Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình- từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bạo lực gia đình là vấn đề mang tính toàn cầu, gây nhức nhối cho nhân loại, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em. Bạo lực gia đình đang trở thành vấn đề phổ biến, là biểu hiện của các mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa người lớn và trẻ em trên toàn thế giới; là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, tính mạng của phụ nữ và trẻ em, làm suy giảm chất lượng cuộc sống nói chung. Bạo lực gia đình đã và đang là một trở ngại lớn đối với sự bình đẳng trong xã hội, là lực cản trên con đường xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại. Vì vậy, trong nhiều năm qua, sự gia tăng và mức độ nghiêm trọng của bạo lực gia đình là mối quan tâm của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế, đặc biệt, tổ chức Liên hợp quốc đã thông qua Công ước về các quyền dân sự và chính trị; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ… đã thể hiện sự quan chung của cả cộng đồng quốc tế trong vấn đề bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình.
Ở nước ta, thúc đẩy bình đẳng giới, tôn trọng và bảo đảm quyền con người chống lại mọi hành vi bạo lực là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước. Việt Nam đã phê chuẩn và tham gia nhiều công ước liên liên quan đến phòng, chống bạo lực như: phê chuẩn Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ vào ngày 17/12/1982, phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em ngày 20/2/1990…. Bên cạnh đó, vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình cũng được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, theo đó đều coi bạo lực gia đình là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người, cụ thể như: Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Hình sự; Luật Bình đẳng giới; đặc biệt là Luật Phòng, chống bạo lực gia đình được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 21/11/2007, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008. Những văn bản pháp luật nêu trên và các văn bản hướng dẫn thi hành là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và xử lý các hành vi bạo lực gia đình.
Tuy nhiên, thực tiễn pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình cũng còn nhiều hạn chế: bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội; định kiến giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn nặng nề trong đời sống xã hội; bạo lực gia đình vẫn diễn biến phức tạp dưới nhiều hình thức tinh vi gây ảnh hưởng tới gia đình- tế bào của xã hội… Thực trạng bạo lực gia đình diễn ra có nhiều nguyên nhân, và một trong số đó bắt nguồn từ việc thực thi pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình chưa đầy đủ và thiếu hiệu quả. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, thực tiễn công tác phòng, chống bạo lực gia đình cũng cho thấy còn những tồn tại, hạn chế nhất định như: chưa có sự phối hợp hành động hiệu quả từ phía các cơ quan chính quyền, tổ chức, đoàn thể trên địa bàn; các nguồn lực xã hội dành cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình còn thiếu; trình độ dân trí cùng với mức sống chung của người dân chưa cao; nhận thức về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, về quyền của phụ nữ trẻ em, về bình đẳng giới của người dân còn hạn chế; tâm lý không muốn “vạch áo cho người xem lưng” của chính nạn nhân khi có bạo lực gia đình xảy ra vẫn còn phổ biến… Tất cả những vấn đề trên đã và đang làm cho tình trạng bạo lực gia đình diến biến phức tạp, khó kiểm soát.
Trong bối cảnh đó, cần thiết phải có những nghiên cứu, đánh giá đầy đủ, nghiêm túc về những nguyên nhân phát sinh hành vi bạo lực gia đình, những hậu quả mà hành vi đó mang lại cùng những tác động của nó tới đời sống gia đình nói riêng cũng như ảnh hưởng tiêu cực tới xã hội nói chung. Cùng với đó, việc nghiên cứu những quy định pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình cũng là vấn đề hết sức cần thiết để đánh giá toàn diện mức độ điều chỉnh, tác động của pháp luật hiện hành đối với các quan hệ xã hội có liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình, từ đó phát huy những điểm tích cực cũng như hạn chế, khắc phục những điểm còn bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang đồng thời đề xuất những giải pháp cụ thể để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, không ngừng nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung.
Xuất phát từ những lý do trên, vấn đề “Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình- từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang” đã được tác giả lựa chọn làm đề tại luận văn thạc sỹ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bạo lực gia đình không phải là vấn đề mới mẻ, mà là hiện tượng xã hội có tính lịch sử và tương đối phổ biến trên thế giới. Bạo lực gia đình là vấn đề thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Một số công trình nghiên cứu được công bố về vấn đề này, cụ thể như:
- “Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc phòng chống bạo lực gia đình” của Nguyễn Thị Ngọc Bích, Đại học Luật Hà Nội [2]; Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
- “Tìm hiểu và thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình” của Nguyễn Đình Thơ [34];
- “Bàn về ranh giới giữa xử lý hình sự và xử lý hành chính các hành vi bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Lan Chi, Viện Nhà nước và Pháp luật [6];
- “Phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở nước ta hiện nay- Thực trạng vấn đề và giải pháp” của Viện nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia HCM [45];
- “Bạo lực gia đình– một sự sai lệch giá trị” của tác giả Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh [29];
- “Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình” của tác giả Nguyễn Ngọc Điện [11];
- “Pháp luật quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ” của tác giả Trần Thị Hòe [12];
- “Tính hợp lý, khả thi của một số biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình” của tác giả Phan Thị Lan Hương [14];
- “Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em – thực trạng và nguyên nhân” của Ngô Thị Hường, Đại học Luật Hà Nội [13];
- “Tổng quan về bạo lực và pháp luật phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ, trẻ em” của Nguyễn Thị Kim Phụng 17]…
Ngoài ra, còn nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các Luận văn, đề tài đã được nghiệm thu liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình. Nhìn chung, các công trình nêu trên đã phân tích, đánh giá vấn đề bạo lực gia đình dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên việc nghiên cứu về pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình từ thực tiễn một địa bàn cụ thể là tỉnh Tuyên Quang từ đó đề xuất những giải pháp đề hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình thì có rất ít các đề tài đề cập tới. Vì vậy, đề tài nghiên cứu này không có sự trùng lắp với những công trình nghiên cứu đã được công bố, các kết quả nghiên cứu trước đó chỉ có giá trị tham khảo khi tác giả nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cơ sở lý luận về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay; đánh giá thực trạng bạo lực gia đình tại tỉnh Tuyên Quang, thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay và đề xuất giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận của pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình theo những quy định hiện hành.
- Phân tích tình hình bạo lực gia đình và thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang; phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế của việc thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình tại Tuyên Quang và làm rõ nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, trên cơ sở những phương pháp nghiên cứu cụ thể: thống kê, tổng hợp, diễn giải, quy nạp, phân tích, so sánh để phân tích và làm rõ các vấn đề khoa học cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận, những vấn đề được nghiên cứu trong luận văn góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, đóng góp vào việc hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay.
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần thay đổi phần nào nhận thức của người dân về vấn đề bạo lực gia đình, bên cạnh đó, những giải pháp được đề xuất vận dụng vào thực tiễn sẽ nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang và có thể là kinh nghiệm thực tiễn để tham khảo, áp dụng cho những địa phương khác trên cả nước, đồng thời luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu về những vấn đề bạo lực gia đình.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang và quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1 QUAN NIỆM VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1.1. Khái niệm bạo lực gia đình
Bạo lực là một hiện tượng xã hội, trong Tiếng Việt, bạo lực được hiểu là “sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ” [38, tr.6]. Với ý nghĩa chung đó, bạo lực có thể được sử dụng với cả nghĩa tiêu cực (bạo lực với trẻ em, bạo lực gia đình, bạo lực giới…) hoặc tích cực (bạo lực cách mạng, bạo lực để trấn áp tội phạm…) Trong xã hội luôn tồn tại nhiều hình thức bạo lực, các chủ thể có thể dùng bạo lực để giải quyết những bất hòa trong quan hệ xã hội, tranh giành quyền lực, lợi ích, hay sử dụng bạo lực để lật đổ các phe phái chính trị, lật đổ chính quyền… có thể nói, bạo lực là vấn đề đã ra đời và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài người. Trong những trường hợp nhất định như chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc, phòng vệ chính đáng thì bạo lực có vai trò tích cực trong xã hội nhưng xét về bản chất thì bạo lực là một hiện tượng tiêu cực trái với hòa bình, văn minh, ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, bị xã hội loài người lên án. Có thể thấy, bạo lực chính là một phương thức hành xử trong các mối quan hệ xã hội và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài người, nhưng bạo lực cũng là “loại quyền lực có phẩm chất kém nhất so với quyền lực kinh tế và quyền lực trí tuệ” [15, tr.16].
Như vậy, việc sử dụng bạo lực phụ thuộc vào mục đích sử dụng, đối tượng sử dụng và đối tượng chịu hậu quả của bạo lực. Tuy nhiên, khi trong xã hội không còn giai cấp bóc lột, không trong tình trạng bị giặc ngoại xâm đe dọa… thì phần lớn hiện tượng bạo lực là biểu hiện của những vấn đề tiêu cực, do đó nhà nước cần có những quy định pháp luật để điều chỉnh những hành vi bạo lực trái pháp luật để từ đó có những biện pháp phòng, chống bạo lực trong xã hội nói chung trong đó có vấn đề bạo lực gia đình nói riêng. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
“Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[9]. Còn bạo lực gia đình là hiện tượng xã hội phát sinh không bình thường, thể hiện những lệch chuẩn xã hội, phá vỡ môi trường gia đình lành mạnh ấy. Bạo lực gia đình là vấn đề mang tính toàn cầu, và xã hội Việt Nam cũng không là một ngoại lệ, gây nhức nhối cho nhân loại, nó để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, cho gia đình và cho cá nhân, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em. Bạo lực gia đình tạo nên những rạn nứt, đổ vỡ, gây nên nhiều đau khổ trong đời sống gia đình, kéo theo những hậu quả nặng nề cho xã hội. Bạo lực gia đình gần đây đã trở thành một vấn nạn, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. bạo lực gia đình không chỉ xảy ra ở những nơi có điều kiện kinh tế thấp, cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu mà nó diễn ra ở mọi nơi từ thành thị tới nông thôn, xảy ra ở mọi gia đình, trong các tầng lớp khác nhau và gây ra những thiệt hại to lớn cả về vật chất và tinh thần cho gia đình và xã hội. Bạo lực gia đình là vấn đề không mới, nó từ lâu đã là mối quan tâm của nhiều quốc gia, là chủ đề của nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học. Cho tới nay, tùy từng góc độ nghiên cứu, đã có rất nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về bạo lực gia đình.
- Từ góc độ giới:
Bạo lực giới là một vấn đề tồn tại từ rất lâu trong lịch sử nhưng lại là một nội dung mới trong luật pháp quốc tế. Trước những năm 80 của thế kỷ XX, người ta cho rằng bạo lực đối với phụ nữ thuộc về các mối quan hệ có tính riêng tư giữa các cá nhân, các thành viên trong gia đình. Vì vậy, mọi hành vi bạo lực đối với phụ nữ nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của luật pháp quốc tế nói chung, luật quốc tế về quyền con người nói riêng. Trong những năm gần đây, mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong việc nâng cao địa vị bình đẳng của phụ nữ, nhưng do nhiều yếu tố khác nhau ở nhiều nơi trên thế giới, nạn bạo lực đối với phụ nữ vẫn diễn ra thường xuyên dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau.
Theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA): “bạo lực trên cơ sở giới là bạo lực giữa nam giới và phụ nữ, trong đó phụ nữ là nạn nhân và điều này bắt nguồn từ các mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ. Bạo lực thường nhằm vào phụ nữ, hoặc ảnh hưởng lớn đến phụ nữ. Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm những tổn hại về thân thể, tâm lý, tình dục (bao gồm cả sự đe dọa gây đau khổ, cưỡng bức hoặc tước đoạt sự tự do xảy ra trong gia đình hoặc trong cộng đồng) nhưng nó không bị hạn chế ở những dạng này”[28].
Theo tinh thần của Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì bạo lực gia đình còn được hiểu là “sự phân biệt đối xử về giới, đó là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” [21]. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Như vậy, bạo lực gia đình trước hết là hành vi bạo lực đối với phụ nữ, nạn nhân chủ yếu là phụ nữ, trong phần lớn các trường hợp bạo lực gia đình thì hầu hết là những người vợ bị chồng đánh đập, hành hạ, ngược đãi, bên cạnh đó là những người mẹ, người con gái, người chị người em bị những người là con, là cha, là anh đánh đập, ngược đãi, hành hạ.
Nhìn từ góc độ giới có thể hiểu: bạo lực gia đình là bất kỳ hành vi nào của các thành viên gia đình đối với nhau trên cơ sở giới tính, được biểu hiện dưới những hình thức nhất định, có khả năng gây ra hoặc đe dọa gây ra những tổn hại nhất định về thể chất, tinh thần, kinh tế, tước đoạt hoặc hạn chế quyền tự do của các thành viên khác trong gia đình.
- Từ góc độ xã hội:
Dưới góc độ xã hội học, gia đình được coi là tế bào của xã hội. Không giống bất kỳ nhóm xã hội nào khác, gia đình có sự đan xen các yếu tố sinh học, kinh tế, tâm lý, văn hóa…Những mối liên hệ cơ bản của gia đình bao gồm vợ, chồng, cha mẹ và con, ông bà và cháu, anh chị em với nhau, những mối liên hệ khác như: cô, dì, chú, bác với cháu, cha mẹ chồng với con dâu, cha mẹ vợ với con rể…Mối quan hệ gia đình được thể hiện ở các khía cạnh: có đời sống tình dục, sinh con và nuôi dạy con cái, lao động tạo ra của cải vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp xã hội. Mối liên hệ này có thể dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên các căn cứ thực tế một cách tự nhiên, tự phát [16].
Vấn đề bạo lực gia đình không còn là vấn đề mới trong xã hội hiện nay, tuy nhiên, nhận thức về vấn đề này không thật đầy đủ nếu không muốn nói là có phần lệch lạc, hạn chế. Đối với người dân, bạo lực gia đình còn là một khái niệm mới vì thế ít người biết đến, đại bộ phận người dân chưa có cách hiểu đầy đủ và chính xác về vấn đề này. Đa số người dân cho rằng chỉ những hành vi đánh đập, gây thương tích, dẫn tới kết quả nạn nhân bị tổn thương hay tử vong mới bị coi là bạo lực gia đình, còn những hành vi xâm phạm về tinh thần thì không phải bạo lực. Nói về bạo lực gia đình có rất nhiều ý kiến khác nhau, cụ thể là: một nhóm chia bạo lực gia đình ra thành hai loại: loại bạo lực mạnh và loại bạo lực nhẹ. Bạo lực mạnh xảy ra như chồng vô cớ đánh vợ với những tổn thương về thể xác nhất định, còn bạo lực nhẹ là chỉ có hành vi ngược đãi và thi thoảng mới xảy ra. Nhóm khác cho rằng bạo lực gia đình là hành vi tấn công bằng vũ lực của một người (thường là đàn ông) đối với người có quan hệ tình cảm với mình và có hành vi kiểm soát về tài chính cũng như các mối quan hệ xã hội của người bị bạo lực. Có nhóm lại cho rằng chỉ những hành vi đánh đập mà bị xử lý hành chính, thậm chí có thể cấu thành tội phạm mới là bạo lực.
Như vậy, có thể thấy sự nhận thức về bạo lực gia đình còn có nhiều chiều và nhiều hạn chế, từ sự nghiên cứu và phân tích tên có thể hiểu dưới góc độ xã hội: bạo lực gia đình là hành động dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực của một người đối với một người khác có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, gây ra hoặc đe dọa gây ra những tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế cho những người đó. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
- Từ góc độ pháp luật:
Khoản 2, Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của các thành viên trong gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”. Như vậy, khái niệm bạo lực gia đình có liên quan chặt chẽ đến khái niệm thành viên gia đình, vì bạo lực gia đình là hành vi chỉ xảy ra giữa những người có quan hệ nhất định, cùng là thành viên của một gia đình.
Theo Khoản 16, Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.” như vây, bạo lực gia đình không chỉ xảy ra giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em ruột với nhau mà còn có thể xảy ra giữa ông bà, cô, dì, chú, bác… là những người có quan hệ họ hàng thân thích mà theo luật đều là thành viên gia đình.
Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau nên quan điểm về bạo lực gia đình cũng có sự khác nhau, tuy nhiên nó có một điểm chung đó là: bạo lực gia đình là một dạng của bạo lực xã hội, là việc dùng sức mạnh để giải quyết các vấn đề về gia đình. Nếu coi gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt, là hình thức thu nhỏ của xã hội thì bạo lực gia đình cũng chính là hình thức thu nhỏ và đặc biệt của bạo lực xã hội. Sự khác biệt giữa bạo lực gia đình với bạo lực xã hội ở chỗ bạo lực gia đình thường diễn ra giữa những người có cùng quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống. Nhìn chung, cả hai hình thức bạo lực này đều có sự đồng nhất trong nhận thức như về hậu quả, sự xâm hại của hành vi bạo lực tới quyền và lợi ích cá nhân.
Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 của Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 7 năm 2007, theo đó tại Điều 1, khoản 2 quy định như sau: “bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình”[22]. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Như vậy, qua nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm về bạo lực gia đình, có thể hiểu: bạo lực gia đình trước hết phải là hành vi cố ý, chủ thể thực hiện là thành viên gia đình, hậu quả mang lại đó là gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình. Các hành vi bạo lực gia đình có thể được biểu hiện dưới dạng hành động như hành hạ, ngược đãi, đánh đập… hoặc không hành động như bàng quan, thờ ơ, ghẻ lạnh, bỏ mặc hay “chiến tranh lạnh”.
1.1.2. Nguồn gốc của bạo lực gia đình
Nguồn gốc cơ bản của bạo lực gia đình xuất phát từ 2 khía cạnh chính đó là: từ phía cá nhân và từ phía xã hội.
Về phía cá nhân, phần lớn các hành vi bạo lực thường diễn ra trong những gia đình có chồng (vợ) nghiện hút, cờ bạc, rượu chè, mại dâm… Theo điều tra của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, nguyên nhân trực tiếp làm nảy sinh hành vi bạo lực gia đình là do người chồng nghiện rượu, say rượu chiếm 60% các vụ bạo lực, ngoài ra còn do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có công ăn việc làm ổn định, học vấn thấp, thiếu hiểu biết về pháp luật.
Đối với hành vi bạo lực gia đình do rượu và ma túy: khi sử dụng các chất kích thích như rượu, ma túy… nam giới thường có xu hướng giải quyết những khó khăn bằng hành vi bạo lực. Chẳng hạn, nhiều người thường lấy cớ say rượu để đánh đập, hành hạ vợ con, bắt vợ phải đưa tiền để mua rượu, chơi bạc.
Đối với bạo lực gia đình xảy ra trong những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn: những cặp vợ chồng phải bươn chải vất vả để kiếm sống thường có sự căng thẳng về thần kinh hơn do đó dễ nảy sinh mâu thuẫn dẫn đến tranh cãi trong gia đình và cuối cùng, nam giới thường sử dụng sức mạnh của mình để gây bạo lực với vợ và con.
Tuy nhiên, không thể đổ lỗi hoàn toàn cho nghiện ngập và đói nghèo vì có nhiều gia đình có cuộc sống vật chất đầy đủ nhưng vẫn xảy ra bạo lực gia đình, hay ngược lại nhiều gia đình khó khăn vất vả về kinh tế mà vẫn hạnh phúc. Bạo lực gia đình còn có nguyên nhân từ sự thiếu hiểu biết, văn hóa thấp từ đó dẫn đến những lệch lạc trong suy nghĩ và thiếu kiểm soát trong hành động
Về phía xã hội, nguồn gốc sâu xa của tình trạng bạo lực gia đình đó là nhận thức về vấn đề bình đẳng giới còn hạn chế, bất bình đẳng giới là gốc rễ của bạo lực gia đình, điều này có thể thấy rõ qua những nội dung:
Do ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa phong kiến với những quan niệm mang đậm màu sắc định kiến giới, đó là những định kiến nằm ngay trong truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, chuẩn mực đạo đức bấy lâu nay trong xã hội phương Đông như: tư tưởng trọng nam khinh nữ; chồng chúa, vợ tôi; tư tưởng gia trưởng, độc đoán của người đàn ông; phụ nữ là người giữ gìn hạnh phúc gia đình; ca ngợi thái quá đức hi sinh của phụ nữ; hay quan niệm nuôi dạy con cái “yêu cho roi, cho vọt”… Những quan niệm này đã khiến cho nam giới đương nhiên có vai trò trụ cột trong gia đình, có quyền định đoạt mọi việc, quyền thể hiện tiếng nói của mình trong gia đình nên họ có thể mắng chửi vợ con là điều bình thường, thậm chí có thể thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với vợ con cũng có thể chấp nhận được. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Nhận thức của chính bản thân người phụ nữ bị bạo lực chưa đúng đắn: sự đấu tranh của người phụ nữ trước nạn bạo hành gia đình còn hạn chế, thiếu thẳng thắn, còn cam chịu. Người phụ nữ còn mang nặng tư tưởng “xấu chàng hổ ai”, họ sợ “vạch áo cho người xem lưng”, lo sợ bạn bè, hàng xóm chê cười vì những hành vi bạo hành trong gia đình.
Ngoài ra, nhận thức của cộng đồng xã hội về vấn đề bạo lực gia đình cũng là một nguyên nhân để hiện tượng bạo lực gia đình còn tồn tại và phát triển. Hiện nay, cộng đồng xã hội đã quá quen với hiện tượng bạo lực gia đình, họ coi bạo lực gia đình là chuyện thông thường, chuyện riêng tư của mỗi gia đình theo kiểu “đèn nhà ai nhà nấy rạng”, sự can thiệp, lên án của cộng đồng, hàng xóm, khu dân cư và ngay cả chính quyền địa phương cũng chỉ mang tính nhất thời, mờ nhạt. Chính vì vậy, bạo lực gia đình vẫn hàng ngày xảy ra trong đời sống xã hội.
Như vậy, nguồn gốc của bạo lực trong gia đình là do sự nhận thức của mỗi cá nhân chưa đầy đủ về hành vi bạo lực gia đình. Bạo lực gia đình là biểu hiện của sự bất bình đẳng giới, là sản phẩm của tư tưởng gia trưởng “trọng nam khinh nữ”. Các yếu tố như tệ nạn xã hội, kinh tế thiếu thốn, mâu thuẫn gia đình, ngoại tình…cũng chỉ là những nguyên nhân thứ yếu dẫn tới bạo lực gia đình. Điều đáng tiếc là một bộ phận không nhỏ nam giới và phụ nữ không nhận thấy sự bất bình đẳng này mà mặc nhiên chấp nhận nó, không có ý định thay đổi. Vì vậy, để giải quyết được triệt để vấn đề bạo lực gia đình, chúng ta cần phải thay đổi nhận thức của từng cá nhân cũng như của cả cộng đồng về vấn đề bình đẳng giới.
Xóa bỏ “khoảng cách giới” là một vấn về cấp bách, thực tế đã chứng minh rằng thực hiện sự bình đẳng về giới không chỉ đem lại lợi ích riêng cho nữ giới mà còn vì lợi ích chung của cả hai giới, vì sự tiến bộ chung của các thế hệ mai sau.
1.1.3. Đặc điểm của bạo lực gia đình Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Thứ nhất, bạo lực gia đình là hành vi trái pháp luật, xâm phạm những quyền cơ bản nhất của con người đó là quyền được sống, quyền được tự do, quyền được bảo vệ và hành vi này mang màu sắc bất bình đẳng giới rõ rệt, nạn nhân thường là người phụ nữ phải chịu đựng những tổn thương, đau đớn về thể xác, tinh thần, tình dục, kinh tế…
Thứ hai, bạo lực gia đình là hành vi xảy ra giữa các thành viên trong gia đình, tức là chủ thể có hành vi bạo lực và nạn nhân của hành vi bạo lực ấy phải là thành viên trong gia đình. Thực tế cho thấy, phần lớn bạo lực gia đình do đàn ông gây ra cho người bạn đời của họ. Các hành vi bạo lực gia đình với phụ nữ thường không xảy ra đơn lẻ mà bao gồm nhiều dạng khác nhau, bạo lực về thể chất thường đi kèm với bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục.
Thứ ba, bạo lực gia đình được thực hiện bởi lỗi cố ý. Người thực hiện hành vi ý thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi bạo lực đó bất chấp hậu quả xảy ra. Nguyên nhân của hành vi này có thể do không kiềm chế được bản thân, có thể do được tính toán sẵn để trả thù người thân của mình hoặc có thể để thỏa mãn sự ích kỷ của bản thân. Nhưng trong mọi trường hợp hành vi bạo lực gia đình không thể là hành vi vô ý của chủ thể.
Thứ tư, hậu quả của hành vi bạo lực gia đình là gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình. Theo cách hiểu thông thường, hậu quả là những tổn hại thực tế đã xảy ra có thể định lượng, nhưng đối với hành vi bạo lực gia đình, hậu quả bao gồm cả những tổn hại có khả năng xảy ra trong tương lai từ hành vi bạo lực của chủ thể. Những tổn hại thực tế hoặc tiềm ẩn đó nhằm vào cả thể chất (đau đớn, thương tổn về thể xác, đe dọa tới tính mạng…) tinh thần (sự đau khổ, bế tắc, trầm uất…) và kinh tế (mất thu nhập, mất việc làm, gia tăng các chi phí…) đối với các thành viên khác trong gia đình.
1.1.4. Hậu quả của bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình mang lại những hậu quả dai dẳng, không chỉ xâm hại trực tiếp tới cá nhân người bị bạo hành mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực tới trật tự an toàn xã hội, băng hoại các mối quan hệ gia đình và xã hội, ảnh hưởng tới thế hệ tương lai của đất nước. Hậu quả của bạo lực gia đình được xem xét cụ thể qua các mặt:
Đối với phụ nữ: Hành vi bạo lực gây tổn hại trực tiếp tới thể chất, sức khỏe bị hủy hoại, bị gây thương tích đau đớn, có thể bị tàn tật suốt đời, có thể dẫn đến tử vong. Bạo lực cũng gây tổn hại về tinh thần, người phụ nữ cảm thấy xấu hổ và tội lỗi, luôn bị ám ảnh bởi bạo lực, chán nản, buồn rầu, lo lắng, sợ hãi, mất tự tin, hoang mang, trầm cảm, cảm thấy cuộc sống nặng nề, căng thẳng và tuyệt vọng, rối loạn ăn uống, giấc ngủ. Bên cạnh đó, họ có thể bị mang thai ngoài ý muốn do không thể sử dụng các biện pháp tránh thai, vì sợ phản ứng của người chồng hay bạn tình, hoặc không thể từ chối quan hệ tình dục ngoài ý muốn. Mắc các bệnh phụ khoa, mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục kể cả HIV/AIDS và các biến chứng sản khoa khác.
Đối với gia đình: Hành vi bạo lực làm hao tốn tiền bạc vào việc chữa trị và phục hồi sức khỏe cho người phụ nữ; phá hỏng mối quan hệ giữa vợ và chồng, cha và con; giảm khả năng lao động của người phụ nữ; giảm thời gian lao động do phải nghỉ việc; giảm thu nhập của gia đình. Bạo lực gia đình còn ảnh hưởng tới sự phát triển của con cái: chứng kiến bạo lực gia đình có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành nhân cách của trẻ em, có thể dẫn đến việc hình thành những đứa trẻ là “bản sao” của cha mẹ chúng trong tương lai. Khi chứng kiến cảnh bạo lực của người bố gây ra cho mẹ, những trẻ trai có thể sử dụng bạo lực khi chúng trở thành những người đàn ông và trẻ gái có thể trở thành nạn nhân khi các em trở thành phụ nữ, hoặc tạo cho trẻ có những tính cách như thiếu tự tin, rụt rè, hay lo sợ. Bạo lực gia đình khiến cho những đứa trẻ không tìm được tình yêu thương trong gia đình và có xu hướng rời xa gia đình.
Đối với xã hội: bạo lực gia đình để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng tới xã hội, làm giảm đi sự đóng góp về kinh tế, xã hội của người bị bạo lực đối với xã hội; gây áp lực lên hệ thống y tế; chi phí cho chăm sóc sức khỏe do bạo lực gia đình tăng lên; ảnh hưởng đối với vấn đề kế hoạch hóa gia đình. Nếu thủ phạm của hành vi bạo lực gia đình không bị xử lý nghiêm thì nó tạo thành một tiền lệ nguy hiểm rằng hành vi đó có thể chấp nhận được và sẽ dẫn tới những hành động bạo lực nghiêm trọng hơn. Bên cạnh đó, bạo lực gia đình còn làm giảm chất lượng cuộc sống của phụ nữ và trẻ em, tiêu tốn nguồn lực rất lớn cho các cơ quan nhà nước trong việc xử lý hành vi bạo lực gia đình.
1.2 PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
1.2.1. Khái niệm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình mang lại những hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội, ảnh hưởng tới sự đóng góp của cá nhân tới sự phát triển chung của xã hội. Những hành vi bạo lực gia đình là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, tài sản, sức khỏe, tính mạng của công dân mà đã được nhà nước quy định và bảo vệ, vì vậy Nhà nước phải xây dựng những chế định cụ thể nhằm phòng ngừa những hành vi bạo lực gia đình và có những biện pháp xử lý thích đáng đối với những người vi phạm, để kịp thời điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan tới bạo lực gia đình, định hướng hành vi cho công dân theo những chủ trương, đường lối và chính sách pháp luật chung của Nhà nước.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản để đề cao công tác xây dựng, phát triển gia đình thời kỳ đổi mới, không có bạo lực, cụ thể như: Hiến pháp năm 2013 của nước CHXNCN Việt Nam; Chỉ thị số 49/CT-TW ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó có pháp luật về dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội.
Những văn bản trên đã nêu bật những mục đích cơ bản của công tác phòng, chống bạo lực gia đình, đó là nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình, và xây dựng một gia đình không có bạo lực, đáp ứng những yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thực hiện theo những tư tưởng chủ đạo trên đây, vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình đã được Nhà nước cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật có liên quan như: Bộ luật Hình sự 2105, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004; Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, Luật Bình đẳng giới 2006, Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Chính phủ ban hành ngày 29 tháng 5 năm 2012; Quyết định số 215/QĐ-TTg ngày 06/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020…, và đặc biệt là Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, Chỉ thị số 16/2008/CT-TTg ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 4/2/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình… là cơ sở pháp lý cơ bản để bảo vệ con người trước bạo hành gia đình. Những quy định pháp luật trên đã tạo thành một hệ thống văn bản chứa đựng khá đầy đủ những quy phạm pháp luật điều chỉnh những hành vi có liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình, đẩy mạnh công tác phòng, chống bạo lực gia đình, tăng cường xây dựng gia đình mới trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Từ đó có thể khái quát: Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan tới hành vi bạo lực giữa các thành viên trong gia đình, nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của họ, tạo điều kiện cần thiết để xây dựng gia đình bình đẳng, hạnh phúc, văn minh, góp phần ổn định trật tự xã hội, thực hiện các mục tiêu về quyền con người, quyền công dân theo những chủ trương, đường lối chung đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
1.2.2. Nội dung pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình không chỉ được gói gọn trong các quy định tại Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 mà nó còn được quy định trong nhiều văn bản và đạo luật khác nhau. Để tìm hiểu những nội dung cơ bản của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đòi hỏi phải có sự nghiên cứu đầy đủ, toàn diện những chế định có liên quan như: các quy định về phòng, chống bạo lực gia đình; vấn đề bình đẳng giới; vấn đề bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; chế độ hôn nhân gia đình…Nhìn chung, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình của nước ta hiện nay bao gồm những vấn đề cơ bản sau đây:
1.2.2.1. Quy định mục tiêu cơ bản của phòng, chống bạo lực gia đình
Mục tiêu chung nhất của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đó là “xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội” [9], trên cơ sở quyền bình đẳng giới được tôn trọng, trẻ em được chăm sóc, bảo vệ và giáo dục, các quyền con người về tinh thần, kinh tế được bảo vệ khỏi các hành vi bạo lực gia đình.
Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 được xây dựng trên những nội dung của Hiến pháp sửa đổi 2001 về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong đó nêu rõ “gia đình là tế bào của xã hội” (Điều 64) thể hiện vị trí quan trọng của gia đình trong sự đóng góp vào quá trình phát triển chung của xã hội và đất nước. Để xây dựng gia đình hạnh phúc thì phải có sự quan tâm sâu sắc tới trẻ em- những chủ nhân tương lai của đất nước- và tránh tình trạng phân biệt đối xử, bất bình đẳng giới với phụ nữ, một trong những nguyên nhân dẫn tới bạo lực gia đình, chính vì vậy, Hiến pháp sửa đổi 2001 cũng quy định rõ “mọi công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52), “công dân nam và nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” (Điều 63), hay “trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” (Điều 65).
Mục tiêu xây dựng gia đình hạnh phúc để phát triển kinh tế, xã hội gắn với quyền bình đẳng của công dân cũng được thể hiện qua: Luật Bình đẳng giới 2006: “xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế – xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” (Điều 4 Luật Bình đẳng giới); Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con” (Điều 2, khoản 3 Luật Hôn nhân và gia đình).
Như vậy, mục tiêu chung nhất của pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đó là tạo những điều kiện thuận lợi nhất để mỗi cá nhân có thể xây dựng một gia đình hạnh phúc trên cơ sở bình đẳng không có bạo lực gia đình, để gia đình là điểm tựa vững chắc và là tiền đề quan trọng cho mỗi cá nhân phát huy hết khả năng, đóng góp công sức của mình cho sự phát triển chung của xã hội và xây dựng những thế hệ trẻ vì tương lai của đất nước. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
1.2.2.2. Quy định các nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình gồm: “Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam”.
Đây là nguyên tắc chủ đạo trong phòng, chống bạo lực gia đình bởi nhiều lý do. Xuất phát từ thực tế quan hệ trong gia đình mang tính khép kín, với các thành viên gia đình cũng như những người xung quanh, việc trong gia đình thì người ngoài ít có cơ hội xen vào. Vì thế những vụ bạo lực gia đình thường khó phát hiện, khi bị phát hiện cũng khó xử lý bởi tâm lý e ngại của nạn nhân và cả những người biết chuyện, và thậm chí nếu xử lý rồi thì khả năng tái diễn cũng rất cao vì để tìm ra biện pháp ngăn chặn phù hợp là không dễ. Các quy định pháp luật khó vươn tới từng gia đình, bởi nhận thức của người dân về vấn đề này còn hạn chế, sự can thiệp thô bạo của pháp luật có thể dẫn tới phá hoại các mối quan hệ các thành viên gia đình. Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hòa giải trong vấn đề này là rất quan trọng, góp phần định hướng hành vi của mỗi người: nạn nhân được trang bị kiến thức để tự bảo vệ; người có thể có hành vi bạo lực có thể nhận thức được tính chất, hậu quả của hành vi để tự kiềm chế tốt hơn; những người xung quanh biết được trách nhiệm tham gia phòng chống bạo lực gia đình và có ứng xử phù hợp.
Việc tuyên truyền giáo dục nếu kết hợp với truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc thì sẽ càng được phát huy tốt hơn nữa, bởi vì người Việt Nam nói chung chịu tác động khá lớn từ những tư tưởng này. Đặc biệt, ở những quan niệm “phép vua thua lệ làng”, trình độ dân trí thấp thì việc giáo dục người dân thông qua các phong tục, tập quán mới có thể phát huy hiệu quả lớn nhất.
Nguyên tắc “Hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật”. Đây là một trong những nguyên tắc chung của pháp luật. Riêng trong lĩnh vực bạo lực gia đình, việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi càng có ý nghĩa quan trọng, nếu không thì có thể trở thành “thói quen”, được chấp nhận với cả nạn nhân, người vi phạm và người xung quanh.Bên cạnh đó, hành vi bạo lực càng kéo dài thì càng gây ra nhiều tổn thương cho nạn nhân, tổn thương tới mối quan hệ gia đình. Điều này sẽ được hạn chế rất nhiều nếu hành vi bị phát hiện và xử lý kịp thời.
Nguyên tắc “Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ”. Giúp đỡ nạn nhân, bảo vệ quyền và lợi ích của họ là điều cần thiết và được pháp luật ghi nhận như một nguyên tắc quan trọng, mọi người đều phải tuân theo. Những vấn đề về gia đình, trong đó có bạo lực gia đình thường không nhận được sự quan tâm sâu sắc và đúng đắn của những người xung quanh, bởi vì họ coi đấy là chuyện riêng, chuyện nội bộ của mỗi nhà. Từ đó, việc giúp đỡ nạn nhân trở nên hạn chế, nhất là khi họ còn lo sợ sự trả thù của người có hành vi bạo lực. Ngoài ra việc giúp đỡ nạn nhân như thế nào, bằng những phương tiện gì cũng gây cho họ những lúng túng nhất định, do đó pháp luật cho phép họ tùy khả năng, tình hình mà đưa ra những xử sự phù hợp nhất, ưu tiên những đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi…
Nguyên tắc “Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình”. Bạo lực gia đình từ lâu đã không còn là vấn đề của mỗi gia đình mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định xã hội; do đó việc phòng, chống bạo lực gia đình là trách nhiệm chung của cộng đồng chứ không phải chỉ là của nhà nước và những người có liên quan. Bên cạnh đó, công tác phòng, chống bạo lực gia đình vốn gặp nhiều khó khăn khi triển khai trên thực tế, nên rất cần sự quan tâm phối hợp của tất cả các thành viên trong xã hội. Việc quy định nguyên tắc này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
1.2.2.3. Quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể
- Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình.
Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 5 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, theo đó nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền và nghĩa vụ sau đây: yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình; yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của luật này; được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật; được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của luật này; có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu.
Có thể thấy nạn nhân của bạo lực gia đình, những người bị chính người thân của mình gây ra những tổn thương nhất định, rất cần được sự giúp đỡ của cộng đồng và xã hội. Khi hành vi bạo lực đã xảy ra trong gia đình thì những thành viên gia đình vì những mối quan hệ với người thực hiện hành vi bạo lực sẽ rất khó có sự can thiệp mạnh mẽ, dứt khoát cần thiết để bảo vệ nạn nhân. Do đó, nạn nhân cần sự giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ, sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc quy định đây là quyền của nạn nhân, tức là nghĩa vụ của các chủ thể khác phải thực hiện là hoàn toàn đúng đắn.
Bên cạnh đó, rất nhiều trường hợp, nạn nhân bạo lực gia đình cần sự giúp đỡ về y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật. Những tổn thương về thể chất có thể chữa lành bằng sự chăm sóc y tế, nhưng với tổn thương về tâm lý, nạn nhân không dễ dàng vượt qua được. Những sợ hãi, hoang mang, khủng hoảng…có thể theo họ một thời gian dài, khiến họ không lấy lại sự cân bằng trong cuộc sống. Họ rất cần được tư vấn tâm lý để vượt qua những nỗi ám ảnh này, họ cần được biết rằng họ không có lỗi trong việc để hành vi bạo lực gia đình xảy ra, được hướng dẫn phải xử sự như thế nào khi những hành vi này tiếp diễn. Đặc biệt, họ cần biết những quy định của pháp luật về vấn đề này để nâng cao khả năng tự bảo vệ trong những trường hợp tương tự.
Ngoài ra, nạn nhân cũng cần có một nơi để tạm lánh để có thời gian cách li nhất định với người thực hiện hành vi bạo lực. Điều này có tác dụng làm cho cả hai bên có thời gian, cơ hội để nhìn nhận sự việc một rõ ràng hơn, bình tĩnh hơn. Với những kẻ thực hiện hành vi bạo lực một cách côn đồ, hung hãn, không có điểm dừng thì nơi tạm lánh này là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ nạn nhân. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Tuy nhiên, bên cạnh những quyền lợi như vậy, nạn nhân bạo lực gia đình cũng phải thực hiện nghĩa vụ nhất định, đó là: cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu. Do tính chất nhạy cảm của tội phạm, cũng như mối quan hệ đặc biệt của các chủ thể, pháp luật không đặt ra nghĩa vụ của nạn nhân trong việc phòng chống bạo lực gia đình hay tố giác người có hành vi bạo lực- điều này hoàn toàn hợp lý, vì bạo lực dù diễn ra trong gia đình nhưng lại ảnh hưởng tới sự phát triển chung của toàn xã hội, do đó cần phải được xử lý kịp thời; nạn nhân của bạo lực cần được bảo vệ, nhưng họ cũng cần tự bảo vệ mình trong giới hạn nhất định, và đó có thể coi là trách nhiệm của họ với cộng đồng, xã hội.
- Thứ hai, nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình.
Người có hành vi bạo lực gia đình là người đã gây ra những tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại cho thành viên khác trong gia đình. Tại Điều 4 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định rõ nghĩa vụ của họ, bao gồm: tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực; chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối; bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật.
Trước hết, khi thực hiện hành vi bạo lực và bị phát hiện, người có hành vi bạo lực gia đình phải tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng, chấm dứt ngay hành vi bạo lực. Tôn trọng sự can thiệp có nghĩa là người có hành vi bạo lực gia đình phải lắng nghe, thực hiện theo những yêu cầu chính đáng của cộng đồng, không được có thái độ hung hãn, chống đối hay có ý định trả thù sự can thiệp đó. Quy định này tưởng chừng như chung chung nhưng lại rất cụ thể và sâu sắc. Người có hành vi bạo lực gia đình không chỉ thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của cộng đồng mà còn phải tôn trọng sự can thiệp đó, nghĩa là bản thân họ phần nào nhận biết được tính đúng đắn của việc can thiệp, cũng như phải có thái độ đúng mực với những người can thiệp.
Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cũng là nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực. Trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình, những chủ thể có thẩm quyền có thể đưa ra những chế tài như: góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn…Việc bị xử lý hành vi bạo lực gia đình vốn không quen thuộc với người Việt, vì rất nhiều nghĩ đó là quyền của họ. Do đó, quy định người có hành vi bạo lực có nghĩa vụ chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là cần thiết để tạo ra cơ sở pháp lý mạnh mẽ, buộc chủ thể phải thực hiện, bảo đảm hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Với những trường hợp nạn nhân bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cần tới sự can thiệp của y tế thì người thực hiện hành vi bạo lực phải kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối. Đây tưởng chừng như điều hiển nhiên, là ứng xử bắt buộc của các thành viên gia đình đối với nhau, nhưng lại là điều rất khó thực hiện khi một bên là chủ thể, một bên là nạn nhân của hành vi bạo lực. Người có hành vi bạo lực khi đã nhẫn tâm ra tay thì rất khó có chuyện thương xót, lo lắng cho nạn nhân mà đưa họ đi chữa trị, chăm sóc; hoặc có khi họ nhận thấy sai lầm của mình nhưng do sợ bị phát hiện, sợ phải gánh trách nhiệm nên không dám đưa nạn nhân tới cơ sở chữa trị.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình không nhắc tới quyền mà chỉ quy định nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình. Điều này trước hết vì những người này đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nên họ phải chịu những trách nhiệm nhất định và không được hưởng sự bảo vệ của pháp luật trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận theo một khía cạnh thì có thể thấy: nghĩa vụ mà luật nêu lên cũng đã hàm chứa một số quyền của họ: quyền nhận được sự can thiệp hợp pháp, quyền được thực hiện các hành động nhằm khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra. Nếu nhìn nhận một cách tổng quát, có thể thấy rằng những hành vi bạo lực gia đình xuất phát từ sự nhẫn tâm, tàn ác, đê hèn không nhiều mà do những quan niệm sai lầm, do thiếu hiểu biết, do không được trang bị kỹ năng giải quyết tranh chấp hoặc do nóng giận. Do đó, pháp luật cũng cần phải cho họ những cơ hội để giác ngộ, sửa chữa sai lầm, cũng là tạo cơ hội cho gia đình của họ được hàn gắn.
1.2.2.4. Quy định trách nhiệm của cá nhân, gia đình và các cơ quan tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình
Điều 32 Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định về trách nhiệm gia đình và các thành viên như sau: giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình; phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình; thực hiện các biện pháp khác về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của luật này. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Phải khẳng định rằng gia đình và thành viên gia đình đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Bất cứ thành viên nào trong gia đình cũng có thể có hành vi bạo lực gia đình: con mắng cha, vợ chì chiết chồng, mẹ chồng ruồng rẫy con dâu, anh em tranh chấp tài sản dẫn đến đánh nhau….; đồng thời chính họ cũng dễ dàng trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ đề cập dưới một khía cạnh là người chứng kiến bạo lực gia đình. Cùng chung sống dưới một mái nhà, họ là người chịu tác động trực tiếp của hành vi, có khả năng phát hiện nhanh chóng cũng như tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến, mức độ của hành vi bạo lực; họ cũng là người có khả năng thành công trong việc giáo dục, thuyết phục người có hành vi bạo lực thay đổi hành vi bởi hai bên có sự hiểu biết nhau, có mối quan hệ thân thiết nhau…
Tuy nhiên, trên thực tế đã cho thấy nhiều trường hợp các thành viên khác trong gia đình đã tiếp tay cho hành vi bạo lực như: mẹ xúi con trai “giáo dục” vợ bằng nắm đấm; ông bà yêu cầu phải nghiêm khắc dạy dỗ cháu… Những hành động này phần nhiều không xuất phát từ ý xấu mà chỉ do quan niệm khác nhau của mỗi người, nhưng lại tác động rất lớn đến người thực hiện hành vi bạo lực.
Chính vậy pháp luật đã quy định gia đình và các thành viên gia đình phải có trách nhiệm và sự chủ động nhất định trong phòng, chống bạo lực gia đình: giáo dục, nhắc nhở, hòa giải mâu thuẩn giữa các thành viên, ngăn chặn người có hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân…Đây là những việc họ hoàn toàn có khả năng thực hiện, còn việc có thực hiện hay không, thực hiện như thế nào thì lại phụ thuộc vào mỗi người, mỗi gia đình, mỗi hoàn cảnh. Pháp luật không quy định đây là nghĩa vụ mà chỉ là trách nhiệm của gia đình và các thành viên. Tuy nhiên, nếu có những hành vi bị cấm trong phòng, chống bạo lực gia đình thì họ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình còn quy định rõ trách nhiệm của các cá nhân tại Điều 31, cụ thể: thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; kịp thời ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền. Những quy định này nhằm nâng cao tính chủ động, tính cực của các cá nhân trong xã hội đối với việc phòng, chống bạo lực gia đình cũng như giúp đỡ nạn nhân. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Đối với cơ quan, tổ chức, Luật phòng, chống bạo lực gia đình đã nêu lên trách nhiệm của rất nhiều cơ quan, tổ chức, trong đó có thể kể tới trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tại Điều 33: tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích, động viên hội viên và nhân dân chấp hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; kiến nghị những biện pháp cần thiết với cơ quan nhà nước có liên quan để thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; tham gia phòng, chống bạo lực gia đình, chăm sóc, hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình; tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam – một thành viên của Mặt trận Tổ quốc cũng được giao một số trách nhiệm tại Điều 34 Luật phòng, chống bạo lực gia đình như: Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 33 của luật này: tổ chức cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; Tổ chức các hoạt động dạy nghề, tín dụng, tiết kiệm để hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình.
Ngoài ra, Luật cũng quy định: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương. Trách nhiệm của một số Bộ, ngành cũng được cụ thể tại các Điều từ 36 đến Điều 41 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
1.2.2.5. Quy định về xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
Các hành vi vi phạm pháp luật có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình đều bị nghiêm cấm, điều này được thể hiện cụ thể qua những chế định tại Hiến pháp 2013: “nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới” (Khoản 3, Điều 26, Hiến pháp), “nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (Khoản 1, Điều 37, Hiến pháp), “nghiêm cấm những hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng” (Khoản 1, Điều 38, Hiến pháp); và qua những quy định tại các đạo Luật có liên quan: hành vi bạo lực trên cơ sở giới bị nghiêm cấm (Điều 10 Luật Bình đẳng giới 2006), “Gia đình, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho trẻ em; mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em đều bị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật” (Điều 26 Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em 2004), còn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 trong quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình thì hành vi bạo lực gia đình là hành vi bị nghiêm cấm (Điều 5, khoản 2, điểm h). Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Theo Luật phòng, chống bạo lực gia đình, các hành vi bạo lực gia đình bao gồm: Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; cưỡng ép quan hệ tình dục; cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính và có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở (Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình). Có thể thấy, các hành vi bạo lực gia đình xảy ra dưới rất nhiều hình thức, Luật phòng, chống bạo lực gia đình đã nhân dạng và liệt kê khá đầy đủ những hành vi đó. Bất cứ cá nhân nào nếu có những hành vi bạo lực nêu trên là vi phạm pháp luật và tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật.
Điều 42 Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định về xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình như sau: người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của khoản 1 Điều này thì bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức,đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục; Chính phủ quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
Như vậy, người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình có thể bị xử lý bằng các biện pháp khác nhau: xử lý kỷ luật, xử lý hành chính, xử lý theo pháp luật dân sự, xử lý theo pháp luật hình sự. Tùy từng mức độ xâm hại do hành vi bạo lực gia đình gây ra trong những trường hợp cụ thể để lựa chọn hình thức xử lý tương xứng. Trong trường hợp hành vi bạo lực gia đình gây ra những hậu quả nặng nề, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì người gây ra bạo lực gia đình phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng như tội hành hạ người khác (Điều 140 Bộ luật hình sự 2015), tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 134 Bộ luật hình sự 2015)…
1.2.2.6. Quy định về phòng ngừa bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Đây là nội dung quan trọng trong Luật phòng chống bạo lực gia đình. Luật không chỉ đưa ra những biện pháp xử lý đối với những người đã vi phạm mà nội dung phòng ngừa, không để xảy ra bạo lực gia đình mới là vấn cốt lõi, thể hiện tính nhân văn của pháp luật. Để thực hiện nội dung này, bên cạnh vấn đề thông tin, tuyên truyền để mọi người dân nắm rõ những nội dung của cơ bản của luật theo Điều 10- Luật phòng chống bạo lực gia đình, thì việc hòa giải những mâu thuẫn phát sinh giữa các thành viên trong gia đình được coi là khâu tiên quyết trong phòng ngừa bạo lực gia đình. Các mâu thuẫn cần được giải quyết thông qua đối thoại để các thành viên gia đình hiểu rõ nguyên nhân, cùng nhau khắc phục tránh phát sinh bạo lực làm vấn đề thêm trầm trọng. Những tổ chức trung gian có thể đứng ra hòa giải như: gia đình, dòng họ, cơ quan tổ chức ở địa phương. Luật cũng nhấn mạnh vai trò của cộng đồng dân cư trong quá trình tư vấn, góp ý để phòng ngừa bạo lực gia đình. Mỗi gia đình đều gắn với thôn xóm, làng xã, khu dân cư nơi mình sinh sống, đây là những sợi dây vô hình để mỗi gia đình gắn kết với cộng đồng nơi mình sinh sống, cùng tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, do vậy không thể phủ nhận vai trò quan trọng của cộng đồng dân cư trong phòng ngừa bạo lực gia đình.
Bên cạnh đó, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình cũng là nội dung quan trong được pháp luật quy định khá chi tiết. Các hành vi bạo lực gia đình cần phải được phát hiện kịp thời và có biện pháp ngăn chặn, bảo vệ phù hợp cho nạn nhân tránh để xảy ra những hậu quả đáng tiếc. Điều 19, khoản 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về những biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, đó là: buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình; cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình; các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình; cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần nạn nhân; sử dụng điện thoại hoặc các phương tiện thông tin khác để có hành vi bạo lực với nạn nhân (được gọi là biện pháp cấm tiếp xúc).
Đồng thời với việc ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình thì việc trợ giúp nạn nhân cũng được thực hiện để tạo điều kiện tốt nhất cho việc hàn gắn những tổn thương mất mát của họ do hành vi bạo lực gia đình gây ra từ việc trợ giúp, khám chữa bệnh, bảo trợ xã hội cũng như tư vấn tâm lý.
Có thể nói, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đã thể chế hóa đầy đủ các vấn đề về bạo lực gia đình không chỉ là các nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, trách nhiệm của cá nhân tổ chức, quy định về các hành vi vi phạm và xử lý các hành vi vi phạm, mà còn là những quy định để phòng ngừa bạo lực, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình. Đây là những căn cứ cần thiết để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật cho người dân, đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đấu tranh với những hành vi bạo lực gia đình. Việc nắm vững những quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là vấn đề hết sức cần thiết để nhận diện hành vi vi phạm, giúp cho các chủ thể hiểu rõ những quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật ghi nhận từ đó có cách ứng xử phù hợp để phòng, chống những hành vi bạo lực gia đình, góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, ấm no, đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội.
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình được xây dựng dựa trên các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội và nền tảng lập pháp nhất định, phù hợp trong từng giai đoạn phát triển của xã hội. Các yếu tố này có ảnh hưởng sâu sắc, quyết định tới tính khả thi, hiệu quả của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.
1.3.1. Yếu tố chính trị
Sự lãnh đạo của Đảng: Quyền con người, quyền công dân là một phạm trù không xa lạ mà đó là mục đích cuối cùng và là bản chất của chế độ XHCN. Ở nước ta, mục tiêu và hành động nhất quán của Đảng và Nhà nước từ trước tới nay là vì quyền con người, quyền công dân của mỗi cá nhân trong xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định chính sách nhất quán coi nhân tố con người là trung tâm, là thước đo của sự phát triển xã hội, trong đó đặc biệt coi trọng đảm bảo công bằng xã hội thông qua việc hỗ trợ, giúp đỡ những nhóm xã hội dễ bị tổn thương dưới mọi hình thức.
Bên cạnh việc bảo vệ những người yếu thế, duy trì sự phát triển bền vững, lành mạnh của gia đình, thì việc đảm bảo sự phát triển ổn định của đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường là những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra yêu cầu phải đạt được. Yêu cầu này đã được thể hiện trong các chủ trương, chính sách của Đảng và được thể hiện rõ nét trong các văn bản pháp luật của Nhà nước. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Ngày 21/2/2005, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Chỉ thị số 49/CT-TW về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong đó nêu rõ“tình trạng bạo hành trong gia đình, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, trẻ em bị xâm hại, trẻ em phải lang thang kiếm sống, trẻ em vi phạm pháp luật có chiều hướng phát triển và tình hình bạo lực gia đình gia tăng làm ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta” [1].
Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 48/NQ-TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó có một trong những quan điểm chỉ đạo là “xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội” [3].
Nghị quyết của Quốc hội khóa XI về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2010- 2015 đề ra nhiệm vụ đấu tranh phòng chống bạo lực gia đình là “một trong những nhiệm vụ quan trọng cần thực hiện nghiêm túc” [23]. Chính phủ cũng ban hành Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 trong đó nhấn mạnh mục tiêu “nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình. Phấn đấu đến năm 2015 đạt 90% và đến năm 2020 đạt 95% trở lên hộ gia đình được phổ biến, tuyên truyền và cam kết thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình. Hằng năm, trung bình giảm từ 10 – 15% hộ gia đình có bạo lực gia đình” [9].
Có thể nói, vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm chú ý. Những định hướng mang tính chiến lược của Đảng đã và đang được thể chế hóa thông qua việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình từ đó từng bước luật hóa vấn đề bạo lực gia đình, nâng cao nhận thức của người dân trong việc xây dựng một gia đình hạnh phúc, góp phần hoàn thành những mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước trong quá trình đổi mới.
Vai trò của các tổ chức chính trị- xã hội: Để ngăn chặn nạn bạo hành trong gia đình, yêu cầu đặt ra đối với các cấp, ngành là rất cấp bách. Vấn đề không chỉ là sự thay đổi trong nhận thức của cá nhân, mà để phòng chống bạo lực gia đình có hiệu quả cần có sự tham gia của toàn xã hội, sự chung tay góp sức của cộng đồng, từ bộ máy chính quyền địa phương đến các tổ chức cộng đồng, sự tham gia của người dân và của chính những nạn nhân của bạo lực gia đình.
Các tổ chức chính trị- xã hội là các tổ chức đại diện quyền, lợi ích pháp chính của phụ nữ và trẻ em, chính vì thế các tổ chức chính trị- xã hội đã thể hiện được tiếng nói mạnh mẽ của mình trong công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức cho người dân về bạo lực gia đình, đồng thời tham mưu với các cấp có thẩm quyền về các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật theo chức năng, nhiệm vụ của mình. Với những nhiệm vụ quan trọng đó, các tổ chức chính trị- xã hội là những hạt nhân quan trọng không thể thiếu trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, đảm bảo cho quá trình thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình có hiệu quả.
1.3.2. Yếu tố kinh tế Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình là do nghèo đói, kinh tế kém phát triển, vì vậy, để đảm bảo cho việc thực thi Luật phòng, chống bạo lực gia đình có hiệu quả thì việc nâng cao đời sống vật chất cho người dân là điều hết sức quan trọng. Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đời sống của đại bộ phận nhân dân đang ngày càng được cải thiện, nâng cao. Tuy nhiên, trên thực tế ở một số nơi, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống của một bộ phận không nhỏ nhân dân còn rất khó khăn, vất vả, điều này đặt con người vào tình trạng dồn nén triền miên và đó là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng bạo lực gia đình. Có thể nói, nghèo đói và bạo lực gia đình là hai mặt của một vấn đề vì trong nhiều trường hợp, nghèo đói tạo cơ sở cho bạo lực nảy sinh và phát triển, và ngược lại, bạo lực cũng là một căn nguyên gia tăng sự đói nghèo.
Do đó, để việc xây dựng, thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đạt kết quả cần phải được thực hiện đồng bộ với các các chính sách kinh tế, nâng cao nhận thức pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình phải đi đôi với nâng cao đời sống vật chất cho người dân. Các chính sách kinh tế hiệu quả góp phần cải thiện đời sống vật chất của người dân sẽ tạo nền tảng vững chắc cho việc nâng cao dân trí, giảm thiểu bạo lực gia đình trong xã hội.
1.3.3. Yếu tố văn hóa, xã hội
Trình độ văn hóa thấp cũng là một nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình, đặc biệt đối với phụ nữ. Thực tế cho thấy, bạo lực gia đình thường xảy ra nhiều hơn ở những gia đình có trình độ văn hóa thấp. Nhiều người gây ra bạo lực gia đình đối với phụ nữ nhưng không nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và cho rằng hành vi đó là một quyền hiển nhiên của người chồng. Không chỉ thủ phạm gây ra bạo lực gia đình mà cả những người chứng kiến bạo lực trong nhiều trường hợp cũng không nhận thức được đó là hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến những quyền cơ bản của con người, thậm chí, đối với chính bản thân người phụ nữ khi bị bạo hành cũng không nhận thức được mình đang là nạn nhân của bạo lực gia đình, mình được pháp luật bảo vệ, vì thế cứ âm thầm cam chịu sống chung với bạo hành.
Bên cạnh đó, các tệ nạn xã hội như: nghiện rượu bia, ma túy, mại dâm, mê tín dị đoan, tảo hôn, buôn bán phụ nữ, trẻ em…cũng góp phần làm gia tăng tình trạng bạo lực gia đình trong xã hội ngày nay. Để loại trừ những tệ nạn xã hội này, các cấp chính quyền cần phải giải quyết tốt các vấn đề xã hội ở tầm vĩ mô như tình trạng đói nghèo, lạc hậu, thất học, thất nghiệp, vô gia cư, có chính sách ưu đãi, chăm lo cho người già, phụ nữ, trẻ em…để từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.
Những vấn đề trên đặt ra những thách thức không nhỏ trong quá trình xây dựng cũng như thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình để pháp luật đảm bảo vừa mang tính răn đe, vừa định hướng hành động và giáo dục ý thức pháp luật cho người dân về vấn đề bạo lực gia đình. Xây dựng pháp luật cần đi đôi với giáo dục đạo lý làm người, đạo đức xã hội cũng như phát huy truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Đồng thời các cấp chính quyền cần tăng cường sinh hoạt, giao lưu văn hóa cho các cộng đồng dân cư phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng địa phương, đẩy mạnh xây dựng gia đình văn hóa, khu phố văn hóa, làng văn hóa, lấy tiêu chí gia đình không có bạo lực làm tiêu chuẩn bình xét, khen thưởng trong các cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, việc đảm bảo những phúc lợi xã hội, an sinh xã hội cũng rất cần nhận được sự quan tâm và đầu tư mạnh mẽ để cải thiện đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận thông tin kịp thời, nâng cao dân trí, ý thức pháp luật, đặc biệt trong vấn đề phòng chống bạo lực gia đình. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
1.3.4. Yếu tố pháp lý
Việt Nam đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Vì vậy, pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, tạo ra trật tự và ổn định cho xã hội nhất là trong việc ngăn chặn và đẩy lùi các hiện tượng vi phạm pháp luật. Một hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình hoàn thiện, đầy đủ, thống nhất, cụ thể, tính khả thi cao, dân chủ, tiến bộ, hướng tới các giá trị nhân văn cùng với hệ thống các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xoá bỏ nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình ngày càng đầy đủ cùng với các hoạt động có hiệu quả của hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật sẽ là những đảm bảo pháp lý để ngăn chặn, hạn chế vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Tuy nhiên, để công tác phòng chống bạo lực trong gia đình đạt hiệu quả thì không chỉ xây dựng một đạo luật về phòng, chống bạo lực gia đình là đủ, mà cần phải có hệ thống các văn bản pháp luật đồng bộ điều chỉnh các mối quan hệ từ gia đình tới xã hội để người phụ nữ có cơ chế tự bảo vệ mình, tự tránh khỏi các áp lực, các yếu tố và hành vi dẫn đến bạo hành, nhằm xây dựng gia đình hòa thuận, tiến bộ và văn minh. Pháp luật cũng phải là đại lượng công bằng nhất, xóa tan khoảng cách và xây dựng lại các gia đình từ các đỗ vỡ, bất đồng, xung đột tiềm ẩn tạo cơ sở pháp lý để người chồng thể hiện được thái độ đúng đắn của mình, những ứng xử phù hợp với pháp luật đối với người vợ trước những bất đồng, xung đột của hai vợ chồng mà nhiều khi lý do lại là do người vợ mang lại. Như vậy, pháp luật được xem là yếu tố đảm bảo cơ bản nhất trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
Như vậy, có thể nói, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình chịu ảnh hưởng chi phối của các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và pháp lý. Để xây dựng được một hệ thống pháp luật đủ mạnh, phát huy được tối đa hiệu quả trong công tác phòng chống bạo lực gia đình, phục vụ những mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra, cần phải nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của các yếu tố trên đây và có những sự vận dụng phù hợp vào từng giai đoạn cụ thể, từ đó mới có thể xây dựng và hoàn thiện từ cơ chế chính sách, cho tới thể chế pháp luật, phục vụ có hiệu quả trong việc ngăn chặn và đẩy lùi nạn bạo lực gia đình.
Tiểu kết chương 1
Trong chương này, luận văn đã cơ bản giải quyết được các vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình như: khái niệm, đặc điểm cũng như nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình; nêu khái niệm và phân tích nội dung của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình cũng như chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình gồm: yếu tố chính trị; pháp lý, kinh tế, văn hóa – xã hội. Đây là những vấn đề lý luận mang tính nền tảng để từng bước hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay. Luận văn: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Tuyên Quang.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình Tuyên Quang

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
