Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức ở huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quản lý xã hội bằng pháp luật là phương thức quản lý cơ bản của tất cả các nhà nước đương đại trên thế giới. Để thực hiện quản lý xã hội, đòi hỏi mỗi nhà nước phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mặt khác, chất lượng đội ngũ công chức có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của hoạt động công vụ. Do đó, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ trong mối quan hệ với việc hoàn thiện thể chế, thiết chế, điều kiện vật chất bảo đảm cho hoạt động công vụ; các vấn đề đạo đức công vụ; các vấn đề về hiệu quả quản lý, sử dụng đội ngũ công chức. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ rõ: “Thực hiện nghiêm Luật cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các văn bản pháp luật có liên quan đến công tác cán bộ” [24] nhằm nâng cao chất lượng công tác cán bộ. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định: Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước…; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài… Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân.
Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2021 – 2030, phần mục tiêu chung đặt yêu cầu: Tiếp tục xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, có năng lực kiến tạo phát triển, liêm chính, phục vụ nhân dân, trên cơ sở những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong giai đoạn 2021 – 2030.
Về mặt pháp lý, cùng với Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019; Nghị định 138/2020/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2020 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và các văn bản có liên quan, hệ thống pháp luật về công vụ, công chức ngày càng hoàn thiện.
Tuy nhiên, trên thực tế còn nhiều vấn đề cần được giải quyết, như: Chất lượng đội ngũ công chức hiện nay chưa đảm bảo yêu cầu quản lý; vấn đề kiểm soát công vụ; phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ; trách nhiệm công vụ; vị trí việc làm… dẫn đến chất lượng thực thi công vụ kém hiệu quả, tinh thần thái độ trong chấp hành và điều hành còn nhiều hạn chế. Hệ thống pháp luật về cán bộ, công chức nói chung, văn bản quy phạm pháp luật về Quản lý công chức nói riêng còn nhiều bất cập, thiếu tính đồng bộ, chưa hoàn thiện đặc biệt là các quy định về chế tài xử lý vi phạm dẫn đến khó thực hiện cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về Quản lý công chức. Hệ quả là thực tiễn Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức của nước ta vẫn còn tồn tại một số bất cập. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng “Không ít cán bộ, công chức vừa kém về đạo đức, phẩm chất, vừa yếu về năng lực, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ” [25].
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về quản lý công chức ở huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk” để nghiên cứu có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học đã công bố nghiên cứu, các tác giả đề cập đến vấn đề Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức với các góc độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu đã được công bố dưới dạng sách, luận án, luận văn, báo, tạp chí. Qua nghiên cứu, tác giả khái quát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan tới vấn đề Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức sau: Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
2.1. Các công trình nghiên cứu về quản lý công chức
Sách chuyên khảo, “Quản lý nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước”, PGS.TS Nguyễn Minh Phương (chủ biên), Nxb Lao động (2018) [44]. Công trình đã tập trung phân tích sâu về vấn đề quản lý nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước, trong đó khẳng định, công tác quản lý nhân lực là yếu tố quyết định tới hiệu quả, hiệu suất làm việc của cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan hành chính nhà nước. Công trình đã tập trung luận giải tương đối kỹ về một số khái niệm cơ bản, như: Nguồn nhân lực, lực lượng lao động, nguồn nhân lực của tổ chức, nhân sự trong tổ chức, người lao động, quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức,… Công trình cũng đề cập tới những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý trong tổ chức; thực trạng công tác quản lý nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước qua các thời kỳ. Trên cơ sở đó, tác giả công trình đã đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường chất lượng quản lý nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước.
Sách chuyên khảo, “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam trong hội nhập quốc tế”, Nxb Hồng Đức (2018), PGS.TS Triệu Văn Cường, PGS.TS Nguyễn Minh Phương (chủ biên)
[21] đã nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, quan điểm đổi mới, nâng cao chất lượng bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta. Trong công trình tác giả nhấn mạnh, hệ thống thể chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của Việt Nam liên tục được hoàn thiện, đến nay cơ bản đã đảm bảo đồng bộ, khoa học, thống nhất, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính và hội nhập quốc tế. Hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức từng bước được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng không ngừng được nâng lên. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức liên tục được rà soát, chỉnh sửa, đổi mới, nâng cao chất lượng, đảm bảo tính khoa học, thực tiễn, phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau. Tác giả đưa ra nhận định rằng, nhìn chung, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế là một tất yếu, khách quan của Việt Nam trong quá trình cải cách, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế hiện nay.
Sách chuyên khảo, “Trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước” (2017), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội do TS. Trần Nghị biên soạn [41], bàn về trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước. Trong công trình tác giả đã tập trung làm nổi bật từ khi thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đội ngũ cán bộ, công chức đã có nhiều đóng góp làm thay đổi diện mạo nền hành chính nhà nước, tạo tiền đề cho sự phát triển đất nước. Tác giả cũng tập trung làm rõ, để thực hiện thành công cải cách hành chính nhà nước, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là một nội dung cơ bản quan trọng.
Sách chuyên khảo, “Những vấn đề cơ bản về quyền lực nhà nước, cải cách chế độ công vụ, công chức và đánh giá chính sách công”(2016) của Bộ Nội vụ [8]. Cuốn sách đã trình bày những vấn đề cơ bản về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, chế độ công vụ và quản lý công chức, quản lý nhà nước về kinh tế xã hội ở Việt Nam. Điểm nổi bật trong công trình đó là tác giả đã luận giải được tương đối khách quan, toàn diện và sâu sắc về chế độ công vụ và quản lý công chức. Trong đó, nhấn mạnh tới việc quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức. Thống nhất về nhận thức coi tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục và then chốt của cải cách nền hành chính hiện nay.
Sách chuyên khảo:“Các biện pháp tâm lý nâng cao tính tích cực lao động của cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay”, Trần Hương Thanh (2010), Nxb Chính trị Quốc gia [49]. Công trình đã nghiên cứu dưới góc độ tâm lý nhằm tạo ra những tác động tích cực giúp cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước phát huy vai trò, trách nhiệm hăng say làm việc. Điểm nổi bật của công trình đó là tác giả đã tập trung phân tích làm rõ được các yếu tố cấu thành tính tích cực lao động của cán bộ, công chức, khẳng định tầm quan trọng của yếu tố tâm lý đến tính tích cực lao động của cán bộ, công chức. Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
Sách chuyên khảo, Từ điển hành chính, Tô Tử Hạ (chủ biên), Nxb Lao động xã hội (2003) [56]. Cuốn sách đã phân tích, làm rõ một số khái niệm căn bản có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như khái niệm: Cán bộ, công chức, chế độ tập sự, chế độ thôi việc, chế độ tiền lương, chế độ trợ cấp, chi tiêu biên chế, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, chuyên viên, chuyển ngạch, chức danh, chức vụ, cơ cấu công chức, quản lý cán bộ, công chức,… Những khái niệm trong cuốn sách giúp tác giả chuẩn hóa phần lý luận, trên cơ sở đó đưa ra những khái niệm quan trọng của luận văn.
Sách chuyên khảo, “Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức”, Tô Tử Hạ (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia (1998) [57]. Cuốn sách đã phân tích, làm rõ những vấn đề chung về công chức, bao gồm nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, tiêu chuẩn công chức, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng công chức; khen thưởng, thăng thưởng, kỷ luật công chức, Quản lý công chức,… Trong công trình tác giả đã tập trung nhấn mạnh, làm rõ về tầm quan trọng của công chức và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Tác giả cũng đã đề xuất được một số phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng, có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
2.2. Các công trình nghiên cứu về pháp luật công chức, công vụ
Sách tham khảo, “Công vụ, công chức nhà nước” (2004) của GS.TS Phạm Hồng Thái, Nxb Tư pháp [52], đã tập trung bàn về pháp luật về công vụ, công chức ở nước ta, làm rõ chế định pháp luật về công vụ, công chức, nội dung của chế định pháp luật đối với cán bộ, công chức. Đặc biệt, trong công trình đã khẳng định rõ rằng, vai trò của công tác Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức đối với việc nâng cao chất lượng công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là yếu tố then chốt. Công trình đã tập trung nêu rõ được vai trò của Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức.
Sách chuyên khảo, “Hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước” (2013), Nxb Tư pháp [58]. Tác giả Tạ Ngọc Hải đã tập trung trình bày khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật công chức, công vụ; những nguyên tắc và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ; Những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến pháp luật công chức, công vụ. Quá trình xây dựng, phát triển pháp luật công chức, công vụ Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Thực trạng, phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính.
Sách chuyên khảo, “Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” (2011) của tác giả Nguyễn Quốc Sửu [61], đã đánh giá thực trạng trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức; phân tích những thành tựu và những hạn chế của công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
Sách chuyên khảo, “Pháp luật về công vụ, công chức của Việt Nam và một số nước trên thế giới”(2012), Nxb Chính trị Quốc gia, do tác giả Trần Anh Tuấn chủ biên [46], trình bày những vấn đề cơ bản về công vụ, công chức; pháp luật về công vụ, công chức của Việt Nam và của một số nước trên thế giới với những phân tích, đánh giá mang tính hệ thống, chuyên sâu,…
Sách chuyên khảo, “Pháp luật, lối sống và văn hóa công sở” (2011) của tác giả Nguyễn Minh Đoan [29], đã phân tích lối sống theo pháp luật của cán bộ, công chức. Đồng thời, đề cập tới yếu tố văn hóa trong hoạt động nhà nước; văn hóa trong hoạt động giao tiếp pháp lý; văn hóa pháp lý trong hoạt động tiếp dân; văn hóa tiết kiệm và chống lãng phí trong các hoạt động nhà nước với những lập luận chặt chẽ, khoa học.
Cuốn sách, “Luật cán bộ, công chức, Luật Viên Chức và Quy định mới về vị trí việc làm và biên chế công chức, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, xếp lương đối với công chức, xử lý sai phạm trong tuyển dụng công chức, viên chức” do Vũ Tươi hệ thống, Nhà xuất bản Lao Động phát hành năm 2020 [53], cuốn sách đã hệ thống hóa các văn bản pháp luật hiện hành ở tất cả các nội dung về Quản lý công chức.
Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận về chế định pháp luật công vụ, công chức” của tác giả Lương Thanh Cường viết do Nxb Chính trị – Hành chính, Hà Nội, xuất bản năm 2011 [19]. Tác giả đã phân tích rõ đặc điểm của hoạt động công vụ, tập trung đến vấn đề hoàn thiện pháp luật về Quản lý công chức.
Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội “Hoàn thiện pháp luật công chức, công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước” năm 2011 của ông Tạ Ngọc Hải [36]. Tác giả đã trình bày một cách khái quát những vấn đề lý luận về pháp luật công chức, công vụ, nghiên cứu thực trạng phương hướng giải pháp cơ bản hoàn thiện, công chức công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước Việt Nam.
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu khác có liên quan, như: Vũ Thúy Hiền (2018), “Pháp luật về phân cấp quản lý công chức trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam; Nguyễn Thanh Tân (2019), “Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương”, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia; Phạm Đức Toàn (2020), “Quản lý công chức theo năng lực trong cơ quan hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính”, Luận án Tiến sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia. Các bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành bàn về pháp luật quản lý cán bộ, công chức như: Tác giả Hoàng Thị Giang (2016), “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về đánh giá công chức ở Việt Nam”, Tạp chí Quản lý nhà nước – Số 248 (9/2016) tr.18-22; Diệp Văn Sơn (2016), “Cần bổ sung chế định sát hạch công chức”, Tạp chí Tổ chức nhà nước – Số 6/2016, tr.17-18; Trần Thị Hạnh (2016), “Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã”, Tạp chí Tổ chức nhà nước – Số 9/2016)… Hệ thống các công trình nghiên cứu nêu trên đều bàn xung quanh tới vấn đề luận văn tác giả nghiên cứu, do đó đều có giá trị trong tham khảo. Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
2.3. Các công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật về quản lý công chức
Giáo trình “Lý luận chung về nhà nước và pháp luật” – Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, xuất bản năm 2021. Chủ biên PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan & TS. Nguyễn Văn Năm [30]. Cuốn sách đã bàn về thực hiện pháp luật với tư cách là một phạm trù của lý luận về Thực hiện pháp luật, yếu tố cấu thành cơ chế điều chỉnh pháp luật.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành luật hiến pháp và luật hành chính về Thực hiện pháp luật về quản lý công chức ở bộ nội vụ” của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh, năm 2020 [1]. Từ những phân tích cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng của Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức ở Bộ Nội vụ, luận văn đề xuất các giải pháp về tăng cường tổ chức Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức ở Bộ Nội vụ.
Bài viết của Đặng Thị Mai Hương – bàn về “Vai trò của công tác thực hiện pháp luật về quản lý công chức” đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước (số 11/2013) tr.47-tr.50 [37]. Bài viết tập trung bàn về vai trò của công tác Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức đối với việc nâng cao chất lượng công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay đã được Đảng và Nhà nước xác định là yếu tố then chốt.
Bài viết của Hoàng Minh Hội “Thực hiện pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ, công chức thuộc quyền và một số kiến nghị” đăng trên Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, ( số 3/2016) tr.36-tr.43 [38]. Bài viết tập trung phân tích thực trạng pháp luật, tổ chức Thực hiện pháp luật và kiến nghị một số giải pháp tiếp tục bảo đảm Thực hiện pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức của nhà nước trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình.
2.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu về thực hiện pháp luật về quản lý công chức ở cấp huyện
Các công trình nghiên cứu nêu trên là những tư liệu quý giá, chứa đựng những giá trị khoa học mà đề tài có thể nghiên cứu, kế thừa, như: Những vấn đề lý luận, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức đối với nền công vụ của nước ta; vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức đối với hiệu quả thực thi nhiệm vụ; các yêu cầu của cán bộ, công chức về năng lực, đạo đức công vụ trong thực thi nhiệm vụ,…
Những công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo đối với tác giả luận văn ở chừng mực các nội dung có liên quan đến đề tài luận văn; song, điều quan trọng hơn là nghiên cứu trực diện Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức ở huyện Ea Kar thì chưa có công trình nào đề cập đến. Do vậy, tác giả xác định “khoảng trống” khoa học cần tập trung nghiên cứu chính là vấn đề Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức ở huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk. Đề tài không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Từ sự phân tích cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng của Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức ở huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, luận văn đề xuất các giải pháp về tăng cường tổ chức Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức ở huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn xác định những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức nói chung, gồm: Khái niệm, đặc điểm, vai trò, thẩm quyền, nội dung, hình thức và những yếu tố ảnh hưởng đối với việc Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức nói chung.
- Đánh giá thực trạng Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức tại huyện Ea Kar trong thời gian qua.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức tại huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận, thực tiễn về Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức ở cấp huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Tập trung nghiên cứu thực trạng THPL về Quản lý công chức ở huyện Ea Kar từ năm 2018 đến năm 2022.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lý luận chung về nhà nước và pháp luật nói chung và pháp luật về công chức nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Các phương pháp tác giả sử dụng trong luận văn, gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp nghiên cứu tài liệu,…
Đối với phương pháp điều tra xã hội học: Đầu tiên tác giả tiến hành thiết kế bảng hỏi với các nội dung hợp lý, sau đó tiến hành khảo sát đội ngũ công chức huyện Ea Kar với số lượng phiếu phát ra là 85 phiếu, số lượng phiếu thu về là 85 phiếu, số phiếu hợp lệ là 85 phiếu, tất cả 85 phiếu hợp lệ được đưa vào xử lý số liệu, tính toán quy ra tỷ lệ %. Nội dung phiếu hỏi chủ yếu tập trung một số nội dung, như: Tình hình thực tế thực hiện pháp luật về quản lý biên chế, tổ chức tuyển dụng, nâng ngạch công chức huyện Ea Kar; khảo sát tình hình thực tế tổ chức thực hiện pháp luật về các chính sách khen thưởng, kỷ luật, bố trí, điều động, đánh giá, bổ nhiệm, luân chuyển, chế độ lương công chức huyện Ea Kar; tình hình thực tế tổ chức thực hiện pháp luật về các chính sách đãi ngộ khác với công chức. Thời gian tiến hành điều tra khảo sát được thực hiện trong tháng 9/2022. Kết quả khảo sát được tổng hợp lại phục vụ cho phân tích, đánh giá thực trạng.
Đối với phương pháp phỏng vấn sâu: Để góp phần làm rõ thêm một số vấn đề có liên quan tới đề tài luận văn mà các phương pháp nghiên cứu khác chưa có điều kiện làm rõ, tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu một số công chức của huyện Ea Kar tập trung hỏi về một số nội dung, như: Tình hình thực tế thực hiện pháp luật về quản lý biên chế, tổ chức tuyển dụng, nâng ngạch công chức huyện Ea Kar; khảo sát tình hình thực tế tổ chức thực hiện pháp luật về các chính sách khen thưởng, kỷ luật, bố trí, điều động, đánh giá, bổ nhiệm, luân chuyển, chế độ lương công chức huyện Ea Kar; tình hình thực tế tổ chức thực hiện pháp luật về các chính sách đãi ngộ khác với công chức. Các nội dung phỏng vấn được tác giả chuẩn bị sẵn từ trước, thực hiện trao đổi một cách tự nhiên, thoải mái với công chức được phỏng vấn, trong đó tập trung khai thác những nhận định, đánh giá mang tính thực tiễn về vấn đề nghiên cứu. Sau đó, tiến hành tổng hợp kết quả phỏng vấn, chắt lọc những nội dung phù hợp phục vụ cho phần đánh giá thực trạng của đề tài. Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn bổ sung quan trọng vào sự phát triển của khoa học quản lý công, góp phần nâng cao nhận thức lý luận về Thực hiện pháp luật đối với công chức.
Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy, những người làm công tác thực tế và sinh viên, học viên cơ sở đào tạo cử nhân luật, cử nhân hành chính, các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về thực hiện pháp luật trong quản lý công chức ở đơn vị hành chính cấp huyện
- Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý công chức ở huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
- Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về quản lý công chức ở huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ CÔNG CHỨC Ở ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP HUYỆN
1.1. Quản lý công chức – khái niệm, đặc điểm
1.1.1. Khái niệm công chức cấp huyện
Công chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra những cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ “công chức”.
Theo cách xác định của một số quốc gia có nhiều năm thực hiện và có kinh nghiệm về chế độ công chức thì công chức được hiểu là những công dân được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước. Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
Thuật ngữ “công chức” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị – xã hội.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “công chức” lần đầu tiên được ghi nhận trong Quy chế công chức Việt Nam bàn hành theo Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành. Đây cũng là lần đầu nhắc đến thuật ngữ “công chức” trong hệ thống văn bản của Nhà nước. Theo đó, định nghĩa về công chức được ghi nhận tại Điều 1 của Sắc lệnh như sau: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” [36]. Nếu theo như Quy chế này thì phạm vi công chức rất hẹp, chỉ bao gồm những người làm việc thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, tức là những người làm việc trong hệ thống hành chính nhà nước. Từ thời điểm đó đến nay thuật ngữ “công chức” ngày càng được đề cập nhiều và làm rõ hơn về mặt nội hàm trong các quy định của Nhà nước.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, rói rõ sự thật”, Đảng ta đã nghiêm khắc kiểm điểm chỉ ra những sai sót của mình trong công tác chỉ đạo và thực hiện các chính sách pháp luật, bố trí, sử dụng cán bộ,… Năm 1986, quyết định đổi mới đất nước của Đảng ta được xem như bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Ngày 25/5/1991 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 169/HĐBT xác định khái niệm công chức: “Công chức Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong công sở Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được thu xếp vào một ngạch hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức”.
“Trên cơ sở đó, ngày 26/2/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước. Theo Điều 1, cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này, những cá nhân làm việc trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị, xã hội được gọi chung là “cán bộ, công chức”. Có thể nói, phạm vi điều chỉnh và đối tượng của công chức đã được thu hẹp hơn so với trước, tuy nhiên vẫn bao gồm khu vực hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp và các cơ quan Đảng, đoàn thể.”
“Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và các văn bản pháp luật có liên quan đã chỉ ra, bên cạnh những thành tựu, ưu điểm đạt được của pháp luật Việt Nam tại thời điểm ban hành vẫn còn những điểm hạn chế, sự bất hợp lý. Với quy định của Pháp lệnh thì các tiêu chí, như: Công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước,… mới chỉ là những căn cứ để xác định xem một người có phải là cán bộ, công chức hay không. Tuy nhiên, pháp lệnh đã không có những quy định rõ cũng như phân biệt rõ ai là cán bộ, ai là công chức. Bên cạnh đó, khái niệm cán bộ, công chức trong Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 quá rộng không thể đưa ra những đặc điểm hay sự phân biệt của từng loại cán bộ, công chức. Do đó, dẫn đến việc quản lý, đãi ngộ với từng loại cán bộ, công chức này chưa được phân định về cơ chế, hay có những chính sách thích hợp, phù hợp với từng khu vực.” Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
“Do yêu cầu của thực tiễn, ngày 29/4/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ công chức. Khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998, Quốc hội đã thực hiện sửa đổi, mở rộng phạm vi điều chỉnh đối tượng công chức thêm những người được bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ và những người được tuyển dụng, giao đảm nhận một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã. Bên cạnh đó, Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 cũng phân biệt rõ các đối tượng công chức ngạch hành chính và công chức ngạch sự nghiệp. Tuy nhiên, tại thời điểm này, thuật ngữ “công chức” và “viên chức” vẫn chưa tách biệt với nhau và chưa được làm rõ. Nguyên nhân của vấn đề này là bởi pháp luật Nhà nước ta tại thời điểm đó không phân biệt rõ các thuật ngữ này, do đó dẫn đến những hạn chế, bất cập trong quá trình xác định quyền và nghĩa vụ của các chức danh này, cũng như việc quy định quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, kỷ luật, chế độ tiền lương và các chính sách đãi ngộ khác dành cho từng chức danh.”
Trước những hạn chế, khó khăn nêu trên, ngày 13/11/2008, Quốc hội khóa XII đã ban hành Luật Cán bộ công chức, pháp luật hóa ở mức cao nhất chế định cán bộ công chức ở nước ta. Điều 4, Luật Cán bộ công chức xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [53].
Theo Luật Cán bộ công chức năm 2008, công chức được phân loại theo trình độ đào tạo và theo vị trí công tác. Theo trình độ đào tạo gồm có công lực loại A, B, C, D. Công chức phân loại theo vị trí công tác gồm có: Công chức lãnh đạo (chỉ huy và điều hành) và công chức chuyên môn nghiệp vụ.
Công chức có ba đặc điểm cơ bản: (1) Được tuyển dụng và bổ nhiệm, giữ một công vụ thường xuyên (ổn định và liên tục) trong một công sở nhà nước; (2) Được xếp vào một ngạch, thể hiện tính ổn định của công chức; (3) Hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Như vậy, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã giải quyết các vấn đề tồn đọng mà các văn bản pháp luật trước đó gây ra. Qua thực tiễn thực hiện Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức, các quy định của cả hai văn bản luật nêu trên đã góp phần quan trọng tạo nên những chuyển biến tích cực trong quá trình đổi mới nền hành chính nhà nước, từng bước đáp ứng được chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân cũng như yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tạo cơ sở pháp lý cho việc phân định rõ đội ngũ cán bộ với công chức, tách viên chức ra khỏi đội ngũ cán bộ, công chức. Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
Có thể thấy rằng, trước khi ban hành Luật Cán bộ, công chức năm 2008, hệ thống văn bản pháp luật nước ta mặc dù đều có những điều khoản, quy định sử dụng thuật ngữ “công chức”, tuy nhiên lại không có sự lý giải về thuật ngữ công chức trong các văn bản này. Do vậy, khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 ban hành, việc quy định về công chức trong điều luật được coi là một bước ngoặt lớn của pháp luật Việt Nam; là căn cứ thúc đẩy, hoàn thiện và đổi mới cơ chế quản lý đội ngũ công chức làm việc trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định rõ về công chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và công chức gắn liền với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh.
Theo khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức quy định về công chức thì có thể thấy khái niệm công chức đã được phân định rõ so với cán bộ và viên chức. Tuy nhiên theo thời gian, việc áp dụng khái niệm này vào thực tế không còn phù hợp. Với đối tượng là lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập mặc dù được xác định là công chức nhưng lại không được tính trong tổng số biên chế công chức, không được hưởng phụ cấp công vụ. Mặt khác, việc quy định người lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập là công chức sẽ không phù hợp với quan điểm, chủ trương của Nhà nước trong việc phân định rõ quản lý nhà nước với quản trị đơn vị sự nghiệp theo Nghị quyết số 19-NQ/TW nêu ra tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XII.
Trước yêu cầu mới của công cuộc đổi mới đất nước, ngày 25 tháng 11 năm 2019, Quốc hội đã ban hành luật số 52/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức. Tại khoản 2, Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019, quy định khái niệm công chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [65].
Cấp huyện ở Việt Nam hiện nay được quy định tại Điểm 2, Điều 2 của Luật số: 77/2015/QH13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương, ngày 19 tháng 6 năm 2015, bao gồm: “huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” [55].
“Huyện là đơn vị hành chính lãnh thổ trung gian nằm giữa tỉnh và xã. Cấp huyện là một cấp hành chính. Chính quyền địa phương cấp huyện chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của chính quyền địa phương cấp tỉnh và trực tiếp quản lý nhà nước đối với chính quyền địa phương cấp xã. Các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chính là các đơn vị thuộc cơ quan hành chính nhà nước. Do đó, công chức tại các đơn vị này được gọi là công chức hành chính nhà nước. Chính quyền cấp huyện có vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị – hành chính; là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với cấp cơ sở và Nhân dân; thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, bảo đảm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, được triển khai thực hiện trong cuộc sống.” Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
Từ khái niệm công chức và vai trò, chức năng của cấp huyện đã phân tích ở trên, theo tác giả công chức cấp huyện có thể hiểu như sau: “Công chức cấp huyện là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/10/2010 quy định những người là công chức. Trong đó, tại Điều 6 quy định cụ thể công chức trong cơ quan hành chính ở cấp huyện, bao gồm: “Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng HĐND và UBND;
Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong văn phòng UBND quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức HĐND;
Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND” [19].
1.1.2. Quản lý công chức Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
- Khái niệm
Theo tác giả Nguyễn Thanh Tân, “quản lý công chức là việc phân cấp quản lý cho các bộ, ngành và địa phương trong quản lý biên chế công chức, số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập được phân cấp theo quy định của pháp luật” [48].
Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Phương, “quản lý công chức là việc thực hiện các nội dung và hướng dẫn, xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách mà nhà nước đề ra, thông qua những nội dung quản lý công chức đó cơ quan có thẩm quyền quản lý chỉ đạo thực hiện những nội dung này” [51].
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu là Quản lý công chức là quản lý những người hiện đang làm việc thường xuyên, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế của các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở. Hoạt động Quản lý công chức bao gồm nhiều nội dung, từ quy hoạch, tuyển dụng cho đến sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng,… và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công chức phát huy tốt năng lực của mình nhằm đạt mục tiêu đã đề ra của các cơ quan hành chính nhà nước.
Mục tiêu của Quản lý công chức không khác mục tiêu quản lý nguồn nhân lực của các tổ chức, đó là đều nhằm xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức. Nói cách khác, “QLCC nhằm mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu của tổ chức (cơ quan nhà nước) để thực hiện mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Qua đó, giúp phát triển đội ngũ công chức thích ứng với yêu cầu của từng giai đoạn xây dựng và hoàn thiện nhà nước, cải cách nền hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức và yêu cầu quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội; tạo cơ hội để công chức phát triển tài năng; bảo đảm việc thực thi công vụ đúng pháp luật nhà nước quy định; xây dựng môi trường làm việc văn hóa, hiệu quả trên cơ sở hợp tác, phối hợp giữa từng cán bộ, công chức trong cơ quan, tổ chức” [48].
Như vậy, từ một số phân tích ở trên có thể hiểu về Quản lý công chức cấp huyện như sau: Quản lý công chức cấp huyện là quá trình tác động có mục đích của cơ quan nhà nước cấp huyện có thẩm quyền đối với đội ngũ công chức về việc quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ công chức; tuyển dụng, bồi dưỡng, sử dụng công chức; các chính sách, đãi ngộ, tiền lương, khen thưởng, kỷ luật; thanh tra, kiểm tra,… theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định, để đạt được mục tiêu quản lý đề ra.
- Đặc điểm quản lý công chức cấp huyện Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
Trên cơ sở những quy định của pháp luật về công chức và quy định phân cấp quản lý đối với công chức cấp huyện, có thể khái quát về đặc điểm Quản lý công chức cấp huyện như sau:
Đặc điểm về chủ thể quản lý: Công chức là những người được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm và trả lương để thực hiện ý chí của Nhà nước. Do đó, Nhà nước cần có các hoạt động, công tác để Quản lý công chức, đảm bảo đội ngũ công chức thực hiện công việc, thực thi công vụ hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Mặt khác, Quản lý công chức là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được nhà nước trao quyền quản lý tác động có mục đích đến đội ngũ công chức (đối tượng chịu sự quản lý) để đạt được mục tiêu quản lý mà Nhà nước đưa ra. Chính vì vậy, chủ thể Quản lý công chức cấp huyện bao gồm lãnh đạo, lãnh đạo các phòng, ban, ban Tổ chức cấp huyện uỷ và các cá nhân được trao quyền Quản lý công chức tại cấp huyện.
Đặc điểm về đối tượng bị quản lý: Đối tượng chịu sự quản lý của chủ thể Quản lý công chức cấp huyện là đội ngũ công chức tại huyện, thực hiện các công việc quản lý nhà nước trên các lĩnh vực thuộc phạm vi của huyện. Công chức cấp huyện có vai trò trong việc tham mưu xây dựng, hoạch định, tổ chức và ban hành các chính sách, văn bản pháp luật thuộc thẩm quyền của huyện, do đó, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức cấp huyện phải có sự chuyên môn hóa về nghề nghiệp cao để có thể đáp ứng được các nhiệm vụ mà nhà nước giao cho.
Đặc điểm về công cụ và phương pháp quản lý: Quản lý công chức là hoạt động quản lý mang ý chí nhà nước và được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước, do đó, phương pháp quản lý mang tính mệnh lệnh là chủ yếu. Quản lý công chức cấp huyện là mục tiêu thực hiện trên các nguyên tắc, quy định, chế định của nhà nước và của huyện, vì vậy, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện là công cụ giúp các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, được nhà nước trao quyền Quản lý công chức cấp huyện thực hiện triển khai các công việc, hoạt động Quản lý công chức cấp huyện.
Đặc điểm về nội dung quản lý: Nội dung Quản lý công chức cấp huyện được thực hiện triển khai trên các quy định pháp luật của nhà nước, huyện ban hành và theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo. Nội dung Quản lý công chức cấp huyện bao gồm những quy định về: quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công chức huyện; các nội dung về: Quản lý biên chế, tổ chức tuyển dụng, nâng ngạch công chức; sử dụng, bố trí, điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đánh giá, khen thưởng; thanh tra và thực hiện các chế độ chính sách như lương, thưởng, lương hưu,… đối với công chức.
Đặc điểm về mục đích quản lý: Quản lý công chức cấp huyện nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức của huyện, giúp đội ngũ công chức cấp huyện phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình trước nhà nước, trước dân chúng, góp phần làm cho bộ máy nhà nước được hoạt động và phát triển bền vững, hiệu quả.
“Đặc điểm về nguyên tắc quản lý: Hoạt động Quản lý công chức cấp huyện một mặt phải bám sát và tuân thủ các nguyên tắc chung về Quản lý công chức, đã được quy định rõ tại điều 5 Luật Cán bộ, công chức 2008, đó là: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước; Kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế; Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng; Thực hiện bình đẳng giới,… Mặt khác, các chủ thể có thẩm quyền Quản lý công chức tại huyện căn cứ vào đặc điểm, tình hình của từng công chức để đưa ra các biện pháp quản lý thích hợp. Tuy nhiên, tính chủ động, sáng tạo không được vượt qua phạm vi mà nguyên tắc pháp chế nhà nước cho phép. Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
1.1.3. Pháp luật về quản lý công chức cấp huyện
Theo cách hiểu chung nhất, pháp luật là hệ thống các quy phạm (quy tắc hành vi hay quy tắc xử sự) có tính chất bắt buộc chung và được thực hiện lâu dài nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của Nhà nước và được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế bởi bộ máy Nhà nước. Pháp luật là cơ sở pháp lý cho tổ chức, hoạt động của đời sống xã hội và Nhà nước, là công cụ để Nhà nước thực hiện quyền lực của mình.
Nhà nước quản lý xã hội thông qua công cụ quyền lực là pháp luật. Thông qua pháp luật để thống nhất nhận thức, điều chỉnh hành vi của các tổ chức, lực lượng và cá nhân trong xã hội theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật chỉ phát huy được vai trò của mình khi được tôn trọng và được áp dụng vào thực tế đời sống. Việc quy định các nội dung Quản lý công chức tại cấp huyện và việc thực hiện Quản lý công chức phải đảm bảo tính hợp pháp, phù hợp và hợp lý đối với hệ thống văn bản pháp luật hiện hành của nước ta, phù hợp với hệ thống chính trị của đất nước. Hơn nữa, các quy định và việc thực hiện này phải đảm bảo các yếu tố nghiệp vụ chuyên môn, chuyên nghiệp của đội ngũ công chức các cấp để đạt được mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức có đầy đủ phẩm chất, năng lực và trình độ chuyên môn để có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội, đáp ứng được nhu cầu của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện như hiện nay. “Đối tượng điều chỉnh trong quan hệ pháp luật về Quản lý công chức là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Quản lý công chức các cấp, bao gồm các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động chấp hành và điều hành, có thể là quan hệ phát sinh giữa các cơ quan cùng cấp, giữa những cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Quản lý công chức với công chức, cụ thể trong đề tài luận văn này là công chức ở cấp huyện. Đối với chủ thể tham gia quan hệ pháp luật Quản lý công chức cấp huyện là các cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhà nước giao quyền hạn Quản lý công chức cấp huyện và công chức thuộc quyền quản lý của huyện. Pháp luật Quản lý công chức cấp huyện quy định phạm vi điều chỉnh là các quy định về hoạt động Quản lý công chức.”
Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2019) thì Chính phủ có thẩm quyền quản lý công chức. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định: “Cơ quan quản lý cán bộ, công chức là cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao thẩm quyền tuyển dụng, bổ nhiệm, nâng ngạch, nâng lương, cho thôi việc, nghỉ hưu, giải quyết chế độ, chính sách và khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức” [63].
Như vậy, pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện có thể hiểu như sau: Pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao thẩm quyền Quản lý công chức tại huyện với công chức thuộc huyện trong các hoạt động quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ công chức; tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng công chức; chính sách đãi ngộ, tiền lương, khen thưởng, kỷ luật,… nhằm đạt được mục tiêu quản lý công chức đề ra.
Căn cứ vào Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và các văn bản hướng dẫn thi hành, nội dung pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện bao gồm một số nội dung chủ yếu sau: Pháp luật về quản lý biên chế công chức; Pháp luật về tổ chức tuyển dụng, nâng ngạch công chức; Pháp luật về chính sách khen thưởng, kỷ luật công chức; Pháp luật về bố trí, điều động, đánh giá, bổ nhiệm, luân chuyển công chức; Pháp luật về chế độ tiền lương, các chính sách đãi ngộ khác,…
Trong phạm vi luận văn chỉ tập trung nghiên cứu nội dung pháp luật Quản lý công chức bao gồm các hoạt động, như: (1) Quản lý biên chế, tổ chức tuyển dụng, nâng ngạch; (2) Thực hiện các chính sách, khen thưởng, kỷ luật, bố trí, điều động, đánh giá, bổ nhiệm, luân chuyển; (3) Chế độ lương và các chính sách đãi ngộ khác đối với công chức.
1.2. Thực hiện pháp luật về quản lý công chức cấp huyện – Khái niệm, đặc điểm, vai trò và chức năng Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về quản lý công chức cấp huyện
Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [32].
Giáo trình của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội và Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội đều cho rằng: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [27]. Đối với quan điểm này cho thấy đối tượng Thực hiện pháp luật ở đây không giống với quan điểm trên là hành vi của con người, mà ở quan điểm này, đối tượng Thực hiện pháp luật được mở rộng hơn, có thể là hành vi của mỗi cá nhân, cũng có thể là hoạt động của các tổ chức, cơ quan,… nhằm thực hiện các quy định pháp luật và làm cho các quy định này đi vào thực tiễn của cuộc sống. Để thực hiện việc đưa các quy định pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống thì không thể thiếu các công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật.
Qua tìm hiểu một số quan niệm Thực hiện pháp luật nêu trên cho thấy, các định nghĩa đều có sự thống nhất về Thực hiện pháp luật, đây là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật. Thực hiện pháp luật là các hoạt động thực tế, hợp pháp, làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế trong cuộc sống con người. Đồng thời, Thực hiện pháp luật là một quá trình của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật.
Như vậy, trên cơ sở những quan niệm về Thực hiện pháp luật nêu trên có thể hiểu khái niệm Thực hiện pháp luật như sau: Thực hiện pháp luật là một quá trình của chủ thể pháp luật nhằm mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
Để pháp luật về công chức đi được vào cuộc sống bằng những hành vi hợp pháp của các chủ thể sử dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải tổ chức đưa pháp luật vào thực thi trong hoạt động công vụ nhằm bảo đảm tính pháp quyền, tuân thủ pháp luật của các công chức trong mọi hoạt động của mình.
“Thực hiện pháp luật về công chức là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức làm cho những quy định pháp luật liên quan tới trách nhiệm công vụ của công chức đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của công chức và các cá nhân, tổ chức có liên quan. Việc Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức có vai trò quan trọng vì công chức làm việc ở UBND là cơ quan hành chính có vị trí đặc biệt trong các cấp chính quyền. Hiệu quả và sức mạnh của Nhà nước do chính quyền Trung ương quyết định và cách thức tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước ở các cấp. Trong đó, cấp huyện cùng với cấp xã là cấp gần dân, là cấp chủ yếu thực thi pháp luật. Để các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống phải thông qua hoạt động của chính quyền cấp huyện, cụ thể là hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức.
Công chức cấp huyện là những người đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hướng dẫn công chức cấp xã và nhân dân hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Bên cạnh đó, Thực hiện pháp luật công chức được biểu hiện trên hai phương diện chủ yếu: Một là, không thực hiện hành vi trái pháp luật công chức. Hai là, thực hiện hành vi hợp pháp, tuân thủ nghiêm pháp luật công chức, pháp luật công chức trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể. Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các khái niệm thành phần trên, tác giả quan niệm Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện như sau: Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện là quá trình thực hiện các quy định pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành về Quản lý công chức ở cấp huyện và đưa những quy định pháp luật đó vào thực tiễn hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ công chức trên địa bàn huyện nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp huyện trong quá trình thực thi công vụ được giao.
Từ những vấn đề lý luận đã trình bày, phân tích trên, ta có thể khái quát đặc điểm thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện trên một số vấn đề cơ bản như sau:
Một là, chủ thể Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện là những cá nhân, tổ chức được nhà nước trao thẩm quyền Quản lý công chức cấp huyện trên cơ sở quy định, phân công và phân cấp của nhà nước. Chủ thể Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện trước hết là người đứng đầu UBND huyện, người đứng đầu các phòng, ban chuyên môn cấp huyện; tiếp đó là đội ngũ công chức làm công tác tổ chức huyện và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được giao thẩm quyền Quản lý công chức cấp huyện.
Hai là, phạm vi và tính chất của Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện. Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện được thực hiện trong phạm vi của huyện, mang tính chất nguyên tắc, bắt buộc trong thực hiện các quy định Quản lý công chức theo quy định của pháp luật. Do đó, Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện mang tính quyền lực nhà nước và được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế. Mặt khác, các chủ thể có thẩm quyền Quản lý công chức cấp huyện không bị phụ thuộc hay tác động bởi ý chí của các các chủ thể bị áp dụng. Chế độ trách nhiệm pháp lý của các chủ thể Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện mang tính chất quản lý hành chính nhà nước, do đó, có sự phân công, phân cấp rõ ràng và có sự ràng buộc cao đối với trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức cụ thể.
Ba là, tính nghiêm minh khi triển khai Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện. Vai trò, vị trí, chức năng của đội ngũ công chức cấp huyện vô cùng quan trọng trong công tác tham mưu hoạch định, xây dựng và ban hành văn bản pháp luật của nhà nước, đưa ý chí của nhà nước thể hiện vào từng điều luật, từng quy định để các quy định đó được áp dụng vào thực tiễn cuộc sống nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội. Do đó, đội ngũ công chức cấp huyện có vai trò và tầm ảnh hưởng rất quan trọng đối với đất nước và đời sống của nhân dân. Thực hiện tốt pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện sẽ giúp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức và hoạt động công vụ của bộ máy nhà nước; giúp bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả hơn; làm tăng uy tín của Nhà nước trong quá trình quản lý hành chính và chính trị đối với người dân và đáp ứng được những yêu cầu, nhu cầu của xã hội hiện nay đối với đất nước ta trong thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện. Bên cạnh đó, chất lượng Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức ở huyện có tầm ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thống chính trị, sự phát triển của một tỉnh, thành phố. Đây chính là thước đo cho tính nghiêm minh của pháp chế của nhà nước, của quốc gia đó. Chính vì vậy, trong quá trình Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện cần phải đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh, nghiêm minh các quy định về Quản lý công chức, để bảo vệ nền pháp chế của đất nước.”
1.2.2. Vai trò, chức năng của việc thực hiện pháp luật về quản lý công chức cấp huyện Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định, phải: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước…; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài… Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân” [26]. Việc xác định rõ vai trò, tầm quan trọng của việc Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức nói chung và Quản lý công chức cấp huyện nói riêng nhằm giúp các nhà quản lý nhận thức rõ sự cần thiết, ý nghĩa của công tác Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, góp phần đẩy mạnh quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước thời kỳ mới. Để thực hiện tốt quan điểm, chủ trương trên, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, phải đi cùng với việc thực hiện tốt pháp luật về Quản lý công chức. Thực hiện pháp luật Quản lý công chức nói chung và Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện nói riêng có vai trò quan trọng, điều này được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện nhằm đảm bảo các quy định pháp luật về Quản lý công chức được triển khai và đảm bảo thực hiện trong hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ công chức trên địa bàn huyện, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp huyện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công chức cấp huyện, cơ quan quản lý công chức; của Nhà nước và nhân dân. Việc đảm bảo Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức được áp dụng hợp lý, phù hợp với thực tiễn giúp khuyến khích, động viên đội ngũ công chức cấp huyện phát huy hết khả năng, sức lực của mình, cống hiến hết mình vì nước, vì dân. Bên cạnh đó, pháp luật nước ta quy định rất rõ các chế tài điều chỉnh các hành vi vi phạm pháp luật của công chức. Các chế tài này có tính chất răn đe, hạn chế các hành vi vi phạm của công chức cũng như của các cơ quan Quản lý công chức. Qua đó, góp phần đảm bảo không xử phạt sai người, sai tội; tránh các hành vi vi phạm của các công chức trong quá trình quản lý nhà nước; góp phần đảm bảo lợi ích của công chức, của người dân và của nhà nước.
Thứ hai, việc Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và cơ quan hành chính cấp huyện nói riêng. Nhà nước muốn hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phát triển bền vững, vững mạnh trước hết phải có một nền công vụ trong sạch, có một đội ngũ công chức liêm chính, trung trực và có chuyên môn tốt. Luật Cán bộ, công chức của nước ta đã quy định nguyên tắc quản lý công chức trên cơ sở kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh với vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế. Việc quy định như vậy nhằm xây dựng đội ngũ công chức đảm bảo chất lượng trong hoạt động thực thi công vụ. Có thể thấy rằng, hoạt động công vụ của các công chức cấp huyện rất quan trọng trong quá trình tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính. Trong quá trình Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện, các công chức có thể đánh giá được các quyết định, hành vi hành chính của các công chức khác có đúng pháp luật hay không, hay có vi phạm các quy định về thẩm quyền quản lý hay vi phạm các quy định về đạo đức, xã hội.
Thứ ba, Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của đội ngũ công chức trong Thực hiện pháp luật về công chức và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn huyện không chỉ đòi hỏi vai trò, trách nhiệm của nhà quản lý mà còn yêu cầu trách nhiệm của đội ngũ công chức trong quá trình Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện. Trong quá trình Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện, đội ngũ công chức nhận thức sâu sắc được vai trò, sự đóng góp, công lao của bản thân, góp phần vào quá trình thực thi công vụ; đảm bảo môi trường làm việc của công chức, từ đó khuyến khích công chức có trách nhiệm cao hơn với bản thân, với công việc, với đơn vị và với cơ quan quản lý nhà nước, cống hiến cho tập thể, đất nước.
“Thứ tư, việc Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện góp phần xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và phát triển đât nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong thời đại hội nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện hiện nay, việc thực hiện nền hành chính trong sạch, chất lượng và vững mạnh là vấn đề tất yếu khách quan. Nền hành chính được cải cách trở thành một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của xã hội và người dân; đảm bảo các thiết chế pháp luật được thực hiện nghiêm minh, minh bạch. Đồng thời, thực hiện minh bạch, nghiêm minh các quy định của pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện góp phần thực hiện hiệu quả công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
1.3. Nội dung thực hiện pháp luật về quản lý công chức Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
Bên cạnh những quy định trong các văn bản, như: Hiến pháp, Luật Cán bộ, công chức 2008 và các nghị định, thông tư, quyết định về công chức; pháp luật về công chức còn chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật khác, như: Luật Lao động điều chỉnh về tiền lương, thời gian làm việc; Luật Hình sự quy định về xử lý hình sự khi công chức vi phạm pháp luật hình sự, Luật Dân sự,… Ngoài ra, còn nhiều văn bản dưới luật khác có tính chất chuyên ngành điều chỉnh do đội ngũ công chức vừa chịu sự quản lý của UBND về công tác tổ chức, biên chế, vừa chịu sự hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên.
Pháp luật về công chức là lĩnh vực pháp luật liên ngành, được qui định trong nhiều văn bản qui phạm pháp luật do nhiều chủ thể ban hành trong đó chủ yếu là các quy phạm thuộc ngành Luật hành chính. Pháp luật về công chức được qui định trong các văn bản, như: Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và các Nghị định của Chính phủ, Thông tư, Quyết định, Thông tư liên tịch của các Bộ hướng dẫn thi hành và Quyết định của UBND tỉnh,…
Căn cứ theo nội dung Quản lý công chức cấp huyện và pháp luật Quản lý công chức, có thể xác định nội dung Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện trên một số vấn đề chủ yếu sau đây: (1) Thực hiện quy định pháp luật về quy hoạch, kế hoạch, quản lý biên chế công chức; (2) Thực hiện quy định pháp luật về tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đánh giá, kỷ luật, khen thưởng, luân chuyển cán bộ, công chức; (3) Thực hiện quy định pháp luật về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; (4) Thực hiện quy định pháp luật về chế độ, chính sách tiền lương, nâng ngạch, phụ cấp, hưu trí, lương hưu, thôi việc; (5) Thực hiện quy định pháp luật về chế độ báo cáo thống kê và quản lý hồ sơ công chức; (6) Thực hiện quy định pháp luật về thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý công chức.
1.4. Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý công chức cấp huyện
Theo “Điều 9. Nội dung xem xét, đánh giá tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật”, Nghị định số 59/2021/NĐ-CP của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật, ngày 23 tháng 07 năm 2012 có xác định 03 nội dung, gồm: “1. Tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập huấn, phổ biến pháp luật; 2. Tính phù hợp của tổ chức bộ máy; mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực cho thi hành pháp luật; 3. Mức độ đáp ứng về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành pháp luật”.
1.4.1. Điều kiện về tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập huấn, phổ biến pháp luật Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
Để đảm bảo về mức độ hoàn thiện của pháp luật Quản lý công chức, trước hết cần đảm bảo tính hợp pháp và tính hợp lý của các văn bản pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện. Các văn bản pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện do các cơ quan có thẩm quyền ban hành phải có tính hợp pháp. Tính hợp pháp ở đây được thể hiện ở chỗ, các văn bản pháp luật này được ban hành phải phù hợp với nội dung, mục đích của pháp luật Việt Nam, không được trái với Hiến pháp, pháp lệnh và các quy định của cơ quan quản lý cấp trên. Các văn bản pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện phải được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền ban hành quyết định quản lý. Các cơ quan, công chức không được ban hành các văn bản, quyết định mà pháp luật không cho phép, vượt quá giới hạn, thẩm quyền, quyền hạn mà nhà nước trao cho để tránh tình trạng lạm dụng chức vụ, việc thực thi công vụ để trục lợi cho bản thân. Mặt khác, các văn bản pháp luật, quyết định do công chức, cơ quan có thẩm quyền ban hành Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức phải đảm bảo đúng trình tự, thủ tục, đúng hình thức theo quy định của pháp luật.
Đối với tính hợp lý của các văn bản pháp luật Quản lý công chức cấp huyện phải đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân. Do đó, cần có sự cân đối, hài hòa hợp lý giữa lợi ích Nhà nước và xã hội. Hơn nữa, các văn bản này phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, bởi không có quan hệ xã hội nào mà không chịu sự chi phối của các yếu tố xã hội. Các văn bản pháp luật được ban hành nhằm điều chỉnh, Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức phải đáp ứng các yêu cầu về thuật ngữ diễn đạt, tiêu chuẩn về tính kịp thời cũng như tính pháp lý của văn bản. Bên cạnh đó, để đánh giá hệ thống quy phạm pháp luật về Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức có hoàn thiện hay không cần xem xét đến tính toàn diện của nó. Các văn bản pháp luật về thực hiện Quản lý công chức cấp huyện phải đầy đủ, đa dạng về số lượng, chất lượng để nhằm giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi công vụ về Quản lý công chức cấp huyện diễn ra trong thực tế đời sống.
Đối với tính đồng bộ, pháp lý của các văn bản pháp luật này, cần được quy định một cách đúng đắn, tránh gây chồng chéo, mâu thuẫn và không thống nhất giữa các văn bản pháp luật ban hành trước và văn bản pháp luật ban hành sau; hay giữa những văn bản pháp luật của cùng một đơn vị, chủ thể ban hành. Đối với tính phù hợp, khả thi của các văn bản pháp luật quy định thực hiện pháp luật Quản lý công chức phải gắn với thực tế đất nước, gắn với điều kiện kinh tế – xã hội của nước nhà trong thời đại hội nhập, toàn cầu hóa, gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để đảm bảo tính phù hợp, khách quan của văn bản, cũng như phù hợp với thực tế trong quá trình áp dụng và giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn pháp luật Quản lý công chức của huyện. Cần xác định các khuyết điểm, yếu kém của văn bản pháp luật về Quản lý công chức và xác định các văn bản pháp luật đã lạc hậu, lỗi thời để sửa đổi, bổ sung kịp thời hoặc thay thế các văn bản đó cho phù hợp với tình hình thực tiễn Quản lý công chức hiện nay của huyện, của đất nước.
1.4.2. Điều kiện về tính phù hợp của tổ chức bộ máy, mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực cho thi hành pháp luật
Đây là yếu tố cơ bản để Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức nói chung và Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện nói riêng có hiệu quả. Năng lực Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật về Quản lý công chức, hoặc có thể làm cho hoạt động thực thi pháp luật về Quản lý công chức được hiệu quả. Từ thực tiễn áp dụng các quy định Quản lý công chức cho thấy, với những đơn vị, cơ quan nào mà công chức có năng lực thực hiện pháp luật, ý thức pháp luật Quản lý công chức thì hiệu quả Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức ở đơn vị, cơ quan đó khá cao; đội ngũ cán bộ cũng phát triển và vững mạnh. Ngược lại, đối với những cơ quan, đơn vị mà công chức ở đó không có năng lực Thực hiện pháp luật hoặc ý thức Thực hiện pháp luật hạn chế thì hiệu quả thực hiện công tác Quản lý công chức ở đó nói chung không được cao. Do đó, có thể thấy năng lực tổ chức Thực hiện pháp luật và ý thức pháp luật là sự phản ánh tích cực và sáng tạo đời sống pháp luật, công chức tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với tiêu chuẩn, quy định của pháp luật ban hành. Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
Có thể khẳng định rằng, trong quá trình Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức, các chủ thể tham gia Quản lý công chức chưa có ý thức pháp luật hoặc ý thức pháp luật chưa đầy đủ sẽ dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật về Quản lý công chức diễn ra nhiều hơn và có mức độ nghiêm trọng hơn. Nói cách khác, ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia Thực hiện pháp luật đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể trong quan hệ pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện. Các chủ thể tham gia thực thi pháp luật Quản lý công chức không có ý thức pháp luật thì cho dù hệ thống pháp luật có được hoàn thiện thì việc thực hiện Quản lý công chức cũng không được thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ. Các công chức ý thức được quyền hạn, nhiệm vụ, nghĩa vụ của mình cũng chính là ý thức, nhận thức được pháp luật. Để việc Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện có hiệu quả thì phải có sự kết hợp giữa hoàn thiện hệ thống pháp luật Quản lý công chức và ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia Quản lý công chức.”
1.4.3. Điều kiện về mức độ đáp ứng kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành pháp luật
Các yếu tố tác động đến ý thức pháp luật và trách nhiệm của các chủ thể tham gia quan hệ Quản lý công chức liên quan trực tiếp tới vấn đề kinh phí, cơ sở vật chất, ngoài ra còn có các yếu tố thuộc về chính trị, văn hóa, xã hội. Do đó, muốn đảm bảo Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức được hiệu quả và đạt được mục tiêu đề ra của chính sách, kế hoạch, nhà nước, đòi hỏi phải đảm bảo được các điều kiện đó, cụ thể: “Điều kiện về kinh tế: Đây là yếu tố có tác động quan trọng đến ý thức pháp luật và phát huy vai trò trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật Quản lý công chức cấp huyện. Các điều kiện về kinh tế như cơ sở vật chất, môi trường làm việc công chức, chính sách đãi ngộ về tiền lương, phụ cấp, lương hưu, tiền thưởng,… có tác động trực tiếp tới ý thức pháp luật của các công chức. Các điều kiện kinh tế này giúp cho công chức thấy được việc mình bỏ ra công sức, chất xám là có ý nghĩa, xứng đáng; từ đó, giúp họ yên tâm tham gia Quản lý công chức một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai đưa pháp luật Quản lý công chức vào thực tiễn đời sống của các công chức, việc các đơn vị, cơ quan nhà nước tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật quản lý cho các công chức cũng cần đảm bảo về nguồn tài chính để các hoạt động này được diễn ra thường xuyên, đạt hiệu quả đề ra. Các nguồn tài chính này tạo động lực cho công chức trong công tác tổ chức thực hiện tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về Quản lý công chức; đồng thời khuyến khích các công chức tham gia thi đua thực hiện công tác Quản lý công chức.
Điều kiện về chính trị: Yếu tố chính trị là yếu tố có tầm ảnh hưởng bao trùm và to lớn đến hoạt động Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó pháp luật về Quản lý công chức phải đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đảng lãnh đạo, chỉ đạo công chức, cán bộ trong các hoạt động quản lý nhà nước, do đó, đường lối lãnh đạo của Đảng có ảnh hưởng đến quyết định công tác Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức tại Việt Nam, cũng như các công tác tuyên truyền, giáo dục và xây dựng thực hiện pháp luật. Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
“Điều kiện về văn hóa: Các điều kiện về văn hóa có vai trò lớn trong hỗ trợ giúp việc Quản lý công chức cấp huyện mang tính hiệu quả và bền vững. Điều kiện về văn hóa đảm bảo kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc; nâng cao đạo đức công vụ của công chức; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; phòng, chống tham nhũng. Yếu tố văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc về việc Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức ở mỗi quốc gia, tạo nên những giá trị tốt đẹp trong phong cách, phương pháp tác phong làm việc của đội ngũ công chức nhà nước. Để hình thành nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc cũng như nền văn hóa tiến bộ, hiệu quả trong quá trình thực thi pháp luật công chức tại Việt Nam là cả một quá trình hình thành lâu dài tích lũy kinh nghiệm cũng như vai trò của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nhà nước. Văn hóa có chức năng điều chỉnh xã hội và giáo dục công chức trong hoạt động thực thi công vụ nói chung và trong hoạt động Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức nói riêng. Nhờ có yếu tố văn hóa, việc Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức được đảm bảo thực hiện trên nhiều khía cạnh, qua nhận thức, hành vi của công chức; thói quen trong tập thể cũng như từ yếu tố văn hóa mà các công chức có thể tự điều chỉnh các hành vi của mình sao cho phù hợp với yêu cầu văn hóa, xã hội của đất nước. Qua việc nhận thức và tự điều chỉnh các hành vi của mình sao cho phù hợp với xã hội, đạo đức và văn hóa của đất nước mà việc Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức được thực hiện một cách hiệu quả.
Điều kiện về xã hội: Điều kiện về xã hội đảm bảo cho việc tổ chức THPL về Quản lý công chức diễn ra ở các khía cạnh, như:
Môi trường cấp huyện là một “xã hội” với nhiều vấn đề đa dạng, sinh động liên tục biến đổi, do đó, pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động chấp hành, thực hiện các hành vi công chức, thực hiện công vụ của công chức và cơ quan có thẩm quyền Quản lý công chức đó. Do đó, môi trường xã hội tác động đến ý thức pháp luật và trách nhiệm bản thân của người công chức trong việc thực thi công vụ về Quản lý công chức. Cần có một xã hội lành mạnh trên địa bàn và các cơ quan, đơn vị nhà nước để đảm bảo công chức cấp huyện vừa có tài năng, năng lực chuyên môn, lại vừa có phẩm chất đạo đức tốt; giúp nền hành chính Việt Nam hoạt động hiệu quả; củng cố bộ máy nhà nước hoạt động bền vững.
Các hành vi xã hội, ý thức xã hội và tâm lý xã hội của các cán bộ, công chức trong việc thực hiện Quản lý công chức cấp huyện là cơ sở pháp luật Quản lý công chức được hoàn thiện hơn, phù hợp với điều chỉnh của xã hội hơn. Hành vi xã hội, ý thức xã hội và tâm lý xã hội của công chức là thước đo giá trị đạo đức của công chức trong quá trình thực thi công vụ về Quản lý công chức. Xã hội là cơ sở để chứng thực quá trình Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức trong thực tiễn cuộc sống.
Nhận thức xã hội là cơ sở để công chức thể hiện năng lực pháp lý của mình trong hoạt động Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức. Bên cạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật Quản lý công chức cấp huyện thì công tác nâng cao ý thức pháp luật và trách nhiệm của các công chức cấp huyện nâng cao hiệu quả Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức. Việc nâng cao ý thức pháp luật của các công chức cấp huyện hình thành chuẩn mực đạo đức công vụ, văn hóa công sở,… giúp bồi dưỡng nhận thức, tư tưởng, trách nhiệm của công chức trong quá trình thực thi công vụ.
Tiểu kết chương 1 Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
Quản lý công chức là một trong những nội dung có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tiến hành cải cách hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay. Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức nói chung và Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện nói riêng có vai trò quan trọng nhằm xây dựng một nền hành chính trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng thời góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thực hiện pháp luật là quá trình đưa những quy định pháp luật và thực tiễn cuộc sống để nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý xã hội mà nhà nước đã đề ra. Do đó, Thực hiện pháp luật có vai trò vô cùng to lớn trong việc ngăn ngừa, khắc phục các hành vi vi phạm pháp luật cũng như không chấp hành pháp luật. Chương 1 đã tập trung phân tích làm rõ cơ sở lý luận, như: Công chức; Quản lý công chức; pháp luật Quản lý công chức cấp huyện; Thực hiện pháp luật và Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện.
Triển khai nghiên cứu về cơ sở lý luận Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức ở huyện nhằm đánh giá tổng quan về việc Thực hiện pháp luật, Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức cấp huyện một cách khái quát nhất, tổng quan nhất. Việc Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức tại huyện là quá trình có mục đích nhằm làm cho các quy định về Quản lý công chức tại huyện có thể được áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, nhằm nâng cao đội ngũ công chức của huyện, xây dựng bộ máy nhà nước phát triển và bền vững, từ đó có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội, của nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn đề lý luận chung tại chương 1, tác giả có định hướng khung lý thuyết, cơ sở lý luận đúng đắn cho việc tiếp cận, nghiên cứu thực trạng Thực hiện pháp luật về Quản lý công chức ở huyện Ea Kar. Luận văn: Thực hiện pháp luật về quản lý công chức huyện Ea Kar.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật quản lý công chức huyện Ea Kar

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật quản lý công chức ở huyện Ea Kar