợp đồng song vụ là một loại hợp đồng được phân ra theo một tiêu chí xác định. Các vấn đề lý luận và pháp lý về hợp đồng nói chung sẽ luôn có trong và được vận dụng cho hợp đồng song vụ.
Thứ hai, trong hợp đồng song vụ, mỗi bên đều có các nghĩa vụ nhất định đối với nhau, có các quyền tương ứng với nhau. Về tổng quát, có thể rút ra công thức của hợp đồng song vụ: mỗi bên phải có ít nhất một nghĩa vụ và phải có ít nhất một quyền đối với nhau. Khi bên này thực hiện nghĩa vụ thì bên kia được hưởng quyền tương ứng, và ngược lại.
Thứ ba, các quyền và nghĩa vụ của các bên có tính quan hệ, có tính phụ thuộc lẫn nhau, được thực hiện nhằm đạt mục đích giao kết hợp đồng. Khi thỏa thuận lập lên hợp đồng, trên cơ sở pháp luật và quyền tự do thỏa thuận, các bên quy định các nghĩa vụ với nhau, nếu bên này thực hiện nghĩa vụ thì bên kia được hưởng quyền tương ứng. Các nghĩa vụ có mối quan hệ mật thiết với nhau, khi được thực hiện thiện chí và đầy đủ, mỗi bên đều được hưởng đầy đủ các quyền hướng tới, như vậy mục đích của hợp đồng sẽ đạt được. Ngoài ra, các bên có thể quy định thứ tự thực hiện các nghĩa vụ đối với nhau, việc thực hiện nghĩa vụ này là cơ sở và điều kiện để bên kia có thể thực hiện được nghĩa vụ. Nếu có một bên vi phạm nghĩa vụ thì bên kia không được hưởng hoặc không được hưởng đầy đủ quyền tương ứng, hệ quả là việc thực hiện hợp đồng bị đình trệ hay bị xáo trộn, có thể gây thiệt hại hay khiến hợp đồng không thể thực hiện được. Chính vì vậy, cần nắm vững tính quan hệ, tính phụ thuộc lẫn nhau của các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ để làm cơ sở tiếp cận các vấn đề vi phạm hợp đồng, chế tài đối với vi phạm hợp đồng. Về đặc điểm này, tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm của PGS.TS Ngô Huy Cương nhận định trong cuốn Giáo trình Luật Hợp đồng – Phần chung (dùng cho đào tạo sau đại học) như sau: “…có thể nhận xét định nghĩa hợp đồng song vụ tại khoản 1 Điều 406 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 chưa hoàn toàn thỏa đáng, bởi nếu chỉ định nghĩa “Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau”, thì mới chỉ cho thấy tính quan hệ, chứ chưa thấy tính phụ thuộc lẫn nhau của các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ” [04, tr190].
Với các đặc điểm được trình bày, có thể khái quát khái niệm hợp đồng song vụ như sau: “Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau, nghĩa vụ của các bên có mối quan hệ đối ứng và phụ thuộc lẫn nhau được thực hiện nhằm đạt mục đích giao kết hợp đồng”. Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
1.1.1.2. Vi phạm hợp đồng song vụ
Hợp đồng song vụ theo khía cạnh nội dung và thời gian thì có thể đưa ra cách hiểu như một bản “kế hoạch chung” cho các bên của hợp đồng, để cùng thực hiện những quyền và nghĩa vụ nhất định đối với nhau trong tương lai. Với tính chất là bản kế hoạch chung, các bên căn cứ vào mục đích giao kết, điều kiện, hoàn cảnh hiện tại và khả năng nhận thức, tư duy, dự đoán về điều kiện, hoàn cảnh tương lai của mỗi bên để cùng thỏa thuận xác định, bố trí các quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Khi triển khai thực hiện hợp đồng, có thể vì các lý do khách quan hoặc chủ quan nào đó, một bên hoặc các bên của hợp đồng có thể thực hiện hành vi vi phạm các nghĩa vụ, dẫn đến mục đí giao kết hợp đồng không đạt được, có thể làm phát sinh thiệt hại đối với bên bị vi phạm hợp đồng. Do đó, vi phạm hợp đồng song vụ có thể hiểu là hành vi cụ thể, có tính sai phạm và trái với các quy định của hợp đồng song vụ mà các bên đã giao kết. Vi phạm hợp đồng song vụ là thuật ngữ được xây dựng trên cơ sở thuật ngữ vi phạm hợp đồng và có bổ sung thêm các yếu tố đặc thù của hợp đồng song vụ so với hợp đồng nói chung. Trong tiếng Anh, vi phạm hợp đồng song vụ có thể dịch thành “Breach of Bilateral Contract”.
Trong nhóm nước theo hệ thống pháp luật Civil Law, ở Đức, “Bộ luật dân sự Đức không đưa ra một khái niệm chung về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng (hay vi phạm hợp đồng)” [16, tr359]. Hiện BLDS Đức chỉ quy định điều chỉnh các nhóm hành vi cụ thể được cho là vi phạm hợp đồng gồm chậm thực hiện nghĩa vụ và không có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Trong thực tiễn xét xử ở Đức, Tòa án còn khắc phục lỗ hổng pháp luật bằng việc gộp các hành vi ngoài hai nhóm chính hành vi vi phạm hợp đồng vừa nêu thành nhóm thứ ba là “chủ động vi phạm”. Cũng nằm trong hệ thống pháp luật Civil Law, ở Pháp lại có một số điểm khác biệt. Theo đó, BLDS Pháp quy định chia vi phạm hợp đồng thành hai nhóm cơ bản là chậm thực hiện nghĩa vụ và không thực hiện nghĩa vụ. Nhóm hành vi không thuộc hiện nghĩa vụ này bao hàm cả trường hợp không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của hợp đồng.
Tiếp cận theo góc độ khác, theo hệ thống pháp luật Common Law, pháp luật ở Anh và Hoa Kỳ phân biệt các hành vi vi phạm hợp đồng thành hai dạng chính là vi phạm thực tế và vi phạm thấy trước. Dạng vi phạm thực tế là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng khi đến hạn. Dạng thứ hai, các hành vi vi phạm thấy trước là trường hợp bên có quyền xem hành vi của bên có nghĩa vụ đã vi phạm hợp đồng khi chưa đến hạn thực hiện nhưng bên có nghĩa vụ bằng hành vi của mình hoặc tuyên bố chính thức tới bên có quyền rằng sẽ không thực hiện hợp đồng. Căn cứ vào mỗi dạng và thực tế vi phạm, luật dân sự Anh, Hoa Kỳ lại đưa ra các giải pháp để bên có quyền lựa chọn để thực hiện quyền tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Không tiếp cận khái niệm vi phạm hợp đồng dựa trên sự phân loại nghĩa vụ, Công ước viên 1980 (Công ước của Liên hiệp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế) dung hòa và tiếp cận ở góc độ chung nhất về vi phạm hợp đồng.
Theo quy định tại các Điều 9, Điều 45, Điều 61 của Công ước viên 1980, “vi phạm hợp đồng được hiểu là việc không thực hiện nghĩa vụ, bao gồm cả việc không thực hiện những nghĩa vụ được quy định rõ ràng trong hợp đồng mua bán hàng hóa và cả việc một trong hai bên không thực hiện nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ chính quy định của công nước này, từ các tập quán mà các bên đã thỏa thuận và từ các thực hiện đã được các bên thiết lập trong mối quan hệ tương hỗ giữa họ” [16, tr380-381].
Bị ảnh hưởng của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, ở Việt Nam, đầu tiên kể đến Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 và Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991, cả hai Pháp lệnh đều đề cập đến vấn đề vi phạm hợp đồng thông qua điều khoản quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Theo đó, vi phạm hợp đồng được hiểu là “không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng”, việc vi phạm hợp đồng này sẽ làm pháp sinh trách nhiệm pháp lý của bên vi phạm. Tương tự đến BLDS 1995 cũng như BLDS 2005, nhà làm luật chưa đưa ra quy định định nghĩa vi phạm hợp đồng. Khái niệm vi phạm hợp đồng được suy luận và rút ra từ quy định về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự (tại Điều 308 BLDS 1995 và tại Điều 302 BLDS 2005), gồm 02 trường hợp là: (1) không thực hiện; (2) thực hiện không đúng. Trong đó, “không thực hiện” được hiểu là hành vi “không hành động” của bên vi phạm, tức là không làm gì để hợp đồng bị vi phạm, mặc kệ cho thiệt hại có thể gây ra cho bên kia. “Thực hiện không đúng” có thể hiểu là đã có thực hiện, tuy nhiên khi xác định về tiêu chí hoàn thành lại không đạt so với điều kiện thỏa thuận trong hợp đồng, còn gọi là “không đúng” với hợp đồng. Cả hai trường hợp xảy ra đều gây ra hậu quả là bên có quyền không được hưởng đầy đủ các quyền đáng lẽ được hưởng theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, ngoài ra còn có thể chịu các thiệt hại phát sinh do bên vi phạm gây ra.
Để tạo ra cách hiểu thống nhất mang tính định nghĩa pháp lý về vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, có thể nhận xét tiến bộ hơn hẳn các BLDS, nhà làm luật LTM 2005 đã đưa ra được định nghĩa về vi phạm hợp đồng tại khoản 12 Điều 3 như sau “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”. Theo LTM 2005, việc vi phạm hợp đồng lại được ghi nhận theo 03 trường hợp gồm: (1) không thực hiện; (2) thực hiện không đầy đủ; (3) thực hiện không đúng. Mặc dù có tiến bộ khi có quy định định nghĩa nhưng LTM 2005 lại làm phức tạp và gây ra trùng lặp nội dung trong định nghĩa do trường hợp “thực hiện không đầy đủ” và trường hợp “thực hiện không đúng” xét về mặt nội dung gần như đồng nhất với nhau, bởi cả hai đều vi phạm các điều kiện để xác định nghĩa vụ đã được hoàn thành hay chưa. Thiết nghĩ, LTM 2005 chỉ cần để 02 trường hợp như quy định trong BLDS đã đủ để phản ánh 02 nhóm trường hợp vi phạm hợp đồng. Khảo sát các văn bản luật chuyên ngành khác cũng không có quy định định nghĩa về vi phạm hợp đồng, chỉ đề cập đến thuật ngữ vi phạm hợp đồng khi quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, ví dụ như trong Luật Xây dựng năm 2014. Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Xét đến BLDS 2015 được ban hành ngày 24/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017. Tương tự BLDS 2005, nhà làm luật vẫn chưa đưa ra được quy định riêng về vi phạm hợp đồng. Nếu xét đến bản chất việc vi phạm hợp đồng là việc có bên của hợp đồng vi phạm nghĩa vụ thì buộc phải suy luận khái niệm vi phạm hợp đồng từ quy định về vi phạm nghĩa vụ tại khoản 1 Điều 351 như sau “Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”. Dường như giống LTM 2005, xét về mặt nội h, nhà làm luật đã làm phức tạp định nghĩa và gây ra khó hiểu cũng như gây ra sự trùng lặp, nếu xét vi phạm bằng 03 trường hợp: (1) không thực hiện đúng về thời hạn; không thực hiện đầy đủ; (3) không thực hiện đúng nội dung. Thực tế, với cách hiểu thông thường “đúng nội dung” thì đã bao gồm cả vấn đề về “đúng thời hạn” và sự “đầy đủ nghĩa vụ”, mà sự “đầy đủ nghĩa vụ” cũng lại bao gồm cả “đúng nội dung” và “đúng thời hạn”. Như vòng luẩn quẩn không thoát được ý, khiến càng thêm khó hiểu và khi đối chiếu với hành vi vi phạm thực tế, người sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật khó có thể lựa xác định được vi phạm đang thuộc trường hợp nào. Thiết nghĩ, quan niệm và tiếp cận về vi phạm hợp đồng như BLDS 1995 và BLDS 2005 là đã đảm bảo tiêu chí đơn giản, đầy đủ, dễ hiểu và dễ áp dụng.
Trên cơ sở khái lược về vi phạm hợp đồng theo pháp luật ở các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, Công ước viên 1980 và các quy định pháp luật ở Việt Nam, kết hợp với các đặc trưng của hợp đồng song vụ, có thể thấy các đặc điểm cơ bản của vi phạm hợp đồng song vụ như sau:
Thứ nhất, vi phạm hợp đồng song vụ là vi phạm phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng song vụ. Điều này đương nhiên đúng bởi đây là cơ sở để các bên thực hiện nghĩa vụ đối với nhau, để xác định kết quả thực hiện và cơ sở kết luận bên nào đã có hành vi vi phạm.
Thứ hai, vi phạm hợp đồng song vụ có thể là vi phạm của một bên hoặc vi phạm của các bên đối với nhau, tức có thể xảy ra trường hợp mỗi bên đều có thể vi phạm. Do mỗi bên của hợp đồng song vụ có một hoặc nhiều nghĩa vụ đối với bên kia, nên khi thực hiện, có thể xảy ra khả năng các bên đều có hành vi vi phạm hợp đồng đối với nhau. Đặc điểm này cần đưa ra để sử dụng khi xem xét vấn đề miễn trách nhiệm đối với nhau do một bên có lỗi, hay đối trừ nghĩa vụ, bên có quyền được phạt hợp đồng và nhiều vấn đề liên quan khác. Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Thứ ba, bên vi phạm hợp đồng song vụ có thể vi phạm nhiều nghĩa vụ của hợp đồng. Trong hợp đồng song vụ, các bên của hợp đồng có thể có một hoặc nhiều nghĩa vụ đối với nhau. Khác với hợp đồng đơn vụ, bên có nghĩa vụ thường chỉ có một nghĩa vụ, như hợp đồng vay tiền, bên vay chỉ có nghĩa vụ trả gốc, lãi đầy đủ và đúng hạn. Bên vi phạm có thể vi phạm một hoặc nhiều hoặc toàn bộ các nghĩa vụ phải thực hiện đối với bên kia. Đặc điểm này cần đưa ra để xem xét phạm vi, mức độ, tính chất của hành vi vi phạm.
Thứ tư, hành vi vi phạm hợp đồng của người này có thể dẫn đến việc bên kia tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hoặc không thực hiện nghĩa vụ đối với người vi phạm. Do đặc trưng của hợp đồng song vụ là “các quyền và nghĩa vụ của các bên có tính quan hệ, có tính phụ thuộc lẫn nhau” đã được phân tích, nên nếu xảy ra việc một bên vi phạm, việc thực hiện hợp đồng có thể bị đình trệ hoặc xáo trộn, khiến bên kia vì sự “trả đũa” hoặc “không muốn bị thiệt hại thêm” cũng tạm ngừng hoặc không thực hiện các nghĩa vụ ngược lại. Đặc điểm này khá quan trọng khi xem xét vấn đề trách nhiệm của các bên đối với nhau, lỗi của các bên cũng như bên nào được quyền ngừng, không thực hiện nghĩa vụ như một biện pháp để buộc bên kia thực hiện hợp đồng, và nhiều vấn đề liên quan khác.
Thứ năm, việc vi phạm hợp đồng song vụ có thể dẫn đến hệ quả phải gánh chịu các chế tài theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật hoặc cả hai. Hợp đồng song vụ thường có các chế tài theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo luật định. Khi có bên vi phạm hợp đồng, bên kia bằng quyền tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, có thể đưa ra yêu cầu áp dụng biện pháp chế tài đối với vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên, khi yêu cầu áp dụng lại cần phải chứng minh căn cứ pháp lý và thực tế để áp dụng chế tài xác định đó. Tùy vào loại chế tài mà có căn cứ áp dụng, phương thức chứng minh và nội dung thực hiện khác nhau, sẽ được làm rõ ở các phần sau.
Trên cơ sở các nội dung trình bày, tác giả đưa ra khái niệm vi phạm hợp đồng song vụ như sau: Vi phạm hợp đồng song vụ là việc một hoặc các bên của hợp đồng song vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với nhau được xác lập trên cơ sở hợp đồng song vụ. Bên vi phạm hợp đồng sẽ có thể phải chịu các chế tài theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật hoặc cả hai.
1.1.2 Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng chỉ thực sự có tính ràng buộc pháp lý khi có một cơ chế đảm bảo sự bắt buộc. Cơ chế bắt buộc này có thể xác định trên cơ sở các thỏa thuận hợp pháp hoặc trên cơ sở các cơ chế pháp luật quy định. Nếu không có cơ chế bảo đảm thực hiện hợp đồng và xử lý hành vi vi phạm hợp đồng, hễ có toan tính tư lợi riêng, các bên có thể từ bỏ cái đạo đức, thiện chí để tr tránh nghĩa vụ, không thực hiện nghĩa vụ, khiến mục đích của hợp đồng không thực hiện được, có khi gây thiệt hại nghiêm trọng tới bên bị vi phạm. Do vậy, nhà làm luật hoàn toàn có cơ sở thực tiễn để “thiết kế các cơ chế” đảm bảo hợp đồng được thực hiện, bảo đảm tính ràng buộc của hợp đồng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên. Một trong số đó là các chế tài đối với vi phạm hợp đồng nói chung và chế tài đối vi phạm hợp đồng song vụ nói riêng.
Trong lý luận nhà nước và pháp luật, khi phân tích cấu trúc của một quy phạm pháp luật, chế tài được đề cập như một phần cấu thành thứ ba sau phần giả định và phần quy định. Phần thứ ba là chế tài, được hiểu là phần nêu lên những biện pháp cưỡng chế hay biện pháp trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm các yêu cầu của bộ phận quy định của quy phạm pháp luật. Chế tài nêu lên hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật. Trong quan hệ hợp đồng, một dạng của quan hệ dân sự, chế tài đối với vi phạm hợp đồng có thể hiểu là các biện pháp mà bên bị vi phạm được áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của hợp đồng và pháp luật, là căn cứ xác định hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu, là cơ sở để đảm bảo tính ràng buộc pháp lý của hợp đồng.
Trong tiếng Anh, chế tài đối với vi phạm hợp đồng được dịch thành “Remedy for breach of contract”; chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ được dịch thành “Remedy for breach of bilateral contract”.
Trong Luật La Mã, chế tài cũng đã được và ghi nhận trong phần quy định về nghĩa vụ. Ts. Nguyễn Ngọc Điện đưa ra định nghĩa về chế tài theo Luật La Mã như sau: “chế tài là biện pháp dự liệu để bảo vệ lợi ích của người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ, một khi người có nghĩa vụ không tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình” [34, tr41]. Định nghĩa này gồm hai nội dung là mục đích và cơ sở áp dụng. Mục đích của chế tài là “bảo vệ lợi ích của bên có quyền”, tạo ra ràng buộc pháp lý để quyền được thực thi và bên có quyền không bị thiệt thòi khi giao dịch. Cơ sở để áp dụng là việc bên có nghĩa vụ “không tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình”. Mặc dù chưa có quy định rõ ràng về chế tài nhưng Luật La Mã cũng thể hiện được sự tiến bộ trong nhận thức pháp lý và tạo cơ chế đảm bảo an toàn cho các giao dịch hợp đồng.
Chế tài đối với vi phạm hợp đồng trong chế định hợp đồng được nâng tầm quan trọng và phát triển trong các học thuyết pháp lý và pháp luật ở các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law. Có thể kể đến BLDS Pháp và BLDS Đức, chế tài áp dụng đối với vi phạm hợp đồng thông thường gồm hai chế tài là chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại. Hai chế tài cũng được quy định rõ các vấn đề về căn cứ áp dụng, nội dung áp dụng và hậu quả pháp lý. Về cơ bản, với các quy định chi tiết, các nhà làm luật Civil Law đã tạo ra khung pháp lý để bảo đảm sự ràng buộc cho việc thực hiện hợp đồng, bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên có quyền. Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Thuộc hệ thống pháp luật Common Law, luật án lệ của Hoa Kỳ cũng có các quy định về chế tài đối với vi phạm hợp đồng. Hiện ở Hoa kỳ chỉ có ba chế tài được áp dụng gồm bồi thường thiệt hại, yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng. Về chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại, pháp luật Hoa Kỳ phân biệt thành các thiệt hại kỳ vọng, thiệt hại do tín nhiệm và thiệt hại ấn định. Ở Anh, bên bị vi phạm cũng có thể lựa chọn áp dụng ba chế tài khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng, gồm hủy bỏ hợp đồng, bồi thường thiệt hại và đề nghị toà án yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng. Có thể thấy, về số lượng và các loại chế tài được áp dụng tại Anh và Hoa Kỳ là cơ bản giống nhau. Ngoài ra, trong pháp luật về giao dịch trong một số lĩnh vực chuyên ngành đặc thù, pháp luật Anh và Hoa Kỳ còn quy định thêm một số chế tài khác.
Ở góc độ điều chỉnh các giao dịch thương mại quốc tế, Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2014 cũng dành nhiều điều quy định chi tiết về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng. Bộ nguyên tắc của UNIDROIT quy định rất rõ về tuân thủ hợp đồng, không thực hiện hợp đồng để từ đó xác định cơ sở áp dụng các chế tài khi có bên vi phạm hợp đồng. Bộ nguyên tắc này có quy định ba chế tài gồm: quyền yêu cầu thực hiện hợp đồng, hủy hợp đồng, bồi thường thiệt hại. Mỗi chế tài đều có quy định định nghĩa, cơ sở áp dụng, cách thức thực thi và hậu quả pháp lý. Bộ nguyên tắc đem lại giá trị tham khảo cao trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng. Trong Công ước viên năm 1980, các chế tài đối với vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (thuộc loại hợp đồng song vụ) cũng được đề cao với nhiều quy định cụ thể. Theo đó, Công ước có quy định “các biện pháp bảo hộ hợp lý” trong trường hợp bên bán vi phạm hợp đồng và trong trường hợp bên mua vi phạm hợp đồng. Mỗi biện pháp bảo hộ hợp lý được hiểu tương tư như một loại chế tài. Hiện Công ước có quy định ba chế tài gồm: chế tài yêu cầu bên vi phạm thực hiện hợp đồng, chế tài hủy bỏ hợp đồng và chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đặc biệt, trong Công ước có quy định rõ bên bị vi phạm không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại khi họ sử dụng chế tài khác. Các chế tài được Công ước quy định có thể áp dụng khi bên có nghĩa vụ không thực hiện một nghĩa vụ nào đó theo hợp đồng mua bán hay bản Công ước này.
Ở Việt Nam, BLDS 2005 chưa có quy định định nghĩa về các chế tài đối với vi phạm hợp. Các chế tài đối với vi phạm hợp đồng được quy định rải rác trong phần quy định về trách nhiệm dân sự và chế định hợp đồng. Theo BLDS 2005, nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của hợp đồng thì tùy loại hợp đồng và trường hợp cụ thể, bên bị vi phạm có thể sử dụng các chế tài gồm: (1) buộc thực hiện đúng hợp đồng; (2) phạt vi phạm hợp đồng; (3) yêu cầu bồi thường thiệt hại; (4) tạm ngừng thực hiện hợp đồng; (5) đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng; (6) hủy bỏ hợp đồng. Được nhiều học giả nhận định tiến bộ hơn BLDS 2005, LTM 2005 “mặc dù đưa ra tên gọi không chuẩn xác nói chung về các chế tài nói tới trong đó”[04, tr566] nhưng đã đưa ra được thuật ngữ “chế tài trong thương mại” tại Điều 292 với bảy loại chế tài gồm: (1) Buộc thực hiện đúng hợp đồng; (2) Phạt vi phạm; (3) Buộc bồi thường thiệt hại; (4) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; (5) Đình chỉ thực hiện hợp đồng; (6) Huỷ bỏ hợp đồng; (7) các biện pháp khác do các bên thoả thuận. Về bản chất, bảy chế tài được LTM 2005 quy định từ Điều 292 đến Điều 316 áp dụng đối với vi phạm hợp đồng trong thương mại, điển hình là hợp đồng mua bán hàn hóa và hợp đồng dịch vụ được LTM 2005 trực tiếp có các quy định điều chỉnh. Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Với việc khái lược theo pháp luật ở các nước theo các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, về mặt pháp luật có thể thấy, chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ chưa được quy định một cách rõ ràng và tập trung thành chế định riêng; chủ yếu được quy định rải rác trong các quy định về thực hiện hợp đồng, trách nhiệm dân sự, các loại hợp đồng thông dụng, với nhiều cách tiếp cận không giống nhau. Các giáo trình luật dân sự của các đơn vị đào tạo luật tại Việt Nam cũng vẫn chưa dành những phân tích đán kể về chế tài đối với vi phạm hợp đồng. Đến nay tác giả nhận thấy nổi bật nhất có Giáo trình Luật Hợp đồng – phần chung của PGS.TS Ngô Huy Cương đưa ra vấn đề “Chế tài đối với vi phạm hợp đồng” thành một mục riêng với 24 trang, đã đưa ra nhiều nhận định sâu sắc, dẫn chứng sắc bén và định hướng nghiên cứu quý báu để tiếp cận vấn đề này. Dưới góc độ chung nhất, tác giả đưa ra khái niệm chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ sau đây: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ là các biện pháp do pháp luật quy định hoặc theo thỏa thuận hợp pháp của các bên trong hợp đồng song vụ mà bên có quyền được áp dụng đối với bên có nghĩa vụ khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Ngoài ra, cần phân biệt thuật ngữ “chế tài đối với vi phạm hợp đồng” với thuật ngữ “trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng”. Trong khoa học pháp lý cũng như luật thực định, trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng được hiểu là một loại trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu khi vi phạm hợp đồng. Cụ thể, trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng là toàn bộ các nghĩa vụ mang tính vật chất mà bên vi phạm hợp đồng phải thực hiện do vi phạm hợp đồng, nhằm khắc phục hậu quả, bù đắp thiệt hại cho bên bị vi phạm hợp đồng. Có thể thấy, trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng mang tính bị động, chỉ các trách nhiệm. Trong khi đó, mang nghĩa chủ động, chỉ các quyền, chế tài đối với vi phạm hợp đồng là các biện pháp do pháp luật quy định hoặc theo thỏa thuận hợp pháp của các bên trong hợp đồng song vụ mà bên bị vi phạm có quyền được áp dụng đối với bên vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng. Khi các chế tài đối với vi phạm hợp đồng được áp dụng thì sẽ xác định được nội dung và phạm vi trách nhiệm dân sự cụ thể của bên vi phạm hợp đồng. Vì vậy, các chế tài đối với vi phạm hợp đồng được áp dụng là cơ sở pháp lý để xác định nội dung và phạm vi trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng.
1.1.3 Đặc điểm của chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ
- Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ có các đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ phát sinh do việc vi phạm hợp đồng song vụ có hiệu lực. Yêu cầu có hiệu lực pháp luật của hợp đồng song vụ là yêu cầu cơ bản nhất và đầu tiên. Bởi chỉ khi hợp đồng có hiệu lực, việc thực hiện nghĩa vụ mới có ràng buộc pháp lý, bên có quyền mới có thể thực hiện các biện pháp chế tài để bảo vệ quyền lợi cho mình khi bị bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ. Nếu hợp đồng không có hiệu lực, nhất là trường hợp bị vô hiệu ngay từ đầu thì nghĩa vụ không được xác lập, bên có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng, như vậy không đề cập đến vấn đề có vi phạm hay không. Nếu bên bị xem là vi phạm nghĩa vụ mà chứng minh được hợp đồng không có hiệu lực thì đương nhiên bên có quyền không thể yêu cầu áp dụng các chế tài đối với bên được cho là vi phạm. Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Thứ hai, chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ phát sinh từ hành vi vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng. Tức phải có “hành vi vi phạm” thực tế một hoặc nhiều nghĩa vụ của hợp đồng thì vấn đề áp dụng chế tài mới có thể đưa ra. Nếu không có hành vi vi phạm, tức bên có quyền không chứng minh được sự vi phạm thì không thể đưa ra yêu cầu áp dụng chế tài. Bên cạnh đó, mặc dù có hành vi vi phạm nghĩa vụ nhưng bên vi phạm chứng minh được thuộc trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng song vụ thì bên có quyền cũng không thể yêu cầu áp dụng được các chế tài.
Thứ ba, chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ mang tính vật chất. Về mặt bản chất, khi bị vi phạm nghĩa vụ, bên bị vi phạm có thể bị thiệt hại các lợi ích vật chất phát sinh từ hợp đồng. Việc thiết kế ra các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ để tạo cơ chế ngăn ngừa, bảo đảm quyền lợi cho bên có quyền, trọng tâm chính là các lợi ích của bên bị vi phạm. Khi có vi phạm xảy ra, bên bị vi phạm được quyền yêu cầu áp dụng các chế tài để bảo đảm quyền lợi vật chất của mình, đồng nghĩa bên có nghĩa vụ sẽ phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất phát sinh từ việc vi phạm. Do vậy, các chế tài đã tạo ra tính ràng buộc cho các bên của hợp đồng phải thực hiện đúng và đẩy đủ nghĩa vụ của mình.
Thứ tư, bên bị vi phạm phải chứng minh được cơ sở, căn cứ, nội dung áp dụng chế tài. Chế tài được áp dụng trên cơ sở quy định của pháp luật và thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Nếu vi phạm xảy ra, bên bị vi phạm không có ý kiến gì, không có đưa ra yêu cầu, đòi hỏi gì thì chế tài sẽ không được mặc nhiên áp dụng. Để được bảo đảm quyền lợi khi bị vi phạm, bên bị vi phạm phải đưa ra được yêu cầu áp dụng chế tài cụ thể, có cơ sở, nội dung áp dụng rõ ràng, xác thực và thuyết phục. Về mặt bản năng, đa số con người thường không muốn nhận lỗi lầm và phần thiệt về mình. Vì vậy, hiếm khi có trường hợp bên vi phạm nghĩa vụ tự nhận vi phạm và dễ dàng chấp nhận chịu áp dụng chế tài. Thông thường việc yêu cầu áp dụng các chế tài bị bên vi phạm phản bác, bởi vậy, bên bị vi phạm thường đưa vụ việc ra tòa án hoặc trọng tài để giải quyết. Trong luật thủ tục về tố tụng tại tòa án cũng như tố tụng trọng tài, đương sự đưa ra yêu cầu phải chứng minh được yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Thứ năm, việc bị áp dụng các chế tài có thể bị giải trừ nếu bên vi phạm chứng minh thuộc trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ. Trong pháp luật của các nước đều có quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng. Bên cạnh đó, pháp luật các nước trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên cũng đều có sự thừa nhận việc các bên được thỏa thuận áp dụng các trường hợp miễn trách nhiêm nếu sự thỏa thuận đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật và đạo đức xã hội, không trái với trật tự công cộng.
Thứ sáu, chế tài chỉ được thừa nhận nếu không trái pháp luật, không trái với đạo đức xã hội và trật t công cộng. Ngoài các chế tài được áp dụng khi viện dẫn theo luật, các bên còn có thể vi dẫn thỏa thuận trong hợp đồng để áp dụng các chế tài nếu các chế tài này đã được ghi nhận trên hợp đồng. Tuy nhiên, không phải mọi chế tài do các bên thỏa thuận đều được áp dụng nếu các chế tài trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật, trái với đạo đức xã hội và trật tư công cộng, đặc biệt là các chế tài mang tính sát phạt, mang tính áp đặt của bên có lợi thế đối với bên yếu thế.
Thứ bảy, chế tài thường chỉ được thực thi theo quyết định của cơ quan tài phán (tòa án, trọng tài). Trên thực tế, rất hiếm khi bên bị vi phạm đưa ra yêu cầu áp dụng chế tài, bên vi phạm chấp nhận ngay rồi thỏa thuận cùng tự nguyện thực thi. Bên vi phạm thường viện mọi lý do để phản bác lại yêu cầu áp dụng các chế tài. Đồng nghĩa, bên bị vi phạm buộc phải tìm cách để bảo đảm quyền lợi cho mình, phổ biến nhất là việc đưa vụ tranh chấp hợp đồng ra giải quyết tại cơ quan tài phán có thẩm quyền.
1.2 Điều kiện áp dụng các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Để áp dụng được các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ, bên yêu cầu áp dụng cần chứng minh được các điều kiện sau đây:
1.2.1 Điều kiện thứ nhất: hiệu lực của hợp đồng song vụ
Hiệu lực hợp đồng là điều kiện cơ bản đầu tiên khi áp dụng chế tài. Hiệu lực pháp luật của hợp đồng là cơ sở để xác định hiệu lực pháp lý của nghĩa vụ, tính ràng buộc của nghĩa vụ. Nếu hợp đồng không có hiệu lực pháp luật hay còn gọi là bị vô hiệu thì nghĩa vụ sẽ không còn cơ sở tồn tại, tức không cần phải để cập đến việc có thực hiện đúng hay đủ nghĩa vụ hay không. Khi hợp đồng bị vô hiệu, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật về hợp đồng bị vô hiệu.
1.2.2 Điều kiện thứ hai: căn cứ về tính khách quan, nội dung, phạm vi, mức độ vi phạm
Khi áp dụng chế tài, bên yêu cầu áp dụng cần chứng minh được sự tồn tại khách quan, nội dung, phạm vi, mức độ vi phạm của hành vi vi phạm. Tính khách quan thể hiện qua việc chứng minh hành vi vi phạm là có thật, tồn tại thực tế, không phải là sự suy diễn trong ý chí của một hoặc các bên. Trên cơ sở tính khách quan, bên yêu cầu áp dụng cũng cần làm rõ được nội dung, phạm vi và mức độ vi phạm để dùng làm cơ sở xác định: (1) cần áp dụng chế tài nào; (2) áp dụng chế tài như thế nào; và (3) bên vi phạm phải gách chịu hậu quả pháp lý bất lợi nào. Cần chú ý trong LTM 2005, nhà làm luật còn đề cập đến vi phạm nghĩa vụ cơ bản với nhiều quy định riêng so với các vi phạm nghĩa vụ không cơ bản, việc áp dụng các chế tài đối với hai loại nghĩa vụ này cũng rất khác nhau.
1.2.3 Điều kiện thứ ba: lỗi của bên vi phạm Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Về vấn để lỗi của bên vi phạm, hiện pháp luật các nước theo hệ thống pháp luật khác nhau có quy định không giống nhau. Trong pháp luật Anh và Hoa Kỳ thuộc hệ thống pháp luật Common Law, lỗi không phải là căn cứ để xem xét trách nhiệm vi phạm hợp đồng, cũng như cơ cở áp dụng các chế tài; “nếu người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng, thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng (breach of contract), không phụ thuộc vào việc mình hoặc người được mình thuê mướn có lỗi hay không có lỗi” [16, tr391-392]. Công ước viên 1980 và Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế cũng giống với hệ thống pháp luật Common Law, “không xác định yếu tố lỗi là cơ sở của trách nhiệm hợp đồng” [16, tr392] và “bên có quyền chỉ cần phải chứng minh việc bên có nghĩa vụ đã thực hiện không đúng nghĩa vụ hay không thực hiện nghĩa vụ, họ không cần phải chứng minh rằng việc vi phạm là do lỗi của bên có nghĩa vụ”[16, tr393]. Khác với quy định trong Hệ thống pháp luật Common Law, Công ước viên 1980, theo luật La Mã và theo quy định của pháp luật ở các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law (Điển hình là Đức, Pháp), pháp luật Liên Bang Nga và pháp luật Việt Nam, nguyên tắc lỗi là một trong các cơ sở quan trọng để xác định trách nhiệm dân sự cũng như các chế tài đối với vi phạm hợp đồng.
Nhà làm luật BLDS của Việt Nam ghi nhận nguyên tắc lỗi thông qua các quy định cụ thể về lỗi và xác định lỗi (xem Điều 308 BLDS 2005), có sự phân biệt lỗi cố ý và lỗi vô ý. Trong khi đó, nhà làm luật LTM lại vận dụng nguyên tắc lỗi suy đoán, tức khi có hành vi vi phạm thì được suy đoán là cố lỗi nếu không thuộc các trường hợp ấn định hoặc thỏa thuận trước rõ là không c lỗi. Khác với các chủ thể của hợp đồng dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS, các bên của hợp đồng thương mại chủ yếu là các thương nhân, cũng chủ yếu là các pháp nhân, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hiểu biết về công việc kinh doanh và hậu quả của vi phạm hợp đồng thương mại. Bên cạnh đó, nhà làm luật không thể xác định được lỗi biểu thị trạng thái tâm lý của thương nhân đối với hành vi và hậu quả do hành vi đó gây ra. Do đó, nhà làm luật LTM Việt Nam đã suy đoán lỗi của thương nhân thông qua hành vi vi phạm của thương nhân thực hiện bởi người đại diện hợp pháp của thương nhân.
1.2.4 Điều kiện thứ tư: mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả vi phạm
Không phải bất cứ thiệt hại nào xảy ra khi thực hiện hợp đồng cũng do bên được cho là vi phạm hợp đồng gây ra và phải gánh chịu hậu quả. Để áp dụng chế tài, vấn đề mối quan hệ khách quan, tất yếu giữa hành vi vi phạm và hậu quả vi phạm cần phải chứng minh được, nhất là đối với hành vi vi phạm gây thiệt hại cho bên có quyền và cần áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại. Vấn đề xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả vi phạm được thừa nhận phổ biến trong pháp luật các nước theo hệ thống pháp luật khác nhau. Vấn đề này sẽ được làm rõ trong Chương II của Luận văn này, đặc biệt trong phần nội dung về chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại tại tiểu mục 2.2.3 của Chương II của Luận văn này.
1.2.5 Điều kiện thứ năm: Chế tài áp dụng không trái quy định của pháp luật
Bên yêu cầ áp dụng chế tài cần chứng minh được chế tài được áp dụng hoàn toàn phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, không rơi vào trường hợp bị cấm bởi pháp luật. Nếu chế tài trái với quy định của pháp luật, khi giải quyết tại cơ quan tài phán, yêu cầu áp dụng chế tại sẽ bị bác bỏ, hoặc cơ quan xét xử không thừa nhận chế tài áp dụng.
1.2.6 Điều kiện thứ sáu: không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm
Khi bên vi phạm hợp đồng đưa ra được các căn cứ để chứng minh thuộc trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng thì trách nhiệm vi phạm hợp đồng bị giải trừ. Đồng nghĩa, bên bị vi phạm không thể áp dụng được các chế tài mong muốn. Đa số pháp luật các nước đề thừa nhận và ghi nhận sự tồn tại khách quan của các trường hợp cần được miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng; cũng đều thừa nhận quyền tự do thỏa thuận miễn trách nhiệm đối với vi phạm nếu thỏa thuận không trái luật và trật tự công cộng. Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
1.3 Miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ
Theo pháp luật ở các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law, dựa trên nguyên tắc lỗi, TS. Nguyễn Ngọc Khánh có viết “nếu không có lỗi, người vi phạm nghĩa vụ có thể được miễn trừ trách nhiệm hợp đồng. Tuy nhiên, không phải lúc nào yếu tố lỗi cũng được đặt ra. Trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện hợp đồng mặc dù có khả năng thực hiện hợp đồng thì không cần phải xem xét yếu tố lỗi, vì khi đó họ đương nhiên là có lỗi”[16, tr491]. Trong pháp luật Pháp, theo Điều 1147 BLDS Pháp, bên vi phạm hợp đồng có thể được giải trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được việc vi phạm là do nguyên nhân khách quan và hoàn toàn ngay tình (không có lỗi). Để chứng minh được quyền được hưởng miễn trách nhiệm, bên vi phạm cần chứng minh được việc vi phạm do các sự kiện bất khả kháng (Force Majeure) hoặc trở ngại khách quan (cas fortuit). Tuy nhiên, hiện tại pháp luật Pháp chưa có quy định cụ thể thế nào là sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan nên khi áp dụng phải dựa trên cơ sở thỏa thuận của các bên và việc áp dụng linh hoạt của thẩm phán. Trong pháp luật Đức, cũng theo nguyên tắc lỗi, khi có vi phạm hợp đồng xảy ra thì “cần xem xét ai là người có lỗi trong việc gây ra những khó khăn trở ngại làm cho nghĩa vụ hợp đồng trở nên không thể thực hiện được”[16, tr496]. Theo các Điều 275, 280, 323, 324, 325 của BLDS Đức, tùy từng trường hợp kết quả xác định lỗi làm cho hợp đồng trở lên không thể thực hiện được mà có hậu quả pháp lý khác nhau như sau: (1) nếu lỗi của bên có nghĩa thì phải bồi thường thiệt hại; (2) nếu lỗi của bên có quyền thì bên có nghĩa vụ được miễn trách nhiệm và còn có thể được yêu cầu bên có quyền thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong những điều kiện nhất định; (3) nếu cả hai bên đều không có lỗi thì cả hai bên được miễn trừ trách nhiệm. Khi xác định lỗi, BLDS Đức còn chia việc làm cho hợp đồng không thể thực hiện được thành hai trường hợp là trường hợp do khách quan (do bản thân người vi phạm hợp đồng) và trường hợp do chủ quan.
Ở các nước theo hệ thống pháp luật Common Law, điển hình ở Anh và Hoa Kỳ, vấn đề miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng không được ghi nhận trong luật mà dựa trên các án lệ và học thuyết pháp lý đ áp dụng khi xét xử. Ở Anh phải kể đến học thuyết “sự vô ích của hợp đồng (Doctrine of Frustration of contract)”, “với nội dung người có nghĩa vụ được miễn trừ trách nhiệm hợp đồng khi những ý định hay mục đích hợp đồng đã đặt ra trở lên “vô ích”, việc thực hiện chúng là “không thể được” do hậu quả từ những tình huống bất ngờ hoặc do sự biến động lớn của hoàn cảnh mang lại, ngoài dự kiến và ngoài tầm kiểm soát của các bên” [16, 512]. Bên cạnh đó, trong pháp luật Anh và Hoa Kỳ không có khái niệm “sự ki bất khả kháng”; những sự kiện thiên nhiên bất thường được gọi là hành động của Thương Đế. Tuy nhiên, thẩm phán ở Anh trong một số trường hợp vẫn áp dụng “nguyên tắc trách nhiệm hợp đồng tuyệt đối (tức bên có nghĩa vụ có trách nhiệm hợp đồng tuyệt đối)” khi xét xử. Vì vậy, ở Anh, việc áp dụng trường hợp miễn trách n hợp đồng phụ thuộc nhiều vào quan điểm và niềm tin nội tâm của thẩm phán trên cơ sở tham khảo các án lệ liên quan. Ở Hoa Kỳ, học thuyết “sự vô ích của hợp đồng” cũng được áp dung, tuy nhiên thẩm phán ở Hoa Kỳ còn làm rõ và phân biệt các trường hợp khó thực hiện hợp đồng hay vô ích/vô nghĩa khi thực hiện hợp đồng với trường hợp không thể thực hiện hợp đồng. Đối với các trường hợp khó thực hiện hợp đồng hay vô ích/vô nghĩa khi thực hiện hợp đồng, thẩm ph có thể hạn chế việc áp dụng học thuyết “sự vô ích của hợp đồng” mà thay vào đó đề cao áp dụng “nguyên tắc trách nhiệm hợp đồng tuyệt đối (tức bên có nghĩa vụ có trách nhiệm hợp đồng tuyệt đối)”.
Dưới góc độ đảm bảo sự hài hòa chung, Công ước viên 1980 đã vận dụng các vấn đề pháp lý về miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng ở cả Common Law và Civil Law để đưa ra điều khoản ghi nhận về vấn đề miễn trách nhiệm tại Điều 79. Tuy nhiên, Công ước viên 1980 chỉ quy định các trường hợp miễn trách nhiệm đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không quy định đối với các hình thức trách nhiệm khác khi vi phạm hợp đồng, cụ thể tại khoản 1 Điều 79 như sau:
“Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay khắc phục các hậu qủa của nó”.
Có thể thấy, căn cứ để được miễn trách nhiệm là bên vi phạm chứng minh được có một trở ngại khiến cho không thể thực hiện được nghĩa vụ. Trở ngại này cần phải đảm bảo các điều kiện cần và đủ sau: (1) xảy ra do tự nhiên hoặc do chính quyền hoặc do người khác nằm ngoài ý chí của các bên khi tham gia giao dịch; (2) nằm ngoài sự kiểm soát của các bên; (3) không thể nhìn thấy trước được hay nằm ngoài khả năng dự kiến của các bên; (4) trở ngại diễn ra lâu dài, kéo dài, không phải trở ngại nhất thời.
Ở Việt Nam, chịu ảnh hưởng tư tưởng pháp lý từ các nước theo truyền thống pháp luật Civil Law, trong pháp luật cũng có các quy định về miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng dựa trên nguyên tắc lỗi. Nếu bên vi phạm đưa ra được các điều kiện cần và đủ để chứng minh mình thuộc các trường hợp được cho rằng không có lỗi, tức các trường hợp được miễn trách nhiệm thì họ không phải chịu trách niệm đối với vi phạm hợp đồng. Vấn đề này sẽ được làm rõ tại tiểu mục 2.2.8 thuộc Chương II của Luận văn này. Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
1.4 Phân loại chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ
Với quan điểm pháp lý và thực tế quy định về các chế tài đổi với vi phạm hợp đồng còn chưa có sự tương đồng và thống nhất cao, do đó việc phân loại rất khó thực hiện. Dưới góc độ chung và phục vụ tiếp cận các nội dung trình bày tiếp theo của Luận văn, tác giả đưa ra một số cách phân loại theo các tiêu chí cụ thể như sau:
1.4.1 Tiêu chí nguồn phát sinh
Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ có thể được ghi nhận trong luật để các bên mặc nhiên áp dụng nếu không có thỏa thuận khác hoặc có cả trong các thỏa thuận cụ thể của các bên trong hợp đồng song vụ. Do đó, nếu căn cứ vào tiêu chí nguồn phát sinh có thể chia thành hai loại sau: (1) Chế tài phát sinh theo luật; (2) Chế tài phát sinh theo thỏa thuận hợp pháp của các bên trong hợp đồng. Việc phân loại theo tiêu chí này có ý nghĩa trong việc xác định nguồn viện dẫn cơ sở pháp lý để áp dụng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
1.4.2 Tiêu chí tính bắt buộc thỏa thuận
Đa số pháp luật các nước có quy định các chế tài đương nhiên được áp dụng trong phần quy định về trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng, điển hình là chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, pháp luật nhiều nước cũng quy định một số chế tài cụ thể cần được thỏa thuận mới được áp dụng, ví dụ chế tài phạt vi phạm hợp đồng ở Việt Nam, tức nếu không thỏa thuận thì không được viện dẫn áp dụng. Do đó, dựa vào tiêu chí tính bắt buộc phải thỏa thuận ghi nhận trên hợp đồng khi muốn vi dẫn áp dụng, có thể chia chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ thành: (1) chế tài buộc phải thỏa thuận và (2) chế tài không buộc phải thỏa thuận. Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ căn cứ và cơ sở viện dẫn chế tài, nhất là các chế tài buộc phải thỏa thuận trên hợp đồng không có thì sẽ không có quyền viện dẫn.
1.4.3 Tiêu chí vai trò và khả năng tác động đến việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Hành vi vi phạm hợp đồng song vụ làm cho hợp đồng bị đình trệ hoặc không thể tiếp tục thực hiện được. Do vậy, tùy từng trường hợp, bên bị vi phạm phản ứng lại bằng việc yêu cầu áp dụng một trong các “chế tài chính tác động đến việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng” sau để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình liên quan đến việc thực hiện hợp đồng:
- Chế tài để tiếp tục được thực hiện nghĩa vụ: Chế tài yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng.
- Chế tài làm cho việc thực hiện hợp đồng bị ngừng lại: Chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
- Chế tài làm cho việc thực hiện hợp đồng bị chấm dứt kể từ thời điểm yêu cầu áp dụng chế tài do có vi phạm hợp đồng: Chế tài đình chỉ hợp đồng (Chế tài đơn phương chấm dứt hợp đồng).
- Chế tài làm hủy bỏ hiệu lực hợp đồng kể từ thời điểm ký kết, tức hủy bỏ giao kết: Chế tài hủy bỏ hợp đồng
Ngoài việc thực hiện một trong các chế tài nêu trên, bên bị vi phạm có quyền được áp dụng một cách độc lập hoặc kèm theo các chế tài sau để bảo về quyền lợi của mình do vi phạm hợp đồng (có thể gọi là “chế tài phụ không tác động đến việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng”):
- Chế tài phạt vi phạm: nếu pháp luật có ghi nhận hoặc thừa nhận và bên bị vi phạm viện dẫn chứng minh đủ căn cứ áp dụng.
- Chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại: đa số các nước đều ghi nhận hoặc thừa nhận chế tài này.
Việc phân loại theo tiêu chí này có ý nghĩa trong việc nắm được bản chất, nội dung của chế tài cũng như bên bị vi phạm biết khả năng áp dụng các chế tài cần thiết ở mức tối ưu và tối đa mà pháp luật không cấm để bảo vệ quyền lợi của mình khi có vi phạm hợp đồng xảy ra.
1.4.4 Tiêu chí lĩnh vực giao dịch
Nếu căn cứ vào tiêu chí lĩnh vực giao dịch của quan hệ hợp đồng song vụ hiểu theo nghĩa rộng, có thể chia các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ thành các loại tương ứng trong các lĩnh vực sau: (1) Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong lĩnh vực quan hệ dân sự đơn thuần; (2) Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh thương mại; (3) Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong lĩnh vực quan hệ lao động; (4) Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong lĩnh vực quan hệ pháp luật chuyên ngành đặc thù khác. Việc phân loại theo tiêu chí này có ý nghĩa trong việc xác định đúng chế tài, đúng nội dung của chế tài cần áp dụng đối với vi phạm hợp đồng song vụ cụ thể. Đặc biệt, các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ ở mỗi lĩnh vực quan hệ pháp luật cụ thể lại có thể tồn tại sự khác biệt, nếu không xác định làm rõ sẽ có thể r vào tình trạng bị nhầm lẫn. Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
1.5 Phân biệt chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong dân sự với chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong thương mại
Các điểm khác biệt giữa chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong dân sự với chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong thương mại tồn tại do các yếu tố gồm: (1) tư duy xây dựng pháp luật; (2) các điểm khác biệt giữa quan hệ hợp đồng trong dân sự và quan hệ hợp đồng trong thương mại. Là luật chung, nền tảng cho cả pháp luật tư, BLDS được xây dựng theo hướng đưa ra các quy định chung điều chỉnh quan hệ dân sự chung giữa các chủ thể trong đời sống xã hội. Trong khi đó, LTM là một luật tư chuyên ngành, điều chỉnh riêng quan hệ thương mại, trong đó có quy chế pháp lý của hợp đồng song vụ trong thương mại. Ở LTM, các quy định về hợp đồng song vụ trong thương mại có nhiều điểm khác biệt với trong BLDS song có dựa trên các nguyên tắc chung của BLDS. LTM điều chỉnh quan hệ kinh doanh thương mại nên chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố kinh tế, tập quán thương mại, thông lệ quốc tế và pháp luật thương mại quốc tế. Về các điểm khác biệt cơ bản giữa quan hệ hợp đồng song vụ trong dân sự và hợp đồng song vụ trong thương mại gồm: Chủ thể, đối tượng của hợp đồng, mục đích giao kết.
Về chủ thể, hợp đồng song vụ trong dân sự được giao kết giữa các cá nhân, tổ chức (có hoặc không có tư cách pháp nhân) đủ điều kiện giao kết hợp đồng theo quy định của BLDS. Trong khi đó, chủ thể chính của hợp đồng song vụ trong thương mại là các thương nhân (ngoài thương nhân có chủ thể khác là bên giao dịch với thương nh không vì mục đích sinh lợi nhưng lựa chọn áp dụng LTM). Thương nhân là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Khoản 1 Điều 6 LTM 2005).
Về mặt đối tượng của hợp đồng, hợp đồng song vụ trong dân sự có đối tượng là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện được xác định cụ thể. Đối tượng của hợp đồng song vụ trong thương mại chủ yếu là hàng hóa (thường là vật cùng loại, là sản phẩm của quá trình sản xuất, chế tạo được đưa ra lưu thông trên thị trường) và dịch vụ (công việc phải thực hiện mang tính chuyên nghiệp và có quy trình thực hiện nhất định).
Về mục đích giao kết, hợp đồng song vụ trong dân sự được giao kết để thỏa mãn các nhu cầu về tinh th, vật chất trong đời sống xã hội nói chung. Đối với hợp đồng song vụ trong thương mại, hợp đồng được giao kết nhằm mục đích sinh lời mang tính thường xuyên trong quá trình thực hiện kinh doanh của thương nhân, chủ yếu là mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ.
Bởi các yếu tố trên, các điểm khác biệt cơ bản giữa chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong dân sự với chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong thương mại bao gồm:
Chủ thể áp dụng:
- Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong dân sự: chủ thể áp dụng là các cá nhân, tổ chức (có hoặc không có tư cách pháp nhân).
- Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong thương mại: chủ thể áp dụng chính là thương nhân.
Xác định lỗi vi phạm (cơ bản do khác biệt về chủ thể):
- Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong dân sự: lỗi được xác định cụ thể là lỗ cố ý hay vô ý, mức độ, tương quan lỗi vi phạm. Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
- Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong thương mại: áp dụng nguyên tắc lỗi suy đoán như đã trình bày tại tiểu mục 1.2 thuộc Chương I của Luận văn này về lỗi của bên vi phạm.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ