Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thời gian tới dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. QUAN ĐIỂM BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

3.1.1. Bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong xét xử của tòa án nhân dân cần quán triệt quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người, quyền công dân

Bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền không chỉ là nội dung, bản chất mà còn trở thành mục tiêu cao nhất trong xây dựng Nhà nước pháp quyền. Tố tụng hình sự là một lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến quyền con người. Quyền con người đặc biệt là bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong xét xử của tòa án được ghi nhận và bảo vệ trong hoạt động Tố tụng hình sự bằng các phương tiện, biện pháp khác nhau. Trong đó, các biện pháp quan trọng nhất là quy định đúng đắn, hợp lý, khả thi trong pháp luật Tố tụng hình sự và bảo đảm thực hiện quy định đó trên thực tế. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 02 năm 1990. Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam là chăm lo con người, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trên lĩnh vực quyền con người, quyền công dân có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đó sẽ là những tư tưởng chỉ đạo với hoạt động cụ thể trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng – an ninh, ngoại giao… Có thể khái quát hệ thống quan điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người. Trong quá trình hình thành và phát triển, quyền con người là sản phẩm của sự thống nhất của tính phổ biến và tính đặc thù. Vì vậy, muốn nhận thức và giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn cụ thể về quyền con người cần quán triệt quan điểm kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người. Tính phổ biến của quyền con người là thuộc tính, theo đó quyền con người bao hàm những nguyên tắc, những quyền được áp dụng phổ biến ở khắp nơi, cho mọi đối tượng. Còn tính đặc thù của quyền con người là thuộc tính, theo đó cho phép quyền con người ở mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ do trình độ phát triển kinh tế – xã hội và truyền thống dân tộc khác nhau mà có những đặc trưng riêng, có mức độ thỏa mãn riêng phù hợp với điều kiện quốc gia, lãnh thổ đó. Vì vậy, trong quá trình giải quyết thực tiễn về quyền con người nhất thiết phải tuân theo sự thống nhất giữa tính phổ biến và tính đặc thù đó, không thể đối lập tính phổ biến với tính đặc thù và ngược lại. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Thứ hai, quyền con người có tính giai cấp. Con người sinh ra vốn dĩ đã có quyền, quyền đó tồn tại dưới dạng những nhu cầu bức thiết, những yêu sách hợp lý. Nhưng, để trở thành quyền thực sự cần đến yếu tố pháp luật thiết định. Pháp luật, như chúng ta đều biết, là pháp luật của các chế độ chính trị khác nhau, nội dung của nó được ghi nhận trong khuôn khổ đảm bảo trước hết lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Do vậy, quyền con người mang tính chất giai cấp sâu sắc.

Thứ ba, quyền con người và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất. Ở nước ta, truyền thống cộng đồng, truyền thống dựng nước và giữ nước cũng như kinh nghiệm cách mạng Việt Nam cho thấy, những “vong quốc nô” thì không thể có quyền con người. Nói cách khác, nước Việt Nam có độc lập thì dân tộc Việt Nam mới có tự do. Quá trình giải quyết vấn đề quyền con người là thông qua quá trình giải phóng dân tộc, quyền con người chỉ có trong độc lập dân tộc. Ở đây, không thể có cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, chỉ có sự thống nhất giữa nhân quyền và chủ quyền quốc gia.

Hiến pháp xác định quyền, đồng thời cũng xác định nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và xã hội “quyền công dân đi đôi với nghĩa vụ của công dân”. Vì vậy, việc giải quyết nhu cầu của mỗi cá nhân chỉ có thể là đúng khi đặt nó trong quan hệ với người khác, với dân tộc, bởi vì “chỉ trong cộng đồng thì mỗi cá nhân, mới có những phương tiện để phát triển toàn diện những năng khiếu của mình, chỉ trong cộng đồng thì mới có thể có cá nhân tự do” (Các Mác).

Thứ tư, quyền con người phụ thuộc vào sự phát triển và truyền thống dân tộc. Quyền con người là nhu cầu vốn có của con người, nhưng trạng thái thực hiện và mức độ thỏa mãn lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa và truyền thống dân tộc của mỗi quốc gia. Quyền con người phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, rằng: “Việc thực hiện quyền tự do của con người tùy thuộc vào lực lượng sản xuất và trong phạm vi cho phép của lực lượng sản xuất, chứ không phải tùy thuộc ở điều người ta mong muốn” (Các Mác). Tuy nhiên, việc thực hiện quyền con người tốt hay xấu, rộng hay hẹp còn phụ thuộc vào những yếu tố khác như bản chất của chế độ xã hội, vai trò của Nhà nước và các thể chế chính trị, ý thức dân chủ và sự trưởng thành của cá nhân và cộng đồng. “Quyền không thể cao hơn trình độ phát triển kinh tế” là định hướng quan trọng cho việc giải quyết đúng đắn vấn đề quyền con người trong đời sống hiện thực, vừa tránh được chủ quan duy ý chí trong xây dựng pháp luật vừa tránh được tình trạng lạc hậu của pháp luật so với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, pháp luật Việt Nam đã quy định nhiều quyền, trong đó có cả quyền “đi học không mất tiền”, “chữa bệnh không mất tiền”. Đó là những quy định đúng với bản chất của chế độ ta, nhưng do trình độ kinh tế thấp nên pháp luật đã không đi vào cuộc sống được. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Về văn hóa, dân trí là điều quan trọng để xác lập và thực hiện quyền con người. Điều này đòi hỏi con người có sự hiểu biết nhất định về dân chủ, pháp luật và ý thức về quyền của công dân mới có thể đảm bảo thực hiện quyền trong thực tế. Bởi quyền của con người là kết quả do đấu tranh mới giành được, chứ không thể là sự ban ơn, bố thí của bất kỳ ai. Như vậy, pháp luật quy định quyền con người, quyền công dân phải gắn và phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa của đất nước trong mỗi thời kỳ lịch sử, đồng thời quá trình xây dựng pháp luật về quyền con người, quyền công dân phải giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc.

Thứ năm, quyền con người, quyền công dân phải được chế độ pháp luật bảo vệ. Đảm bảo bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các quyền con người, quyền công dân được thực hiện. Khi trở thành quyền pháp định, quyền con người, quyền công dân là ý chí chung của toàn xã hội, được xã hội phục tùng, được quyền lực nhà nước bảo vệ. Quyền con người, quyền công dân khi được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận trở thành độc lập đối với bất kỳ quyền uy nào, kể cả các cơ quan, viên chức nhà nước cao nhất.

Hiện nay, trên lĩnh vực pháp luật bảo vệ quyền con người, Nhà nước ta đã ban hành Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Lao động, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học, Luật Bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em, Luật Báo chí, Pháp lệnh về tổ chức luật sư, Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân, Pháp lệnh xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài ở Việt Nam… Có thể khẳng định rằng, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam hiện nay đã thể hiện đầy đủ các quyền cơ bản, phổ biến của con người.

Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, Đảng ta chủ trương “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam”, đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, quản lý xã hội bằng pháp luật, chắc chắn sẽ mở rộng hơn nữa phạm vi quyền con người, quyền công dân theo đà phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

3.1.2. Bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong xét xử cần phát huy vai trò của Tòa án nhân dân và các cơ quan tham gia tố tụng khác trong bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất được Hiến pháp và pháp luật trao chức năng xét xử. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Để quyền con người không bị xâm phạm trong hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử, Tòa án nhân dân cần bảo đảm thực hiện đúng các nguyên tắc sau: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc xét xử công khai; Nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án; Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa; Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án và Giám đốc việc xét xử.[34]

Xác định rõ Tòa án là cơ quan thực hiện quyền Tư pháp đồng thời đảm bảo những điều kiện để Tòa án thực hiện quyền Tư pháp trong thực tế, đặc biệt là phải nâng cao chế độ lương, phụ cấp, công tác phí để cán bộ công chức Tòa án có thể đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình ở mức trung bình, yên tâm công tác mà không phải lo về “cơm, áo, gạo, tiền”. Các chế độ của cán bộ, công chức Tòa án hiện nay còn thấp. Trong khi đó, việc mở các phiên tòa lưu động tuy có ý nghĩa tích cực trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm nhưng cũng làm tiêu tốn một số kinh phí nhất định, ảnh hưởng đến ngân sách đơn vị. Do đó cần phải có những đảm bảo về tài chính nhất định để Tòa án thực hiện nhiệm vụ của mình.

Ngoài ra, để Thẩm phán yên tâm làm việc và làm việc có hiệu quả thì cần phải quy định lại nhiệm kỳ của Thẩm phán. Hiện nay, nhiệm kỳ của Thẩm phán là 05 năm trong khi đó thủ tục bổ nhiệm, tái bổ nhiệm chặt chẽ, nhiều quy trình, mất nhiều thời gian; nếu có vi phạm thì có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào. Do đó, nên quy định nhiệm kỳ của Thẩm phán là 10 năm hoặc là vô thời hạn. Đáp ứng yêu cầu trên, hiện nay Luật tổ chức tòa án đã quy định nhiệm kỳ thứ hai trở đi khi bổ nhiệm lại đối với chức danh thẩm phán là 10 năm.

Vai trò của các cơ quan tố tụng khác, Đẩy mạnh tiến độ thành lập và đi vào hoạt động mô hình Viện kiểm sát và Tòa án khu vực trên toàn quốc để bảo đảm độc lập xét xử [33]. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Trong mối quan hệ giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng, cần xác định rõ mối quan hệ “chế ước”, chứ không chỉ là “phối hợp” để tránh sự bao che lẫn nhau, dẫn đến tình trạng “sai một ly, đi một dặm”. Tăng cường đào tạo lực lượng Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán theo hướng đủ về số lượng và cao về chất lượng. Đặc biệt phải đào tạo kiến thức về quyền con người cho đội ngũ này. Trang bị cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện làm việc hiện đại, hiệu quả.

3.1.3. Nâng cao trình độ nhận thức của các chủ thể tiến hành tố tụng về bảo đảm quyền của người bị hai trong hoạt động xét xử vụ của tòa án nhân dân

Chủ thể tiến hành tố tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự được hiểu là những người trong Hội đồng xét xử các vụ án hình sự (Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân). Nhiệm vụ lớn nhất của giai đoạn xét xử là ra được bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để ra được một bản án hoàn chỉnh và chính xác thì nhất thiết phải có hoạt động nhận thức trước đó.

Hoạt động nhận thức ở giai đoạn này được thực hiện bởi các thành viên của Hội đồng xét xử nhằm kiểm tra lại tính đúng đắn của các thông tin thu thập được trong giai đoạn điều tra thông qua hồ sơ và lời khai của những người tham gia tố tụng. Hoạt động nhận thức mang tính chủ động, ít căng thẳng hơn so với hoạt động nhận thức ở giai đoạn điều tra do chủ thể nhận thức đã được tiếp cận với lượng thông tin ít hơn, cô đọng hơn và được sàng lọc ở giai đoạn điều tra.

Trong hoạt động xét xử, quá trình xét hỏi về các tình tiết của vụ án là giai đoạn trung tâm, là giai đoạn độc lập để xác định sự thật của vụ án. Đây chính là yếu tố tìm kiếm của hoạt động nhận thức.

Ví dụ trong những trường hợp cần thiết, Tòa án có thể yêu cầu cung cấp thêm những tài liệu mới, mời thêm người làm chứng trước đây chưa được hỏi để có thể xét hỏi hoặc tạm hoãn phiên tòa.

Do quá trình nhận thức chứng cứ của Tòa án thông qua hình thức gián tiếp nên các thành viên của Hội đồng xét xử ít bị ảnh hưởng hơn nhiều bởi yếu tố xúc cảm so với điều tra viên. Mặt khác, thời gian nhận thức của chủ tọa phiên tòa ngắn hơn điều tra viên nên đòi hỏi phải phân phối đều hơn về tinh thần và trí lực. Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự (Điều 49 Bộ luật Tố tụng hình sự). Từ góc độ áp dụng các biện pháp cưỡng chế thì bị can có thể bị tạm giam hoặc các biện pháp ngăn chặn khác, bị can bị hỏi cung…Từ góc độ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, bị can có nguy cơ bị xâm phạm đến các quyền tự do dân chủ, nhất là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm. Do đó cần nâng cao nhận thức của bị can trong hoạt động xét xử các vụ án hình để bị can nắm bắt được quyền và nghĩa vụ của mình. Cụ thể, pháp luật quy định quyền của bị can nhiều hơn là trách nhiệm làm cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bác bỏ việc buộc tội hoặc bảo vệ mình trước khả năng xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình Tố tụng hình sự giải quyết các vụ án hình sự.

Cũng như bị can, bị cáo là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị buộc tội và đã bị Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 50 Bộ luật Tố tụng hình sự). Vì vậy, địa vị pháp lý, tình trạng của bị cáo cũng giống như bị can; có nghĩa là bị cáo cũng có khả năng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, có nguy cơ bị xâm phạm các quyền con người cao, đã có sự buộc tội chính thức nên cần có các quyền tương ứng để bào chữa, cho nên các biện pháp bảo đảm quyền con người đối với bị can, bị cáo cơ bản là giống nhau. Do đó, việc nâng cao trình độ nhận thức của bị can, bị cáo về quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự là rất cần thiết, để hạn chế tối đa tình trạng oan sai và để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo.

3.2. GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền của người bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tại tòa án nhân dân

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em bằng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức cảnh giác, phát hiện sớm, tự phòng ngừa các hoạt động xâm hại trẻ em và hỗ trợ tư vấn pháp lý khi cần thiết là một biện pháp cần làm.

Khi bị xâm hại tình dục, nạn nhân và gia đình phải trình báo ngay cho cơ quan Công an để được hỗ trợ tư vấn, giải quyết tránh để lọt tội phạm. Quan trọng nhất, gia đình cùng nhà trường cần giáo dục, trang bị kỹ năng sống cho các em; phổ biến những kiến thức về giới tính một cách khéo léo, lành mạnh; góp phần phòng chống việc lạm dụng tình dục trong cuộc sống.

Nhìn chung, Việt Nam đã có một hệ thống khung pháp luật tương đối toàn diện và đầy đủ để bảo đảm và bảo vệ các quyền con người nói chung, trong đó có quyền của người dưới 18 tuổi nói riêng. Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị định số 06/2019… ban hành là bước tiến mới trong việc đảm bảo quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử của tòa án. Tuy nhiên, các quy định bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong c trong giai đoạn xét xử của tòa án còn tản mạn, chưa tập trung theo lĩnh vưc; trong đó có một số quy định còn chung chung, khó thực hiện. Theo đó, thời gian tới cần phải rà soát, hệ thống hóa các quy định này trên cơ sở đó ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung theo hướng tổng thể, toàn diện.

Trẻ em là thế hệ mầm non – tương lai của đất nước, cần được chăm sóc bảo vệ, giáo dục, trong những điều kiện tốt nhất bởi nhà trường và xã hội. Pháp luật Việt Nam luôn dành sự quan tâm đến trẻ em, xem trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời trang bị hành trang pháp luật để bảo vệ người dưới 18 tuổi bị xâm hại. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Trong thời gian tới để hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử thì trong thời gian tới, Quốc hội nên phê chuẩn tăng tuổi nghỉ hưu đối với một số chức danh nhằm tận dụng uy tín, phẩm chất, kinh nghiệm… của các cán bộ này. Trong quá trình tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán thủ tục còn quá rườm rà, cần đơn giản hóa thủ tục bổ nhiệm. Đối với những trường hợp bổ nhiệm lại, cần đơn giản hóa thủ tục tái bổ nhiệm Thẩm phán. Điều này giúp cho hoạt động của Thẩm phán ít bị gián đoạn hơn, góp phần làm giảm thiểu tình trạng thiếu Thẩm phán hiện nay.

Bổ sung vào Bộ luật Tố tụng hình sự 01 điều luật để quy định về xác định tuổi của người bị hại là người dưới 18 tuổi nhằm khắc phục những điều không có lợi cho người bị buộc tội, theo hướng: “Điều… Xác định tuổi của người bị hại là người dưới 18 tuổi. Việc xác định tuổi của người bị hại là người dưới 18 tuổi do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của họ thì tuổi của họ được xác định như sau:

  1. Trường hợp xác định tháng sinh cụ thể, nhưng không xác định được ngày sinh trong tháng đó thì lấy ngày mùng một của tháng đó làm ngày sinh;
  2. Trường hợp xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong quý đó thì lấy ngày mùng một của tháng đầu của quý đó làm ngày sinh;
  3. Trường hợp xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hoặc nửa cuối năm đó thì lấy ngày mùng một tháng Giêng hoặc ngày mùng một tháng Bảy tương ứng của năm đó làm ngày sinh;
  4. Trường hợp xác định được năm sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày tháng sinh thì lấy ngày mùng một tháng Giêng của năm đó làm ngày sinh.

Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi”. Trên cơ sở sửa đổi Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 ngày 21/12/2018 cho thống nhất, phù hợp. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật Tố tụng hình sự theo hướng dân chủ hóa hoạt động tố tụng, phải xem việc tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại dưới 18 tuổi vào quá trình Tố tụng hình sự là sự giám sát tốt nhất đối với các hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và trên tinh thần tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được hiến định. Bên cạnh việc làm rõ chức năng buộc tội, chức năng xét xử thì cần phải chú ý đến chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại dưới 18 tuổi của những người tham gia tố tụng là luật sư, bào chữa viên nhân dân, đại diện hợp pháp hay trợ giúp viên pháp lý khi họ tham gia tố tụng. Cần tăng cường các quyền cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại để bảo đảm quyền bình đẳng với các chủ thể khác nhằm phát huy vai trò, vị trí của họ trong quá trình tham gia tố tụng. Khi tăng cường các quyền cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại dưới 18 tuổi đồng nghĩa với việc các Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tạo điều kiện để người bảo vệ thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Quy định rõ trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể tố tụng khác khi giải quyết vụ án hình sự. Khi tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại dưới 18 tuổi cần được tạo điều kiện để tranh tụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng. Việc tranh tụng không chỉ bó hẹp ở giai đoạn xét xử mà xuyên suốt các giai đoạn tiền tố tụng, điều tra, truy tố, xét xử. Quy định chế tài đối với người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong trường hợp họ có những hành vi, việc làm gây khó khăn, cản trở người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại dưới 18 tuổi khi họ thực thi nhiệm vụ, làm xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của bị hại dưới 18 tuổi.

3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố nhằm bảo đảm quyền lợi của người bị bại dưới 18 tuổi Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Để giải quyết các vụ án xâm phạm tới quyền của người bị hại dưới 18 tuổi hiện nay nhanh chóng, kịp thời. Hiện nay các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành hướng dẫn cụ thể quy định về giám định khẩn cấp đối với những trường hợp tố giác tội phạm. Cơ quan có thẩm quyền cần chủ động phối hợp với cơ quan chuyên môn xây dựng quy trình giải quyết theo hướng khi tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm nhanh chóng, kịp thời thực hiện các hoạt động: kịp thời thu giữ dấu vết đặc biệt là lông, tóc, sợi, dịch, máu, quần áo, công cụ trong các vụ án xâm phạm tình dục, tội cố ý gấy thương tích. hạo hành trẻ em…có bị hại là người dưới 18 tuổi; phối hợp với Bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý, bác sĩ chuyên khoa phụ sản, cán bộ đã được đào tạo chuyên môn về quản lý chăm sóc, giáo dục trẻ en xử lý thông tin ban đầu, thăm khám, thu thập dấu vết, vật chứng có liên quan trên thân thể nạn nhân để tiến hành giám định pháp y trong thời gian nhanh nhất nhằm kết luận có hay không có dấu hiệu xâm phạm tình dục, tội cố ý gấy thương tích. hạo hành trẻ em; công tác khám nghiệm hiện trường cần kịp thời, tỉ mỉ, toàn diện để đánh giá lời khai của bị hại là có căn cứ hay không, để làm căn cứ đấu tranh với bị can vì đây là những chứng cứ quan trọng để truy nguyên đối tượng.

Cần quy định cụ thể, rõ ràng hơn hoặc có văn bản hướng dẫn về vấn đề khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu trong vấn đề quy định cụ thể về nội dung, hình thức yêu cầu khởi tố vụ án hình sự cho phù hợp với thực tiễn hơn. Về vấn đề đơn tố cáo, tố giác tội phạm theo tác giả nên xác định là một trong những nội dung của yêu cầu khởi tố sau khi kiểm tra, xác minh vì trong nội dung chứa đựng yêu cầu xử lý người phạm tội.

Quy định như vậy sẽ thống nhất trong nhận thức của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định đơn tố cáo có phải là yêu cầu khởi tố hay không, làm giảm bớt thời gian, chi phí tố tụng, tránh làm cho bị hại phải gánh chịu thêm những thiệt hại về tinh thần, uy tín, danh dự do việc khởi tố vụ án gây ra mà vẫn đạt được mục đích cuối cùng là giáo dục người phạm tội. Cần có hướng dẫn cụ thể trong việc thay đổi quyết định khởi tố trong trường hợp phát sinh các tình huống phức tạp hay đưa ra các án lệ, các thông báo rút kinh nghiệm để bị hại có thể dễ dàng hơn trong việc rút yêu cầu khởi tố.

Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định giai đoạn điều tra, về vấn đề lấy lời khai của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án hình sự nên có quy định cụ thể trong việc mời chuyên gia tâm lý tham gia cùng. Trong trường hợp không mời được cần tập huấn cho các cán bộ các kĩ năng như là quan sát thái độ, cử chỉ hành động của các em, cần sử dụng những từ ngữ đơn giản, dễ hiểu mà ở nhà ông bà, bố mẹ hay dùng trao đổi với bị hại… Tự nhiên có tiền hoặc quà, phát ngôn những từ ngữ mới, vẽ hình ảnh bất thường về tình dục, có phương pháp tình dục không phù hợp, … để có phương pháp tiếp cận trẻ phù hợp với lời khai của bị hại là người dưới 18 tuổi. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Về xác định độ tuổi của bị hại quy định tại Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Cần có hướng dẫn cụ thể căn cứ xác định tuổi, cách thức xác định tuổi của bị hại là người dưới 18 tuổi trong trường hợp không có giấy tờ hoặc giấy tờ, tài liệu về xác định tuổi của họ có mấu thuấn, không rõ ràng. Theo đó, quy định rõ căn cứ để xác định tuổi của bị hại là người dưới 18 tuổi gồm: giấy chứng sinh, giấy khai sinh, giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, sổ hộ khẩu, lời khai của cha mẹ, người thân thích, người biết việc, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của người dưới 18 tuổi và các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của người đó. Trường hợp không có giấy tờ, tài liệu hoặc giấy tờ, tài liệu xác định tuổi của bị hại là người dưới 18 tuổi có mâu thuẫn, không rõ ràng có thể xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh cho người dưới 18 tuổi thì cơ quan tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người đại diện, người thân thích, nhà trường, đoàn thanh niên nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động sinh hoạt để lấy lời khai, áp dụng biện pháp xác minh để xác định chính xác tuổi của người dưới 18 tuổi. Trường hợp đã áp dụng biện pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được khoảng thời gian tháng, quý, nửa năm của năm sinh thì tùy từng trường hợp cụ thể thì căn cứ vào khoản 2 Điều 417 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp kết quả giám định tuổi chỉ xác định được khoảng độ tuổi thì cơ quan tiến hành tố tụng lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác định tuổi.

  • Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định liên quan đến giai đoạn truy tố

Về vấn đề trích dẫn cáo trạng, hiện nay việc trích dẫn điều luật trong cáo trạng là chưa thống nhất, trong thực tế tuy không làm ảnh hưởng đến quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Nhưng theo tác giả để bảo đảm tính nghiêm minh và thống nhất thì cần phải xem xét vấn đề này trước hết cần tuân thủ đầy đủ và đúng quy định tại Điều 243 và Điều 461 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bám sát mẫu hướng dẫn số 144/HS (Ban hành kèm theo quyết định số 15/QĐ – VKSTC ngày 09 tháng 01 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Nghiên cứu kỹ và vận dụng có hiệu quả Thông báo rút kinh nghiệm số: 811/TB – VKSTC – V1C ngày 18 tháng 11 năm 2014 của Viện kiểm sát nhân dân TC về rút kinh nghiệm một số tồn tại, hạn chế về báo cáo, chỉ thị ban hành Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh miền trung; Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – BCA – BQP ngày 19 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng về quy định phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề xuất cơ quan có thẩm quyền ban hành một văn bản hướng dẫn chính thức về “trích dẫn điều luật” trong cáo trạng hoặc là phải thống nhất vận dụng công văn số 1044/VKSTC – V4 ngày 29/03/2017 của Vụ 4 – Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Theo tác giả cách tính thời hạn trả hồ sơ để điều tra bổ sung cần có hướng dẫn cụ thể căn cứ vào khoản 2 điều 174 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và quy định rõ ràng như sau: khi TA trả hồ sơ điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung là không quá 01 tháng là giai đoạn thẩm quyền của Tòa trả cho Viện kiểm sát, còn nếu Viện kiểm sát tự bổ sung được thì trong thời hạn 01 tháng phải tiếp tục truy tố và chuyển hồ sơ cho TA. Trong trường hợp Viện kiểm sát không thể tự bổ sung thì phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì lúc này thời hạn phải tính 02 tháng, bởi vì, thời điểm này hồ sơ vụ án đang trong giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát có quyền quyết định việc trả hồ sơ và phải tính thời hạn 02 tháng để đủ thời gian thu thập chứng cứ đối với vụ án được nhập vào.

3.2.3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật sâu rộng trong toàn xã hội về hình sự, hôn nhân gia đình, pháp luật về chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em và pháp luật về phòng bạo lực gia đình, học đường, xâm phạm tình dục…

Cần tăng cường hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Luật bình đẳng giới; Luật hôn nhân và gia đình; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em…nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về bạo lực gia đình. Giáo dục bình đẳng giới phải được thực hiện ngay từ trong gia đình đến nhà trường và xã hội để định hình nhận thức; phải nâng cao nhận thức của cả hai giới về quyền và nghĩa vụ của họ trong mối quan hệ với các thành viên trong gia đình. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về giới, về tình dục về quyền của trẻ em, một cách sâu rộng có trọng tâm, trọng điểm để bị hại và gia đình của họ nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình trong đấu tranh phòng chống xâm phạm tới quyền lợi, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em. Đề xuất với Bộ giáo dục và đào tạo đưa môn giáo dục công dân, giáo dục giới tính, giáo dục quyền con người vào chương trình giáo dục bắt buộc đối với học sinh, sinh viên ngay từ sớm nhằm nâng cao nhận thức và khả năng tự vệ từ chính đối tượng có nguy cơ bị xâm phạm, bị bạo lực học đường. Thường xuyên phổ biến những phương thức, thủ đoạn phạm tội và các vụ việc xảy ra để người dân và tự bản thân trẻ em nâng cao ý thức phòng ngừa; hướng dẫn cho người dưới 18 tuổi một số biện pháp phòng chống các tội phạm thường xảu ra ở lứa tuổi chưa thành niên. Thiết lập các đường dây “nóng”, hòm thư tố giác tội phạm để tiếp nhận mọi thông tin, tài liệu liên quan đến các vụ việc xâm phạm trẻ em. UBND tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Lễ phát động Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới năm 2022 với chủ đề: “Đảm bảo an sinh xã hội, tăng quyền năng cho trẻ em gái nhằm thực hiện bình đẳng giới và xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới”. Theo đó, UBND tỉnh kêu gọi các cấp, các ngành tăng cường giáo dục kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ, tự phòng ngừa xâm hại cho trẻ em; tìm kiếm sự trợ giúp trong trường hợp bị bạo lực; xử lý nghiêm các vi phạm về bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới…Tuy nhiên, trước hết và trên hết, ngay chính trong các gia đình, những người cha, người mẹ phải luôn quan tâm quản lý, giáo dục, hướng dẫn con em đừng để trở thành nạn nhân bị xâm hại. Mặt khác, các cấp chính quyền, ngành chức năng cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục ý thức cảnh giác, cung cấp cho trẻ em kiến thức và kỹ năng tự bảo vệ mình, lên án các hành vi xâm hại tình dục. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Trong công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức cho người dưới tuổi cần thông tin về tình trạng các tội thường xảy ra xâm phạm trẻ em, nguyên nhân, hậu quả và những biện pháp phòng, chống tội xâm phạm trẻ em. Đồng thời, tuyên truyền những vấn đề liên quan đến bổn phận và quyền trẻ em được quy định trong Luật trẻ em; tuyên truyền, giáo dục cho các em những kiến thức về sức khỏe, giới tính và các kỹ năng cần thiết chống bị xâm hại và lạm dụng tình dục, giới thiệu về quy tắc “4 vòng tròn, 5 ngón tay”, “vùng cấm trên cơ thể”; tư vấn pháp luật và tâm lý, cảnh báo đến người dưới 18 tuổi những chiêu thức mà thủ phạm thường sử dụng. Qua đó giúp người dưới 18 tuổi có thể bảo vệ mình trước các nguy cơ bị xâm hại.

Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hình sự, hôn nhân gia đình, pháp luật về chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em và pháp luật về phòng, chống xâm phạm người dưới 18 tuổi cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, khu vực nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn. Đẩy mạnh hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải có kế hoạch, chương trình ngắn hạn, dài hạn cụ thể trong đó chủ động chú trọng đến việc lồng ghép nội dung tuyên truyền phòng, chống xâm hại trẻ em vào trong sinh hoạt thôn, ấp, tổ dân phố; trong sinh hoạt ngoại khóa của các cấp học và sinh hoạt chuyên đề của tổ chức, đoàn thể các cấp. Hơn ai hết để bảo vệ con em mình trước nguy cơ bị xâm hại cần nâng cao vai trách nhiệm của cha mẹ và người thân để tránh những sự việc đau lòng do tội phạm gây nên, cha mẹ cần thường xuyên quan tâm, chia sẻ với con mình để nhận thấy những thay đổi tâm sinh lý cần thiết.

3.2.4. Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức cho Thẩm phán trong bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử

Đắk Lắk là địa phương ở trên cao nguyên nhưng nằm trong “tốp 5” địa phương có nhiều án nhất cả nước. Tòa án nhân dân tối cao tập trung làm tốt hơn nữa công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân; thường xuyên tổ chức việc trao đổi, rút kinh nghiệm công tác xét xử, đặc biệt là kinh nghiệm xét xử, giải quyết các vụ án về bạo lực đối với người dưới 18 tuổi trong toàn hệ thống Tòa án. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán: Trước tình hình nêu trên, một trong những nhiệm vụ trọng tâm công tác được Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xác định, phải xây dựng đội Thẩm phán Tòa án trong sạch vững mạnh, trong đó việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm trong công tác cho Thẩm phán Tòa án các hai cấp tỉnh Đắk Lắk.

Với yêu cầu đặt ra như trên, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã và đang tích cực triển khai thực hiện nhiều giải pháp, trong đó có việc đẩy mạnh việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho Thẩm phán. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường, nhiều tội phạm mới trong các lĩnh vực đã xuất hiện. Do đó cần phải đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng xét xử các vụ án hình sự trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là các tội phạm tham nhũng, chứng khoán, công nghệ thông tin, tài chính ngân hàng…Ngoài ra cần thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức hội thảo, trao đổi, nghiệp vụ cho Thẩm phán. Mặt khác, ngoài vấn đề về chuyên môn cần tổ chức đào tạo, bồi dưỡng trình độ quản lý, kỹ năng thực hiện công tác dân vận, ngoại ngữ, tin học…

Về phẩm chất đạo đức đối với người Thẩm phán: Thẩm phán là công chức Nhà nước cho nên phải có những phẩm chất cơ bản của cán bộ, công chức nói chung: “Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ” (Điều 15 Luật cán bộ, công chức năm 2008). Thẩm phán không được làm những Điều quy định tại Điều 77 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì mới được coi là có phẩm chất đạo đức. Thẩm phán là chức danh tư pháp, chuyên làm công tác xét xử nên phải có những tiêu chuẩn đạo đức riêng (theo khoản 1 Điều 67 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014) quy định: có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực”. Người Thẩm phán với lẽ sống cao đẹp, luôn phấn đấu để cố gắng làm giảm bớt và tiến tới loại bỏ nỗi đau khổ hoặc bất hạnh ra khỏi đời sống con người, sẽ có khả năng vượt qua khó khăn, sẵn lòng hy sinh lợi ích cá nhân, khắc phục mất mát trong nghề nghiệp, thì sẽ tất yếu vươn lên trong cuộc sống, vươn lên trong sự nghiệp và góp phần tạo nên vẻ đẹp cao quý của người thẩm phán. Người Thẩm phán có trung thực thì mới có dũng cảm để bảo vệ lẽ phải, có trung thực thì mới không bảo thủ cứng nhắc trong giải quyết công việc được giao.

3.2.5. Đào tạo về trình độ tâm lý học, khoa học giáo dục cho cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Về phía các cơ quan tiến hành tố tụng cần sớm có kế hoạch để giải quyết các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi trong đó có nhóm tội xam phạm về nhân phẩm sức khỏe, danh dự…; thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án này. Đồng thời, quan tâm sắp xếp các cán bộ theo hướng chuyên sâu, có tính ổn định theo từng lĩnh vực công tác. Tăng cường việc đào tạo bồi dưỡng trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức bổ trợ. Công tác này được đổi mới và tăng cường với các hình thức đào tạo cần phong phú, toàn diện như: kết hợp đào tạo trong nước và nước ngoài, đào tạo tập trung với đào tạo tại đơn vị công tác để tạo nguồn nhân lực có chất lượng. Để đội ngũ cán bộ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán đáp ứng yêu cầu trong công tác giải quyết án hiện nay cần có một kế hoạch cụ thể để chuẩn hóa đào tạo, bồi dưỡng. Chú trọng đào tạo chuyên sâu và sau đại học để xây dựng đội ngũ cán bộ giỏi trên từng lĩnh vực, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Phối hợp liên kết với các trường đại học, trung tâm đào tạo khác cùng chuyên ngành để đa dạng hóa các loại hình đào tạo, bồi dưỡng.

Tăng cường công tác đào tạo, tự đào tạo qua hoạt động thực tiễn như: các phiên tòa rút kinh nghiệm… Đổi mới nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng thẩm phán phù hợp với chuyên môn, công việc và từng ngạch thẩm phán. Chú trọng truyền đạt các nội dung: kiến thức pháp luật mới, kỹ năng nghiệp vụ mới, kỹ năng nghiệp vụ, quản lý nhà nước, lý luận chính trị, pháp luật quốc tế, ngoại ngữ, tin học, kỹ năng dân vận… Bảo đảm nội dung kiến thức truyền đạt vừa rộng, vừa chuyên sâu; kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, lý thuyết và thực hành, giúp thẩm phán nắm vững kiến thức, thành thạo kỹ năng, ngày càng nâng cao trình độ chuyên môn. Đồng thời, bảo đảm các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ và thật sự chí công vô tư vì nếu không có một đội ngũ cán bộ vừa giỏi lý luận vừa giàu kinh nghiệm thực tiễn, có bản lĩnh nghề nghiệp thì không thể nâng cao chất lượng xét xử được.

Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán phải thường xuyên tự giác cập nhập hệ thống văn bản pháp luật trong nước, các văn bản quy định tập quán và thông lệ quốc tế có liên quan đến việc giải quyết án mà có bị hại là người dưới 18 tuổi để áp dụng một cách linh hoạt, hợp lý và chủ động khi giải quyết một vụ án cụ thể. Nâng cao năng lực cho Hội thẩm nhân dân, Thư ký, Thẩm tra viên, Điều tra viên, Kiểm sát viên tham gia các vụ việc liên quan đến trẻ em ở cấp Trung ương và cấp tỉnh với các tài liệu và các lớp tập huấn về điều tra thân thiện với trẻ em do UNICEF xây dựng và tổ chức.

Nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong phân công nhiệm vụ ở từng bộ phận cũng cần tiêu chuẩn hóa cả về tiêu chuẩn chuyên môn và tiêu chuẩn ngoại ngữ. Bên cạnh trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì kỹ năng sử dụng tin học cũng giúp cho cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử nhanh chóng giải quyết công việc, trình bày văn bản khoa học và đúng quy định. Do vậy, cần chú trọng công tác đào tạo tin học cho cán bộ. Chú trọng công tác bồi dưỡng lý luận chính trị và đạo đức nghề nghiệp thông qua việc tuyển chọn, giáo dục và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với việc khắc phục những tồn tại, hạn chế; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đẩy mạnh việc tuyên truyền phong trào thi đua yêu nước, gương người tốt, các tập thể, điển hình tiên tiến. Tiếp tục bám sát chủ đề “Phụng công thủ pháp, chí công vô tư” với phương châm “gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân” gắn với việc thực hiện “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh” trong đạo đức, lối sống của cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử. Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ xét xử, các lớp phổ biến các quy định pháp luật mới ban hành liên quan đến hoạt động giải quyết án cho cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử. Tăng cường trao đổi, rút kinh nghiệm về án có người bị hại dưới 18 tuổi giữa Cơ quan điều tra, VKSND, Tòa án nhân dân. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Chú trọng hơn nữa công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử. Tạo điều kiện để các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tham gia các lớp/khóa tập huấn, đào tạo và đào tạo lại để nâng cao năng lực cũng như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới nên tổ chức nhiều buổi tọa đàm về văn hóa pháp đình với sự tham gia của nhiều chuyên gia pháp lý trên các lĩnh vực như Thẩm phán, Kiểm sát viên, luật sư, giảng viên trường Đại học luật, nhà báo… để rút ra được nhiều kinh nghiệm trong công tác xét xử đồng thời tự bản thân các cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử điều chỉnh, tu dưỡng, rèn luyện bản thân.

Tòa chuyên trách chuyên giải quyết các vụ án liên quan đến người chưa thành niên, cán bộ nhất là Thẩm phán Tòa gia đình và người chưa thành niên phải có kiến thức chuyên môn theo quy định, phải có kiến thức về tâm sinh lý, kỹ năng sư phạm, làm việc với người dưới 18 tuổi. Hay nói cách khác họ phải được chuyên môn hóa cao. Cần triển khai ngay việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho các bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử những kiến thức cơ bản về giáo dục, tâm lý học, đồng thời bồi dưỡng kỹ năng tiến hành tố tụng trong các vụ án có bị hại là người dưới 18 tuổi, đặc biệt là các vụ án về xâm phạm tình dục, bạo hành trẻ em…

3.2.6. Chủ động phối hợp chặt chẽ giữa Tòa án nhân dân với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm quyền lợi ích của người bị hại dưới 18 tuổi

Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ tiến hành tố tụng trong việc điều tra, truy tố và xét xử. Trên cơ sở các quy định của pháp luật, Tòa án cần thường xuyên trao đổi, thống nhất nhận thức về các quy định của pháp luật cũng như những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về đánh giá chứng cứ, các tình tiết khách quan của vụ án, nhất là những vụ án phức tạp, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm

Để có thể kịp thời nắm bắt được diễn biến của vụ án lên kế hoạch xét xử, bảo đảm kịp thời giải quyết các vụ có người bị hại dưới 18 tuổi. Cần nâng cao hiệu quả điều tra, xử lý tội phạm xâm phạm người bị hại dưới 18 tuổi, cần xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật, kiên quyết đấu tranh không để lọt tội phạm. Trong công tác tổ chức các phiên tòa xét xử các vụ án đối với người dưới 18 tuổi, các tòa án cần cân nhắc kỹ lưỡng, bảo đảm vừa làm rõ tình tiết của vụ án, đồng thời bảo đảm thuần phong mỹ tục, các yếu tố văn hóa, bảo vệ danh dự, nhân phẩm của người dưới 18 tuổi. Hình phạt áp dụng đối với các tội xâm phạm quyền lợi ích của người dưới 18 tuổi cần phải bảo đảm quy định của pháp luật, nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và các vụ án xâm phạm quyền lợi ích của người dưới 18 nói riêng.

3.2.7. Nâng cao trình độ năng lực, trách nhiệm nghề nghiệp và số lượng Kiểm sát viên, Luật sư Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Một trong những biện pháp bảo đảm quyền con người trong quá trình tố tụng là có sự đóng góp quan trọng từ Kiểm sát viên và Luật sư. Do đó, cần phải tăng cường nâng cao trình độ năng lực, trách nhiệm nghề nghiệp và số lượng Kiểm sát viên, Luật sư.

Đối với Kiểm sát viên: Trong những năm qua, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã chỉ đạo toàn ngành tổng kết về lý luận và thực tiễn 50 năm xây dựng và hoạt động của ngành, rút ra những bài học thiết thực về hoàn thiện tổ chức bộ máy, đào tạo cán bộ để nâng cao chất lượng thực hiện chức năng nhiệm vụ của ngành.

Để nâng cao năng lực tranh tụng của kiểm sát viên, trước hết cần tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng kiểm sát viên: Đào tạo, bỗi dưỡng kiểm sát viên phải được tiến hành thường xuyên nhằm mục tiêu xây dựng đội ngũ kiểm sát viên trong sạch, vững mạnh, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp theo hướng cập nhật những kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế xã hội; có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa”.[16] Phải căn cứ vào quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng, nếu mặt nào chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định thì có kế hoạch tiếp tục đưa đi đào tạo, bồi dưỡng về mặt đó; lựa chọn những kiểm sát viên có triển vọng và khả năng phát triển để đưa đi đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, đào tạo sau đại học. Phải sử dụng hợp lý nhiều hình thức khác nhau và kết hợp giữa các hình thức với nhau trong đào tạo, bồi dưỡng kiểm sát viên. Những kiểm sát viên trẻ, có triển vọng, trong quy hoạch lâu dài cần đưa đi đào tạo chính quy tập trung; đối với kiểm sát viên trên 40 tuổi chủ yếu áp dụng các hình thức bồi dưỡng với thời gian ngắn.

Việc bồi dưỡng kiểm sát viên cần thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn với nội dung chủ yếu nhằm bổ sung những kiến thức mới, chuyên sâu, những kỹ năng nghiệp vụ về các lĩnh vực hình sự, dân sự… như kỹ năng tranh tụng tai phiên tòa, kỹ năng viết cáo trạng và luận tội,…về công tác quản lý, chỉ đạo điều hành, kinh nghiệm giải quyết các vụ việc phức tạp của các đơn vị, địa phương trong toàn quốc; những vấn đề có vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, cần động viên, khuyến khích cán bộ, kiểm sát viên theo học các lớp cao học luật, cao cấp lý luận chính trị, quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ… để không ngừng nâng cao kiến thức, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định rõ tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng Luật sư: “Đào tạo, phát triển đội ngũ Luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn”. Một trong những định hướng quan trọng được nêu lên trong Nghị quyết số 49 là “phát triển đội ngũ Luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng dịch vụ pháp lý của Luật sư, phục vụ đắc lực cho công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế”. Là một địa bàn vùng sâu, xa như tỉnh Đắk Lắk, đoàn Luật sư tỉnh chỉ có 56 người thì không thể đáp ứng được yêu cầu tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án, bảo đảm được quyền của bị can, bị cáo. Đồng thời với việc tăng cường số lượng cần quan tâm đến chất lượng, chế độ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, thi tuyển phải bảo đảm các tiêu chuẩn về năng lực và đạo đức nghề nghiệp của Luật sư; chế độ miễn cho những người tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Kiểm sát viên, điều tra viên và các đối tượng khác) cũng phải có tiêu chí cụ thể chứ không phải ai cũng được miễn như quy định hiện nay. Cần có quy định bảo vệ Luật sư khi hành nghề, đồng thời xử lý nghiêm minh đối với Luật sư vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.

3.2.8. Nâng cao sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, cơ quan báo chí đối với hoạt động xét xử các vụ án hình sự xâm phạm quyền lợi của người chưa thành niên

Theo khoản 1 Điều 26 Luật mặt trận tổ quốc Việt Nam năm 2015 thì “Đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan nhà nước, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức”. Ngoài ra, Mặt trận tổ quốc Việt Nam còn tham gia việc Tiếp công dân, tham gia công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc xá, cử bào chữa viên nhân dân” (Điều 18), Tham gia việc tuyển chọn thẩm phán (Điều 20). Do đó, việc tăng cường giám sát cảu Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đối với hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nói riêng là rất quan trọng. Thông qua việc giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự nhằm xử lý kịp thời đúng pháp luật đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, không để xảy ra tình trạng oan, sai, bỏ lọt tội phạm, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền con người của bị can, bị cáo.

Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương, Bộ Chính trị đã giải mật Nghị quyết 49 về chiến lược Cải cách tư pháp. Các thảo luận cải cách đã đi đến nhận thức mới về vai trò của báo chí và tháng 8-2014, Ban Chỉ đạo đã ban hành Kế hoạch 38 đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, nhiệm vụ Cải cách tư pháp và hoạt động tư pháp.

Thời gian qua báo chí đóng góp phần quan trọng đối với quá trình cải cách tư pháp nước nhà. Nước ta tuy có hệ thống giám sát, kiểm sát hoạt động tư pháp nhưng thường thì những việc báo chí điều tra kỹ lưỡng, phân tích sâu sắc, phản biện mạnh mẽ sẽ được quan tâm chỉ đạo làm rõ hơn. Báo chí tạo áp lực, thúc ép các cơ quan chức năng vào cuộc. Thông qua việc phản ánh, phân tích những vụ án oan ấy, báo chí còn giúp cơ quan tố tụng và cơ quan giám sát kịp thời phát hiện lỗ hổng pháp luật để bổ sung, sửa đổi nhằm hoàn thiện nền tố tụng tiệm cận với công lý… Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

3.2.9. Đảm bảo các điều kiện cần thiết cho hoạt động của Thẩm phán và cán bộ tòa án

Về điều kiện làm việc của Thẩm phán: Hiện nay nhiều địa phương Thẩm phán làm việc trong điều kiện khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn. Để đảm bảo được hoạt động của Thẩm phán, trong thời gian tới cần tăng cường hơn nữa cơ sở vật chất cho ngành Tòa án. Cụ thể như xây dựng mới, sửa chữa các trụ sở làm việc đã quá cũ, xuống cấp; đảm bảo phòng làm việc cho Thẩm phán và các phương tiện phục vụ cho hoạt động của Thẩm phán như máy vi tính, bàn làm việc… Ngoài ra, cần bố trí hội trường xét xử rộng rãi, được trang trí thể hiện tính trang nghiêm của phiên tòa. Cần có các thiết bị phục vụ cho việc xét xử tại phiên tòa như loa, đài, micrô, hệ thống ghi âm, ghi hình, truyền thanh và truyền hình cho đông đảo nhân dân theo dõi.

Về tiền lương đối với Thẩm phán: Chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức ngành Tòa án nói chung và Thẩm phán nói riêng còn chưa thực sự tương xứng với tính chất công việc đặc thù của ngành Tòa án. Chế độ tiền lương đối với Thẩm phán còn thấp nên chưa thể hiện đúng sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động xét xử và yêu cầu công tác phòng chống tham nhũng và cải cách tư pháp; chưa có tác dụng khuyến khích, động viên cán bộ, công chức Tòa án yên tâm công tác, tận tụy với nghề, nâng cao tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ nhân dân, phấn đấu rèn luyện tu dưỡng đạo đức; chưa phải là bảo đảm hữu hiệu để Tòa án thực hiện nguyên tắc “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Chính vì vậy, việc đổi mới chế độ tiền lương, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ Thẩm phán, cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân cần được cải tiến nhằm khuyến khích Thẩm phán, cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân tận tâm, tận lực, yên tâm, gắn bó với ngành và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nâng cao hiệu quả của việc đấu tranh phòng chống tham nhũng.

Để khắc phục các khó khăn, vướng mắc phát sinh từ việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự trong giải quyết, xét xử các tội phạm bạo lực đối với người dưới 18 tuổi, cần thiết phải nghiên cứu, sửa đổi quy định về các tội phạm xâm hại tình dục trong Bộ luật hình sự theo hướng sau đây:

  • Đề nghị bổ sung thêm “Tội quấy rối tình dục” vào Chương XIV Bộ luật hình sự năm 2015 “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” nhằm xử lý, ngăn chặn các hành vi quấy rối tình dục.
  • Bổ xung thêm hành vi hiếp dâm với người từ đủ 10 tuổi đến dưới 13 tuổi quy định tại Điều 142 Bộ luật hình sự.
  • Nghiên cứu, bổ xung thêm quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145, Điểu 146 Bộ luật hình sự)
  • Bổ xung thêm trình tự, thủ tục công khai việc xin lỗi người bị hại quy định tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tiểu kết chương 3 Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Ở Việt Nam vấn đề bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi được xác định tại Điều 37 Hiến pháp năm 2013, Luật trẻ em năm 2016, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định tại chương XII với tên gọi: “Những quy định đối với người bị hại dưới 18 tuổi” (từ điều 90 đến điều 107), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định.

Đảm bảo quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử tại tòa án là một nhu cầu tất yếu trong bối cảnh hiện nay các vụ án xâm phạm quyền lợi ích của người dưới 18 tuổi đang gây bức xúc trong dư luận xã hội. Tác giả đã trình bày những nội dung như sau:

Thứ nhất, tác giả đã trình bày những quan điểm liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm quyền lợi ích của người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân thể hiện sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện đảm bảo quyền con người nói chung và bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm quyền lợi ích của người dưới 18 tuổi nói riêng.

Thứ hai, trên cơ sở thực trạng luận văn đã đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử, đồng thời đề ra những giải pháp tăng cường nhận thức về bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong trong hoạt động xét xử tại tòa án. Đây là những giải pháp dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã được đánh giá trong chương 2.

KẾT LUẬN

Bảo vệ chăm sóc giáo dục người dưới dưới 18 tuổi là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm trong suốt sự nghiệp lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để phù hợp với pháp luật quốc tế và việc xây dựng Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay. Chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi là bị hại trong các vụ án thể hiện ở sự thống nhất trong những quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp, về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền của người dưới 18 tuổi theo những tính chất, đặc thù vốn có. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

Trong thời gian qua, tình trạng tội phạm xâm phạm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi tuổi diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng, nhiều vụ việc nghiêm trọng gây bức xúc trong dư luận xã hội như các tội xâm phạm tình dục, bạo lực gia đình, xâm phạm sức khỏe, danh dự uy tín nhân phẩm của người dưới 18 tuổi. Bên cạnh đó việc triển khai các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, các đạo luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng gặp một số khó khăn, vướng mắc nhất định.

Đắk Lắk là một tỉnh vùng cao là trung tâm kinh tế của vung Tây Nguyên,trong những năm qua, bên cạnh những thành tựu về mặt kinh tế – xã hội được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Đắk Lắk vẫn gặp phải không ít khó khăn, thách thức do tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường, mà đáng chú ý là sự gia tăng tỷ lệ tội phạm, trong đó có các tội xâm phạm tới quyền lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi cần phải bảo vệ nghiêm minh. Điều này đặt ra áp lực không nhỏ đối với các Cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền con người, đặc biệt là đảm bảo quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong xét xử tại tóa án nhân dân tỉnh. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn tác giả đã nghiên cứu những nội dung như sau:

Trong Chương 1, luận văn đã hệ thống hóa phân tích các khái niệm công cụ, chỉ rõ đặc điểm, ý nghĩa của việc cần phải bảo đảm quyền lợi cho người bị hại dưới 18 tuổi trong xét xử. Làm rõ những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong các vụ án xâm phạm tới quyền lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi thông qua những nội dung: quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi trong giai đoạn tiền khởi tố và khởi tố; giai đoạn điều tra; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử của Tòa án nhân dân.

Chương 2, luận văn đã làm rõ thực trạng thông qua: khái quát những nội dung liên quan đến các vụ án xâm phạm tới quyền lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, thực trạng bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk thông qua những nội dung và đúc kết những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong đảm bảo quyền của người bị hại là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Chương 3, luận văn đã luân cứ các quan điểm liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền của bị hại dưới 18 tuổi các vụ án xâm phạm tới sức khỏe, danh dự…trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân, thể hiện sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện đảm bảo quyền con người nói chung và bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong các vụ án hình sự nói riêng. Trên cơ sở thực trạng luận văn đã đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, đồng thời đề ra những giải pháp tăng cường nhận thức về bảo đảm quyền của bị hại là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thời gian tới. Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi

One thought on “Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của người bị hại dưới 18 tuổi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464