Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Phương hướng chung nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức và quản lý công ty cổ phần

3.1.1. Hoàn thiện khung pháp lý về tổ chức và quản lý công ty cổ phần

Mặc dù vấn đề tổ chức và quản lý Công ty cổ phần là một vấn đề mới ở Việt Nam, nhưng do nhận thức được ý nghĩa quan trọng của tổ chức và quản lý công ty nên trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã rất nỗ lực để ban hành được một khung pháp lý cơ bản về quản lý công ty trên cơ sở vận dụng những thông lệ quốc tế và đảm bảo phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Khuôn khổ pháp lý về quản trị công ty ở Việt Nam đã được quy định trong Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, khung pháp lý về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần của Việt Nam còn nhiều hạn chế khiến cho việc thực hiện các quy định về quản trị Công ty cổ phần trong thực tiễn nhiều quy định chưa cụ thể, thiếu đồng bộ và mang nặng tính hình thức. Những hạn chế về khung pháp lý này đã và đang gây ra nhiều bất cập cho cả người quản lý, điều hành công ty cũng như các cổ đông và cơ quan quản lý Nhà nước.

Đối với những quy định trong Luật Doanh nghiệp 2020, mặc dù đã có nhiều cải cách hoàn toàn mới so với Luật Doanh nghiệp 2014 tuy nhiên có những cải cách chưa hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, và cũng có những nội dung vẫn kế thừa từ Luật Doanh nghiệp 2014 vốn đã bộc lộ nhiều điểm bất cập, cần phải sửa đổi hoặc bãi bỏ đảm bảo phù hợp với tình hình phát triển của các DN hiện nay (tác giả sẽ phân tích cụ thể ở phần tiếp theo). Bên cạnh đó, cần hoàn thiện và bổ sung các quy định mới về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần nhằm tạo thuận lợi hơn cho hoạt động của DN như: cân đối việc giảm tỷ lệ tối thiểu để thông qua những quyết định của Đại hội đồng cổ đông với giảm tỷ lệ tham dự họp Đại hội đồng cổ đông tối thiểu; hài hòa lợi ích của cổ đông thiểu số và cổ đông đa số… Với mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường của nước ta, việc áp dụng Luật Doanh nghiệp 2020 trong thời gian tới đang là một cơ hội cho việc sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách và quy định pháp luật chuyên ngành, văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp về quản trị Công ty cổ phần; hướng tới áp dụng thông lệ quốc tế về quản trị Công ty cổ phần trong điều kiện thực tế ở Việt Nam; cải thiện lòng tin của các nhà đầu tư; tăng cường bảo vệ lợi ích của các chủ sở hữu, nhà đầu tư và bên có liên quan. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

3.1.2. Phân định rõ trách nhiệm và tăng cường vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc tổ chức thực thi và thúc đẩy tổ chức và quản lý công ty cổ phần

Uỷ Ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài Chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hai Sở Giao dịch chứng khoán là các cơ quan trực tiếp tham gia vào quá trình thúc đẩy và tổ chức thực hiện, áp dụng các nguyên tắc quản trị Công ty cổ phần trong thực tiễn. Tuy nhiên, hiện tại, trách nhiệm của từng cơ quan này vẫn chưa được phân định rõ ràng. Do vậy, việc quy định rõ vai trò, chức năng của từng cơ quan tham gia vào quá trình thực thi cải cách quản trị Công ty cổ phần là cần thiết để tránh sự trùng lặp về trách nhiệm, đặc biệt là chức năng nhiệm vụ của Uỷ Ban Chứng khoán Nhà nước. Theo đó, chức năng nhiệm vụ của Uỷ Ban Chứng khoán Nhà nước cần phải được xây dựng để đảm bảo đây là cơ quan bảo vệ nhà đầu tư, là cơ quan quản lý trong lĩnh vực chứng khoán, thực hiện các nhiệm vụ để nâng cao tính toàn vẹn của thị trường, làm cho môi trường đầu tư trở lên minh bạch. Ngoài việc phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý, giải pháp tăng cường nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng cho các cơ quan quản lý này để tham gia giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi quản trị công ty nhằm đảm bảo các cơ quan này có thể thực hiện nhiệm vụ của mình một cách chuyên nghiệp cũng là giải pháp cần được sớm thực hiện.

3.1.3. Phổ biến pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật về tổ chức và quản lý công ty cổ phần

Nâng cao hơn nữa nhận thức về bản chất và ý nghĩa của vấn đề quản trị trong Công ty cổ phần là một việc làm cần thiết. Trong các nguyên nhân vi phạm pháp luật nói chung thì việc không hiểu biết pháp luật cũng là một lý do khá quan trọng. Pháp luật về quản trị Công ty cổ phần chỉ có thể được tuân thủ khi các chủ thể có liên quan hiểu một cách chính xác và đúng đắn về quyền nghĩa vụ của mình, bản chất hoạt động quản trị Công ty cổ phần. Để làm được vấn đề này cần thiết phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi quy định pháp luật thông qua báo chí, phương tiện truyền thông, truyền hình, các đợt tập huấn cho DN.

Đối với những công ty chưa có hệ thống quản trị công ty thì cần cập nhật và bắt tay ngay vào công tác xây dựng và ngay từ đầu nên kết hợp luật pháp quốc gia với chuẩn mực quốc tế, nhất là bộ nguyên tắc do OECD ban hành. Đối với những công ty đã có hệ thống quản trị công ty cần tiếp tục cải thiện chất lượng và cải tổ hoạt động quản trị công ty tại DN mình thông qua tham khảo thông lệ quốc tế, những bài học kinh nghiệm từ các nước tiên tiến hoặc những nước có nhiều bước tiến bộ về quản trị công ty như Thái Lan, Singapore. Ngoài ra, các công ty cần thành lập phòng ban chức năng chuyên trách về quản trị công ty như phòng Quan hệ Nhà Đầu tư, phòng Trách nhiệm xã hội…; xây dựng chế tài xử lý các hành vi vi phạm quản trị công ty cấp công ty ngoài các quy định xử phạt của luật pháp để tăng cường hiệu quả và trách nhiệm của các nhà quản trị; giảm dần tỷ lệ sở hữu tập trung của các cán bộ Hội đồng quản trị, cán bộ quản lý, cổ đông cá nhân vì những đối tượng này có khả năng thâu tóm quyền lực, gây ra tính thiếu minh bạch. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Đồng thời, DN cũng cần nâng cao năng lực và vai trò của thành viên Hội đồng quản trị, cụ thể như đảm bảo các thành viên Hội đồng quản trị hiểu rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của mình; hàng năm xem xét lại sứ mệnh, tầm nhìn, mục tiêu của công ty, các chính sách liên quan tới quản trị công ty. DN nên xây dựng, ban hành các bộ quy tắc ứng xử, bộ quy tắc hướng dẫn công tác quản trị công ty tại DN; tăng cường tính độc lập của các thành viên độc lập Hội đồng quản trị; thành lập các Ủy ban chuyên môn để hỗ trợ hoạt động của Hội đồng quản trị.

Ngoài ra có thể đưa vấn đề quản trị công ty vào nghiên cứu chuyên sâu trong các trường đại học, các học viện hay các viện nghiên cứu về kinh tế, pháp lý. Làm được những việc này sẽ làm cho kiến thức về quản trị Công ty cổ phần ở nước ta được chuyển tải rộng rãi trong tầng lớp công chúng và nhất là đối với các chủ thể tiến hành kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.

3.1.4. Ban hành đầy đủ các chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm quy định về tổ chức và quản lý công ty cổ phần

Như đã phân tích ở chương 2, các quy định về chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm quy định về quản trị Công ty cổ phần hiện nay còn thiếu và chưa hiệu quả, chưa phát huy được tác dụng phòng ngừa, răn đe cũng như trừng phạt đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này. Trên thực tế, rất nhiều hành vi vi phạm của các tổ chức, cá nhân trong quá trình thành lập, tổ chức hoạt động Công ty cổ phần bị phát hiện nhưng không có biện pháp xử lý tương ứng. Việc quy định mức phạt cố định trong việc xử lý vi phạm hành chính đối với các vi phạm về pháp luật quản trị Công ty cổ phần thể hiện tính không linh hoạt của các quy định pháp luật hiện hành. Đối với các hình thức xử lý bồi thường thiệt hại, mức phạt được quy định theo nguyên tắc bồi thường dân sự, tuy nhiên pháp luật chưa quy định chi tiết về các vi phạm cụ thể. Bên cạnh đó, đối với các hành vi có yếu tố cấu thành tội phạm, các quy phạm được áp dụng cho chính cá nhân có hành vi vi phạm mà không áp dụng cho pháp nhân Công ty cổ phần.

Do vậy, các quy định về xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về Công ty cổ phần được sửa đổi, bổ sung theo hướng: quy định thêm các chế tài xử lý tương ứng với từng hành vi vi phạm cụ thể, đảm bảo sức răn đe, đồng thời, quy định cụ thể, đồng bộ các chế tài đối với các hành vi vi phạm của các chủ thể. Với cách thức xây dựng luật của nước ta là chia thành các ngành luật để điều chỉnh, mỗi ngành luật điều chỉnh một khía cạnh khác nhau của cùng một quan hệ xã hội, chúng ta chỉ có thể sửa đổi một cách đồng bộ các quy phạm pháp luật liên quan đến các chế tài trong nhiều văn bản thuộc nhiều ngành luật khác nhau. Tuy cách làm tương đối mất nhiều thời gian và chi phí, nhưng chắc chắn chúng ta phải tiến hành để có những chế tài hiệu quả áp dụng đối với những hành vi vi phạm của các chủ thể có liên quan.

Ví dụ: Anh A và 11 người bạn góp cổ phần cùng thành lập công ty. Hiện nay, công ty đã hoạt động được 03 năm tuy nhiên gần đây Anh A phát hiện anh B 1 trong 10 người cổ đông còn lại đã tiến hành một số giao dịch mang danh nghĩa của công ty nhưng lại không phải phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty. Vậy Anh A có thể khởi kiện anh B không?

  • Giái đáp tình huống Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Đây là tình huống khởi kiện khi thành viên hoặc cổ đông vi phạm nghĩa vụ tuân thủ luật.

  • Luật doanh nghiệp 2020 có các quy định sau:

Tại khoản 4 Điều 115 quy định về nghĩa vụ của cổ đông phổ thông: Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

Như vậy căn cứ vào quy định của các điều luật trên thì Luật doanh nghiệp 2020 yêu cầu thành viên và cổ đông phải có trách nhiệm tuân thủ luật. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2020 không đặt ra quy định cụ thể hành vi vi phạm và chế tài cụ thể đối với cổ đông. Như vậy công ty cổ phần thành lập phải ghi rõ quy định cụ thể các hanh vi, giao dịch mà các cổ đông không được phép làm nếu vi pham Thành viên hoặc cổ đông công ty có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và ở đây có thể coi là đền bù thiệt hại ngoài hợp đồng. Trường hợp điều lệ công ty được coi như là làm phát sinh quan hệ hợp đồng theo quy định của pháp luật doanh nghiệp thì kéo theo có thể phát sinh trách nhiệm đền bù thiệt hại theo hợp đồng. Khi hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, thành viên hoặc cổ đông là cá nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo nguyên tắc của pháp luật, bất kỳ bên nào có liên quan bị thiệt hại từ hành vi vi phạm nghĩa vụ tuân thủ luật đều có quyền yêu cầu thành viên cổ đông công ty cổ phần đã thực hiện hành vi phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Các bên liên quan bị thiệt hai trong trường hợp này có thể là công ty, các chủ nợ của công ty và các thành viên hoặc cổ đông còn lại của công ty. Các thành viên hoặc cổ đông còn lại hoàn toàn có thể yêu cầu thành viên hoặc cổ đông có hành vi vi phạm chịu trách nhiệm với tư cách cá nhân đối với thiệt hại xảy ra bởi hành vi vi phạm của thành viên hoặc cổ đông đó.

3.1.5. Nâng cao năng lực và tính hiệu quả của các hiệp hội và tổ chức xã hội

Một số tổ chức xã hội như Hiệp hội các DN vừa và nhỏ Việt Nam, Hiệp hội các Nhà đầu tư Tài chính Việt Nam (VAFI)… cần nâng cao trách nhiệm và vai trò của mình đối với hoạt động quản trị tại các Công ty cổ phần thông qua một số biện pháp như thành lập bộ phận chuyên môn nhằm thực hiện các đánh giá, khảo sát hàng năm về thực trạng quản trị công ty, trong đó có Công ty cổ phần, hỗ trợ DN trong việc đưa ra các kế hoạch, chiến lược cải thiện chất lượng quản trị công ty. Ngoài ra, các tổ chức xã hội cũng cần tổ chức các diễn đàn, hội thảo về quản trị công ty nhằm tạo cơ hội chia sẻ, giao lưu giữa các chuyên gia và các nhà quản trị đến từ nhiều DN. Một vai trò quan trọng khác của các tổ chức xã hội là xây dựng cơ chế trợ giúp, đại diện cho nhóm cổ đông thiểu số tham gia họp Đại hội đồng cổ đông tại DN để bảo vệ quyền lợi của họ. Ngoài ra, các tổ chức này cần phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước để cùng nhau đóng vai trò giúp đỡ, hỗ trợ và giám sát hoạt động quản trị công ty của DN.

3.2. Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức và quản lý công ty cổ phần Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

3.2.1. Hoàn thiện cấu trúc quản lý nội bộ công ty cổ phần

  • Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về Hội đồng cổ đông

Một là: Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định/giải thích rõ về khái niệm vi phạm nghiêm trọng quyền cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao của Hội đồng quản trị để làm căn cứ cho việc yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông bất thường của cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại điều lệ công ty.

Như đã phân tích tại Chương 2, tại Khoản 3 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020 có quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại điều lệ công ty có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2020 lại không có quy định nào giải thích rõ thế nào là vi phạm nghiêm trọng. Do đó,để cổ đông hoặc nhóm cổ đông có thể thực hiện được quyền này, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2020 được xây dựng trong thời gian tới cần có sự giải thích/ định nghĩa rõ ràng về trường hợp này.

Hai là: Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định chi tiết về thẩm quyền thông qua định hướng phát triển của công ty của Đại hội đồng cổ đông để phân biệt rõ với với thẩm quyền quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty của Hội đồng quản trị công ty. Điều 138 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định ĐHĐCĐ có quyền thông qua định hướng phát triển của công ty. Bên cạnh đó, Điều 153 quy định Hội đồng quản trị có quyền quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty. Định hướng phát triển của công ty có thể là định hướng trong dài hạn hoặc trung hạn, thậm chí là trong ngắn hạn, do đó, giữa hai khái niệm định hướng phát triển công ty và chiến lược, kế hoạch phát triển công ty đôi khi có thể bị trùng lắp. Để tránh trùng lắp và chồng chéo thẩm quyền giữa Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị, khi xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp cần xác định rõ phạm vi của thẩm quyền định hướng phát triển công ty của Đại hội đồng cổ đông với thẩm quyền của Hội đồng quản trị.

Ba là: Trong bối cảnh nền kinh tế 4.0 và nền tảng công nghệ thông tin đang có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại, Luật Doanh nghiệp 2020 nên cho phép các công ty áp dụng các kỹ thuật công nghệ thông tin hỗ trợ để tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông. Điều này sẽ đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với các Công ty cổ phần đa quốc gia với số lượng cổ đông lớn và khoảng cách quá xa nhau giữa các cổ đông. Ngoài ra, trong những trường hợp đặc biệt như khi xảy ra thiên tai, địch họa (như đại dịch Covit 19 hiện nay), các công ty có thể sử dụng các ứng dụng công nghệ để tổ chức họp trực tuyến khi cần thiết.

Bốn là: Luật Doanh nghiệp 2020 cần điều chỉnh lại theo hướng Hội đồng quản trị chỉ phê duyệt chương trình, tài liệu đối với cuộc họp Đại hội đồng cổ đông do các chủ thể khác triệu tập, chứ không phê duyệt về nội dung cuộc họp. Việc Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông thỏa mãn Khoản 2 Điều 115 có quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong một số trường hợp là nhằm bảo vệ quyền cổ đông, hạn chế sự lạm quyền của các chủ thể quản lý công ty. Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2020 lại cho phép Hội đồng quản trị có quyền duyệt chương trình, nội dung, tài liệu phục vụ họp Đại hội đồng cổ đông. Như vậy, nếu cổ đông hoặc nhóm cổ đông nêu trên triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông để đề cập và xử lý những sai phạm của Hội đồng quản trị và Hội đồng quản trị không thông qua các nội dung đó thì Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp này có thể không tiến hành họp được. Do đó, Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2020 nên điều chỉnh lại theo hướng bỏ quyền phê duyệt nội dung cuộc họp Đại hội đồng cổ đông của Hội đồng quản trị trong trường hợp cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được các chủ thể khác triệu tập mà không phải là Hội đồng quản trị triệu tập. Điều này là hoàn toàn hợp lý vì theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 cổ đông hoặc nhóm cổ đông chỉ triệu tập cuộc họp khi đã yêu cầu Hội đồng quản trị triệu tập mà Hội đồng quản trị không triệu tập. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Năm là: Để đảm bảo tốt hơn quyền lợi của các cổ đông nhỏ, trước mắt Chính Phủ cần ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2020, trong đó quy định hướng dẫn rõ hơn đúng với tinh thần của Luật. Theo đó, đối với các quyết định của Đại hội đồng cổ đông chỉ được thông qua khi số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; Điều lệ công ty có thể quy định mức cao hơn nhưng không được thấp hơn tỷ lệ này. Có như thế thì mới logic với nội dung Điều 148 Luật Doanh nghiệp 2020. Trái lại, nếu không có sự hướng dẫn thực thi quy định trên thì với cách quy định hiện nay của Luật Doanh nghiệp 2020 có thể sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, gây bất lợi cho các cổ đông nhỏ và trái với mục đích của Luật là bảo vệ thỏa đáng quyền lợi của các cổ đông nhỏ.

  • Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

Một là: Văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2020 cần quy định rõ về thành viên Hội đồng quản trị phải là cá nhân. Như đã phân tích tại Chương 2 của Luận văn, căn cứ vào quy định của Luật Luật Doanh nghiệp 2020 về điều kiện, tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng quản trị tại khoản 1 Điều 155 thì chưa cho phép chúng ta hiểu rằng thành viên Hội đồng quản trị bắt buộc là cá nhân hay không. Tuy nhiên, với quy định thành viên Hội đồng quản trị phải có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh có lẽ nhà làm luật muốn đề cập tới các thành viên là cá nhân. Việc không quy định rõ thành viên Hội đồng quản trị có bắt buộc phải là cá nhân hay không có thể gây ra cách hiểu không thống nhất trong quá trình áp dụng quy định này tại các công ty. Do đó, để có cách hiểu và áp dụng một cách thống nhất về vấn đề này, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2020 cần quy định cụ thể thành viên Hội đồng quản trị công ty là cá nhân.

Hai là: Luật Doanh nghiệp 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định rõ người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức có thể là thành viên Hội đồng quản trị công ty. Điều 155 Luật Doanh nghiệp 2020 chưa quy định rõ việc người đại diện theo ủy quyền của cổ đông đó có được trở thành ứng cử viên thành viên Hội đồng quản trị không, nếu điều lệ cũng 70 không có quy định rõ trường hợp này? Cũng như việc cổ đông thay người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn góp của họ thì người đã đại diện theo ủy quyền đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị có đương nhiên bị mất tư cách thành viên Hội đồng quản trị không? Theo chúng tôi, tổ chức là một tập thể gồm nhiều người nên không thể trực tiếp tham gia như một cá nhân vào quá trình quản lý công ty. Do vậy, họ cần được thông qua người đại diện theo ủy quyền để đảm bảo quyền lợi của mình như những cổ đông là cá nhân khác. Nếu không thừa nhận tư cách ứng viên Hội đồng quản trị của người này thì sẽ vi phạm nguyên tắc bình đẳng giữa các cổ đông, xâm phạm quyền lợi chính đáng của cổ đông này. Hơn nữa, bản thân Luật Doanh nghiệp 2020 không bắt buộc thành viên Hội đồng quản trị phải là cổ đông. Việc quản lý công ty luôn đòi hỏi người quản lý phải có trình độ chuyên môn nhất định, mà điều này không phải lúc nào các cổ đông trong công ty cũng đảm bảo được. Đặc biệt với xu hướng tách rời GĐ (CEO) với Hội đồng quản trị (Board of directors) hiện nay trên thế giới, thì hơn bao giờ hết, Hội đồng quản trị phải cần những thành viên có trình độ chuyên môn cao để quản lý hoạt động của GĐ điều hành, nhất là các GĐ thuê có trình độ chuyên môn cao. Vì vậy, pháp luật không nên ngăn cấm người đại diện theo ủy quyền trở thành thành viên Hội đồng quản trị. Do vậy, Luật Doanh nghiệp 2020 cần quy định lại rõ ràng về việc cho phép người đại diện theo ủy quyền được trở thành ứng cử viên Hội đồng quản trị. Về việc đương nhiên chấm dứt tư cách thành viên Hội đồng quản trị của người đại diện theo ủy quyền. Thiết nghĩ, khi một người được bầu vào Hội đồng quản trị không phải bao giờ cũng xuất phát từ địa vị của cổ đông, mà cái chính là từ nhân thân và năng lực của họ. Sự tín nhiệm của Đại hội đồng cổ đông đối với cá nhân người đó mới là yếu tố quyết định để đưa họ vào chiếc ghế thành viên Hội đồng quản trị. Do vậy, khi chấm dứt vai trò đại diện phần vốn thì không đương nhiên làm mất đi vai trò thành viên Hội đồng quản trị của họ, và ngược lại nếu thành viên Hội đồng quản trị đó bị bãi nhiệm thì không đương nhiên mất đi vai trò đại diện theo ủy quyền của họ đối với phần vốn góp. Chính vì vậy, khi tổ chức thực hiện Luật Doanh nghiệp 2020, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2020 cần quy định làm rõ vấn đề trên theo hướng này.

Ba là: Về thẩm quyền của Hội đồng quản trị và thành viên Hội đồng quản trị, Luật Doanh nghiệp 2020 nên quy định cho phép Hội đồng quản trị được áp dụng một số biện pháp khẩn cấp kịp thời nhằm ngăn chặn những thiệt hại có thể xảy ra cho công ty khi không kịp lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông về những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Cũng như, cho phép tạm ngưng thực hiện quyết định của Đại hội đồng cổ đông nhằm ngăn chặn thiệt hại nghiêm trọng cho công ty và xã hội, nếu có đầy đủ các dấu hiệu trái pháp luật của quyết định đó. Ngoài ra, để đảm bảo hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị, Luật Doanh nghiệp 2020 nên bổ sung thêm quy định cho phép thành viên Hội đồng quản trị được quyền dự thính mọi cuộc họp Đại hội đồng cổ đông. Có như vậy mới đảm bảo cho họ nắm bắt được đầy đủ nội dung cuộc họp, nhất là những thành viên Hội đồng quản trị không phải là cổ đông. Từ đó giúp họ quán triệt tốt hơn quyết định của Đại hội đồng cổ đông.

Bốn là: Cần thống nhất tên gọi của Luật Doanh nghiệp 2020 và các văn bản pháp luật khác về các loại thành viên Hội đồng quản trị. Luật Doanh nghiệp 2020 vẫn duy trì quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 về thành viên Hội đồng quản trị thông thường và thành viên độc lập Hội đồng quản trị, tùy theo cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty cổ phần. Riêng về thành viên độc lập Hội đồng quản trị, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng không đưa ra định nghĩa về dạng thành viên này mà chỉ đưa ra các điều kiện và tiêu chuẩn. Ngay cả về tên gọi của dạng thành viên Hội đồng quản trị này, nếu so sánh quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 với các quy định khác có liên quan cũng không có sự thống nhất. Luật Doanh nghiệp 2020 gọi là thành viên độc lập Hội đồng quản trị nhưng Luật Chứng khoán 2019 và Nghị định 155 hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán 2019 lại gọi là thành viên Hội đồng quản trị độc lập . Như vậy cần thiết phải có sự thống nhất về tên gọi và việc định nghĩa một cách chính xác về loại thành viên Hội đồng quản trị này, ngoài quy định về điều kiện, tiêu chuẩn.

Năm là: Luật Doanh nghiệp 2020 không có bất kỳ quy định nào hạn chế việc một người tham gia Hội đồng quản trị tại nhiều Công ty cổ phần khác nhau. Điểm c Khoản 1 Điều 155 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định thành viên Hội đồng quản trị công ty có thể đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị của công ty khác. Quy định này sẽ đặt người quản lý công ty nói chung và thành viên Hội đồng quản trị nói riêng bị xung đột trong việc thực hiện nghĩa vụ trung thành của mình trong trường hợp giữa các công ty này có mối quan hệ cạnh tranh với nhau. Do đó, chúng tôi cho rằng nên có thêm quy định về việc một thành viên Hội đồng quản trị nói riêng là người quản lý công ty nói chung không được phép là người quản lý của công ty khác trong trường hợp giữa các công ty đó có mối quan hệ cạnh tranh với nhau trên cùng một thị trường liên qua

3.2.2. Hoàn thiện về quyền lực của chủ sở hữu trong công ty cổ phần Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Một là: Về quyền tiếp cận thông tin của cổ đông, Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại điều lệ công ty có quyền xem xét, tra cứu, trích lục sổ biên bản và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, báo cáo của Ban kiểm soát, hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác. Luật Doanh nghiệp 2020 không cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông nói trên tiếp cận các tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay không có quy định nào định nghĩa về bí mật thương mại. Người quản lý công ty có thể lạm dụng quy định không rõ ràng này để hạn chế quyền tiếp cận thông tin của cổ đông theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020.Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung thêm quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin của cổ đông tại Điều 119: Bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại điều lệ công ty và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửi thông tin được công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác.

Do đó, Luật Doanh nghiệp 2020 cần sửa đổi theo hướng bỏ hạn chế này hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2020 cần định nghĩa rõ về khái niệm bí mật thương mại để các công ty có thể áp dụng thống nhất trên tình thần đúng đắn của Luật Doanh nghiệp là tăng cường việc bảo vệ các quyền cổ đông.

Hai là: Luật Doanh nghiệp trong trường hợp được sửa đổi có thể cân nhắc bổ sung thêm quy định cho phép cổ đông yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc Toà án huỷ bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị trong trường hợp khẩn cấp để bảo vệ lợi ích của công ty, của cổ đông và của các bên có liên quan khác.

Ba là: Bổ sung quy định xử lý vi phạm của người quản lý công ty. Mặc dù Luật Doanh nghiệp 2020 quy định Chủ tic̣h Hội đồng quản trị và Trưởng Ban kiểm soát có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho cho cổ đông, khi cổ đông đã yêu cầu hợp lệ theo quy định của pháp luật mà những người này cố tình vi phạm. Tuy nhiên, việc xác định mức độ trách nhiệm để bồi thường như thế nào thì pháp luật lại không quy định . Vì vậy, Luật Doanh nghiệp 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định bổ sung vấn đề này trên cơ sở thống nhất, phù hợp với chế định bồi thường thiệt hại của pháp luật dân sự.

Đồng thời, tác giả cho rằng để đảm bảo quyền lợi của cổ đông trong việc yêu cầu triệu tập Đại hội đồng cổ đông , bên cạnh quy định về cổ đông , nhóm cổ đông có quyền yêu cầu người có thẩm quyền triệu tập Đại hội đồng cổ đông , thì nên bổ sung quy định công ty mua lại cổ phần của cổ đông khi họ đã yêu cầu triệu tập Đại hội đồng cổ đông hợp lệ mà những người có thẩm quyền cố tình vi phạm. Quy định như vậy sẽ giúp các cổ đông thiểu số có thể bảo vê ̣được quyền lợi của mình khi họ không thể thực thi được quyền cổ đông một cách trực tiếp , hoặc gián tiếp thông qua nhóm cổ đông. Tác giả cho rằng khi pháp luật cho phép cổ đông phản đối quyết định của công ty trong một số trường hợp nhất định được quyền yêu cầu công ty mua laị cổ phần, thì cũng nên cho phép cổ đông thực hiện một quyền tương tự khi yêu cầu triệu tập ĐHĐCD hợp lệ của họ không được tôn trọng và thực hiện. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Ba là: Bổ sung quyền khởi kiện của cổ đông LDN 2020 đã quy định cho Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, GĐ, Tổng giám đốc. Đây là một quy định mới và phù hợp với thông lệ quốc tế. Kiện phái sinh là hình thức khởi kiện có nguồn gốc từ hệ thống luật Common law xuất hiện từ thế kỷ XIX, đây là hình thức kiện được tiến hành bởi cá nhân cổ đông thay mặt công ty khởi kiện đối với những hành vi vi phạm nghĩa vụ của người quản lý, điều hành hoặc người thứ ba đối với công ty trong trường hợp công ty không sẵn sàng theo đuổi vụ kiện. Mặc dù bản thân cổ đông không trực tiếp gánh chịu thiệt hại do hành vi vi phạm của người quản lý, điều hành gây ra nhưng họ vẫn được pháp luật trao quyền nhân danh công ty khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại cho công ty, khôi phục lại các lợi ích đã bị xâm hại. Vì vậy, đây được xem là xương sống của quyền lực cổ đông và là cơ sở cho việc bảo vệ cổ đông, nhất là với những cổ đông thiểu số. Tại các quốc gia trên thế giới như Anh, Mỹ, Nhật Bản… đều ghi nhận cổ đông có quyền kiện phái sinh. Luật Công ty Anh 2006 quy định cổ đông có thể khởi kiện phái sinh đối với bất kỳ hành động thực tế hay giả định hoặc thiếu sót liên quan đến tắc trách hoặc vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng, nghĩa vụ ủy thác của GĐ công ty. Thủ tục kiện phái sinh không chỉ được áp dụng để chống lại GĐ mà còn được áp dụng để chống lại người thứ ba hoặc cả hai. Bên cạnh việc trao quyền, Luật Công ty các nước cũng có những quy định ngăn chặn việc các cổ đông khởi kiện khi không có các căn cứ chính đáng với trình tự, thủ tục khởi kiện khắt khe. Tại các nước châu Á, khởi đầu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc sau đó đến một số nước Đông Nam Á khác xu thế sử dụng tố tụng và đặc biệt là kiện phái sinh để bảo vệ quyền lợi cổ đông ngày càng thắng thế.

Khác với các quy định của các quốc gia trên thế giới, Luật Doanh nghiệp 2020 không trao cho cổ đông quyền khởi kiện đối với các chủ thể như người thứ ba có liên quan đến hành vi vi phạm của người quản lý công ty, với những người từng đảm nhiệm chức vụ quản lý công ty và với những hành vi vi phạm của người quản lý công ty trước khi họ có tư cách cổ đông công ty. Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng giới hạn các cổ đông có quyền khởi kiện khi quy định về điều kiện sở hữu vốn và thời gian sở hữu cổ phần tại công ty. Tuy nhiên, về bản chất của vụ kiện phái sinh là cổ đông tiến hành khởi kiện không vì lợi ích của chính mình mà vì lợi ích của công ty nên việc quy định các điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam thể hiện sự chưa thừa nhận quyền khởi kiện phái sinh của cổ đông Công ty cổ phần. Do đó, để bảo đảm quyền lợi cổ đông, tăng tính chất răn đe với những người quản lý, điều hành công ty khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cũng như để pháp luật Việt Nam gần hơn thông lệ quốc tế, cần bổ sung quyền kiện phái sinh cho cổ đông Công ty cổ phần cũng như cần có các cơ chế để kiểm soát việc thực hiện quyền này trên thực tế, tránh trường hợp cổ đông lạm dụng gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của công ty.

Bốn là: Đưa nội dung báo cáo quản lý công ty trở thành một nội dung bắt buộc trong báo cáo thường niên.

Để nâng cao nhận thức của các Công ty cổ phần, đặc biệt là công ty niêm yết về vai trò của quản trị công ty đồng thời đảm bảo việc minh bạch và công bố thông tin liên quan đến quản trị công ty, cần hướng dẫn các công ty này đưa nội dung công bố thông tin về quản trị công ty vào báo cáo thường niên thành một yêu cầu bắt buộc đồng thờ trình bày thành một mục riêng biệt. Tại Việt Nam, nội dung báo cáo quản trị công ty cũng đã một phần nào trình bày trong các báo cáo thường niên, tuy nhiên không tập trung vào một mục riêng và chủ yếu cung cấp thông tin sơ lược về mô hình quản trị công ty trong công ty, thông tin về tỷ lệ sở hữu của các cổ đông. Các thông tin còn lại liên quan đến công bố thông tin về quản trị công ty không có hoặc rất sơ sài.

Chính vì vậy, báo cáo quản trị công ty trong báo cáo thường niên cần bao gồm cả khoản mục như sau:

  • Mô hình quản trị công ty, chức năng nhiệm vụ của Hội đồng quản trị, các tiểu ban trực thuộc Hội đồng quản trị, CEO, Ban điều hành. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.
  • Giới thiệu về các thành viên Hội đồng quản trị (kinh nghiệm, kỹ năng) và ghi rõ thành viên Hội đồng quản trị có tham gia điều hành, độc lập hay không, cách thức đánh giá hiệu quả hoạt động của các thành viên Hội đồng quản trị và Ban điều hành.
  • Hoạt động của Hội đồng quản trị trong năm
  • Cơ chế xét thù lao cho Hội đồng quản trị và Ban điều hành, chi tiết thù lao cho các thành viên.
  • Các chính sách liên quan đến giao dịch chứng khoán, công bố thông
  • Việc thực hiện đa dạng hóa trong công ty, tình hình quản lý rủi ro
  • Bộ tiêu chuẩn đạo đức trong công ty và việc thực hiện.
  • Việc giải quyết xung đột lợi ích trong công
  • Quy định liên quan đến việc tham gia của cổ đông.
  • Các quy định và thực tiễn liên quan đến phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội.

Với các khoản mục trên, báo cáo thường niên sẽ bao gồm cả thông tin liên quan đến quản trị công ty một cách toàn diện, cung cấp một bức tranh tổng thể và chi tiết về tình hình quản trị công ty cũng như kết quả hoạt động của Hội đồng quản trị, các tiểu ban, Ban điều hành trong năm tài chính đã qua. Từ đó, nhà đầu tư và các bên có quyền lợi liên quan chỉ cần đọc báo cáo thường niên là có thể đánh giá được tình hình quản trị công ty mà không cần thêm một báo cáo nào khác. Đây cũng là một trong những nội dung mà các công ty niêm yết Australia thực hiện khá tốt mà DN Việt Nam có thể học tập.

  • Năm là: Hoàn thiện các quy định của pháp luật và đảm bảo sự phối hợp của các cơ quan có thẩm quyền về chế độ công khai hoá thông tin.

Để hướng dẫn việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Bộ tài chính đã ban hành Thông tư 09/2010/TT-BTC, thông tư có hiệu lực kể từ ngày 2/3/2010 và thay thế cho Thông tư 38/2007/TT-BTC. Tuy Thông tư 09/2010/TT-BTC đã có nhiều quy định về nghĩa vụ công bố thông tin của các công ty đại chúng, bảo vệ tốt hơn quyền lợi cho các cổ đông nhưng các quy định của Thông tư này về các chế tài xử phạt còn nhẹ, chưa đủ tính răn đe và chưa bao quát hết được những vi phạm trong hoạt động trong công bố thông tin. Trong thời gian tới, Bộ Tài chính cần phối hợp với các cơ quan quản lý có liên quan như Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước để thống nhất bổ sung các mức phạt cao hơn đối với những hành vi vi phạm chế độ báo cáo và công bố thông tin của các công ty đại chúng để đảm bảo tính răn đe. Bên cạnh đó, Uỷ ban Chứng khoán cần tăng cường công tác kiểm tra các công ty trong việc tuân thủ các quy định của pháp luật về thực hiện chế độ công bố thông tin, tránh trường hợp như trong thời gian vừa qua, chỉ khi xảy ra tình trạng các công ty vi phạm chế độ công bố thông tin, bị các cổ đông có ý kiến thì Uỷ ban Chứng khoán mới tiến hành kiểm tra. Ủy ban Chứng khoán cũng cần phải thường xuyên tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật để các đối tượng nhận thức rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện chế độ công khai hoá thông tin.Cùng với đó là việc yêu cầu Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội phải hoàn thiện hệ thống phần mềm công bố thông tin của các công ty niêm yết trên sàn nhằm chuẩn hoá thông tin do các công ty niêm yết cung cấp, giảm thời gian xử lý và từ đó giảm thời gian công bố thông tin ra thị trường, đảm bảo các nhà đầu tư có thể cập nhật thông tin về các công ty một cách sớm nhất. Ngoài ra, Uỷ Ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Tài chính cần thống nhất để bổ sung quy định rõ ràng về chế tài xử phạt mang tính răn đe nghiêm khắc đối với các trường hợp không tuân thủ các nguyên tắc quản trị công ty. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

  • Sáu là: Nâng cao ý thức của DN trong việc công khai hoá và minh bạch hoá quản lý công ty

Đồng thời với việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật cũng như hoạt động của các cơ quan Nhà nước liên quan đến chế độ công khai hoá thông tin của các DN, thì việc nâng cao ý thức của các DN trong việc tự nguyện thực hiện các quy định của pháp luật về công khai hoá thông tin và minh bạch hoá quản trị là rất cần thiết. Trong điều kiện hội nhập kinh tế như hiện nay, việc công khai hoá thông tin không còn chỉ là quy định bắt buộc của pháp luật đối với mỗi DN, mà còn là yếu tố xuất phát từ chính nhu cầu phát triển của mỗi DN. DN chủ động công bố thông tin sẽ góp phần giúp nâng cao hiểu biết của cổ đông về cơ cấu và mọi hoạt động của công ty, từ đó gây dựng được niềm tin từ phía cổ đông đối với hoạt động của DN, nâng cao uy tín của công ty, tiếp tục thu hút được các nhà đầu tư khác. Nghĩa là, một hệ thống công bố thông tin tốt có thể giúp thu hút vốn và duy trì lòng tin của thị trường. Ngược lại, nếu DN có một hệ thống công bố thông tin yếu kém và không minh bạch sẽ dẫn đến hành vi vi phạm nguyên tắc quản trị công ty, gây thiệt hại lớn không chỉ cho cổ đông mà còn ảnh hưởng tới tính minh bạch của thị trường và hiệu quả của nền kinh tế, DN đó sẽ tự bị đào thải. Do vậy, mỗi DN cần phải ý thức được về ý nghĩa của việc công khai, minh bạch hoá thông tin đối với sự tồn tại và phát triển của DN. DN cần đa dạng hóa các kênh công bố thông tin về DN và đảm bảo thông tin đầy đủ, chi tiết, xuất bản cả bản tiếng Việt và tiếng Anh để mọi nhà đầu tư quan tâm có thể dễ dàng truy cập mà không gặp phải trở ngại nào.

3.2.3. Hoàn thiện trách nhiệm của người giám sát cơ quan điều hành

Một là: Như đã phân tích tại Chương 2, mặc dù Luật Doanh nghiệp 2020 có tăng cường thêm các quy định về tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên Ban kiểm soát, nhưng các ràng buộc này vẫn còn khá lỏng lẻo và nhiều kẽ hở, do đó vẫn chưa đảm bảo được sự độc lập thực sự của Ban kiểm soát và thành viên Ban kiểm soát trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm soát và giám sát trong công ty. Để khắc phục triệt để những nhược điểm này, tác giả Luận văn cho rằng trong quá trình sửa đổi các quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 sau này, chúng ta có thể xem xét một số các điều kiện, tiêu chí của thành viên Hội đồng quản trị độc lập để áp dụng cho các thành viên thường của Ban kiểm soát trong mô hình Công ty cổ phần có Ban kiểm soát. Đặc biệt, cần nhìn nhận yếu tố lợi ích phát sinh từ công ty của các thành viên Ban kiểm soát là yếu tố tác động chính tới việc các thành viên Ban kiểm soát bị lệ thuộc vào Hội đồng quản trị, GĐ (TGĐ) hoặc các cổ đông lớn, mất đi sự độc lập của mình trong thực thi nhiệm vụ. Xuất phát từ tiêu chí đó, Luật Doanh nghiệp có thể quy định thành viên Ban kiểm soát không được phép hưởng bất kỳ lợi ích nào phát sinh từ công ty ngoài những lợi ích được hưởng với tư cách là thành viên của Ban kiểm soát công ty. Đồng thời, để thành viên Ban kiểm soát không bị vô hiệu hóa ngay từ khi thành lập, trở thành công cụ mà những người quản lý công ty (HĐQT hay GĐ (TGĐ)) cài cắm vào Ban kiểm soát trong quá trình Đại hội đồng cổ đông bầu Ban kiểm soát, Luật Doanh nghiệp có thể quy định không cho phép các cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, GĐ (TGĐ) và những người quản lý khác bỏ phiếu bầu thành viên Ban kiểm soát. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

LDN 2020 cũng cần bổ sung thêm quy định về chế độ làm việc của Ban kiểm soát. Vì Luật Doanh nghiệp 2020 hiện nay chưa quy định cụ thể về vấn đề này, trong khi điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với cơ quan này. Bên cạnh đó, để đảm bảo tính chặt chẽ của pháp luật, khi triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp 2020, Chính phủ cũng cần ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2020, trong đó quy định rõ thời hạn phải thành lập Ban kiểm soát khi số lượng cổ đông tăng lên trên 11 cổ đông mà trước đó công ty không có Ban kiểm soát.

Hai là: Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2020 cần quy định rõ về đối tượng người quản lý khác mà theo quy định không được làm thành viên Ban kiểm soát có bao gồm kế toán trưởng, phó GĐ, trưởng các đơn vị trực thuộc… Có như vậy thì mới đảm bảo chặt chẽ trong việc áp dụng pháp luật. Vì trong trường hợp nếu điều lệ công ty không có quy định về vấn đề này (phần lớn các điều lệ công ty hiện nay thường bê nguyên các quy định của Luật Doanh nghiệp) sẽ không có căn cứ để áp dụng khi bầu thành viên Ban kiểm soát.

Ba là: Điều 140 Luật Doanh nghiệp 2020 cần bỏ quy định yêu cầu Ban kiểm soát phải triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thay thế Hội đồng quản trị khi Hội đồng quản trị không tiến hành triệu tập cuộc họp theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 điều 114 Luật Doanh nghiệp 2014 trước đây. Thay vào đó nên cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại điều 140 Luật Doanh nghiệp 2020 được triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông ngay sau khi quá thời hạn cho phép mà Hội đồng quản trị không tiến hành triệu tập Đại hội đồng cổ đông. Nghĩa là, Luật bỏ qua bước triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông của Ban kiểm soát. Có như thế mới đảm bảo tính nhanh chóng kịp thời mà không vi phạm nguyên tắc tổ chức quản lý công ty.

Bên cạnh đó, điều 140 Luật Doanh nghiệp 2020 nên sửa đổi lại theo hướng cho phép Ban kiểm soát triệu tập ngay cuộc họp Đại hội đồng cổ đông bất thường mà không cần thông qua thủ tục yêu cầu Hội đồng quản trịtriệu tập, nếu có đầy đủ chứng cứ xác định được hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật và Điều lệ công ty của Hội đồng quản trị. Việc triệu tập này cũng không nhất thiết phải được sự phê duyệt của Hội đồng quản trị về chương trình, nội dung tài liệu họp như Khoản 2 Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định. Có như vậy thì Luật Doanh nghiệp 2020 mới đảm bảo được tính độc lập và hiệu quả của Ban kiểm soát trong việc ngăn chặn kịp thời những thiệt hại cho Công ty cổ phần.

Bốn là: Bên cạnh các quyền, nhiệm vụ được quy định tại Luật Doanh nghiệp, Ban kiểm soát có thể được xem xét để bổ sung thêm thẩm quyền trên cơ sở các thông lệ quốc tế về QTCT. Theo các thông lệ về QTCT, Ban kiểm soát được giao thêm một số thẩm quyền và nhiệm vụ như sau: Điều tra các vụ việc sử dụng nguồn thông tin nội bộ; kiểm tra tính hợp lý của khoản thanh toán cho các nhà thầu và các khoản phải nộp ngân sách; kiểm tra tính hợp lý của các khoản trích trước và chi trả cổ tức, cũng như việc thực hiện các cam kết về tài chính của công ty; kiểm tra tính phù hợp của việc sử dụng các quỹ của công ty; kiểm tra thời hạn nhận tiền phát hành cổ phiếu; giám sát tính hợp lý của việc định giá các tài sản ròng của công ty; yêu cầu và nhận thông tin liên quan đến các bên liên quan và giao dịch với các bên liên quan; kiểm tra tìn hình tài chính của công ty; đặc biệt là về khả năng thanh toán và tính thanh khoản của tài sản, về khả năng thanh toán các khoản nợ.

3.2.4. Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền cổ đông và cổ đông thiểu số Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho nhóm cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần, chúng ta cần đưa ra những giải pháp phù hợp với tình hình tại Việt Nam, điển hình như một số giải pháp sau:

Thứ nhất, bổ sung thêm nội dung liên quan đến trách nhiệm của người quản lý. So với Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bổ sung thêm khoản 2, Điều 165: Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba. Tuy nhiên, để thêm tính chặt chẽ trong chế độ chịu trách nhiệm của người quản lý công ty, chúng ta có thể bổ sung thêm quy định: Người quản lý doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu trong trường hợp cổ đông khởi kiện người quản lý doanh nghiệp.

Thứ hai, sửa đổi quy định về khởi kiện người quản lý. khoản 2, Điều 166, Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: Chi phí khởi kiện trong trường hợp cổ đông, nhóm cổ đông khởi kiện nhân danh công ty sẽ tính vào chi phí của công ty, trừ trường hợp thành viên khởi kiện bị bác yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, chúng ta nên xem xét sửa đổi quy định này, như sau: Trình tự, thủ tục khởi kiện thực hiện tương ứng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Chi phí khởi kiện trong trường hợp cổ đông, nhóm cổ đông khởi kiện nhân danh công ty sẽ tính vào chi phí của công ty.

Thứ ba, tăng cường hiệu quả hoạt động kiểm soát nội bộ. Cần phải tăng cường việc xem xét yêu cầu công ty cổ phần, nhất là công ty đại chúng, cần phải công bố báo cáo của ban kiểm soát cùng với báo cáo tài chính. Bởi thông tin báo cáo của ban kiểm soát có tầm quan trọng không kém các báo cáo tài chính. Đồng thời, bên cạnh các quy định pháp luật, thì điều lệ công ty, nội bộ công ty cần phải quy định chặt chẽ hơn trong việc tăng cường giáo dục chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp cho Kiểm soát viên để tăng thêm tính minh bạch, thể hiện được tính độc lập và chính xác trong vấn đề thực thi nhiệm vụ, báo cáo của ban kiểm soát.

Thứ tư, hoàn thiện các cơ chế pháp lý khác liên quan nhằm bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần. Bên cạnh việc hoàn thiện các chế định trong pháp luật về doanh nghiệp thì cần phải hoàn thiện các quy định khác và hoàn thiện tổ chức và hoạt động của cơ quan đăng ký kinh doanh. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Thứ năm, cần nâng cao vai trò và tiếng nói của các cổ đông thiểu số bằng cách bổ sung thêm điều khoản bảo đảm quyền lợi của nhóm cổ đông thiểu số. Việc bổ sung các căn cứ, điều khoản trong điều lệ của công ty sẽ góp phần thúc đẩy, góp phần tạo điều kiện để cổ đông thiểu số thể hiện tiếng nói và tạo cho sức mạnh tiếng nói thêm phần trọng lượng. Thông qua tiếng nói, họ không chỉ có thể bảo vệ mình mà còn có thể đưa ra những vấn đề vướng mắc của công ty, qua đó góp phần hạn chế những hành vi vi phạm của cổ đông lớn. Đồng thời, điều lệ công ty sẽ là những căn cứ, chứng cứ để bảo vệ họ trong những trường hợp cần thiết nhằm tránh tình trạng chèn ép, xâm phạm quyền lợi của nhóm cổ đong thiểu số trong công ty cổ phần.

Thứ sáu, về phía cổ đông thiểu số. Mỗi cổ đông thiểu số cần đẩy mạnh hơn nữa việc tự ý thức trong việc chủ động bảo vệ mình là điều vô cùng quan trọng như: các cổ đông thiểu số có thể thực hiện quyền cổ đông thông qua việc tham dự hội nghị cổ đông, phát biểu ý kiến tại cuộc họp; đồng thời cần nghiên cứu, tìm hiểu về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trước khi tham gia vào công ty cổ phần, vấn đề này có thể tham khảo các chuyên gia hay thuê luật sư tư vấn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi tham gia góp vốn vào công ty cổ phần. Quan trọng hơn hết là các cổ đông thiểu số cần liên kết lại để tự bảo vệ mình. Việc một cổ đông thiểu số nhỏ trong công ty nên vị trí và sức ảnh hưởng trong công ty cổ phần sẽ rất nhỏ, vì vậy, để bảo vệ các quyền cơ bản của mình trong quá trình tham gia góp vốn kinh doanh tại công ty cổ phần thì các cổ đông thiểu số nên liên kết, tập hợp với nhau để tạo thành nhóm cổ đông nhằm thực hiện các quyền mà pháp luật đã trao cho họ, thông qua đó ít nhiều sẽ thể hiện được tiếng nói của mình trong công ty. Do vậy, sẽ kết hợp với các quy định của pháp luật mới trong tương lai sẽ phát huy được đúng vai trò và đảm bảo được quyền lợi xứng đáng của mình trong công ty.

Qua những phân tích và đánh giá trên, theo quan điểm của tôi, vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần là một vấn đề mới và quan trọng. Điều đó thể hiện sự cần thiết, sự quan tâm của pháp luật và xã hội trong việc bảo vệ, thúc đẩy và tiến tới bảo đảm quyền của họ, góp phần tạo ra một môi trường làm việc kinh doanh lành mạnh, phù hợp và phát triển bền vững. Đặc biệt, việc bảo đảm quyền của cổ đông thiểu số góp phần hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp tạo ra sự bình đẳng, tính có căn cứ trong môi trường của công ty cổ phần. Từ đó, cho thấy sự cần thiết và hoàn thiện của pháp luật Việt Nam trong vấn đề bảo vệ quyền lợi của các thành viên yếu thế, thiểu số trong các loại hình doanh nghiệp, trong đó có công ty cổ phần tại Việt Nam. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

3.2.5. Hoàn thiện giám sát các giao dịch có khả năng tư lợi và giao dịch với các bên liên quan

Bổ sung quy định về khái niệm giao dịch có khả năng tư lợi, người liên quan, Luật Doanh nghiệp 2020 đã có quy định liệt kê người có liên quan. Do đó, tùy điều kiện cụ thể của từng Công ty cổ phần, Điều lệ công ty có thể quy định bổ sung thêm danh mục những người có liên quan; qua đó, mở rộng thêm loại giao dịch không bình thường cần xem xét và giám sát không bình thường tương ứng của công ty.

Mặt khác, các giao dịch có khả năng tư lợi mới được liệt kê dưới dạng phân chia thẩm quyền quản lý của Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông… chưa phù hợp với sự phát triển ngày càng phức tạp của nền kinh tế, và hoạt động của DN. Trên thực tế, việc xác định giao dịch giữa Công ty cổ phần với người liên quan là rất khó khăn. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, không chỉ nhìn vào hình thức của giao dịch mà phải nhìn vào bản chất của giao dịch để xác định có yếu tố xung đột quyền lợi của công ty và những người quản lý công ty không. Một khi pháp Luật Doanh nghiệp không kiểm soát được giao dịch này thì những người quản lý trong Công ty cổ phần rất dễ lạm dụng để chiếm đoạt tài sản công ty, gây thiệt hại cho các cổ đông. Vì vậy, Luật Doanh nghiệp 2020 cần quy định bổ sung cụ thể về vấn đề này.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Với tính chất là loại hình công ty có tính đại chúng nhất trong nền kinh tế thị trường, Công ty cổ phần luôn giành được sự quan tâm đặc biệt của công chúng, của xã hội và các nhà lập pháp. Bởi vậy, Công ty cổ phần luôn thuộc nhóm ưu tiên trong việc hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động. Qua nhiều lần được chỉnh sửa, bổ sung bởi sự thay thế của các Đạo luật về tổ chức kinh doanh (Luật Công ty 1990; Luật Doanh nghiệp 1999; Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Doanh nghiệp 2014, và đến nay là Luật Doanh nghiệp 2020), các quy định pháp luật về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần đã tương đối hoàn thiện, tiếp cận được các yêu cầu của thông lệ tốt về QTCT trên thế giới song vẫn còn một số hạn chế nhất định cần được tiếp tục hoàn thiện. Trên cơ sở đối chiếu với mô hình chuẩn là kết quả nghiên cứu tại Chương 1 và việc phân tích, đánh giá thực trạng tại Chương 2, Chương 3 của Luận văn đã đề xuất các phương hướng và một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2020 ở nước ta hiện nay.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Tổ chức và quản lý Công ty cổ phần là một chế định quan trọng trong pháp luật về Công ty cổ phần. Nó không chỉ liên quan trực tiếp đến các cổ đông sáng lập của công ty mà còn là vấn đề của các nhà đầu tư, chủ nợ, người cung ứng hàng hóa… Vì vậy, việc nghiên cứu về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần là hết sức cần thiết. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kết luận sau:

Thứ nhất, ở Việt Nam do điều kiện lịch sử, xã hội tác động nên pháp luật Công ty cổ phần nói chung và Tổ chức và quản lý Công ty cổ phần nói riêng mới ra đời, tuy vậy nó đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động Công ty cổ phần ở Việt Nam.

Thứ hai, trong những năm gần đây, pháp luật về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần ở Việt Nam đã dần được hoàn thiện. Luật doanh nghiệp 2020 ra đời đã hạn chế được rất nhiều vấn đề bất cập của Luật doanh nghiệp 2014, tuy nhiên để phù hợp với sự phát triển đa dạng của Công ty cổ phần, phù hợp với nhiều quan điểm pháp luật tiến bộ trên thế giới, Luật doanh nghiệp 2020 cần phải tiếp tục hoàn thiện hơn nữa, đồng bộ hóa các văn bản hướng dẫn thi hành và luật chuyên ngành để nâng cao hiệu quả áp dụng.

Thứ ba, từ việc phân tích, đánh giá những vấn đề pháp lý về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần ở Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới, dựa trên những đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế thị trường, định hướng của Đảng và Nhà nước cũng như nhu cầu chính đáng của các nhà đầu tư, tác giả đã đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần, đặc biệt đưa ra góp ý cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung Luật doanh nghiệp 2020 và ban hành các văn bản hướng dẫn hi hành phù hợp.

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm hiểu đúng, đầy đủ các quy định về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần là một việc làm cần thiết. Qua quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả hy vọng đóng góp một phần ý kiến vào việc hoàn thiện pháp luật về Tổ chức và quản lý Công ty cổ phần ở Việt Nam, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty góp phần vào phát triển đất nước. Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464