Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thi hành pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp tại TP.Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tình hình thực thi pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh

2.1.1. Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân trong các doanh nghiệp

Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân trong doanh nghiệp là các cá nhân người lao động cư trú và không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Thực hiện các quy định của pháp luật thuế Thu nhập cá nhân và các văn bản hướng dẫn của Tổng cục thuế, người lao động đóng thuế thu nhập bản thân trên địa bàn TP.HCM thực hiện đăng ký thuế với cơ quan thuế, cục thuế và các Chi cục thuế trên địa bàn TP.HCM tiếp nhận việc đăng ký thuế Thu nhập cá nhân của các tổ chức chi trả thu nhập và cá nhân. Theo Tổng cục thuế, đến cuối năm 2022, Thành Phố Hồ Chí Minh tiếp nhận 30.924 người lao động đóng thuế Thu nhập cá nhân nộp hồ sơ đăng ký thuế, cụ thể Cục thuế nhận 15.435 hồ sơ, có 412 hồ sơ của tổ chức doanh nghiệp và

15.028 hồ sơ của người lao động, chiếm tỷ lệ là 50% trong tổng số đối tượng nộp thuế Thu nhập cá nhân của toàn thành phố; Các Chi cục thuế quận, huyện nhận 15.489 hồ sơ đăng ký thuế Thu nhập cá nhân, trong đó có 3.371 hồ sơ của tổ chức doanh nghiệp và 12.118 hồ sơ của người lao động, cụ thể việc thực hiện pháp luật thuế Thu nhập cá nhân ở các quận, huyện. Tỷ lệ phần trăm của thu thuế Thu nhập cá nhân chiếm gần 18% thu thuế nội địa trừ dầu thô. Tuy gặp nhiều khó khăn trong năm 2021 bởi hậu quả của dịch Covid-19 nhưng số thu thuế nội địa tại TP.HCM vẫn tăng 2,7% so với số liệu dự tính trước đó, đạt 268.824 tỉ đồng.

Từ năm 2007 đến nay khi thực hiện luật thuế Thu nhập cá nhân thay cho pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2004, chính sách thuế đối với người lao động trong doanh nghiệp có nhiều thay đổi, đối tượng chịu thuế từ chỗ chỉ có thu nhập thường xuyên dưới các hình thức: Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, tiền thưởng; các khoản thu nhập từ dịch vụ khác; các khoản thu nhập ngoài tiền lương, tiền công do tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập không thường xuyên dưới các hình thức: Chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp biếu, tặng; trúng thưởng xổ số thì năm 2009 áp dụng đối tượng chịu thuế Thu nhập cá nhân thành 10 nhóm nên cá nhân NLĐ chịu thuế đăng ký thuế tăng lên nhiều. Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

Từ năm 2010 đến năm 2015, người lao động nộp thuế Thu nhập cá nhân đăng ký thuế ấn định vì tổ chức, cá nhân đăng ký thuế, cấp mã số thuế 1 lần và sử dụng suốt đời như hướng dẫn tại Thông tư số 80/2012/TT-BTC của Bộ tài chính: Mỗi mã số thuế được cấp là duy nhất và sẽ được chủ của mã số sử dụng trong suốt quá trình kinh doanh và làm các thủ tục liên quan đến khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động thì mã số thuế sẽ vô hiệu và không được dùng lại; mã số thuế sẽ được giữ nguyên suốt đời kể cả khi đã ngừng kinh doanh và hoạt động trở lại đối với người nộp thuế là chủ hộ kinh doanh hoặc một cá nhân; mã số thuế của doanh nghiệp sau khi chuyển đổi loại hình doanh nghiệp được giữ nguyên; đối với doanh nghiệp mã số thuế sẽ là mã số doanh nghiệp nếu doanh nghiệp đó được thành lập theo Luật Doanh nghiệp.

Tuy nhiên, Thông tư số 80/2012/TT-BTC đã hết hiệu lực vào ngày 12/08/2016 và được thay thế bởi Thông tư 105/2020/TT-BTC hướng dẫn về đăng ký thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 17/01/2021. Văn bản này ra đời nhằm quy định về thủ tục đăng ký mã số thuế cho cá nhân người lao động. Mỗi cá nhân người lao động nộp thuế thông qua cơ quan chi trả và có ủy quyền cho cơ quan chi trả thu nhập đăng ký thuế thì nộp hồ sơ đăng ký thuế tại cơ quan chi trả thu nhập đó. Trong trường hợp người lao động làm việc tại nhiều cơ quan khác nhau thì chỉ cần chọn một cơ quan đăng ký thuế để được cấp mã số thuế sau đó gửi mã số thuế lại cho các cơ quan chi trả thu nhập khác để các cơ quan đó dùng mã vào việc kê khai, nộp thuế. Ngoài ra đối với người lao động không ủy quyền cho cơ quan chi trả thu nhập đăng ký thuế thì được quy định rõ tại điểm b khoản 9 Điều 7 của Thông tư 105/2020/TT-BTC.

Năm 2010 đến 31/12/2021 chủ thể nộp thuế Thu nhập cá nhân là tổ chức, người lao động đăng ký thuế Thu nhập cá nhân và có mã số thuế không tăng mạnh như năm 2009, lũy kế đến 31/12/2021 có 83.204 đối tượng nộp thuế Thu nhập cá nhân đăng ký thuế, trong đó cá nhân người lao động chiếm 41.636 đối tượng nộp thuế Thu nhập cá nhân đăng ký thuế và được cấp mã số thuế. Cụ thể: Tại Văn phòng cục thuế tiếp nhận 25.071 hồ sơ của đối tượng nộp thuế đăng ký thuế, trong đó 21.992 hồ sơ của người lao động là cá nhân đăng ký thuế.

2.1.2. Căn cứ tính thuế và giảm trừ gia cảnh thuế thu nhập cá nhân của người lao động

Đối tượng người lao động chịu thuế Thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công được thực thi ở TP. Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số thuế Thu nhập cá nhân, cụ thể qua các năm. Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

Năm 2015 thu 67.504 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 37,92% trong tổng số thuế Thu nhập cá nhân; năm 2016 thu 96.507 triệu đồng, chiếm tỷ lệ chiếm tỷ lệ 36,01% trong tổng số thuế Thu nhập cá nhân; năm 2017 thu 162.546, chiếm tỷ lệ 43,23% trong tổng số thuế Thu nhập cá nhân; năm 2018 thu 190.322, chiếm tỷ lệ 48,80% trong tổng số thuế Thu nhập cá nhân; năm 2019 thu 205.840, chiếm tỷ lệ 48,31% trong tổng số thuế Thu nhập cá nhân, trong đó: Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân thu 188.544 triệu đồng, chiếm 91,59% và cấp quận, huyện 17.296 triệu đồng, cho 8,40%; năm 2020, thu 147.470 chiếm tỷ lệ 38,85% trong tổng số thuế Thu nhập cá nhân, trong đó: Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân thu 134.632 triệu đồng, chiếm 91,29% và cấp quận, huyện 12.838 triệu đồng, chiếm 8.70%; năm 2021, thu 154.818 chiếm tỷ lệ 32,59% trong tổng số thuế Thu nhập cá nhân, trong đó: Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân thu 142.087 triệu đồng, chiếm 91,77% và cấp quận, huyện 12.731 triệu đồng, chiếm 8,20%. Điều này cho thấy người lao động chịu thuế Thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công chủ yếu là ở cấp thành phố.

Có thể thấy từ thực tế tỷ lệ người lao động chịu thuế Thu nhập cá nhân từ tiền lương khu vực TP. Hồ Chí Minh có sự biến động mạnh. Năm 2020 và 2021 do ảnh hưởng bởi Đại dịch Covid-19, lương của người lao động có sự thay đổi gây tác động đến tỷ lệ chịu thuế Thu nhập cá nhân của người lao động, cụ thể là giảm mạnh hơn 10% đối với năm 2020 và giảm thêm xấp xỉ 6,5% đến năm 2021. Cho thấy tác động của tình trạng kinh tế, môi trường xung quanh gây ảnh hưởng trực tiếp đến thuế Thu nhập cá nhân của người lao động.

Từ năm 2007 đến 2013 là hơn 3 năm thực hiện, giá cả tăng lên, đời sống của người lao động gặp khó khăn, luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi, bổ sung năm 2012 điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh lên 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm) cho người lao động nộp thuế; và mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng. Từ năm 2020 cho đến nay đã điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh lên 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm), mức giảm trừ đối với người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng trên 1 tháng đã giúp người lao động đỡ khó khăn thêm. Tuy nhiên vẫn còn bất cập với thực tế khó khăn hiện nay khi giá cả tăng và lạm phát kéo dài, mức giảm trừ trên đã lạc hậu.

Dựa theo số liệu của Tổng cục Thuế, số thuế Thu nhập cá nhân năm 2022 của cả nước thu được là 166.733 tỷ đồng tức là tăng 27% so với năm trước, đạt 138% dự toán, tức vượt thu tới 48.658 tỷ đồng. Trong đó, số người lao động làm công ăn lương chiếm đến 70% nguồn thu thuế Thu nhập cá nhân; và số nguồn thu từ thuế Thu nhập cá nhân chiếm khoảng 10% tổng thu cân đối ngân sách, điều này cho thấy đây là số thu chỉ chiếm sau thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng.

Việc một số người lao động nộp thuế thể hiện được mức sống của họ ở mức dư giả, đây được xem là tín hiệu cho sự phát triển mức sống của cư dân ở một đất nước. Tuy vậy, dù chịu mức thu thuế Thu nhập cá nhân là vậy nhưng cuộc sống của người lao động vẫn còn gặp khó khăn vì phải xoay mình theo các khoản chi cho cuộc sống khi mà chỉ số như giá xăng dầu, giá tiêu dùng,… biến động liên tục. Trái ngược thì hệ số lương cơ sở vẫn không có sự chuyển biến, dẫn đến việc mất cân bằng, tạo thêm áp lực, khó khăn cho NLĐ.

2.1.3. Thực hiện khai thuế, quyết toán và hoàn thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

Kê khai, quyết toán thuế Thu nhập cá nhân là việc NLĐ tự xác định số thuế Thu nhập cá nhân phải nộp phát sinh trong giai đoạn kê khai, quyết toán thuế theo quy định của luật thuế Thu nhập cá nhân. Người lao động đóng thuế nộp hồ sơ khai thuế, quyết toán thuế với cơ quan thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu trong hồ sơ khai thuế Thu nhập cá nhân. Luật thuế Thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế Thu nhập cá nhân và các văn bản hướng dẫn quy định người lao động nộp thuế tính số tiền thuế phải nộp Ngân sách nhà nước, người lao động nộp thuế khai đúng, không gian dối và tránh thiếu sót các nội dung trong tờ khai thuế.

Hiện nay Cục thuế TP.HCM triển khai rộng rãi việc kê khai, quyết toán thuế Thu nhập cá nhân. Thực hiện các quy định về kê khai thuế thu nhập cá nhân của NLĐ qua mạng, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành công văn số 4755/UBND-KT ngày 22/11/2011 về việc triển khai hệ thống kê khai thuế điện tử để tiến hành khai thuế qua mạng, thúc đẩy quá trình cải cách hành chính và hiện đại hóa ngành thuế. Cục thuế công bố công văn số 1076/CT-KK&KTT ngày 16/9/2013 Về việc thực hiện Kê khai thuế thu nhập cá nhân cho người lao động qua mạng, mở rộng đối tượng quản lý của cục thuế và Chi cục thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân người lao động thực hiện dễ dàng, nhanh chóng. Cục thuế đẩy mạnh phối hợp truyền thông, nâng cao nhận thức để thực hiện kê khai thuế điện tử; đã tổ chức 03 cuộc hội nghị triển khai tập huấn kê khai thuế trực tuyến cho 800 tổ chức và người lao động hội tụ đủ tiêu chí phù hợp để áp dụng hình thức kê khai thuế trực tuyến. Việc triển khai hệ thống kê khai thuế điện tử đã mang đến sự tiện lợi, rút ngắn thời gian, chi phí cho tổ chức cùng với người lao động; giúp cơ quan thuế giảm nguồn lực trong việc tiếp nhận, xử lý, lưu trữ tờ khai thuế.

Thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/03/2014 của Thủ tướng Chính Phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia nhằm đẩy mạnh cải tiến hành chính thuế, rút gọn các bước xử lý, giảm thời gian thao tác nộp thuế, mang đến sự thuận lợi nhất cho cá nhân lao động nộp thuế. Áp dụng công văn số 3100/TCT-CNTT ngày 07/08/2014 của Tổng cục thuế V/v đẩy mạnh khai thuế trực tuyến, đến 31/12/2014 có 5.511 doanh nghiệp thực hiện khai thuế qua mạng đạt tỉ lệ 100% trong đó Văn phòng cục thuế và các Chi cục thuế quận, huyện đều đạt 100%. cục thuế và Chi cục thuế thường xuyên đôn đốc các doanh nghiệp kê khai đúng hạn định chiếm hơn 93% số doanh nghiệp hoạt động phải kê khai thuế; 100% doanh nghiệp mã số thuế 10 số đang hoạt động đều tiến hành kê khai thuế qua mạng. Việc này giúp cho các tổ chức, cá nhân người lao động nộp hồ sơ khai thuế đơn giản, nhanh gọn, chuẩn xác, tối ưu chi phí, chấp hành đúng nghĩa vụ nộp thuế. Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

2.1.4. Thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập cá nhân và xử lý vi phạm đối với người lao động trong kê khai nộp thuế

Để mang đến sự chủ động và tăng sự tin tưởng của người lao động, nhà nước cho phép người nộp được quyền tự tính và nộp thuế. Để quản lý chặt chẽ công tác trên, tránh mắc những lỗi liên quan đến luật thuế Thu nhập cá nhân như khai không chính xác khiến cho số tiền nộp thuế giảm, trốn tránh việc đóng thuế, số tiền nộp bị nợ đọng… Pháp luật đưa ra hình thức kiểm tra, thanh tra thuế Thu nhập cá nhân như là một phương tiện để kiểm soát và quản lý một cách chính xác nhất. Kiểm tra, thanh tra thuế Thu nhập cá nhân là công cụ hữu hiệu để hạn chế thất thu cho Ngân sách nhà nước nhưng cũng cần tránh lợi dụng công cụ trên để gây khó khăn, cản trở hoạt động của doanh nghiệp và người lao động nộp thuế Thu nhập cá nhân; thanh tra, kiểm tra thuế Thu nhập cá nhân được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin của người lao động nộp thuế, qua cơ sở thông tin về người lao động nộp thuế Thu nhập cá nhân, cơ quan thuế đánh giá tính tuân thủ pháp luật của người lao động nộp thuế và xác định những trường hợp cần tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế Thu nhập cá nhân giúp cho cơ quan thuế phát hiện lỗi sai và xử lý ngay lập tức, tránh được tình trạng kiểm tra, thanh tra tràn lan, làm ảnh hưởng đến những đối tượng thực hiện đúng pháp luật thuế Thu nhập cá nhân, gây tốn kém cho nhà nước; sử dụng nghiệp vụ đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật của người lao động nộp thuế, trên cơ sở đó lựa chọn đối tượng để kiểm tra, thanh tra; tuân thủ quy định của pháp luật quản lý thuế, pháp luật thuế Thu nhập cá nhân và các quy định khác của pháp luật có liên quan, chấp hành nghiêm chỉnh quy trình kiểm tra, thanh tra thuế theo quy định của pháp luật. Các quy định của pháp luật thuế Thu nhập cá nhân đã có sự phân định rõ ràng giữa hoạt động kiểm tra thuế Thu nhập cá nhân và thanh tra thuế Thu nhập cá nhân. Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên mang tính nghiệp vụ, được thực hiện ngay tại trụ sở cơ quan thuế dựa trên hồ sơ khai thuế, khi cơ quan thuế tìm ra lỗi sai và đã yêu cầu nhưng người lao động nộp thuế không tự giác sửa đổi, bổ sung thì việc kiểm tra thuế thực hiện tại trụ sở của lao động đóng thuế. Thanh tra thuế được thực hiện theo định kỳ đối với người lao động nộp thuế có nhiều khoản thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau, có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế Thu nhập cá nhân hoặc để giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế Thu nhập cá nhân.

Thực hiện Quyết định số 2249/QĐ-TCT ngày 28/12/2021 của Tổng cục thuế v/v giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra năm 2021; Quyết định số 88 và 89/QĐ-TCT ngày 10/02/2022 của Tổng cục thuế V/v giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp năm 2022 và Quyết định số 2189/QĐ-TCT ngày 01/12/2022, Quyết định số 1519/QĐ-TCT ngày 21/08/2022 của Tổng cục thuế V/v giao nghĩa vụ cho cục thuế TP.Hồ Chí Minh thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp năm 2022; cục thuế lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra từ năm 2020- 2022 là 2.944 tổ chức; kết quả thanh tra, kiểm tra thuế 2.371 đơn vị; xử lý truy thu và phạt vi phạm hành chính về thuế 95 tỷ; trong đó, Phòng Quản lý thuế Thu nhập cá nhân phối hợp với Phòng Thanh tra, Kiểm tra thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người lao động nộp thuế thu nhập cá nhân như sau: Năm 2021, thanh tra, kiểm tra thuế Thu nhập cá nhân tại cơ quan người lao động chịu thuế 32 đơn vị, truy thu và phạt 16 đơn vị, số tiền 1.219 triệu đồng; năm 2022, tiến hành thanh tra, kiểm tra tại cơ quan người lao động nộp thuế 18 đơn vị, truy thu và phạt 18 đơn vị, số tiền 1.350 triệu đồng; năm 2015, thực hiện thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người lao động đóng thuế là 38 đơn vị.

2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thi hành pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

  • Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động nộp thuế

Công tác truyền thông pháp luật thuế Thu nhập cá nhân đến đối tượng lao động nộp thuế đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến kết quả thực thi pháp luật. Từ năm 2018 đến năm 2021, ngành thuế TP.Hồ Chí Minh cộng tác với Đài Phát thanh Truyền hình TP.Hồ Chí Minh, Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Hồ Chí Minh tuyên truyền bằng nhiều hình thức, thể loại khá phong phú; Đài Phát thanh Truyền hình Hồ Chí Minh phát thanh và phát hình trong số 400 buổi chuyên đề thuế; Đài Truyền thanh quận, huyện đã phát 5.464 lượt tin; Trang thông tin điện tử cục thuế thường xuyên đăng hướng dẫn về thuế, công khai các văn bản giải đáp vướng mắc của doanh nghiệp và phản hồi của cục thuế tổng cộng 1.342 tin, bài, hình ảnh; tổ chức 73 cuộc tập huấn cho 13.913 lượt với đối tượng tham gia là doanh nghiệp, cơ quan hành chính sự nghiệp và cả đội ngũ cán bộ, công chức thuộc ngành thuế về quản lý thuế, quyết toán thuế Thu nhập cá nhân và khai thuế theo ứng dụng mới; tổ chức thực hiện tuần lễ lắng nghe ý kiến người nộp thuế, chỉ dẫn các chính sách, chế độ liên quan đến thuế và trả lời thắc mắc cho 39.504 lượt tổ chức, cá nhân người lao động đóng thuế qua đó góp phần tạo chuyển biến về nhận thức nâng cao trách nhiệm tuân thủ pháp luật thuế.

  • Về cơ cấu tổ chức, cán bộ thuộc ngành thuế HCM.

Dựa theo thông tư số 38/TC/TCCB do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành ngày 25/8/1990, ngành thuế được thành lập theo hệ thống tuần tự từ Trung ương đến huyện, thị, thành. Ở Cấp tỉnh, cục thuế trực thuộc Tổng cục thuế lập ra dưới sự lãnh đạo song trùng của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Cấp huyện, thị, cấp thành phố thuộc tỉnh thành lập Chi cục thuế đồng thời chịu sự lãnh đạo song trùng của Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Chi cục thuế thành lập các tổ tại Chi cục và các Đội thuế tại các xã, phường, thị trấn để quản lý thu thuế. Cục thuế và Chi cục thuế là tổ chức thuộc bộ máy hành chính nhà nước có tư cách pháp nhân công quyền, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước. Cục thuế, các Chi cục thuế có các chức năng nhiệm vụ và có quyền hạn quy định tại Thông tư số 38/TC/TCCB ngày 25/8/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Cục thuế Nhà nước là cơ quan chuyên môn thuộc Tổng cục thuế Nhà nước, được đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đồng thời chịu sự chỉ đạo song trùng của Uỷ ban nhân dân cùng cấp chịu trách nhiệm quản lý công tác thu thuế và thu khác trên địa bàn. Cục thuế Nhà nước hướng dẫn tổ chức chỉ đạo thực hiện mọi vấn đề liên quan đến thuế trên địa bàn theo đúng các luật, pháp lệnh, các văn bản của Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng và các chỉ dẫn của Bộ tài chính và cơ quan thuế cấp trên. Tuyên truyền, phổ biến nội dung chính sách thuế cho các đối tượng nộp thuế, các ngành, các cấp và toàn dân hiểu để chấp hành; lập kế hoạch thu thuế và thu khác trên địa bàn (tháng, quý, năm) báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh và Bộ Tài chính theo quy định. Liên kết với Bộ Tài chính trong vấn đề lập kế hoạch thu chi ngân sách của địa phương, phân bổ các chỉ tiêu, kế hoạch thu thuế và thu khác đến từng Chi cục thuế trực thuộc; tổ chức thu thuế đối với các chủ thể do cục thuế trực tiếp quản lý thu thuế; tuân thủ các nghiệp vụ thu thuế theo quy định của Nhà nước và chỉ dẫn của Bộ Tài chính hoặc Tổng cục thuế, thông báo số thuế phải nộp, phát hành các lệnh thu thuế và thu khác,…đôn đốc các đối tượng nộp thuế nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thu vào Kho bạc Nhà nước; xem xét và đề nghị xét miễn thuế, giảm thuế và các khoản thu khác thuộc thẩm quyền theo quy định của Nhà nước, thực hiện thanh, quyết toán kết quả thu nộp thuế đến từng đối tượng thu nộp thuế; chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra thường xuyên các Chi cục thuế trong việc tổ chức công tác thu thuế, thực hiện luật, pháp lệnh, kế hoạch thu thuế và thu khác; tổng kết, rút kinh nghiệm về các hình thức tổ chức thu thuế; thực hiện công tác thanh tra việc chấp hành chính sách, chế độ thuế, kỷ luật thu nộp thuế của các đối tượng nộp thuế và trong nội bộ ngành thuế ở địa phương. Kiểm tra, kiểm soát sổ sách kế toán, chứng từ có liên quan đến số thuế phải nộp; xử lý các vi phạm về thuế, các khiếu nại theo thẩm quyền được luật thuế quy định; được quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân nộp thuế cung cấp đầy đủ, kịp thời hồ sơ cần thiết cho việc tính toán các khoản thuế và thu khác (kể cả kế hoạch kinh tế – chính trị của các bộ, ngành và cơ sở); tham gia cùng với các cơ quan chức năng xét duyệt đăng ký kinh doanh và đăng ký nộp thuế, trực tiếp quản lý hồ sơ đăng ký kinh doanh và các chứng từ liên quan đến việc tính thuế của các đối tượng do cục thuế trực tiếp quản lý thu thuế; Tổ chức công tác kế toán thuế, kế toán ấn chỉ, kế toán hàng tịch thu, tạm giữ đầy đủ, kịp thời, chính xác; hướng dẫn các Chi cục thuế thực hiện các quy định về kế toán thu; tổ chức công tác thống kê các chỉ tiêu kinh tế và thu nộp thuế; lập báo cáo về tình hình và kết quả thu thuế phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành của cơ quan cấp trên, Uỷ ban nhân dân đồng cấp và các cơ quan có liên quan; quản lý biên chế, cán bộ, khi nhập hí chi tiêu của hệ thống thuế ở địa phương theo đúng các quy định của Nhà nước và theo sự phân cấp của Tổng cục thuế. Tổ chức bồi dưỡng chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ thuế. Tổ chức công tác thi đua và tuyên truyền về hoạt động thu thuế ở địa phương. Nhiệm vụ cụ thể và quyền hạn của Chi cục thuế: xây dựng kế hoạch thu thuế theo năm, quý, tháng trên địa bàn; trực tiếp quản lý hồ sơ thuế của các đối tượng nộp thuế do Chi cục thuế quản lý; tổ chức các biện pháp thu thuế, tính thuế, lập số thuế, thông báo thuế, phát hành lệnh thu thuế và thu khác đến từng đối tượng nộp thuế. Đẩy nhanh việc thực hiện nộp đầy đủ, kịp thời mọi khoản thu vào Kho bạc Nhà nước; xem xét và đề nghị xét giảm, miễn thuế và các khoản thu khác thuộc thẩm quyền theo quy định của Nhà nước, thực hiện quyết toán kết quả thu đến từng hộ gia đình; tổ chức thi hành công tác kiểm tra, chống gian dối trong kê khai, kiểm tra và xử lý các vi phạm chính sách, chế độ, vi phạm kỷ luật trong nội bộ ngành, giải quyết những khiếu nại theo thẩm quyền được luật thuế quy định và theo sự ủy quyền của cơ quan thuế cấp trong; thực hành công tác thống kê, kế toán, thông tin, báo cáo tình hình, kết quả thu nộp thuế theo chế độ quy định; quản lý nhập chi tiêu, trang phục, ấn chỉ thuộc quyền của Chi cục thuế. Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

Con người luôn là yếu tố quyết định thất bại hay thành công trong thực thi pháp luật thuế, Bác Hồ đã từng dạy rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Nếu có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm thì việc xây dựng đường lối sẽ đúng đắn. Ngược lại, không có cán bộ tốt thì dù có đường lối, chính sách đúng cũng khó thành. Trong bộ máy thực thi pháp luật thuế, nguồn lực cán bộ, công chức thuế là chủ chốt góp phần vào việc xây dựng hệ thống chính sách thuế phù hợp, tiến bộ và cũng họ là những người vận dụng hệ thống quy định về thuế làm sao có thể tiếp tục phát triển hiệu quả pháp luật thuế. Trong giai đoạn phát triển hệ thống thuế, tập thể công chức thuế luôn là lực lượng nồng cốt quyết định sự thắng lợi và đã đóng góp nhiều công sức vào thành tích của ngành thuế trong thời gian qua. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, đội ngũ cán bộ thuế đã vững vàng và lớn mạnh hơn. Trong tình hình kinh tế TP.Hồ Chí Minh đã thay đổi rất nhanh, chuyển từ hình thức trực tiếp sang trực tuyến nhờ công nghệ số kết hợp với khoa học công nghệ, xuất hiện đa dạng các thành phần kinh tế, hình thức kinh doanh, số lượng người lao động nộp thuế tăng lên, đa dạng, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng lớn và mang tính toàn cầu, nên nhiệm vụ quản lý thuế Thu nhập cá nhân của người lao động ngày càng khó khăn, phức tạp. Bên cạnh đó,việc hoàn thiện, xây dựng pháp luật theo chiều hướng phù hợp với bối cảnh kinh tế mang nét đặc trưng riêng của nước ta luôn là tiêu chí hàng đầu, nhưng vẫn cần phải linh hoạt tùy chỉnh nhằm đáp ứng với chuẩn mực quốc tế, thu hút nhà đầu tư, kích thích sự phát triển kinh tế trong và ngoài nước. Cục thuế TP. Hồ Chí Minh được thành lập vào 10 tháng 11 năm 1975, trên cơ sở ban đầu là Phòng thu Quốc doanh trực thuộc Sở Tài chính, Chi cục thuế Công Thương nghiệp và Chi cục thuế Nông nghiệp. Cấp huyện, thị xã, thành phố thành lập Chi cục thuế dựa trên cơ sở hợp nhất Tổ thu Quốc doanh, Phòng thuế Công Thương nghiệp và Phòng Thủ Nông nghiệp. Cục thuế TP.HCM được thành lập thành 9 phòng và 22 Chi cục thuế, toàn ngành có 570 Cán bộ công chức, đến năm 1995 có 699 Cán bộ công chức bao gồm: Văn phòng cục thuế có 11 phòng với 115 Cán bộ công chức và 9 Chi cục thuế có 365 Cán bộ công chức.

  • Về cơ sở vật chất của Ngành thuế Hồ Chí Minh

Cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý thu thuế nói chung trong đó có quản lý thuế Thu nhập cá nhân cũng tác động đến việc thực thi pháp luật thuế. Bộ Tài chính, Tổng cục thuế quan tâm bố trí vốn để cục thuế TP.HCM xây dựng trụ sở làm việc với tổng diện tích 5.700 m2 sàn, 4 Chi cục thuế có trụ sở mới với 7.200 m2 sàn (Chi cục thuế quận Bình Thạnh 1.500m2 sàn, Chi cục thuế quận Phú Nhuận: 1.500m2 sàn, Chi cục thuế quận 7- huyện Nhà Bè 1.700m2 sàn, Chi cục thuế huyện Cần Giờ 2.500m2 sàn); trang bị cho cục thuế 04 xe ô tô, 7 Chi cục thuế 07 xe ô tô; trang bị cho mỗi công chức 01 máy vi tính để bàn phục vụ công tác, hàng năm đều được Tổng cục cấp bổ sung số máy đã bị hư hoặc hết thời gian sử dụng; cục thuế và 09 Chi cục thuế được cấp tối thiểu 02 máy photo, 01 máy phát điện dự phòng có công suất từ 80Kw đến 110Kw cho mỗi đơn vị để hỗ trợ trong quá trình làm việc. Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

  • Phát động thi đua thực hiện pháp luật thuế Thu nhập cá nhân.

Từ những ngày đầu năm, ngành thuế luôn quan tâm duy trì phát động phong trào thi đua khen thưởng, qua từng đợt tổ chức đều được cấp trên quan tâm khen thưởng kịp thời nhằm động viên toàn ngành tích cực, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Với những yếu tố trên đã tác động tích cực đến việc áp dụng pháp luật thuế Thu nhập cá nhân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong chương 2, tác giả tập trung phân tích, đánh giá thực tiễn thực thi Pháp luật thuế Thu nhập cá nhân của Việt Nam trên các mặt chủ yếu về chính sách và quản lý thuế thu nhập cá nhân với người lao động như: Đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, giảm trừ gia cảnh, thuế suất thuế Thu nhập cá nhân; Những quy định về đăng ký, kê khai, khấu trừ, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; Các nhân tố tác động tới việc thực thi pháp luật thuế Thu nhập cá nhân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời, tác giả nêu lên những ưu điểm, tình hình thực trạng về thuế Thu nhập cá nhân với người lao động, từ đó làm cơ sở để tìm ra những bất cập, đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực thuế Thu nhập cá nhân của người lao động tại các doanh nghiệp ở chương 3. Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động

One thought on “Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464