Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Đặc điểm địa lý – tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Đắk Lắk tác động đến thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội

2.1.1. Đặc điểm địa lý – tự nhiên

Tỉnh Đắk Lắk nằm trên địa bàn Tây Nguyên về hướng Tây Nam dãy Trường Sơn, giữa cao nguyên Nam Trung Bộ, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Đắk Nông; phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, phía Tây giáp Cộng hòa Nhân dân Campuchia có đường biên giới chung dài trên 76 km, trên đó có quốc lộ 14C chạy dọc theo biên giới hai nước rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế vùng biên giới kết hợp với bảo vệ an ninh quốc phòng.

Tổng diện tích tự nhiên: 1.312.345 ha, trong đó: Đất nông nghiệp: 1.160.092 ha; Đất phi nông nghiệp: 88.351 ha; Đất chưa sử dụng: 63.902 ha [16, tr.10].

Dân số: 1.853.698 người, với khoảng 47 dân tộc anh em sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ trên 30%; mật độ dân số 141,23 người/km2, diện tích 13.125,37 km2 [16, tr 23].

Tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính gồm: Thành phố Buôn Ma Thuột, Thị xã Buôn Hồ và 13 huyện: Ea H’Leo, Ea Súp, Krông Năng, Krông Búk, Buôn Đôn, Cư M’Gar, Ea Kar, M’Rắk, Krông Pắk, Krông Bông, Krông Ana, Lắk, Cư Kuin.

2.1.2. Đặc điểm kinh tế – xã hội

Tỉnh Đắk Lắk xác định tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, tăng tính bền vững trong phát triển; đổi mới mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và y tế, văn hoá, thể dục thể thao. Kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, bảo đảm quốc phòng an ninh để từng bước xây dựng tỉnh Đắk Lắk trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của vùng Tây Nguyên, một cực phát triển trong tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia.

Giai đoạn 2010-2015, tình hình kinh tế – xã hội của cả nước nói chung và Đắk Lắk nói riêng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khó lường. Đó là tình trạng suy thoái kinh tế của nhiều nước và khu vực trên thế giới; những vấn đề mới phát sinh do các tranh chấp trên Biển Đông; doanh nghiệp hoạt động đình trệ, thua lỗ, giải thể; khô hạn diễn ra khốc liệt… Tất cả các yếu tố trên đan xen tác động đến quá trình phát triển của tỉnh. Song với quyết tâm chính trị cao, toàn Đảng bộ đã nỗ lực khắc phục khó khăn, tích cực thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XV của Đảng bộ tỉnh đề ra và đạt nhiều kết quả quan trọng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Quy mô, chất lượng nền kinh tế tiếp tục được nâng lên: Trong bối cảnh có nhiều yếu tố không thuận lợi, giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn (theo giá so sánh năm 1994) vẫn đạt mức tăng khá, bình quân 8%/năm. So với năm 2010, quy mô nền kinh tế năm 2015 gấp gần 1,5 lần; thu nhập bình quân đầu người đạt 34,9 triệu đồng, gấp 2,2 lần. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tiến bộ, giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp. Năm 2015, ước tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 47%, giảm 2,4%; công nghiệp – xây dựng chiếm 16,2%, tăng 0,5%; dịch vụ chiếm 36,7%, tăng 2,7% so với năm 2010.

Nông nghiệp, nông thôn có bước phát triển đi vào chiều sâu: Tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp khá ổn định, bình quân tăng 4%/năm. Các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa cà phê, cao su, tiêu đều tăng diện tích và từng bước thực hiện tái canh, áp dụng tiến bộ khoa học – công nghệ về giống, quản lý dịch bệnh, tưới nước, thu hoạch, sơ chế, bảo quản sau thu hoạch… đã cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm, gia tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích. Ước tính giá trị sản xuất bình quân/1 ha đất nông nghiệp năm 2015 đạt khoảng 72,3 triệu đồng, gấp 1,7 lần so với năm 2010. Chương trình xây dựng nông thôn mới được tập trung chỉ đạo. Đến tháng 9/2015, bình quân chung toàn tỉnh đã đạt 10,4 tiêu chí/xã và có 7 xã hoàn thành toàn bộ 19 tiêu chí nông thôn mới.

Từng bước cải thiện cơ sở hạ tầng: Hệ thống các đô thị, điểm dân cư nông thôn tiếp tục được quy hoạch và phát triển. Đô thị trung tâm của tỉnh – thành phố Buôn Ma Thuột đã được công nhận là đô thị loại I, trực thuộc tỉnh và đang xây dựng, phát triển thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên. Các tuyến giao thông đối ngoại như: Cảng hàng không Buôn Ma Thuột và các tuyến quốc lộ đã và đang được cải tạo mở rộng, nâng cấp, xây dựng mới. Giao thông đối nội đã kết nối thông suốt đến 100% trung tâm các xã trên toàn tỉnh, trong đó nhựa hoá và bê tông hoá 95,5% đường tỉnh, 81% đường huyện và 42% đường xã.

Thương mại – dịch vụ phát triển cả về quy mô và chất lượng: Khu vực dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 11,6%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng bình quân 15,2%/năm; giá trị năm 2015 ước đạt 47.686 tỷ đồng, gấp 2,4 lần so với năm 2010. Nhiều siêu thị, trung tâm thương mại được đầu tư xây dựng và hoạt động khá tốt, góp phần cung ứng hàng hóa tiêu dùng đảm bảo chất lượng, giữ bình ổn giá và từng bước hình thành thói quen giao dịch văn minh, hiện đại trong dân cư.

Doanh nghiệp từng bước phục hồi sản xuất kinh doanh: Các doanh nghiệp Nhà nước được sắp xếp theo kế hoạch và hoạt động có hiệu quả hơn. Kinh tế tập thể được quan tâm hỗ trợ phát triển, các tổ hợp tác và hợp tác xã kiểu mới ngày càng tăng về số lượng và chất lượng hoạt động; vai trò của thành phần kinh tế này được phát huy rõ nét hơn trong cơ chế thị trường và xây dựng nông thôn mới. Hoạt động của doanh nghiệp ngoài quốc doanh từng bước phục hồi, đóng góp ngày càng lớn vào quá trình phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động trên địa bàn. Đến cuối năm 2014, trên địa bàn tỉnh có 5.813 doanh nghiệp hoạt động, tổng vốn đăng ký gần 19.200 tỷ đồng.

Bước tiến trong kiên cố hóa, chuẩn hóa trường lớp học: Cơ sở vật chất trường học tiếp tục được đầu tư, xây dựng theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa, từng bước hiện đại hóa. So với năm 2010, năm 2015 đạt 95% thôn, buôn có điểm trường hoặc lớp mẫu giáo, tăng 10,7%; có 68,5% số phòng học đã được kiên cố hóa, tăng 10%; 31% số trường đạt Chuẩn Quốc gia, tăng 19,4%. Quy mô chất lượng ở các bậc học có sự tiến bộ, duy trì được kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở toàn tỉnh. Đến nay có 50% lao động của tỉnh đã qua đào tạo, tăng 13%; trong đó có 40% qua đào tạo nghề, tăng 11% so với năm 2010.

2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

2.2.1. Các phương diện đánh giá

  • Về thực hiện quy định về đối tượng và điều kiện bảo trợ xã hội

Tỉnh Đắk Lắk có tiềm năng kinh tế dồi dào song nền kinh tế chưa cao, kèm theo một số lượng lớn đối tượng Bảo trợ xã hội theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp đối với các đối tượng Bảo trợ xã hội [10] và Nghị định 13/2010/NĐ-CP [19], Nghị định 136/2013/NĐ-CP về chính sách trợ giúp đối với các đối tượng Bảo trợ xã hội [10].

Trong giai đoạn năm 2011-2015, chính sách trợ giúp các đối tượng Bảo trợ xã hội được nhà nước hết sức quan tâm việc ban hành Luật Người cao tuổi năm 2009 [13], Luật Người khuyết tật năm 2010 [12], các Nghị định và Thông tư có liên quan. Trên cơ sở đó, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo các Sở, ngành liên quan và địa phương trong tỉnh thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời và đúng quy định các chính sách, chế độ cho đối tượng Bảo trợ xã hội. Đối tượng càng được mở rộng, mức trợ cấp ngày càng được nâng cao. Việc điều chỉnh trợ cấp xã hội cho các đối tượng theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP [10] và Thông tư số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC [7] được các địa phương thực hiện đồng bộ, đúng quy trình, các đối tượng thuộc diện điều chỉnh đã được điều chỉnh đúng hệ số, mức trợ cấp, thời gian điều chỉnh…

Đối tượng và điều kiện thuộc diện thụ hưởng chính sách Bảo trợ xã hội ngày càng mở rộng, từ 4 nhóm đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng năm 2000 tăng lên 9 nhóm đối tượng từ năm 2007; điều kiện, tiêu chuẩn cũng ngày càng được mở rộng hơn. Đối tượng Bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh chiếm tỷ lệ tương đối cao khoảng hơn 2% dân số của tỉnh. Qua số liệu từng năm cho thấy số đối tượng được hưởng Bảo trợ xã hội cũng ngày một tăng, cụ thể năm 2012 tăng so với năm 2011 là 2.306 đối tượng, năm 2013 tăng vượt bậc so với năm 2012 là 5.560 đối tượng, năm 2014 số đối tượng lại tăng đáng kể đến 7.809 đối tượng so với năm 2012 do chính sách đổi mới của Nhà nước ta với việc bổ sung sửa đổi Nghị định số 67/2007/NĐ-CP bằng Nghị định 13/2010/NĐ-CP đã mở rộng đối tượng Bảo trợ xã hội và mức trợ cấp, cụ thể Người cao tuổi từ 85 tuổi xuống còn 80 tuổi, bỏ điều kiện cần cho đối tượng người tâm thần, người tàn tật; năm 2015 số đối tượng lại giảm đến 666 đối tượng so với năm 2014 do nhóm trẻ em được hưởng đã ngoài độ tuổi, nhóm Người cao tuổi thì giảm do già yếu, bệnh tật… Nhìn chung đối tượng được hưởng Bảo trợ xã hội đều tăng qua các năm. Qua phân tích số liệu thực tế, sự thay đổi dân số cũng ảnh hưởng đến đối tượng Bảo trợ xã hội, cụ thể là dân số và đối tượng yếu thế cùng tăng qua mỗi năm. Sự gia tăng tổng số đối tượng qua các năm là kết quả của sự gia tăng từng nhóm đối tượng, trong đó sức ảnh hưởng lớn nhất đối với sự gia tăng tổng số đối tượng là Người cao tuổi. Tỷ lệ Người cao tuổi khá cao trên 50% tổng số và tiếp theo thấp dần với các nhóm Người khuyết tật, nhóm người đơn thân, nhóm trẻ em, nhóm người bị nhiễm HIV được thể hiện rõ qua số liệu từ bảng 2.1.

  • Bảng 2.1: Tổng số đối tượng Bảo trợ xã hội hưởng thường xuyên từ năm 2011 – 2015.

Nhìn chung, các đối tượng đều tăng qua mỗi năm, chỉ có các đối tượng khác khi giảm khi tăng là do các đối tượng gồm trẻ em lang thang, các đối tượng trợ cấp đột xuất không cố định. Người lang thang hoạt động theo mùa, phụ thuộc tự nhiên nên đối tượng này ít và tăng giảm vô chừng. Tổng số đối tượng tăng giảm là sự biến động của từng nhóm trong đó, bao gồm:

  • Nhóm người cao tuổi: Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Đây là nhóm đối tượng được xem là chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nhóm đối tượng; Trong đó, bao gồm hai đối tượng là Người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo neo đơn và Người cao tuổi trên 80 tuổi và tỷ lệ người trên 80 tuổi luôn chiếm đa số, số lượng Người cao tuổi được hưởng Bảo trợ xã hội tăng qua các năm. Đến năm 2014 có sự gia tăng đáng kể so với năm 2011 với số lượng là 2.302 người chiếm tỷ lệ lên đến 59,25% tổng số đối tượng Bảo trợ xã hội có sự gia tăng đối tượng Bảo trợ xã hội qua các năm từ năm 2011 đến năm 2014, năm 2015 lại giảm so với năm 2014 với số lượng là 399 người chiếm tỷ lệ đến 59,56% tổng số đối tượng Bảo trợ xã hội.

  • Bảng 2.2: Tổng hợp đối tượng Người cao tuổi hưởng Bảo trợ xã hội ở tỉnh Đắk Lắk.

Sự ra đời của Nghị định số 13/2010/NĐ-CP mở rộng về đối tượng và điều kiện hưởng chính sách Bảo trợ xã hội; Năm 2010 áp dụng theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP thì đối tượng Người cao tuổi là 85 tuổi. Theo Khoản 2, Điều 17, Mục 4, Luật Người cao tuổi năm 2009 có hiệu lực từ ngày 15/7/2010 khi đó Người cao tuổi được hưởng Bảo trợ xã hội là 80 tuổi, gọi chung là Người cao tuổi. Đây có thể là lý do của sự gia tăng về số lượng từ năm 2014 đối với Người cao tuổi trên 80 tuổi tăng so với năm 2011, năm 2015 số lượng Người cao tuổi giảm so với năm 2014 là 1,88% là do tuổi già, bệnh tật chết… nên số lượng Người cao tuổi trên địa bàn tỉnh giảm đáng kể [15].

  • Nhóm người khuyết tật:

Đối tượng này cao thứ hai trong tổng số người được hưởng chính sách Bảo trợ xã hội; Số lượng thực tế người khuyết tật khó khăn trên địa bàn ngày càng tăng so với sự gia tăng của đối tượng được Bảo trợ xã hội. Số Người khuyết tật được hưởng chế độ trợ cấp được thể hiện ở bảng 2.3.

  • Bảng 2.3: Tổng số Người khuyết tật được trợ cấp hàng tháng qua các năm 2011-2015.

Qua bảng số liệu cho thấy, đối tượng Người khuyết tật tăng qua các năm. Đặc biệt có sự gia tăng đột ngột vào năm 2013 là do mở rộng đối tượng, nhà nước bỏ tiêu chí nghèo cho Người khuyết tật bằng Nghị định 13/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/02/2010 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp đối tượng Bảo trợ xã hội [9]. Cụ thể, số người khuyết tật năm 2011 chỉ chiếm 15,97% số đối tượng Bảo trợ xã hội, nhưng đến năm 2013 tăng lên chiếm 32,40%; Mặc dù, đối tượng này đã được mở rộng nhưng thực tế vẫn chưa bao phủ, còn nhiều người khuyết tật tương đối khó khăn nhưng chưa được hưởng các chế độ chính sách của Nhà nước.

Nhìn chung, người khuyết tật tăng ổn định khoảng trên dưới 5% năm, do có chính sách mở rộng đối tượng của Nhà nước bằng Nghị định 13/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/02/ 2010 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp đối tượng Bảo trợ xã hội, giảm bớt điều kiện sửa đổi tại Khoản 4, Điều 4, Nghị định 67/2007/NĐ-CP “thuộc hộ gia đình nghèo” và tại Khoản 5, Điều 4 “có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo” cho người tàn tật nặng, người mắc bệnh tâm thần được gộp vào nhóm Người khuyết tật [9]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

  • Nhóm đối tượng trẻ em:

Nhóm này bao gồm các đối tượng Trẻ em mồ côi theo Khoản 1, Điều 4, Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007: Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo; Người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên [4]. Năm 2014, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 có hiệu lực thì đối tượng trẻ em được mở rộng đối tượng hưởng, được nhóm chung thành nhóm trẻ em.

  • Bảng 2.4: Tổng số trẻ em được trợ cấp hàng tháng qua các năm 2011-2015

Trong năm 2011, số trẻ em được trợ cấp hàng tháng là 868 em, chiếm tỷ lệ 3,40% đối tượng Bảo trợ xã hội. Qua bảng số liệu, ta thấy nhóm trẻ em giảm qua các năm cụ thể: năm 2012 giảm so với năm 2011 là 8 em tỷ lệ giảm 0,92%; năm 2013 giảm so với năm 2012 là 238 em tỷ lệ giảm 27,7%, năm 2014 giảm so với năm 2013 là 125 em tỷ lệ giảm 20,1%; năm 2015 giảm so với năm 2014 là 117 em tỷ lệ giảm 23,5%. Nhóm trẻ em giảm qua các năm nguyên nhân là do số đối tượng hưởng đã ngoài độ tuổi hưởng.

  • Nhóm đối tượng đơn thân:

Theo Khoản 9, Điều 4, Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 “Người đơn thân thuộc hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hóa, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi” [4].

  • Bảng 2.5: Số người đơn thân được trợ cấp qua các năm 2011-2015.

Số người đơn thân nuôi con nhỏ thuộc diện hộ nghèo được hưởng trợ cấp hàng tháng ngày càng giảm, năm 2013 giảm so với năm 2012 là 11 người tỷ lệ giảm 31,5%; năm 2014 giảm so với năm 2013 là 224 người tỷ lệ giảm 10,4%, năm 2015 giảm so với năm 2014 là 197 người tỷ lệ giảm 10,2%. Nguyên nhân giảm là do tại Khoản 4, Điều 5, Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 hạn chế đối tượng hưởng “Người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật…”[10].

  • Nhóm đối tượng HIV: Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Qua số liệu bảng 2.1, nhóm đối tượng này có chiều hướng ngày càng tăng, năm 2011 có 01 trường hợp, chiếm 0,01% tổng số đối tượng Bảo trợ xã hội sau đó tăng dần theo các năm, đến năm 2015 tăng lên 24 trường hợp, chiếm 0,07% tổng số đối tượng Bảo trợ xã hội.

Qua phân tích các nhóm đối tượng trên đã minh chứng rằng đối tượng yếu thế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là không nhỏ và ngày càng có xu hướng gia tăng; Trên địa bàn cũng còn rất nhiều các đối tượng có hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nhưng không được hưởng trợ cấp do không đáp ứng điều kiện cần và đủ của chính sách như trẻ em gia đình quá nghèo nhưng không phải trẻ mồ côi, trẻ em mồ côi theo chế độ mẫu hệ, những người tàn tật có hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn còn khả năng phục vụ được. Đây là một thách thức lớn đối với các nhà quản lý, cần xây dựng chính sách bao phủ đến các đối tượng khó khăn nhưng vẫn đảm bảo nguồn ngân sách; Đồng thời các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương phải thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước theo đúng nghĩa vụ, quyền hạn của mình để hỗ trợ nhóm đối tượng khắc phục khó khăn, ổn định, phát triển, hòa nhập cộng đồng.

  • Về thực hiện quy trình tiếp nhận, thẩm định hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội

Công tác quản lý các đối tượng Bảo trợ xã hội, các cơ sở Bảo trợ xã hội khá chặt chẽ, theo đúng quy trình. Cụ thể, quy trình quản lý tại cộng đồng được thực hiện từ khâu rà soát, tiếp nhận hồ sơ, thẩm định và ra quyết định trợ cấp; Ủy ban Nhân dân các cấp trực tiếp quản lý đối tượng, theo dõi thay đổi về hoàn cảnh, lứa tuổi… để hướng dẫn làm hồ sơ và trực tiếp tiếp nhận, xét duyệt hồ sơ và chi trả phụ cấp. Đối với các đối tượng Bảo trợ xã hội tại các trung tâm, Sở Lao động Thương binh và Xã hội thẩm định, ra quyết định tiếp nhận đối tượng vào cơ sở theo quy định.

  • Việc tiếp nhận, thẩm định và xét duyệt hồ sơ hưởng chế độ trợ giúp thường xuyên

Năm 2015, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội các cấp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã tiếp nhận, thẩm định nghiêm túc và có trách nhiệm trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các cấp quyết định cho 34.972 đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, gồm: 20.829 đối tượng Người cao tuổi; 380 đối tượng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi…; 12.000 đối tượng là Người khuyết tật; 1.739 đối tượng là người đơn thân nghèo đang nuôi con nhỏ, 24 đối tượng bị nhiễm HIV.

  • Cụ thể về tình hình xác nhận người khuyết tật, trách nhiệm xác định mức độ khuyết tật từ năm 2011-2015 như sau:

Toàn tỉnh có 184/184 xã, phường, thị trấn thành lập hội đồng xác định mức độ khuyết tật theo đúng quy định tại Điều 16, Luật Người khuyết tật [12] và tổ chức hoạt động theo quy định tại Điều 2, Chương 2 của Thông tư liên tịch số 37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT [6]; Thủ tục xác định mức độ khuyết tật thực hiện đúng quy định tại Điều 18, Luật Người khuyết tật [12] và Điều 5 của Thông tư liên tịch số 37 [6]; Giấy xác nhận khuyết tật: Hàng năm Sở Lao động Thương binh và Xã hội in và cấp phôi giấy xác nhận khuyết tật cấp cho các huyện, thị xã, thành phố theo quy định, đảm bảo về số lượng và đầy đủ các nội dung theo quy định tại Khoản 1, Điều 19 của Luật Người khuyết tật [12]; Tính đến cuối năm 2015, toàn tỉnh có 12.000 Người khuyết tật được xác định mức độ khuyết tật và được cấp giấy xác nhận khuyết tật, cụ thể:

  • Về dạng tật: Khuyết tật vận động: 3.984 người; khuyết tật nghe, nói: 1.737 người; khuyết tật tầm nhìn: 1.739 người; khuyết tật thần kinh, tâm thần: 2.171 người, khuyết tật trí tuệ: 1.046 người; khuyết tật khác: 1.323 người.
  • Về mức độ khuyết tật: Khuyết tật nhẹ: 3.705 người, khuyết tật nặng: 5.944 người; khuyết tật đặc biệt nặng: 2.351 người.
  • Về thủ tục hồ sơ: Tất cả các hồ sơ thực hiện đầy đủ, đúng các biểu mẫu theo quy định hiện hành.
  • Về quy trình lập hồ sơ: Một số ít hồ sơ được lập không đúng trình tự, quy trình thiết lập hồ sơ. Đa số các hồ sơ được thể hiện thời gian từ khi đối tượng làm thủ tục đến khi hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng đều chậm hơn thời gian quy định (Có những hồ sơ thời gian niêm yết trước thời gian hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội cấp xã tổ chức họp, xét duyệt hồ sơ).

Đối với những trường hợp thôi hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng, quyết định dừng hưởng chưa kịp thời, dẫn đến trường hợp phải thu hồi lại số tiền đã nhận hàng tháng bằng hình thức trừ vào tiền mai táng phí. Đối tượng Người cao tuổi chết quyết định thôi hưởng trợ cấp kể từ tháng ngay sau tháng đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng chết mà vẫn cho thân nhân Người cao tuổi được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp kể từ tháng đối tượng Người cao tuổi chết.

  • Về đối tượng hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng.
  • Về mức hưởng trợ cấp: Hưởng đúng theo mức quy định.
  • Về thời gian hưởng trợ cấp: Thời gian hưởng trợ cấp xã hội đối với Người cao tuổi quy định tại Điểm b, Khoản 5, Điều 5, Nghị định 136/2013/NĐ-CP [10] kể từ thời điểm người đó đủ 80 tuổi. Đối với các đối tượng còn lại, hầu hết được Chủ tịch Ủy ban Nhân dân một số huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk quyết định cho hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng trước tháng Chủ tịch Ủy ban Nhân dân ký quyết định. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.
  • Việc tiếp nhận, thẩm định và xét duyệt hồ sơ hưởng chế độ trợ giúp đột xuất, chế độ mai táng phí:

Năm 2011-2015 Phòng Lao động Thương binh và Xã hội đã tiếp nhận, thẩm định và trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các cấp quyết định trợ cấp đột xuất cho 170 hộ gia đình có người chết và 237 hộ gia đình có nhà bị đỗ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng với tổng số tiền là 2.247.000.000 đồng. Việc trợ giúp đột xuất được thực hiện đúng đối tượng, đúng mức quy định và kịp thời cho đối tượng; Tiếp nhận, thẩm định và trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các cấp quyết định hưởng chế độ mai táng phí cho 170 đối tượng với tổng số tiền chi trả là 510.000.000 đồng. Việc chi trả mai táng phí được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng mức và đúng đối tượng.

  • Việc tiếp nhận, thẩm định và xét duyệt hồ sơ đưa đối tượng vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội:

Năm 2015, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk đã ký Quyết định đưa 119 đối tượng vào Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh (trong đó: trẻ em 09 người, cao tuổi 01 người, khuyết tật đặc biệt nặng 09 người và lang thang 100 người). Tổng số đối tượng đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh, nhà xã hội và các cơ sở khác là 1.179 người, kinh phí thực hiện khoảng 10 tỷ đồng. Trong đó, tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh đang nuôi dưỡng 397 người, kinh phí thực hiện 4,2 tỷ đồng, gồm:

Người cao tuổi là 16 người; Khuyết tật đặc biệt nặng là 162 người; Trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi là 140 người; Đối tượng lang thang là 15 người; Đối tượng tự nguyện là 36 người; Đối tượng ngoài tỉnh là 28 người.

  • Về thực hiện quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội

Từ năm 2011 – 2015 trên địa bàn tỉnh có 02 cơ sở Bảo trợ xã hội, trong đó có 01 cơ sở nhà nước, tổng số đối tượng đang được nuôi dưỡng đến năm 2015 là 551 đối tượng. Ngoài ra còn có 06 có sở khác có nuôi dưỡng, dạy nghề, phục hồi chức năng cho những người có hoàn cảnh đặc biệt tổng số đối tượng nuôi dưỡng 621 đối tượng (số liệu cụ thể bảng 2.6).

  • Bảng 2.6: Tổng hợp số liệu cơ sở Bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Các đối tượng được nuôi dưỡng tại các cơ sở chủ yếu là Người khuyết tật, Trẻ em mồ côi…hiện nay theo quy định tại Quyết định số 26/2010/QĐ-UBND ngày 14/10/2010 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk thì mức trợ cấp cho đối tượng Bảo trợ xã hội đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh là bằng 80% mức lương tối thiểu [29] (bảng 2.6 phân tích đối tượng tại các cơ sở). Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Việc thành lập các cơ sở Bảo trợ xã hội hiện nay đang tồn tại nhiều vấn đề đã gây khó khăn cho công tác quản lý các cơ sở Bảo trợ xã hội, cụ thể:

Theo quy định hiện nay việc thành lập các cơ sở Bảo trợ xã hội thì việc thẩm định hồ sơ thành lập thuộc trách nhiệm của ngành Nội vụ; tuy nhiên trong đề án thành lập thì có một số nội dung liên quan đến ngành Lao động Thương binh và Xã hội như đối tượng tiếp nhận, quy trình chăm sóc và các quy định khác. Do đó việc thành lập các cơ sở Bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn. Hiện nay ngoài 02 cơ sở Bảo trợ xã hội đã có quyết định thành lập thì tỉnh Đắk Lắk có 06 cơ sở khác có nuôi dưỡng, dạy nghề, phục hồi chức năng cho những người có hoàn cảnh đặc biệt song nhiều cơ sở gặp khó khăn trong việc hoàn chỉnh thủ tục để công nhận là cơ sở Bảo trợ xã hội theo quy định vì một số điều kiện không đảm bảo.

  • Bảng 2.7: Số liệu đối tượng tại các cơ sở Bảo trợ xã hội ở tỉnh Đắk Lắk.

Ngoài ra việc tiếp nhận và quản lý đối tượng cũng còn nhiều bất cập gây khó khăn cho các ngành trong công tác quản lý cụ thể: trong quản lý các đối tượng tại các cơ sở Bảo trợ xã hội như Người cao tuổi, Người khuyết tật, Trẻ em mồ côi… thì đối tượng quản lý thuộc ngành Lao động Thương binh và Xã hội nhưng về mô hình hoạt động, giáo án, giáo trình giảng dạy thì do các ngành như Giáo dục, Y tế đảm nhận. Việc tiếp nhận, đưa đối tượng vào các cơ sở Bảo trợ xã hội cũng rất khó khăn, đặc biệt là đối tượng lang thang; theo quy định khi đưa các đối tượng vào trung tâm Bảo trợ xã hội thì đối tượng phải có thân nhân, địa chỉ và một số quy định bắt buộc khác, tuy nhiên đối với đối tượng lang thang thì hầu hết họ không nhận thức được về bản thân, không có giấy tờ tùy thân do đó khi thu gom đối tượng gặp nhiều khó khăn trong việc xác định danh tính, tuổi tác, quê quán của đối tượng; trong khi theo quy định thì thời gian nuôi dưỡng đối tượng lang thang ngắn (tối đa 03 tháng và tối thiểu 15 ngày) do đó khi hết thời hạn trên phải thả đối tượng sau đó lại tiếp tục thu gom, điều này gây khó khăn lớn trong việc quản lý.

  • Về thực hiện quy định về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý hoạt động bảo trợ xã hội

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về Bảo trợ xã hội là một trong những công cụ, cơ sở quan trọng nhất cho việc nâng cao hiệu lực pháp luật về Bảo trợ xã hội; Hiện nay, tỉnh Đắk Lắk cũng như cả nước đang áp dụng chính sách Bảo trợ xã hội trên cơ sở Nghị định 67/2007/NĐ-CP, Nghị định 13/2010/NĐ-CP, Nghị định 136/2013/NĐ-CP và một số văn bản có liên quan; ngoài ra tỉnh cũng có nhiều văn bản để triển khai nội dung này đến các quận huyện làm cơ sở thực hiện. Sau Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ra đời, Ủy ban Nhân dân tỉnh cũng có Quyết định 122/2007/QĐ-UBND ngày 21/9/2007 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về điều chỉnh, bổ sung một số chế độ, chính sách xã hội của tỉnh Đắk Lắk để điều chỉnh mức trợ cấp cho đối tượng được Bảo trợ xã hội [28]. Với Nghị định 13/2010/NĐ-CP, tỉnh cũng có Quyết định số 26/2010/QĐ-UBND ngày 14/10/2010 về việc quy định mức trợ cấp, trợ giúp cho các đối tượng Bảo trợ xã hội trên địa bàn tình Đắk Lắk là 180.000đồng/người/tháng [29]; riêng các đối tượng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh được hưởng mức trợ cấp là bằng 80% mức lương tối thiểu. Đối với Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, hiện nay đã điều chỉnh mức trợ cấp xã hội tăng lên 270.000đồng/người/tháng tuy nhiên hiện nay chưa áp dụng cho tất cả đối tượng Bảo trợ xã hội mà chỉ áp dụng cho một số nhóm đối tượng nhất định.

Ngoài ra Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk tham mưu Ủy ban Nhân dân ban hành: Quyết định số 1062/QĐ-UBND ngày 20/5/2014 về việc phê duyệt kế hoạch thực hiện Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi năm 2014 – 2020; Quyết định số 374/QĐ-UBND ngày 04/2/2010 về việc thành lập Ban công tác người cao tuổi tỉnh Đắk Lắk; Quyết định số 1079/QĐ-UBND ngày 28/4/2011 quy định kinh phí thực hiện chính sách Bảo trợ xã hội và mức quà tặng chúc thọ, mừng thọ Người cao tuổi cụ thể: Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Mức chi thù lao cho cán bộ cấp xã là 350.000 đồng/người/tháng; Mức tặng quà chúc thọ, mừng thọ ở các độ tuổi quy định là: 70-75 tuổi mức tặng quà bằng hiện vật trị giá 100.000 đồng và 100.000 đồng tiền mặt; 80-85 tuổi mức tặng quà bằng hiện vật trị giá 100.000 đồng và 200.000 đồng tiền mặt; 95 tuổi mức tặng quà bằng hiện vật trị giá 100.000đồng và 300.000 đồng tiền mặt; trên 100 tuổi mức tặng quà bằng hiện vật trị giá 200.000 đồng và 500.000 đồng tiền mặt; 90 tuổi mức tặng quà bằng hiện vật trị giá 100.000 đồng và 300.000 đồng tiền mặt; 100 tuổi mức tặng quà là 05m vải lụa và 500.000 đồng tiền mặt [15].

Để triển khai thực hiện, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn việc thực hiện chính sách trợ cấp, trợ giúp cho đối tượng Bảo trợ xã hội nhằm đảm bảo thực hiện một cách thống nhất trên toàn tỉnh cụ thể:

Năm 2011 đến 2015 đã ban hành nhiều văn bản, hướng dẫn, tổ chức thực hiện chính sách trợ cấp, trợ giúp cho đối tượng Bảo trợ xã hội gồm: Công văn số 28/LĐTBXH-BTXH ngày 06/01/2012 về việc triển khai thực hiện chi trả trợ cấp xã hội thông qua bưu điện; công văn số 94/LĐTBXH-BTXH ngày 07/02/2012 về việc hướng dẫn quyết toán kinh phí ngân sách dành cho Người cao tuổi; công văn số 488/LĐTBXH-TBXH, ngày 25/4/2012 về việc hướng dẫn công tác Bảo trợ xã hội; Kế hoạch số 657/KH-LĐTBXH ngày 28/5/2012 về kế hoạch kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện chính sách trợ giúp xã hội và thí điểm chi trả trợ cấp xã hội thông qua bưu điện; hướng dẫn số 1254/HD-LĐTBXH ngày 05/9/2012 về hướng dẫn hồ sơ của Người cao tuổi 90 và 100 tuổi đề nghị tặng quà, chúc thọ, mừng thọ; kế hoạch số 1339/KH-LĐTBXH, ngày 18/9/2012 kế hoạch thăm, tặng quà, chúc thọ, mừng thọ cho Người cao tuổi 90 và 100 tuổi nhân dịp Quốc tế Người cao tuổi; công văn số 1403/LĐTBXH-BTXH, ngày 01/10/2012 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chi trả trợ cấp xã hội thông qua cung cấp dịch vụ; công văn số 83/LĐTBXH-BTXH ngày 17/01/2013 về việc tổ chức cứu đói dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt 2013; công văn số 131/LĐTBXH-BTXH ngày 24/01/2013 về việc thực hiện trợ giúp xã hội cho Người cao tuổi và Người khuyết tật; kế hoạch số 485/KH-LĐTBXH ngày 11/4/2013 kế hoạch kiểm tra cứu đói dịp giáp hạt 2013; kế hoạch số 844/KH-LĐTBXH ngày 17/6/2013 về giao nhận gạo và hướng dẫn cấp gạo cứu đói cho nhân dân; công văn số 1076/LĐTBXH-BTXH ngày 24/7/2013 về việc thực hiện chính sách trợ cấp xã hội đối với đối tượng Bảo trợ xã hội; kế hoạch số 1359/KH-LĐTBXH ngày 13/9/2013 về thăm, tặng quà, chúc thọ, mừng thọ cho Người Cao tuổi 90 tuổi và 100 tuổi nhân dịp Quốc tế Người Cao tuổi; công văn số 18/LĐTBXH-BTXH ngày 07/01/2014 về báo cáo cứu đói dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt 2014; công văn số 52/LĐTBXH-BTXH ngày 14/01/2014 về việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng Bảo trợ xã hội; hướng dẫn số 133/HD-LĐTBXH ngày 24/01/2014 hướng dẫn cấp gạo cho dân dịp Tết Nguyên đán 2014; kế hoạch số 490/KH-LĐTBXH ngày 11/4/2014 về kiểm tra cứu đói giáp hạt 2014; hướng dẫn số 948/HD-LĐTBXH ngày 20/6/2014 về hướng dẫn thực hiện các chính sách Bảo trợ xã hội; kế hoạch số 1566/KH-LĐTBXH ngày 12/9/2014 về thăm, tặng quà, chúc thọ, mừng thọ cho Người Cao tuổi 90 tuổi và 100 tuổi nhân dịp Quốc tế Người Cao tuổi; kế hoạch số 1782/KH-LĐTBXH ngày 13/10/2014 về kiểm tra tình hình chi trả trợ cấp xã hội thông qua bưu điện và công văn số 2366/LĐTBXH-BTXH ngày 26/12/2014 về việc trợ giúp xã hội Tết Nguyên đán Ất Mùi và giáp hạt năm 2015; Công văn số 414/SLĐTBXH-BTXH ngày 18/3/2015 về việc điều chỉnh trợ cấp cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP; Công văn số 368/LĐTBXH-BTXH ngày 11/03/2015 về việc cứu đói giáp hạt năm 2015; Kế hoạch số 415/KH-SLĐTBXH ngày 18/3/2015 về việc kiểm tra tình hình thực hiện Nghị định số 136/2013/NĐ-CP của Chính phủ; Kế hoạch số 1718/KH-SLĐTBXH ngày 18/9/2015 về thăm, tặng quà chúc thọ, mừng thọ cho người cao tuổi 90 tuổi, 100 tuổi nhân dịp Ngày Quốc tế Người cao tuổi 01/10; Kế hoạch số 1767/KH-SLĐTBXH ngày 28/9/2015 về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và bồi dưỡng kỹ năng nâng cao năng lực cho cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội năm 2015; Kế hoạch số 1860/KH-SLĐTBXH ngày 7/10/2015 về tập huấn cho cán bộ, nhân viên và cộng tác viên trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ tâm thần năm 2015. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Nhìn chung, tỉnh Đắk Lắk đã tích cực triển khai, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về Bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, công tác xây dựng và ban hành văn bản pháp luật về Bảo trợ xã hội còn thụ động, trông chờ vào cấp trên; Nhiều chính sách dành cho các đối tượng Bảo trợ xã hội nhưng các đối tượng không sử dụng được tất cả các dịch vụ, cụ thể về kinh tế người được chăm lo cần nhưng không đủ, về các chính sách khác như giáo dục, đào tạo, dạy nghề thì nhiều đối tượng vẫn chưa sử dụng đến vì điều kiện, hoàn cảnh không cho phép. Nhiều văn bản nên dẫn đến khi thực hiện cần tra cứu nhiều nguồn, dễ hiểu nhầm và hiểu sai, chồng chéo đối tượng, phạm vi gây khó khăn trong tổ chức thực hiện; Một số chính sách chưa thật hợp lý, công bằng. Ví dụ chế độ trợ cấp đối với gia đình nhận nuôi một trẻ (mồ côi) hoặc nuôi nhiều trẻ cũng chỉ được hưởng 1 suất là không hợp lý…

  • Thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội (Đề án 32) [14]:

Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 1262/KH-UBND ngày 21/03/2011 về thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2010 – 2020. Theo đó, Sở Lao động Thương binh và Xã hội được Ủy ban Nhân dân tỉnh giao chủ trì thực hiện kế hoạch nên hàng năm chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện như: Kế hoạch số 1473/KH-LĐTBXH ngày 05/12/2011; Kế hoạch số 1619/KH-LĐTBXH ngày 08/11/2012; Kế hoạch số 1520/KH-LĐTBXH ngày 17/10/2013; Kế hoạch số 1513/KH-LĐTBXH ngày 05/9/2014; Kế hoạch số 1767/KH-SLĐTBXH ngày 28/9/2015.

Công tác tuyên truyền được thực hiện trên các phương tiện truyền thông như: Đài phát thanh và truyền hình, tờ rơi, băng rôn… Năm 2014, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện phóng sự “Thực trạng và hướng phát triển nghề công tác xã hội tại Đắk Lắk”.

Đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn kỹ năng: Giai đoạn năm 2011 – 2015, Sở Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp, liên kết với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghề công tác xã hội để mở 01 lớp đào tạo tại chức hệ vừa làm vừa học (trình độ đại học) cho cán bộ, nhân viên công tác xã hội ở các cấp và 09 lớp bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ, viên chức, nhân viên của cấp xã, cấp huyện và của Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh, cụ thể:

Bồi dưỡng, tập huấn: Mở 09 lớp bồi dưỡng, tập huấn với 13 chuyên đề liên quan cho 554 lượt cán bộ, viên chức, nhân viên cấp xã, cấp huyện và Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh, kinh phí 1.096.125.000 đồng, trong đó: (Năm 2011: mở 03 lớp, cho 157 cán bộ, viên chức, nhân viên cấp xã, cấp huyện, kinh phí 150.000 đồng; Năm 2012: mở 03 lớp, cho 186 cán bộ, viên chức, nhân viên cấp xã, cấp huyện, Trung tâm bảo trợ xã hội, kinh phí 348.656.000 đồng (trong đó: mở 02 lớp cho 142 cán bộ, viên chức, nhân viên cấp xã, cấp huyện; 01 lớp cho 44 cán bộ, viên chức, nhân viên của Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh); Năm 2013: mở 01 lớp, cho 88 cán bộ, viên chức, nhân viên cấp xã, cấp huyện, kinh phí 149.337.000 đồng; Năm 2014, mở 01 lớp, cho 67 cán bộ, viên chức, nhân viên cấp xã, cấp huyện, kinh phí 134.982.000 đồng; Năm 2015, mở 01 lớp, cho 78 cán bộ, viên chức, nhân viên cấp xã, cấp huyện, kinh phí 110.000.000 đồng). Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Đào tạo, bắt đầu từ năm 2013 Sở Lao động Thương binh và Xã hội liên kết với Trường Đại học Lao động Xã hội (cơ sở II, tại thành phố Hồ Chí Minh) mở 01 lớp đào tạo tại chức hệ vừa làm vừa học (trình độ đại học) cho 40 cán bộ, nhân viên công tác xã hội, kinh phí 160.000.000 đồng/năm, thời gian học 04 năm.

Xây dựng thí điểm, phát triển các cơ sở cung cấp dịch vụ; phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội và điều tra, thu thập thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu:

Hiện nay ở tỉnh Đắk Lắk, đang xây dựng phương án thành lập Trung tâm công tác xã hội của tỉnh.

Theo kế hoạch thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội của tỉnh, trong 10 năm (2011 – 2020), tỉnh Đắk Lắk sẽ thu thập thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu và phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội ở các cấp trình độ cho khoảng 1.000 người, trong đó cộng tác viên công tác xã hội ở cấp xã từ 184 đến 368 người (mỗi xã, phường, thị trấn có từ 01 đến 02 cộng tác viên công tác xã hội). Hiện nay, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 07/2013/TT-BLĐTBXH ngày 24/5/2013 quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ cộng tác viên công tác xã hội xã, phường, thị trấn. Do vậy, một số huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh chỉ đạo các phòng, ban liên quan nghiên cứu, xây dựng kế hoạch tuyển chọn và lập dự toán kinh phí chi trả phụ cấp cho cộng tác viên công tác xã hội cấp xã trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, tiến tới ký hợp đồng, sử dụng, quản lý cộng tác viên công tác xã hội cấp xã.

  • Thực hiện Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng (Đề án 1215) [14]:

Sở Lao động Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 3275/KH-UBND ngày 18/6/2012 về thực hiện Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2012 – 2015. Hàng năm, Sở Lao động Thương binh và Xã hội xây dựng, ban hành kế hoạch tập huấn cho cán bộ, nhân viên và cộng tác viên trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ tâm thần và tập huấn cho gia đình đối tượng về kỹ năng, phương pháp chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần: Kế hoạch số 1717/KH-LĐTBXH, ngày 18/11/2013; Kế hoạch số 1778/KH-LĐTBXH ngày 13/10/2014; Kế hoạch số 1860/KH-SLĐTBXH ngày 07/10/2015. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Công tác tuyên truyền: Hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình và cộng đồng trong việc trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí trong thời gian qua đã được triển khai. Sở Lao động Thương binh và Xã hội thực hiện 01 panô ngoài trời, kích thước 32m2 (8m x 4m), nội dung “Đừng xa lánh! Hãy quan tâm chăm sóc người bệnh tâm thần”.

Phát triển nguồn nhân lực: Việc bồi dưỡng, tập huấn kiến thức công tác xã hội cho cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên và tập huấn về kỹ năng, phương pháp chăm sóc, phục hồi chức năng đối với người tâm thần cho gia đình đối tượng trong thời gian qua được thực hiện đồng bộ, có hiệu quả, Sở Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp với Bệnh viện Tâm thần tỉnh Đắk Lắk và Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 (tỉnh Đồng Nai) để tổ chức 08 lớp tập huấn cho 616 người là cán bộ cấp xã, cấp huyện và gia đình đối tượng (trong đó: cán bộ cấp xã, cấp huyện là 347 người; gia đình đối tượng là 269 người), kinh phí thực hiện 348.214.000 đồng, cụ thể: Năm 2013: Mở 05 lớp tập huấn cho 367 người là cán bộ, viên chức, nhân viên cấp xã, cấp huyện và gia đình đối tượng (98 cán bộ cấp huyện, cấp xã và 269 gia đình đối tượng), kinh phí 128.533.000 đồng; Năm 2014: Mở 02 tập huấn cho 141 người là cán bộ, viên chức, nhân viên cấp xã, cấp huyện, kinh phí 119.681.500 đồng; Năm 2015: Mở 01 lớp tập huấn cho 108 người là cán bộ, viên chức, nhân viên cấp xã, cấp huyện, kinh phí 100.000.000 đồng.

Xây mới cơ sở Bảo trợ xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần: Trên cơ sở Quyết định số 1364/QĐ-LĐTBXH ngày 02/10/2012 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở Bảo trợ xã hội chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2012-2020; Công văn số 462/LĐTBXH-BTXH ngày 19/2/2013 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc triển khai đề án quy hoạch mạng lưới cơ sở Bảo trợ xã hội chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2012 – 2020. Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã hoàn thiện hồ sơ, thủ tục theo quy định gửi các Bộ, ngành Trung ương liên quan, bố trí đất và quyết định thành lập Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí trực thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội (Quyết định số 1197/QĐ-UBND ngày 19/5/2015) và đề nghị Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thẩm định phê duyệt đề xuất chủ trương đầu tư và bố trí vốn đầu tư (giai đoạn 1), cụ thể: Diện tích sử dụng đất: 100.000m2; Địa điểm xây dựng: Phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Quy mô nuôi dưỡng, phục hồi luân phiên cho 500 người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí (giai đoạn 1 với quy mô 300 người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí); Giai đoạn thực hiện đầu tư 2016 đến 2018 (dự kiến tháng 11/2018 hoàn thành và đưa vào sử dụng); Tổng mức đầu tư 71.648 triệu đồng, trong đó ngân sách Trung ương là 64.648 triệu đồng, ngân sách địa phương 7.000 triệu đồng (đền bù giải phóng mặt bằng).

Điều tra, khảo sát, xây dựng cơ sở dữ liệu; Phát triển các cơ sở phòng và trị liệu rối nhiễu tâm trí: Theo kế hoạch thực hiện Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2012 – 2015 của tỉnh thì trong giai đoạn 2012 – 2015 xây dựng thí điểm 01 mô hình cơ sở phòng và trị liệu rối nhiễu tâm trí tại 01 đơn vị cấp huyện có đông đối tượng và có nguy cơ cao bị tâm thần và khảo sát nhu cầu đào tạo của cán bộ, viên chức và cộng tác viên về lĩnh vực trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần; nghiên cứu khảo sát, đánh giá nhu cầu phòng và trị liệu rối nhiễu tâm trí; khảo sát, cập nhật số liệu đối tượng người tâm thần được trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. Tuy nhiên, do kinh phí không được bố trí (địa phương khó khăn về ngân sách) do vậy các nội dung này chưa được triển khai thực hiện. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

  • Về thực hiện quy định về các nguồn lực bảo đảm thực hiện chế độ bảo trợ xã hội
  • Về tổ chức bộ máy quản lý thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội [30]:

Một là, đối với cấp tỉnh: Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk là cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban Nhân dân tỉnh thực hiện chức năng Quản lý Nhà nước đối với các hoạt động Bảo trợ xã hội trên địa bàn; Sở chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Ủy ban Nhân dân tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, giám sát và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh có 10 phòng chuyên môn thực hiện công tác bảo đảm hoạt động ngành cùng với chức năng tham mưu cho Giám đốc Sở về các lĩnh vực chính sách lao động, việc làm, dạy nghề, chính sách người có công, chính sách xã hội, thanh tra chính sách, pháp luật lao động trên địa bàn tỉnh… Chức năng của Sở trong quản lý hoạt động Bảo trợ xã hội như sau:

Giúp Ủy ban Nhân dân tỉnh Quản lý Nhà nước đối với các đối tượng Bảo trợ xã hội, cơ sở Bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật; Phối hợp với các tổ chức liên quan trong phạm vi, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm thực hiện theo các quy định của pháp luật Bảo trợ xã hội; Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát cấp huyện trong việc xác định và quản lý đối tượng; tổ chức thực hiện Bảo trợ xã hội trên địa bàn; Báo cáo định kỳ 6 tháng, 01 năm và đột xuất tình hình, kết quả thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng Bảo trợ xã hội cho Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Ủy ban Nhân dân tỉnh.

Phòng Bảo trợ xã hội: là phòng chuyên môn của Sở Lao động Thương binh và Xã hội, trực tiếp thực hiện công việc tham mưu các nội dung về hoạt động Bảo trợ xã hội, các phong trào toàn dân chăm sóc, hỗ trợ đối tượng chính sách xã hội. Trong đó, riêng về Bảo trợ xã hội gồm các nhiệm vụ thực hiện các chế độ, chính sách cho các đối tượng Bảo trợ xã hội, thống kê, báo cáo Bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật; quản lý các đối tượng Bảo trợ xã hội, cơ sở Bảo trợ xã hội trên địa bàn; tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động của các cơ sở Bảo trợ xã hội; theo dõi và thực hiện kiểm tra, giám sát các cơ sở Bảo trợ xã hội và các huyện, thị xã, thành phố thực hiện công tác Bảo trợ xã hội. Phòng bảo trợ xã hội, có 01 Trưởng phòng, 02 Phó trưởng phòng và 04 cán bộ, chuyên viên, trong đó có 03 cán bộ hợp đồng, tổng số cán bộ, công chức là 07 người (trong đó có 02 nữ); về trình độ có 01 Thạc sỹ, 06 Cử nhân. Song số lượng cán bộ, công chức được đào tạo chuyên ngành về công tác xã hội là 02 người, còn lại chuyên ngành được đào tạo chủ yếu là kinh tế. Công tác phối hợp của phòng Bảo trợ xã hội: phòng sẽ phối hợp với ban đại diện hội Người cao tuổi tỉnh, hội bảo trợ NTT và Trẻ em mồ côi tỉnh, Ủy ban Nhân dân cấp huyện để quản lý các đối tượng này, phối hợp với phòng Kế hoạch – Tài chính của Sở trong quá trình quản lý kinh phí hoạt động Bảo trợ xã hội trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Thanh tra Sở Lao động Thương binh và Xã hội chức năng giúp Giám đốc Sở quản lý nhà nước về công tác thanh tra và thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về pháp luật lao động, người có công và xã hội; thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về chính sách trợ giúp cho các đối tượng Bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh; thanh tra hành chính đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân thuộc quyền quản lý của Sở về thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ được giao; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật. Thanh tra Sở Lao động Thương binh và Xã hội, có 01 Chánh thanh tra, 02 Phó chánh thanh tra, 02 thanh tra viên và 01 chuyên viên (trong đó có 03 nữ), về trình độ có 01 Thạc sỹ, 05 Cử nhân. Đa số lượng cán bộ, công chức được đào tạo chuyên ngành về luật. Phối hợp với phòng bảo trợ xã hội để nắm bắt, cập nhật số lượng đối tượng và các văn bản chính sách pháp luật về Bảo trợ xã hội hiện hành phục vụ cho công tác thanh tra.

Hai là, đối với cấp huyện: có một lãnh đạo phòng Lao động Thương binh và Xã hội phụ trách và 01 chuyên viên trực tiếp đảm nhậm nhiệm vụ về hoạt động Bảo trợ xã hội. Phòng LĐTBXH cấp huyện cũng phối hợp với hội Người cao tuổi, hội bảo trợ NTT và Trẻ em mồ côi cùng cấp để quản lý hoạt động Bảo trợ xã hội ở địa phương mình.

Ba là, đối với cấp xã: có 01 cán bộ phụ trách công tác Bảo trợ xã hội, tuy nhiên hiện nay hầu hết là kiêm nhiệm.

Nhìn chung tổ chức bộ máy khá chặt chẽ từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn. Song công tác phối hợp thực hiện chưa thật sự hiệu quả, một số huyện, thị xã, thành phố chưa có cán bộ chuyên trách, nhiều xã, phường thị trấn cán bộ Lao động Thương binh và Xã hội còn kiêm nhiệm, nên công tác Bảo trợ xã hội đôi lúc còn chậm trễ.

Tóm lại, cơ quan quản lý chính hoạt động Bảo trợ xã hội là Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh, các cơ quan khác cũng có trách nhiệm trong các công việc liên quan như Ban đại diện hội Người cao tuổi tỉnh, hội bảo trợ NTT – Trẻ em mồ côi tỉnh…. Tuy nhiên, tất cả các cơ quan này đều không có nhân sự chuyên trách thực hiện Bảo trợ xã hội mà chủ yếu là kiêm nhiệm; Các cơ quan cũng chưa có văn bản thống nhất trong việc phối hợp hoạt động, đây là những tồn tại chính về tổ chức bộ máy quản lý Bảo trợ xã hội tại địa phương. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

  • Đội ngũ nhân lực thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội :

Trong những năm qua, nhân lực thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội với tinh thần phục vụ, tận tụy, sáng tạo đã thực hiện khá tốt vai trò tham mưu giúp Ủy ban Nhân dân tỉnh quản lý hoạt động Bảo trợ xã hội trên địa bàn theo phân cấp và theo quy định của pháp luật. Công tác Bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh được quan tâm nhiều, các lực lượng xem xét, theo dõi ở khắp địa bàn. Tuy nhiên, lực lượng hỗ trợ Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Bảo trợ xã hội hiện nay còn hạn chế, cấp huyện chỉ có 01 cán bộ phụ trách chính; cấp xã, cán bộ phụ trách thực hiện Bảo trợ xã hội chỉ thực hiện công việc kiêm nhiệm, chưa phân công một nhân sự cụ thể để phụ trách quản lý lĩnh vực này. Mặc dù có sự kết hợp với nhiều tổ chức để quản lý, chăm lo đối tượng Bảo trợ xã hội, nhưng thực hiện chính vẫn là ngành Lao động Thương binh và Xã hội đảm nhận nên việc quản lý không hiệu quả, dễ mắc lỗi. Đảng và chính quyền cũng xác định được tầm quan trọng của đội ngũ nhân lực thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội và đã có những cố gắng nhất định trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Bảo trợ xã hội nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu hiện tại, công tác này vẫn còn những tồn tại:

Về số lượng: tổng số cán bộ cấp tỉnh, huyện, xã là: 630 người/1.873.724 dân số (cụ thể cấp tỉnh 15 người; cấp huyện 45 người và cấp xã 350 người, tại các cơ sở Bảo trợ xã hội 220 người). Điều này làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội: chậm trễ trong việc ra quyết định hưởng trợ cấp thường xuyên, mai táng phí và trợ cấp đột xuất; chậm trong công tác tổng hợp, báo cáo về đối tượng cũng như việc thực hiện chính sách cho các đối tượng; khó khăn trong việc quản lý các cơ sở nuôi dưỡng đối tượng Bảo trợ xã hội.

Về chất lượng: hiện tại đội ngũ cán bộ cấp tỉnh hầu hết được đào tạo các chuyên ngành về kinh tế nên thiếu kỹ năng về công tác xã hội, số lượng cán bộ hợp đồng còn nhiều (03 người); chuyên viên phụ trách quản lý hoạt động Bảo trợ xã hội cấp huyện chưa có chuyên môn cao, do tính chất công việc kiêm nhiệm, thời gian làm việc bị phân tán cho chuyên môn khác.

Về công tác đào tạo, bồi dưỡng chất lượng đội ngũ thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội tuy đã được chú trọng và đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực của phòng nói chung và của chuyên viên thực hiện chính sách Bảo trợ xã hội nói riêng, đã có những đóng góp nhất định nhưng nhìn chung vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn. Do đó, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác này trong thời gian tới, nhất là cán bộ cơ sở. Ngoài ra, việc luân chuyển cán bộ không dự bị cán bộ kế thừa, nên việc nắm bắt tình hình không sát sao, dẫn đến hồ sơ chậm trễ và công tác quản lý, thu thập số liệu cũng khó khăn.

Về trợ giúp về vật chất: Thực hiện về trợ giúp vật chất, theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và Nghị định 13/2010/NĐ-CP Nhà nước trợ giúp bằng tiền đối với người yếu thế dưới hai hình thức là trợ cấp đột xuất và trợ cấp thường xuyên. Trợ cấp thường xuyên có thể xem là hoạt động chủ đạo của Bảo trợ xã hội; theo qui định thì mức trợ cấp đột xuất chỉ mang tính hỗ trợ, phần lớn là vận động từ cộng đồng xã hội. Trên địa bàn tỉnh, số lượng được hưởng trợ cấp hàng năm đều tăng nên số tiền trợ cấp cũng tăng đáng kể; Sự điều chỉnh mức hưởng cũng như mở rộng đối tượng hưởng trợ cấp từ Nghị định 13/2010/NĐ-CP của Chính phủ đã phần nào thay đổi diện mạo cho chính sách Bảo trợ xã hội, kinh phí thực hiện qua các năm như sau:

  • Bảng 2.8: Kinh phí trợ cấp thường xuyên tỉnh Đắk Lắk năm 2011-2015.

Từ bảng 2.8 kinh phí trợ cấp thường xuyên Bảo trợ xã hội trên có thể thấy rằng kinh phí cho hoạt động này ngày một tăng theo sự gia tăng của đối tượng Bảo trợ xã hội. Cụ thể, năm 2011 kinh phí chi trợ cấp hàng tháng hơn 57.276 triệu đồng, năm 2014 số đối tượng tăng nên kinh phí trợ cấp cũng tăng theo lên trên 37.000 tỷ đồng, năm 2015 số đối tượng giảm nhưng kinh phí lại tăng lên 31.600 tỷ đồng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Số tiền chi cho trợ cấp đột xuất khá khiêm tốn so với trợ cấp thường xuyên (bảng 2.8); Song số lượng người chết, mất tích và số nhà ở được hỗ trợ do thiên tai, bão lũ ngày càng tăng, điều này chứng tỏ tình hình thiên tai trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường.

Ngoài ra việc cứu đói dịp Tết Nguyên đán, giáp hạt hàng năm luôn được Ủy ban Nhân dân tỉnh quan tâm, cũng như kinh phí phân bổ từ Trung ương cho việc cứu đói nhờ vậy đã góp phần không nhỏ trong việc ổn định đời sống của người dân, giúp người dân yên tâm hơn trong cuộc sống.

  • Bảng 2.9: Tổng hợp hỗ trợ đột xuất của tỉnh Đắk Lắk năm 2011-2015.
  • Bảng 2.10: Tổng hợp cứu đói qua các năm từ năm 2011-2015.

Bên cạnh đó, cuối năm 2009 Luật Người cao tuổi được ban hành và có hiệu lực vào tháng 7/2010, theo đó những Người cao tuổi tròn 70, 75, 80, 85, 90, 95, 100 tuổi sẽ được thăm, mừng thọ chúc thọ, mừng thọ. Bắt đầu thực hiện năm 2011 đến nay đã tổ chức chúc thọ, mừng thọ cho 26.936 lượt người, kinh phí trên 6 tỷ đồng; tổ chức thăm tặng quà cho 51.581 lượt người, kinh phí gần 500 triệu đồng. Ngoài ra, mỗi năm các đơn vị phối hợp như Hội Bảo trợ NTT và Trẻ em mồ côi, hội Người cao tuổi, Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh… cũng vận động các nhà hảo tâm, mạnh thường quân để xây dựng nhà tình thương cho một số đối tượng đặc biệt khó khăn, tặng quà tết cho các đối tượng; tặng học bỗng, quần áo, sách vở cho nhóm đối tượng trẻ em; Thêm vào đó, Nhà nước còn hỗ trợ bằng cách cho các các đối tượng nghèo neo đơn vay với lãi suất ưu đãi để làm sinh kế [22].

Qua các số liệu thống kê, khoản chi ngân sách cho hoạt động Bảo trợ xã hội mỗi năm chiếm khoảng 3% tổng chi ngân sách của tỉnh và con số này luôn tăng qua mỗi năm, vì thế các nhà quản lý cần có sự rà soát chặt chẽ và dự báo sự gia tăng của đối tượng để đảm bảo nguồn kinh phí không ảnh hưởng đến chi ngân sách cho các hoạt động quan trọng khác đồng thời có những chính sách khuyến khích cộng đồng cùng tham gia tiến tới xã hội hóa hoạt động Bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, có một thực tế rất rõ ràng là mức trợ cấp còn thấp và chậm được điều chỉnh. Mức trợ cấp tối thiểu cho đối tượng sống tại cộng đồng hiện nay mới chỉ bằng 10,31% thu nhập bình quân, 60% chuẩn nghèo khu vực nông thôn ban hành năm 2011…. Mức trợ cấp hiện hành mới chỉ bảo đảm hỗ trợ được một phần các nhu cầu thiết yếu tối thiểu của đối tượng. Bên cạnh mức hưởng thấp thì thời gian giữa các lần điều chỉnh mức trợ cấp lại dài (thường là 3-5 năm) nên mức trợ cấp không phản ánh được đúng nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của các nhóm đối tượng cũng như chi phí cuộc sống (phản ánh bằng chỉ số giá tiêu dùng). Trong giai đoạn 2000-2010, mức chuẩn này chỉ tăng có 2,7 lần, trong khi chỉ số giá tiêu dùng tăng gần 4 lần. Chính vì vậy, hiệu quả chính sách chưa cao, chưa tạo được sự an toàn cho đối tượng hưởng lợi. Ngoài ra, trợ cấp đột xuất, khắc phục rủi ro, thiên tai có lúc, có nơi chưa kịp thời (nguồn ngân sách) và chưa công bằng, hợp lý (nguồn cộng đồng đóng góp ủng hộ).

  • Trợ giúp bằng y tế, phục hồi chức năng: Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Hàng năm, kèm theo sự trợ giúp bằng tiền, một số đối tượng Bảo trợ xã hội còn được chăm lo về y tế. Với chủ trương giúp những người yếu thế tiếp cận với các dịch vụ y tế, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe khi đau ốm, Nhà nước đã hỗ trợ bằng khám chữa bệnh miễn phí, chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng và khuyến khích hình thức khám chữa bệnh nhân đạo. Bảo đảm 100% đối tượng Bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh được cấp thẻ BHYT miễn phí. Mỗi đối tượng đều được cấp thẻ BHYT, trường hợp các hộ gia đình nuôi con nhỏ thì các bé cũng nhận được BHYT.

Bên cạnh những kết quả đạt được, chính sách y tế vẫn còn một số tồn tại nhất định: Các đối tượng rất khó khăn và rất cần được chăm sóc đầy đủ về sức khỏe, đặc biệt là các đối tượng NTT, người tâm thần, các đối tượng là Người cao tuổi; Bệnh viện tuyến huyện không đủ dụng cụ cũng như tay nghề điều trị các căn bệnh mãn tính, bệnh nặng khác, trong khi đó các đối tượng Bảo trợ xã hội không có điều kiện về tài chính lẫn phương tiện để lên tuyến trên, cùng với tư tưởng của các bác sỹ không muốn chuyển bệnh nhiều lên tuyến trên nên các đối tượng hưởng không trọn vẹn chính sách. Công tác thực hiện cấp thẻ bảo hiểm y tế đôi lúc trùng lắp đối tượng, có đối tượng nhận hai thẻ, có đối tượng bỏ sót, tuy số lượng này không nhiều nhưng cũng bộc lộ sự hạn chế trong công tác quản lý.

  • Trợ giúp bằng học nghề, giới thiệu việc làm:

Toàn tỉnh hiện nay có 43 cơ sở dạy nghề và 01 Trung tâm dịch vụ việc làm, các trung tâm cũng có nhiều ngành học cho các học viên, nhưng đối với đối tượng NTT thì các trung tâm không có ngành học cũng như dụng cụ chức năng cho học viên, chính vì thế số lượng NTT được học nghề rất hạn chế, chỉ có một số em khuyết tật ở chân nhưng không phải trong đối tượng được hưởng chế độ Bảo trợ xã hội và các em cũng học không trọn khóa học với lý do mặc cảm với bạn bè cùng lứa. Mặc dù thiện nay đã có nhiều hỗ trợ cho các em khi theo học nghề như miễn giảm học phí, hỗ trợ tiền ăn khi đi học, hỗ trợ dụng cụ học tập nhưng số theo học của đối tượng Bảo trợ xã hội vẫn không cao, cụ thể trong giai đoạn 2011-2015 chỉ có 27 đối tượng bảo trợ xã hội đến học nghề tại các cơ sở dạy nghề, số lượng vẫn quá ít so với số đối tượng trong độ tuổi lao động. Nhìn chung công tác dạy nghề trên địa bàn tỉnh đối với các đối tượng Bảo trợ xã hội không hiệu quả; Số lượng đối tượng được đào tạo không tăng trong khi đối tượng Bảo trợ xã hội trong độ tuổi lao động ngày một tăng sẽ dẫn đến thực trạng lao động không có tay nghề, lương không cao, kéo theo thảm cảnh nghèo không giảm, đây cũng là vấn đề cho các nhà quản lý về dạy nghề, việc làm cũng như các vấn đề xã hội.

  • Về thực hiện quy định về công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm

Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về Bảo trợ xã hội là một khâu quan trọng trong chu trình thực hiện pháp luật nói chung, cũng như việc đảm bảo thực hiện tốt an sinh xã hội nói riêng. Thanh tra, kiểm tra pháp luật về bảo trợ xã hội được Sở Lao động Thương binh và Xã hội thực hiện hàng năm, đều thành lập các đoàn thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện công tác Bảo trợ xã hội tại các huyện, thị xã, thành phố. Trong giai đoạn năm 2011-2015 đã tổ chức được 07 đoàn thanh tra tại 07 đơn vị, qua thanh tra hầu hết các đơn vị đều thực hiện tương đối tốt các quy định của pháp luật hiện hành về Bảo trợ xã hội. Thanh tra, kiểm tra liên quan đến chính sách người cao tuổi, phát hiện một số hạn chế đó là: hồ sơ, thủ tục hưởng chưa đúng quy định; sai tuổi hưởng; sai thời điểm truy lĩnh; thôi hưởng chế độ chưa kịp thời…Tất cả sai phạm, hạn chế tại các địa phương được Sở Lao động Thương binh và Xã hội kết luận đề nghị địa phương khắc phục, xử lý theo quy định và các địa phương đã khắc phục, xử lý đúng quy định. Ngoài ra còn một số hạn chế như: việc lập dự toán chi trả trợ cấp hàng tháng cho đối tượng không đúng theo quy định tại khoản 4, Điều 14, Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC [5]; tình trạng ký nhận thay đối tượng không có giấy ủy quyền vẫn còn diễn ra; việc niêm yết công khai danh sách các đối tượng đủ điều kiện được hưởng chế độ trợ cấp xã hội tại một số xã, phường, thị trấn chưa được công khai; việc cập nhật, theo dõi biến động của đối tượng tại một số địa phương chưa được thường xuyên, chặt chẽ dẫn đến vẫn còn tình trạng đối tượng Người cao tuổi đã chết nhưng chưa được điều chỉnh thôi hưởng trợ cấp hàng tháng kịp thời… Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Qua quá trình thanh tra, kiểm tra ngoài việc ghi nhận những nội dung các đơn vị đã thực hiện tốt, đoàn thanh tra đã phát hiện một số thiếu sót, hạn chế chuyên môn trong quá trình thực hiện chính sách, cụ thể như: một số văn bản chỉ đạo, hướng dẫn chưa đúng quy định hiện hành; công tác tuyên truyền chưa thường xuyên, hình thức tuyên truyền chưa phong phú và đa dạng; số lượng cuộc tập huấn vẫn còn hạn chế, chưa tập huấn chuyên sâu về công tác Bảo trợ xã hội; chưa xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm về công tác bảo trợ; một số đơn vị chưa áp dụng phần mềm quản lý đối tượng, sổ sách quản lý đối tượng cấp xã còn sơ sài; việc tiếp nhận, thẩm định, xét duyệt hồ sơ tại cấp xã chưa đảm bảo về trình tự, thủ tục theo quy định; việc thẩm định, xét duyệt hồ sơ cho đối tượng còn chậm; việc xác định đối tượng hưởng với nhóm trẻ mồ côi, hộ gia đình, cá nhân nuôi dưỡng trẻ em mồ côi chưa đúng quy định Nghị định số 136/2013/NĐ-CP; việc xác định thời điểm hưởng đối với một số nhóm đối tượng chưa đúng quy định, đặc biệt đối với người từ đủ 80 tuổi trở lên mà không hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng chưa được hưởng từ thời điểm người đó đủ 80 tuổi; chưa thực hiện điều chỉnh hệ số theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP đối với nhóm trẻ em mồ côi, hộ gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi; hộ gia đình nuôi dưỡng đối tượng khuyết tật đặc biệt nặng chậm được hưởng khi đủ điều kiện; một số trường hợp xác định sai diện đối tượng nên chưa đúng hệ số; việc ban hành quyết định của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp huyện thành từng đợt, chưa kịp thời; công tác chi trả trợ cấp còn một số nội dung chưa đảm bảo quy định; một số đơn vị cấp huyện, cấp xã chưa được bố trí kinh phí để phục vụ công tác quản lý đối tượng; hoạt động chăm sóc đối tượng tại cơ sở bảo trợ xã hội còn một số hạn chế như: một số nội dung chưa đáp ứng được tiêu chuẩn về môi trường, khuôn viên và nhà ở; thực hiện ký hợp đồng lao động, trả lương và chế độ bảo hiểm chưa đúng quy định; việc tiếp nhận và dừng nuôi dưỡng chưa đảm bảo về thủ tục, quy trình; việc tổ chức ăn, ở và sinh hoạt còn một số nội dung chưa đảm bảo; chưa khám sức khỏe định kỳ và xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh hàng năm; hóa đơn, chứng từ thanh quyết toán còn một số thiếu sót.

Về xử lý vi phạm về Bảo trợ xã hội từ năm 2011-2015, Thanh tra Sở Lao động Thương binh và Xã hội thực hiện theo Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa ra quyết định xử phạt trường hợp nào mà chỉ hướng dẫn, nhắc nhở và đôn đốc các địa phương thực hiện.

2.2.2. Đánh giá chung Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

  • Kết quả đạt được

Thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua đã đạt được những thành quả:

Một là, tổ chức bộ máy Quản lý Nhà nước về Bảo trợ xã hội được kiện toàn một cách tương đối, hiện nay đã có đội ngũ cán bộ phụ trách công tác Bảo trợ xã hội của 184/184 xã, phường, thị trấn. Trong thời gian qua, Sở Lao động Thương binh và Xã hội đã thực hiện khá tốt chức năng tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh trong việc ban hành các văn bản liên quan đến công tác Bảo trợ xã hội như các quyết định, kế hoạch, thông báo….;đồng thời thực hiện sự phối kết hợp với các cơ quan hữu quan trong việc trợ giúp các đối tượng yếu thế.

Hai là, việc triển khai và tổ chức thực hiện hệ thống các văn bản về Bảo trợ xã hội được thực hiện khá tốt, phổ biến rộng rãi, hướng đến sự hiểu biết của mọi đối tượng, hình thức phổ biển phối hợp từ tỉnh đến cấp cơ sở.

Ba là, chính quyền tích cực khuyến khích việc thu hút nguồn lực từ các mạnh thường quân, những nhà hảo tâm đóng góp vì mục đích từ thiện cùng Nhà nước chăm lo và đem lại hiệu quả cao trong việc đảm bảo mức sống cho các đối tượng yếu thế.

Bốn là, chính quyền địa phương cũng đã tích cực lồng ghép các chính sách chăm lo, hỗ trợ đối tượng Bảo trợ xã hội với các chương trình của địa phương như Chương trình vì trẻ em, chương trình giảm hộ nghèo bền vững, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường…

Năm là, tập trung cho công tác đảm bảo giảm nghèo hiệu quả, phòng chống thiên tai, lốc xoáy, hỏa hoạn và dịch bệnh….để hạn chế những rủi ro gây ảnh hưởng đến đời sống người dân, dẫn đến hoàn cảnh yếu thế.

Sáu là, hiện nay tỉnh ĐắkLắk đã áp dụng thành công việc chi trả cho đối tượng Bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp hàng tháng thông qua dịch vụ bưu điện, nhờ vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng được hưởng, qua đó cũng tránh được tình trạng chậm trễ chi trả so với trước đây.

Bảy là, có kế hoạch thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hoạt động Bảo trợ xã hội (cả thưởng xuyên và đột xuất) nên đã từng bước phát hiện và điều chỉnh kịp thời các hành vi sai phạm.

  • Hạn chế, thiếu sót Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Hiệu lực của chính sách Bảo trợ xã hội chưa cao thể hiện ở: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương về chính sách trợ giúp xã hội cơ bản đầy đủ, vẫn còn một số nội dung quy định chưa rõ ràng, do vậy quá trình thực hiện gặp vướng mắc, khó khăn.

Việc thực hiện Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật ở một số sở, ngành, địa phương chưa đầy đủ, làm cho Người khuyết tật, Người cao tuổi chưa được tiếp cận hoặc tiếp cận thụ động các chế độ liên quan chưa đầy đủ, quyền lợi chưa được đảm bảo.

Công tác trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất tại một số địa phương thực hiện chưa tốt. Vẫn còn tình trạng giải quyết chậm, chưa đúng quy trình, sai đối tượng, mức hưởng và thời điểm hưởng; đối với công tác cứu đói cho nhân dân vẫn còn bị động, vẫn còn tình trạng lập danh sách cứu đói tràn lan từ đó phản ánh tình trạng thiếu đói trong nhân dân không đúng thực tế, chưa bố trí được nguồn lực địa phương, nguồn lực huy động khác để cứu đói, hầu hết nguồn cứu đói trông chờ vào sự hỗ trợ từ trung ương. Công tác kiểm tra trước, trong và sau khi cứu đói các địa phương có thực hiện, nhưng chưa thường xuyên và kịp thời.

Công tác chi trả trợ cấp Bảo trợ xã hội thông qua bưu điện tỉnh vẫn còn một số hạn chế như: vẫn còn một số ít đối tượng chưa được chi trả kịp thời; số đối tượng phải chi trả tại địa chỉ nhà còn cao nên phát sinh chi phí chi trả; một số chính sách Bảo trợ xã hội mới ban hành, áp dụng như Nghị định số 136/2013/NĐ-CP [10] và Thông tư số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC [7] nên cán bộ ngành bưu điện chưa nắm bắt một cách triệt để, để giải đáp, hướng dẫn kịp thời khi đối tượng có thắc mắc, kiến nghị.

Nguồn lực để thực hiện các chế độ, chính sách, mục tiêu, chỉ tiêu của các Đề án, Chương trình, Kế hoạch chưa đảm bảo. Đặc biệt là về kinh tế, nguồn kinh phí của địa phương bố trí còn hạn chế, hầu hết nguồn kinh phí từ Trung ương bố trí, hỗ trợ, do đó một số nội dung của các Đề án, Chương trình, Kế hoạch chưa đạt hoặc đạt kết quả thấp.

Một là, tính bao phủ của chính sách Bảo trợ xã hội thấp chưa bảo đảm một cách toàn diện đã ảnh hưởng đến tính hiệu lực của chính sách; Hiệu lực của chính sách phụ thuộc vào mục tiêu của chính sách là bảo đảm đối tượng Bảo trợ xã hội khó khăn được trợ giúp, và đảm bảo mức sống tối thiểu, tuy nhiên trên thực tế, còn nhiều đối tượng khó khăn trên địa bàn tỉnh không được trợ giúp, một số đối tượng được trợ giúp nhưng không đủ trang trải nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Do đó các đối tượng chưa thật sự đồng tình đã làm hạn chế một phần hiệu quả của chính sách.

  • Hai là, mức trợ cấp là thấp so với thực tiễn phát triển kinh tế.

Mức trợ cấp của đối tượng còn dưới chuẩn nghèo, vẫn biết là chủ trương Nhà nước một phần, còn lại huy động từ xã hội, cộng đồng, gia đình; Song Nhà nước bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng nhất trong việc bảo đảm an toàn cuộc sống cho các đối tượng và gia đình ở mức tối thiểu, nếu không cải biến kịp thời thì đến một lúc nào đó đối tượng sẽ không thiết tha với Bảo trợ xã hội dành cho họ. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Ba là, chưa đảm bảo tính công bằng của chính sách giữa các đối tượng, cụ thể đối với trẻ em dưới 18 tháng tuổi và trẻ từ 18 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi nhu cầu dinh dưỡng là như nhau nhưng mức trợ cấp chênh lệch nhiều.

Các dịch vụ Bảo trợ xã hội chưa được sử dụng hiệu quả: Một số đối tượng chưa được hưởng Bảo trợ xã hội hoặc đã được hưởng nhưng chưa sử dụng hiệu quả các dịch vụ trợ giúp. Cụ thể các dịch vụ trợ giúp về giáo dục, đào tạo, dạy nghề và giới thiệu việc làm chưa thu hút được tất cả các đối tượng yếu thế.

Công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy về Bảo trợ xã hội nhìn chung chưa được chủ động, còn trông chờ vào hướng dẫn của cấp trên. Thêm vào đó, công tác tuyên truyền còn hình thức, các chính sách chưa thật sự đến với người dân cũng như các đối tượng Bảo trợ xã hội, chưa tuyên truyền, động viên, khuyến khích để các đối tượng tiếp cận với chính sách như dạy nghề, đào tạo cho đối tượng là Người khuyết tật, Trẻ em mồ côi.

Tổ chức bộ máy chưa đáp ứng với yêu cầu thực tiễn, chính sách cho cán bộ làm công tác này còn hạn chế (hiện tại chỉ được hưởng mức phụ cấp là 350.000đồng/người/tháng); cơ chế phối hợp liên ngành trong lập kế hoạch, phân bổ ngân sách và chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện còn hạn chế, dẫn đến khó khăn trong việc bảo đảm và huy động nguồn lực. Hiện nay chưa có chương trình phối hợp về việc thành lập các cơ sở bảo trợ xã hội từ Trung ương đến địa phương.

Công tác quản lý đối tượng không thống nhất, kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý chưa cao nên thường xảy ra trùng lắp, sai đối tượng. Việc thu thập, thống kê số liệu khó khăn do sự luân chuyển, thay đổi cán bộ thực hiện, báo cáo thực hiện và số liệu thống kê không trùng khớp với nhau.

Các qui định về thủ tục hành chính, quy trình quyết định đối tượng hưởng Bảo trợ xã hội, việc thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội phức tạp. Cụ thể như trường hợp các cơ sở Bảo trợ xã hội không đủ điều kiện vật chất nhưng vẫn đảm bảo chăm lo được một số đối tượng thật sự khó khăn không nơi nương tựa song việc ra quyết định công nhận cơ sở Bảo trợ xã hội phải đúng theo quy định và các tiêu chí của Nghị định số 68 và 182.

Hiện nay chưa có phần mềm quản lý đối tượng nên gặp rất nhiều khó khăn trong quản lý cũng như thu thập, xứ lý thông tin liên quan đến đối tượng Bảo trợ xã hội, chính vì thế nhiều đối tượng còn bị sót trong thống kê, lập danh sách.

Hoạt động thanh tra, kiểm tra còn mang nặng tính hình thức, lỏng lẻo, chỉ khi có dư luận mới tiến hành kiểm tra, chưa phát huy tính chủ động trong kiểm tra giám sát để nâng cao nhằm phòng ngừa ngăn chặn những vấn đề trong hoạt động Bảo trợ xã hội.

  • Nguyên nhân hạn chế Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Mặc dù Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk đã chủ động, tích cực thực hiện hoạt động Bảo trợ xã hội, song vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định trong quá trình thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội. Sở dĩ có những hạn chế đó là do nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.

  • Nguyên nhân chủ quan

Nhiều văn bản điều chỉnh, các văn bản có nội dung chồng chéo nhau do đó khó khăn trong tổ chức thực hiện. Có nhiều nội dung pháp luật về Bảo trợ xã hội được qui định ở nhiều văn bản, mỗi văn bản có cơ chế thực hiện khác nhau.

Bộ máy Quản lý Nhà nước pháp luật về Bảo trợ xã hội còn mỏng về số lượng, năng lực đội ngũ cán bộ công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, chưa tổ chức, triển khai thực hiện tốt pháp luật về Bảo trợ xã hội trên địa bàn. Công tác cán bộ chưa quan tâm đến hệ thống các đơn vị sự nghiệp như phòng Giáo dục, Trung tâm dạy nghề; cán bộ cơ sở chưa qua đào tạo cơ bản về chuyên môn công tác xã hội nên thực hiện thiếu chuyên nghiệp.

Việc thay đổi, luân chuyển cán bộ thực hiện không có sự hướng dẫn, bàn giao đúng đắn, dẫn đến tình trạng không nắm được thông tin, số liệu trước đó đã gây khó khăn trong cập nhật, thống kê để tiến hành dự đoán tình hình đối tượng.

Sự phối hợp giữa các cơ quan, bộ phận Quản lý Nhà nước pháp luật về Bảo trợ xã hội vẫn còn chưa đồng bộ, rời rạc, thiếu chặt chẽ, chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ của các cơ quan hữu quan chính điều này làm hạn chế rất lớn đến công tác Quản lý Nhà nước pháp luật về Bảo trợ xã hội.

Các đối tượng yếu thế được hưởng trợ cấp xã hội do thiếu về kiến thức, hạn chế về trình độ cũng như điều kiện tiếp cận thông tin nên không chủ động trong việc làm hồ sơ, trông chờ đến các cơ quan, những người phụ trách phát hiện Bên cạnh đó, điều kiện kinh tế khó khăn, các đối tượng chỉ mong đảm bảo được cuộc sống hiện tại, nên cũng không hưởng ứng tối đa các chính sách Bảo trợ xã hội về giáo dục, đào tạo, dạy nghề….

Nhận thức của nhiều cơ quan Nhà nước vẫn chưa được đổi mới, phần lớn vẫn tồn tại quan niệm ban phát, nên việc xét duyệt hồ sơ không được đẩy mạnh, hoàn tất sớm để đối tượng được trợ giúp sớm.

Các chủ cơ sở từ thiện còn ỷ lại, suy nghĩ đơn giản là các hoạt động từ thiện nên chỉ cần mình không có ý đồ xấu, không báo cho cơ quan chức năng về tình trạng hoạt động các cơ sở, gây khó khăn cho lực lượng quản lý.

Các tiêu chí xác định đối tượng Bảo trợ xã hội còn khắt khe, nhiều đối tượng khó khăn chưa được thụ hưởng; Đây là nguyên nhân của việc chưa đảm bảo mức độ bao phủ đối tượng. Các đối tượng nghèo cần đến sự trợ giúp, nhưng phải bảo đảm các điều kiện không có khả năng lao động, không có người chăm sóc, không có nguồn thu nhập.

  • Nguyên nhân khách quan Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Cơ bản là nguồn ngân sách nhà nước có hạn không thể trợ giúp tất cả các đối tượng khó khăn, dẫn đến mức trợ cấp thấp chưa đáp ứng được nhu cầu cuộc sống. Đây vừa là tồn tại cũng vừa là nguyên nhân cho nội dung thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội chưa thật sự tạo được sự đồng thuận của đối tượng hưởng lợi dẫn đến hiệu quả của chính sách chưa cao.

Sự gia tăng nhanh chóng các đối tượng mỗi năm đa phần là do rủi ro tự nhiên, nghèo, bệnh tật nên không có sự lựa chọn cho bản thân mình như tuổi già, tàn tật, thiên tai, mồ côi…cần có sự hỗ trợ của Nhà nước, trong khi đó, nguồn lực của Nhà nước không lớn nên không đủ khả năng cho việc mở rộng đối tượng cũng như nâng mức trợ cấp cho các đối tượng đảm bảo điều kiện sống cơ bản của con người.

Địa bàn tỉnh Đắk Lắk rộng lớn, địa hình đồi núi, giao thông chưa thuận lợi và các đối tượng sống không tập trung mà rãi rác ở mọi nơi, với lực lượng mỏng và phụ trách kiêm nhiệm nên việc nắm bắt đối tượng nhanh chóng, kịp thời cũng bị giới hạn.

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh kèm theo lạm phát lớn nên khó khăn càng khó khăn, làm cho mức trợ cấp càng nhỏ và không đủ chi trả nhu cầu cơ bản cuộc sống của các đối tượng yếu thế.

Với sự phát triển nhanh chóng đối tượng Bảo trợ xã hội, dẫn đến sự bùng phát của hàng loạt các hoạt động từ thiện, tổ chức từ thiện, cùng với sự thiếu thống nhất trong quản lý đã gây nhiều khó khăn cho Quản lý Nhà nước pháp luật về Bảo trợ xã hội.

  • Kinh nghiệm đúc kết

Từ thực tế thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, từ đó rút ra kinh nghiệm đúc kết cụ thể như sau:

Thứ nhất, mở rộng thêm các nhóm đối tượng, nâng mức chuẩn trợ cấp, trợ giúp xã hội, xây dựng mức sống tối thiểu, mức sống trung bình, chuẩn nghèo, cận nghèo phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ làm cơ sở xác định các đối tượng và mức chuẩn của các chính sách an sinh xã hội; Mức trợ cấp xã hội chuẩn trong giai đoạn 2014-2020 sẽ tương đương với 40% mức sống tối thiểu, các đối tượng được hưởng Bảo trợ xã hội.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác trợ giúp người khuyết tật trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm, văn hóa, thể thao, giải trí, tiếp cận công trình công cộng và công nghệ thông tin; Lồng ghép chính sách về người khuyết tật trong chính sách phát triển kinh tế – xã hội; Tạo điều kiện để người khuyết tật được chỉnh hình, phục hồi chức năng; khắc phục khó khăn, sống độc lập và hòa nhập cộng đồng.

Thứ ba, nghiên cứu xây dựng và nâng cấp phòng Bảo trợ xã hội thành Chi cục Bảo trợ xã hội để thống nhất trong việc chỉ đạo, phối hợp thực hiện công tác, hiện nay Đắk Lắk các lĩnh vực về Bảo trợ xã hội, bảo vệ chăm sóc trẻ em, Quỹ bảo trợ trẻ em đang hoạt động độc lập nên rất khó khăn trong việc cập nhật số liệu liên quan đến Bảo trợ xã hội.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác xã hội hóa đối với hoạt động Bảo trợ xã hội và cải cách hành chính, đơn giản hóa cải cách hành chính và thực hiện linh hoạt, hiện nay trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hoạt động Bảo trợ xã hội mặc dù đã có sự quan tâm của xã hội song vẫn còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Thứ năm, tăng cường công tác phối hợp liên ngành trong việc thực hiện các chính sách Bảo trợ xã hội, nhất là trong công tác dạy nghề, tạo việc làm, chăm sóc sức khỏe, cũng như trong việc cấp phép, đưa đối tượng vào các cơ sở Bảo trợ xã hội.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464