Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐANG ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ Ở VIỆT NAM

Từ tình hình nghiên cứu trong nước, những mô hình, kinh nghiệm của các nước, các tổ chức quốc tế, có thể chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm xây dựng cơ sở lý luận mang tính hệ thống trên nguyên tắc phù hợp thực tiễn của cơ chế thị trường để từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới chính sách, pháp luật thật cụ thể. Các vấn đề cần tập trung nghiên cứu bao gồm:

3.1.1. Xác định phạm vi thu hồi đất và việc áp dụng cơ chế Nhà nước thu hồi đất

Quy định của Luật Đất đai và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật quy định về các trường hợp được Nhà nước thu hồi đất chia làm 4 nhóm vẫn còn khá rộng, trong đó có thu hồi đất vào mục đích phát triển kinh tế – xã hội thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bao gồm cả dự án phát triển kinh tế, đầu tư xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp (không phân biệt nguồn vốn đầu tư là của Nhà nước hay của tư nhân), các dự án 100% vốn nước ngoài. Đây là một vấn đề rất khó thuyết phục người có đất bị thu hồi nhanh chóng chấp nhận phương án bồi thường để bàn giao mặt bằng. Những người này cho rằng nếu lấy đất của họ để sử dụng vào các mục đích như xây dựng đường giao thông, công trình công cộng thì họ sẵn sàng chấp nhận hi sinh vì cộng đồng, nhưng nếu lấy đất của họ cho các dự án kinh tế thì phải thỏa thuận sòng phẳng và trong nhiều trường hợp những người dân này cho rằng họ cũng có thể tự đầu tư trên mảnh đất của họ được như các nhà đầu tư khác, việc Nhà nước thu hồi đất của họ để giao cho các nhà đầu tư khác là không công bằng, không bình đẳng. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Việc hạn chế những trường hợp được áp dụng biện pháp hành chính để có đất đã bước đầu giảm bớt chi phí, nhân lực của bộ máy hành chính, tạo sự công bằng, bình đẳng giữa nhà đầu tư với người có đất bị thu hồi, hạn chế tình trạng lạm dụng bộ máy công quyền để cưỡng bức thu hồi đất tràn lan.

Các nước áp dụng các biện pháp hành chính để có đất một cách rất hạn chế, các trường hợp được áp dụng cưỡng chế thu hồi đất, trưng mua đất bắt buộc chủ yếu là các dự án, công trình hạ tầng trọng yếu, các công trình vì lợi ích công cộng.

Cho đến nay, cơ chế Nhà nước thu hồi đất và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mới chỉ được nhìn dưới góc độ kinh tế (chuyển quyền bắt buộc) và có lưu ý tới vấn đề xã hội (hỗ trợ mất sinh kế và chuyển đổi nghề). Nếu không thực hiện thu hồi đất thì nhà đầu tư và những người đang sử dụng đất tự thỏa thuận với nhau mà Nhà nước chỉ có trách nhiệm phê duyệt quy hoạch. Làm gì để thực hiện quy hoạch khi nhà đầu tư bất lực trước một số người đang sử dụng đất không muốn hợp tác hoặc đòi giá đất quá cao. Cơ chế tự thỏa thuận không tạo được thuận lợi đã làm cho các nhà đầu tư muốn mở rộng cơ chế Nhà nước thu hồi đất. Luận văn muốn tiếp cận cơ chế Nhà nước thu hồi đất và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dưới góc nhìn đa chiều, cả kinh tế, chính trị, xã hội,văn hóa và nhân văn. Ngoài ra, có giải pháp gì để Nhà nước can thiệp mạnh hơn đối với những trường hợp phù hợp quy hoạch, có xen lẫn giữa lợi ích chung và lợi ích riêng của nhà đầu tư nhằm làm giảm đi xu hướng muốn mở rộng cơ chế Nhà nước thu hồi đất.

3.1.2. Cơ chế tạo quỹ đất sạch theo quy hoạch (thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện)

Việc tạo quỹ đất sạch cho các nhu cầu phát triển thông qua việc chủ động thu hồi đất theo quy hoạch là một hướng đi đúng đắn, qua đó khắc phục được tình trạng giá đất đang ngày một tăng cao ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của dự án, tình trạng dự án bị cản trở do việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư, khiếu kiện kéo dài. Thực hiện theo hướng này, lợi ích thu được từ đất đai được bổ sung cho ngân sách nhà nước và quay trở lại cải thiện đời sống nhân dân, hạn chế tham nhũng và đầu cơ đất đai.

Trung Quốc và Hàn Quốc có nhiều kinh nghiệm và đã thực hiện tương đối thành công cơ chế tạo quỹ đất sạch. Trung Quốc bắt đầu triển khai việc tạo quỹ đất sạch từ năm 1996 tại Thượng Hải, đến năm 2001 thì cho phép triển khai rộng khắp trên toàn quốc thông qua việc thành lập tổ chức phát triển quỹ đất để thực hiện “5 thống nhất” đó là: thống nhất thu hồi; thống nhất dự trữ; thống nhất phát triển hạ tầng; thống nhất kinh doanh; thống nhất cung ứng. Bằng cách làm này, nhiều đô thị của Trung quốc như Thẩm Quyến, Thượng Hải,… đã huy động có hiệu quả nguồn vốn từ đất đai để phát triển nhanh chóng, trở thành hình mẫu của thế giới. Hàn Quốc cũng đạt nhiều thành tựu từ việc phát triển quỹ đất. Việc thu hồi đất để tạo quỹ đất sạch phục vụ dự án khu đô thị, khu công nghiệp và các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng của quốc gia do Tổng Công ty Phát triển đất Hàn Quốc thực hiện. Tổng Công ty Phát triển đất Hàn Quốc là doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập, trực thuộc Bộ Đất đai, Giao thông và Biển. Tổng Công ty Phát triển đất Hàn Quốc có nhiệm vụ thực hiện bồi thường và giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch, tổ chức đấu giá chọn nhà đầu tư sử dụng đất thực hiện dự án. Nguồn vốn từ phát triển đất đai của Tổng Công ty năm 1975 là 28 triệu USD, năm 2009 đã đạt con số rất ấn tượng là 33,3 tỉ USD [5, tr. 12].

Cơ chế này có nhiều thuận lợi nhưng cũng mang theo nhiều rủi ro, ví dụ như quy hoạch thiếu khả thi, kinh phí bồi thường ban đầu khá lớn, người đang sử dụng đất không đồng thuận. Theo kinh nghiệm của nước ngoài, cơ chế này thường gắn mật thiết với nâng cao chất lượng quy hoạch; không sử dụng giải pháp cứng bằng cơ chế Nhà nước thu hồi đất mà sử dụng các giải pháp mềm dựa trên sự chủ động của những người đang sử dụng đất thực hiện và hưởng lợi từ quy hoạch. Giải pháp mềm này có tên gọi là “góp đất và điều chỉnh lại đất đai”, mang lại hiệu quả khá lớn trong chỉnh trang và phát triển đô thị, khu dân cư nông thôn. Việc áp dụng vào Việt Nam cũng cần được nghiên cứu cẩn thận để quản lý được các rủi ro có thể xẩy ra.

3.2 CÁC YÊU CẦU HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, trong thời gian tới pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cần được hoàn thiện theo hướng:

Thứ nhất: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải dựa trên việc hoàn thành dứt điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi đôi với hiện đại hóa hệ thống bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính.

Thứ hai: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải dựa trên quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về đất đai nói chung và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng.

Thứ ba: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải dựa trên việc giải quyết mối quan hệ hài hòa về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ đầu tư, đồng thời quan tâm giải quyết vấn đề chỗ ở, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, bảo đảm ổn định cuộc sống cho người bị thu hồi đất.

Thứ tư: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải hướng vào việc đổi mới cơ chế thực hiện bồi thường cho phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường; từng bước thực hiện việc “xã hội hóa” công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Thứ năm: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải dựa trên việc tiếp tục phát huy dân chủ, huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và quần chúng đồng thời nâng cao tính công khai, minh bạch, công bằng trong việc thu hồi đất

3.3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ

3.3.1. Bổ sung quy định không được bồi thường tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp tự nguyện trả lại đất Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Hiện nay, theo quy định tại Điều 92 Luật Đất đai năm 2013 (quy định về trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất) không quy định trường hợp tự nguyện trả lại đất được bồi thường tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, theo quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 114 Luật Đất đai lại quy định bảng giá đất được sử dụng để tính giá trị quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất, Nhà nước cho đất thuê trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê mà người sử dụng đất không có nhu cầu sử dụng đất và tự nguyện trả lại đất. Hai nội dung này hiện nay đang mâu thuẫn và thiếu quy định để điều chỉnh đối với việc xác định có hay không việc Nhà nước bồi thường tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp tự nguyện trả lại đất. Hiện nay, do thị trường bất động sản đang trong tình trạng đóng băng, các chủ đầu tư cũng không còn đủ vốn để tiếp tục đầu tư vào bất động sản dẫn đến có nhiều chủ đầu tư xin trả lại đất để được Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất, hành động này vừa để giảm bớt gánh nặng về tài chính cho các chủ đầu tư cũng như tránh tình trạng nhà đầu tư không đưa đất vào sử dụng theo quy định thì sẽ bị nhà nước thu hồi mà không được đền bù. Vì vậy, để phù hợp với thực tiễn, đề nghị bổ sung trường hợp tự nguyện trả lại đất thì không được bồi thường tài sản gắn liền với đất để tránh tình trạng trong một số trường hợp Nhà đầu tư lợi dụng cơ chế tự nguyện trả lại đất để được thanh toán giá trị tài sản đầu tư vào đất (hiệu quả hơn so với trường hợp chuyển nhượng tài sản này trên thị trường hoặc so với trường hợp không chuyển nhượng được tài sản này trên thị trường).

3.3.2. Bổ sung quy định giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất nông nghiệp bị thu hồi xác nhận hộ gia đình, cá nhân có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp

Hiện nay, theo quy định tại Khoản 30 Điều 3 của Luật Đất đai thì hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó.

Tại Khoản 2 Điều 77 Luật Đất đai quy định Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Tại Điều Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định việc hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 19 của Nghị định này (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định.

Tuy nhiên, hiện nay hệ thống pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể cơ quan, tổ chức nào có trách nhiệm xác định hộ gia đình, cá nhân có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp làm căn cứ xác định để thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 77 Luật Đất đai và Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Do đó, đề xuất bổ sung giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất nông nghiệp bị thu hồi xác nhận hộ gia đình, cá nhân có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp làm căn cứ để thực hiện chính sách bồi thường hỗ trợ, tái định cư cho phù hợp đảm bảo công bằng và có căn cứ để thực hiện.

3.3.3. Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và thành phần của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để địa phương tổ chức thực hiện hiệu quả trong thực tế

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 của Luật Đất đai quy thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng gồm tổ chức dịch vụ công về đất đai, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Tuy nhiên, hiên nay pháp luật chỉ có quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm phát triển quỹ đất (theo Thông tư liên tịch số 16/2015/TTLT- BTNMT-BNV-BTC ngày 04 tháng 4 năm 2015 của liên bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính) mà chưa có quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức và thành phần của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thống nhất thực hiện tại các địa phương trong cả nước.Sự thiếu hụt này hiện nay đang gây khó khăn cho công tác tổ chức thực hiện việc thành lập cũng như cơ chế hoạt động của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dẫn đến việc các địa phương khác nhau có cách thức thành lập và hoạt động của Hội đồng khác nhau dẫn đến sự tùy tiện, không đảm bảo sự thống nhất về cơ cấu tổ chức, số lượng biên chế, đơn vị quản lý trực tiếp… Do đó, đề xuất sớm ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng bồi thường, giải phóng mặt bằng trong đó thành phần Hội đồng gồm:

  • Chủ tịch hoặc phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền làm Chủ tịch Hội đồng;
  • Đại diện cơ quan Tài nguyên và Môi trường; Tài chính – Kế hoạch; Xây dựng; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi và một số thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng quyết định cho phù hợp.
  • Nội dung hoạt động, chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và quyền hạn cụ thể của Hội đồng giải phóng mặt bằng.

3.3.4. Bổ sung quy định phê duyệt bổ sung dự toán kinh phí đối với số tiền phạt chậm trả cho người có đất thu hồi vào phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 93 Luật Đất đai thì trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.

Theo quy định nêu trên thì số tiền chậm trả do lỗi của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường thì người có đất bị thu hồi được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả. Tuy nhiên, số tiền này do cơ quan nào chịu trách nhiệm bỏ ra và có được phê duyệt bổ sung vào phương án bồi thường hay không lại chưa được quy định cụ thể.Dẫn đến trường hợp khi phát sinh tình huống cụ thể trên thực tế chúng ta chưa có quy định cụ thể để áp dụng tổ chức thực hiện. Do đó,để giải quyết vấn đề này đề xuất bổ sung quy định phê duyệt bố sung dự toán kinh phí đối với số tiền phạt chậm trả cho người có đất thu hồi vào phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

3.3.5. Bổ sung quy định trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi (không phải di chuyển chỗ ở) vẫn được bố trí tái định cư (đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở) để đảm bảo công bằng cho đối tượng bị thu hồi đất ở

Hiện nay, tại Điểm b Khoản 1 Điều 79 Luật đất đai năm 2013 quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở đối với trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở. Tuy nhiên, tại phần hướng dẫn tái định cư quy định tại Khoản 1 Điều 86 Luật Đất đai chỉ quy định “Bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở” [23].

Như vậy, hai quy định trên đã có sự không thống nhất và bỏ sót đối tượng được bố trí tái định cư đối khi thu hồi đất ở tại những địa phương vẫn còn quỹ đất ở để bố trí tái định cư dẫn tới sự không công bằng trong thực hiện chính sách tái định cư cho người có đất ở bị thu hồi. Do đó, đề xuất bổ sung trường hợp hộ gia đình cá nhân bị thu hồi đất ở mà vẫn còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (không phải di chuyển chỗ ở) vẫn được bố trí tái định cư đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở để đảm bảo công bằng cho đối tượng bị thu hồi đất ở.

3.3.6. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai

  • Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đai và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai, cụ thể:

Một là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đai: Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014, do đó, cần hướng dẫn thực hiện một cách cụ thể, tránh áp dụng tùy tiện vấn đề thu hồi đất theo hướng khẳng định rõ và rất hạn chế các trường hợp được coi là “thật sự cần thiết” mới được thu hồi, theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Đồng thời, cần làm rõ hơn vai trò của Hội đồng nhân dân như là tiếng nói của cử tri trong việc kiểm soát những quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Về xác định giá đất, cần quy định thành phần bắt buộc trong hội đồng thẩm định giá đất, không chỉ có Ủy ban nhân dân, đại diện ban, ngành liên quan, tổ chức cung cấp dịch vụ định giá đất độc lập, mà còn cần tới nhiều thành viên là các chuyên gia cao cấp về định giá đất như các chuyên gia định giá từ các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, khu vực doanh nghiệp định giá, hiệp hội định giá. Với thành phần như vậy mới đảm bảo việc định giá đất có cơ sở khách quan. Về lâu dài, cũng cần tính đến việc sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai để luật hóa nội dung nói trên cho thực sự phù hợp với những yêu cầu chung và với tình hình thực tế. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Hai là, ban hành Luật Ban hành quyết định hành chính và hướng dẫn xác định rõ các hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai: Để có cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc cho việc ban hành các quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai và cũng để kiểm soát chặt chẽ việc ban hành quyết định hành chính, cần phải có Luật Ban hành quyết định hành chính. Hiện nay, Dự án Luật này đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ XIII (năm 2011- 2016) của Quốc hội. Luật Ban hành quyết định hành chính được ban hành không chỉ thuận lợi cho phía chủ thể quản lý, mà còn tạo thuận lợi cho người dân, vừa bảo đảm tính dân chủ, minh bạch, vừa bảo đảm tính quyền uy, quyền lực phục tùng, được xem là bản chất của các quan hệ hành chính. Theo đó, Luật phải làm rõ những gì được coi là quyết định hành chính cũng như thẩm quyền, căn cứ ban hành, các nguyên tắc về tính hợp pháp của nội dung và hình thức của quyết định hành chính. Đồng thời, với việc ban hành Luật Ban hành quyết định hành chính, Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao cần phải hướng dẫn xác định rõ các hành vi hành chính là đối tượng của tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai theo những yêu cầu và tính chất đặc thù của hoạt động quản lý này, làm cơ sở cho người dân đưa ra các yêu cầu và chính quyền giải quyết các tranh chấp với người dân.

  • Đổi mới cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai

Một là, đổi mới về mô hình tổ chức bộ máy giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai: Cần tăng cường trách nhiệm giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước bằng các biện pháp: Xác định rõ chế độ trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; chấn chỉnh những tồn tại, yếu kém, xử lý nghiêm những người vi phạm, thiếu trách nhiệm trong công tác giải quyết khiếu nại. Đồng thời, bảo đảm, tăng cường tính độc lập, khách quan của Tòa án trong việc xét xử các vụ án hành chính, các cấp Tòa án cần được bố trí theo khu vực, vùng, không theo cấp hành chính lãnh thổ nhằm bảo đảm tính độc lập khi xét xử các vụ án hành chính của Tòa án.

Hai là, hoàn thiện về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai: Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về tổ chức đối thoại; luật sư tham gia quá trình giải quyết khiếu nại; công khai, minh bạch các tài liệu, chứng cứ của các bên; tăng cường việc “tranh tụng” để phá vỡ tính “khép kín” trong quá trình giải quyết khiếu nại. Đồng thời, quy định thẩm quyền, căn cứ, thủ tục xem xét lại khiếu nại trong một số trường hợp cụ thể khi phát hiện việc giải quyết khiếu nại có vi phạm pháp luật; các vụ việc khiếu nại phức tạp, kéo dài… Song song với giải pháp đối với trình tự, thủ tục bằng con đường hành chính, cũng cần phải đơn giản, rút gọn một số thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính trong trường hợp vụ việc đơn giản, rõ ràng, có căn cứ để phán quyết và bảo đảm, tăng cường hiệu lực xử vụ án hành chính của Tòa án, thông qua việc nghiên cứu có cơ chế hữu hiệu thi hành bản án hành chính.

Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân sự giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai: Đối với các cơ quan hành chính nhà nước, cần xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tham mưu giải quyết khiếu nại theo hướng chuyên nghiệp, am hiểu lý luận và thực tiễn, giỏi về áp dụng pháp luật đất đai và các pháp luật có liên quan, có kỹ năng thành thạo khi giải quyết khiếu nại, phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước và thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết khiếu nại của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước ở các cấp trong quản lý về đất đai. Đối với Ngành Tòa án, phải từng bước đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán tại cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong nước hoặc nước ngoài, nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn và bổ túc kinh nghiệm xét xử. Đồng thời, cần thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo tổng kết, rút kinh nghiệm, đặc biệt là những khóa bồi dưỡng riêng về công tác xét xử án hành chính, nhất là trong lĩnh vực đất đai.

Có thể nói, giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai trong giai đoạn vừa qua đã có những kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật và đổi mới cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai, đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ, kịp thời và đặt trong mối quan hệ phụ thuộc, tác động lẫn nhau như: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy nhận thức, tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, bảo đảm cơ sở vật chất cho công tác giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai và các giải pháp hỗ trợ khác. Tuy nhiên, bài viết này chỉ đưa ra một vài giải pháp trao đổi cùng bạn đọc với hy vọng nâng cao hiệu quả cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính về đất đai trong giai đoạn hiện nay, hướng tới mục tiêu đảm bảo công lý hành chính, quyền bình đẳng của người dân với cơ quan công quyền, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3.4 GIẢI PHÁP HỖ TRỢ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Để pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, thuận lợi cần phải tiến hành một số giải pháp hỗ trợ như sau:

3.4.1. Thiết kế chính sách pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải trên cơ sở nhận thức đầy đủ, toàn diện vai trò của đất đai

  • Cụ thể:

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn: việc thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp cần phải tính toán rất chặt chẽ, hết sức tiết kiệm, phải có yêu cầu bù đắp lại nguồn tài nguyên có hạn, không tái tạo này thông qua các quy định cụ thể hoặc công cụ tài chính.

Đất đai là tài sản của người sử dụng đất: khi tính giá bồi thường về đất cho người dân phải căn cứ vào thời giá thị trường và không chỉ căn cứ vào các mục đích sử dụng của thửa đất hiện tại mà cần phải xem xét đến cả công năng của thửa đất đó trong tương lai. Tôn trọng và bảo đảm bình đẳng cho người có đất bị thu hồi được tham gia vào quá trình ra quyết định trong việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng: cần khuyến khích hình thức chuyển nhượng, cho thuê và góp vốn bằng quyền sử dụng đất để giải quyết bài toán mặt bằng đất đai cho sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Các hình thức này giải quyết tốt hơn yêu cầu chia sẻ lợi ích, đảm bảo sinh kế lâu dài cho người dân trước tác động của việc chuyển đổi đất đai.

Làm rõ mục đích thu hồi đất: quy định của Luật Đất đai năm 2013 về thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích: “mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”, “mục đích phát triển kinh tế” và có sự chưa rõ ràng trong các trường hợp vì mục đích phát triển kinh tế dẫn tới sự không đồng thuận của người dân vì cho rằng họ đã không được quan tâm đến quyền lợi chính đáng, Nhà nước đang đứng về phía các doanh nghiệp. Do đó cần làm rõ các mục đích thu hồi đất; đồng thời, xét về khía cạnh người có đất bị thu hồi thì dù có sử dụng đất thu hồi vào mục đích nào đi chăng nữa thì mức thiệt hại của họ là như nhau, vì vậy, dù thu hồi đất cho mục đích nào cũng cần có quy định thống nhất về mức bồi thường, hỗ trợ.

Làm rõ quan hệ lợi ích giữa người bị thu hồi đất – Nhà nước – nhà đầu tư: Thực trạng khó khăn trong bồi thường khi thu hồi đất chính là vấn đề có sự so sánh về lợi ích giữa ba chủ thể ở trên. Do đó cần xác định, phân định rõ về địa vị pháp lý giữa chủ sử dụng đất là người được nhà nước giao đất và nhà đầu tư là người được nhận quyền sử dụng đất (họ có quyền và nghĩa vụ khác nhau), còn Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu đóng vai trò quyết định trong sự phân chia lợi ích này.

Quy định về hỗ trợ, tái định cư phải hỗ trợ đầy đủ cho người bị thu hồi đất để ổn định đời sống, chuyển đổi việc làm, bù đắp thiệt hại về thu nhập; Khu tái định cư phải được quy hoạch gắn với điều kiện thuận lợi về hạ tầng phục vụ đời sống; thực hiện tái định cư tại chỗ là chủ yếu. Giải quyết linh hoạt nhu cầu tái định cư của người có đất ở bị thu hồi.

3.4.2. Nâng cao nhận thức của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, đội ngũ cán bộ, công chứ, viên chức làm nhiệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng như đối với tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ tái định cư phải thực hiện các thực hiện các nhiệm vụ sau:

Xây dựng và đổi mới chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất cần phải xem xét một cách toàn diện theo cách tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm an ninh chính trị, bình đẳng xã hội, công bằng chia sẻ lợi ích kinh tế, văn hoá về đồng thuận và nhân văn về bảo vệ quyền con người đối với đất đai, tiếp cận đất đai như là một tài nguyên hữu hạn, là tài sản, là tư liệu sản xuất của người dân và phải tính đến các ảnh hưởng khi thu hồi đất đối với môi trường.

Chính sách về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là những chính sách mang tính cộng đồng cao, phạm vi ảnh hưởng rộng và liên đới tới nhiều đối tượng, vì vậy, khi ban hành chính sách cần có các nghiên cứu, đánh giá tác động trước để đảm bảo sự công bằng và tính ổn định xã hội; khi thực hiện chính sách phải dựa trên nguyên tắc bảo đảm công khai – minh bạch, tạo sự đồng thuận của người bị thu hồi đất và nâng cao trách nhiệm của các cán bộ quản lý.

Nhà nước thu hồi đất cần bảo đảm mục tiêu hiệu quả và hiệu suất quản lý, sử dụng đất cao; giảm tham nhũng trong bộ máy quản lý đất đai; giảm khiếu nại, khiếu kiện của người dân về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm nhiệm vụ thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được đào tạo bài bản, chuyên sâu, nắm vững các quy định của pháp luật có liên quan, nhận thức được đầy đủ vài trò, tầm quan trọng của công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, quá trình tổ chức thực hiện phải được thực hiện công khai, dân chủ, minh bạch. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

  • Đối với tổ chức, hộ gia đình cá nhân có đất bị thu hồi

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi cần được tuyên truyền, phổ biến, giáo dục những nội dung cơ bản của pháp luật về đất đai, nắm được quyền lợi và trách nhiệm của người có đất bị thu hồi.

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi trước hết phải tuân thủ toàn diện và triệt để quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, phối hợp chặt chẽ với đơn vị làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong các khâu như kiểm đếm, đo vẽ hiện trạng để phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi cần được tuyên truyền về tầm quan trọng của việc thu hồi đất để tạo sự đồng thuận khi bị thu hồi đất của mình để sử dụng vào các mục đích khác nhau.

3.4.3. Nâng cao số lượng và năng lực trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các cán bộ, ban, ngành ở địa phương và các đơn vị tư vấn thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Hiện nay đội ngũ cán bộ, viên chức làm công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại nhiều địa phương còn thiếu và yếu về chuyên môn nghiệp. Do đó, cần đẩy mạnh đào tạo và tuyển dụng một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như tinh thần trách nhiệm, sự tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật khi thực thi nhiệm vụ lập phương án bồi thường,kiểm kê, kiểm đếm, bố trí tái định cư…. Từ đó xây dựng được một đội ngũ cán bộ đầy kinh nghiệm trong hoạt động giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất.

Đối với các đơn vị làm công tác tư vấn xác định giá đất để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cần tuân thủ nghiêm chỉnh các trình tự thủ tục quy trình theo quy định của pháp luật trong việc xác định giá đất, bảo đảm khách quan, trung thực đưa ra kết quả tốt nhất làm cơ sở để hội đồng thẩm định giá xem xét, quyết định phê duyệt gái đất và giá tài sản gắn liền với đất để thực hiện công tác đền bù khi Nhà nước thu hồi đất.

Để nâng cao năng lực trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng như những đơn vị làm dịch vụ tư vấn xác định giá đất ngoài việc tuyển dụng được một đội ngũ cán bộ có năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì việc thường xuyên mở các lớp tập huấn, đào tạo cho đội ngũ này nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

3.4.4. Cần đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra trong thực tiễn thi hành pháp luật bồi thường, giải phóng mặt bằng

Công tác thanh tra, kiểm tra về đất đai nói chung và thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chính sách pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Công tác thanh tra, kiểm tra trong thi hành chính sách thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần được tiến hành thường xuyên, liên tục đặc biệt là ở các địa phương có những điểm nóng về khiếu nại đất đai liên quan đến thu hồi đất. Qua công tác thanh, kiểm tra cơ quan quản lý nhà nước kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật và qua đó sẽ có những biện pháp xử lí nghiêm khắc những hành vi vi phạm pháp luật, từ đó đảm bảo việc chấp hành chính sách pháp luật về đất đai được tuân thủ nghiêm chỉnh và đồng bộ. Mặt khác, qua công tác thanh tra, kiểm tra, các cơ quan quản lý Nhà nước kịp thời phát hiện được những thiếu sót, khuyết điểm của hệ thống pháp luật từ đó sẽ có những đề xuất, kiến nghị đối với Nhà nước, Chính phủ để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về đất đai nói chung và pháp luật về thu hồi đất nói riêng được hoàn thiện và đáp ứng yêu cầu thực tế. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Hiện nay, thực trạng thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là công việc phức tạp, rất rễ phát sinh tiêu cực trong quá trình tổ chức thực hiện từ khâu lập kế hoạch, phương án thu hồi đất, khâu kiểm đếm tài sản, đo vẽ hiện trạng, định giá tài sản để đền bù cũng như xây dựng phương án tái định cư, tổ chức tái định cư… Những công việc trên nếu không được tiến hành theo trình tự, thủ tục theo quy định cũng như có sự giám sát chặt chẽ của các cấp, các ngành có thẩm quyền sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư và đặc biệt là quyền lợi của người bị thu hồi đất, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc khiếu nại, khiếu kiện, tố cáo đông người, kéo dài ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội cũng như làm kéo dài thời gian thu hồi đất ảnh hưởng đến môi trường đầu tư. Do đó, việc thanh tra, kiểm tra công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng như việc áp dụng những chế tài đủ mạnh để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư sẽ góp phần răn đe, đẩy lùi những hành vi phi phạm pháp luật nêu trên, đảm bảo công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được tiến hành công khai, minh bạch, dân chủ.

3.4.5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai

Hiện nay, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai đã được quan tâm, trú trọng hơn trước, các chương trình tập huấn, các lớp phổ biến pháp luật đã được tổ chức rông rãi tại các địa phương cho những đối tượng được tiếp cận các quy định của pháp luật đất đai qua đó nâng cao nhận thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ địa chính cấp xã, cán bộ quản lý đất đai tại phòng tài nguyên và sở tài nguyên và Môi trường. Tuy nhiên, đối với người dân, đặc biệt là người dân tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa việc tiếp cận các thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng gặp nhiều khó khăn thì công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Do đó, để nâng cao nhận thức của người dân tại những vùng này Nhà nước cần có sự quan tâm, đầu tư hơn nữa để chính sách pháp luật về đất đai thực sự đi vào cuộc sống. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Các cơ quan Trung ương phải phối hợp, hướng dẫn và đôn đốc các cơ quan quản lý đất đai tại địa phương tổ chức các buổi tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đất đai cũng ở phường,xã, thị trấn để nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân, để người dân biết và tuân thủ các quy định của pháp luật. Công tác tuyên truyền pháp luật phải được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất.

3.4.6. Phối hợp xử lý kịp thời, hiệu quả các vụ việc khiếu nại đông người, vượt cấp

Hiện nay, theo thống kê có đến hơn 70% vụ việc khiếu kiện đông người, dài ngày liên quan đến lĩnh vực đất đai thuộc về các khiếu kiện liên quan đến chính sách thu hồi đất, đền bù, hỗ trợ, tái định cư. Trong đó, nhiều đoàn khiếu kiện đông người, vượt cấp từ các tỉnh thành trong cả nước kéo về các cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước ở Hà Nội anh hưởng đến an ninh trật tự tại Thủ đô. Để hạn chế các vụ việc khiếu nại đông người, vượt cấp, dài ngày này chúng ta cần một giải pháp đồng bộ, hoàn chỉnh từ ban hành chính sách pháp luật phù hợp với thực tiễn, đến công tác chỉ đạo, điều hành việc áp dụng pháp luật, chủ động xử lý kịp thời các khiếu kiện liên quan đến chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngay khi còn ở dưới cơ sở. Do đó,Ủy ban nhân dân thành phố, trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo các cơ quan chức năng chủ động rà soát, nắm tình hình, kịp thời phát hiện và có giải pháp ngăn chặn các trường hợp khiếu nại đông người, vượt cấp ngay tại cơ sở, tại mỗi địa phương, đơn vị, hạn chế tối đa việc công dân tập hợp đông người kéo lên trung ương khiếu kiện. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan Trung ương và các địa phương trong việc tiếp nhận và xử lý những vụ việc khiếu nại đông người, vượt cấp để hạn chế tối đa tình trạng tụ tập khiếu kiện đông người, vượt cấp như hiện nay.

3.4.7. Giải pháp hỗ trợ, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho các định viên làm công tác dịch vụ tư vấn, xác định giá đất

Theo quy định tại Điểm đ Khoản 4 Điều 114 của Luật Đất đai thì giá đất cụ thể được sử dụng để làm căn cứ tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Đây là một bước tiến quan trọng trong công tác bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, đảm bảo việc xác định giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là giá đất thị trường. Quy định này cơ bản sẽ đảm bảo được quyền lợi của người có đất bị thu hồi từ đó sẽ hạn chế được khiếu kiện kéo dài, đông người của những người có đất bị thu hồi do quyền lợi của họ không được đảm bảo. Tuy nhiên, hiện này trong quá trình tổ chức thực hiện việc xác định giá đất cụ thể để làm căn cứ tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các đơn vị làm dịch vụ tư vấn xác định giá đất đang có một số vấn đề cần phải giải quyết, cụ thể: Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

  • Tại nhiều địa phương thuộc vùng núi, vùng xa, biên giới vẫn chưa có các đơn vị làm dịch vụ định giá đất hoạt động, do đó khi cần thuê tư vấn xác định giá đất các địa phương này đều phải về các trung tâm, các thành phố lớn để thuê, rất mất thời gian và tốn kém thêm chi phí.
  • Đội ngũ định giá viên hiện nay còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc.
  • Việc điều tra, khảo sát thông tin về giá đất đặc biệt là giá đất nông nghiệp chuyển nhương trên thị trường đang gặp rất nhiều khó khăn, từ đó dẫn đến thiếu thông tin, cơ sở để định giá đất nông nghiệp để tính tiền bồi thường.
  • Giải pháp đưa ra là phải thường xuyên mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ định giá viên nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ này.
  • Việc cấp và quản lý thẻ định giá viên phải được tiến hành bài bản, đúng quy định thống nhất trên cả nước.
  • Đối với những địa phương chưa thành lập các tổ chức làm dịch vụ định giá đất cần có chính sách tạo điều kiện để thành lập những đơn vị này.

Kết luận Chương 3

Trên cơ sở những tồn tại, hạn chế của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của nước ta hiện nay đã và đang đặt ra các yêu cầu để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Những yêu cầu đang đặt ra đó có tính chất định hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Để cụ thể hóa các yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư luận văn đã xây dựng lên các giải pháp cụ thể cũng như những giải pháp hỗ trợ khác góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật để việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ, công khai, minh bạch và dân chủ trong tất cả các khâu của quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bảo đảm tốt nhất lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp, quyền và lợi ích chính đáng của người dân có đất bị thu hồi, góp phần bảo đảm trật tự, an ninh xã hội, ổn định cuộc sống của người bị thu hồi đất, đồng thời tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội quốc gia.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Hiến pháp quy định, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, quyền sử dụng đất được trao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế theo mô hình KTTT định hướng XHCN, đã xuất hiện quá trình phân ly tách quyền sử dụng khỏi quyền sở hữu và nhờ đó quyền sử dụng đất có được một hình thức kinh tế cần thiết để chuyển hóa, sẵn sàng trở thành các nguồn lực và được thu hút vào guồng máy kinh tế, để tăng nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế.

Hệ thống pháp luật đất đai của nước ta, bao gồm cả những quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được hình thành dựa trên cơ sở lý luận của học thuyết Mác – Lênin, phải được thiết kế, hoàn thiện dựa trên các quan hệ thị trường, đồng thuận và phải hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư, người có đất bị thu hồi. Như vậy, địa tô chênh lệch 1 (được hình thành bởi các nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên như độ phì tự nhiên, vị trí đất …) và địa tô tuyệt đối (tạo thành do sự phân phối lại địa tô chênh lệch giữa người sở hữu và người sử dụng đất) phải thuộc về Nhà nước – đại diện chủ sở hữu, địa tô chênh lệch 2 (được tạo thành do sự chênh lệch về mức độ đầu tư của con người giữa hai mảnh đất cùng diện tích) được phân phối cho người sử dụng đất (nhà đầu tư, hộ gia đình, cá nhân).

Trong quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay chính sách pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được quy định rõ ràng, từng bước hoàn thiện. Tuy nhiên, một số quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vẫn còn chưa thực sự được đặt trên quan điểm phát triển, chưa quan tâm đầy đủ lợi ích của người dân có đất bị thu hồi. Việc tổ chức thực hiện các quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong nhiều trường hợp làm chưa tốt, thiếu công bằng, không minh bạch đã làm gia tăng sự không đồng tình của người dân.

Thu hồi đất đang gặp các thách thức về: quyền tài sản của công dân, năng lực của Nhà nước trong quản lý đất đai, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong thực thi công vụ, quản lý thị trường bất động sản, về vấn đề bồi thường thỏa đáng về đất, về tài sản của người có đất bị thu hồi, vấn đề ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở và việc làm cho cộng đồng dân cư, vấn đề an ninh lương thực và bảo vệ môi trường. Từ những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra trong quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và áp dụng chính sách thù hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng nói riêng đã và đang đặt ra cho cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hơn nữa pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nói riêng.

Đi đối với việc tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai thì các giải pháp đồng bộ khác như tuyên truyền phổ biến pháp luật đất đai, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, đổi mới thủ tục hành chính; thiết kế chính sách pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải trên cơ sở nhận thức đầy đủ, toàn diện vai trò của đất đai; nâng cao nhận thức của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, đội ngũ cán bộ, công chứ, viên chức làm nhiệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng như đối với tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất; nâng cao số lượng và năng lực trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các cán bộ,ban, ngành ở địa phương và các đơn vị tư vấn thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;phối hợp xử lý kịp thời, hiệu quả các vụ việc khiếu nại đông người, vượt cấp… phải được tiến hành thường xuyên, liên tục để quy định của pháp luật đi vào thực tiền cuộc sống một cách nhanh chóng và hiệu quả, tạo ra chuyển biến căn bản trong quản lý và sử dụng đất đai.

Đất đai là tài nguyên hữu hạn đặc biệt đối với nước ta với một diện tích nhỏ và dân số đông thì vấn đề sử dụng đất khoa học, tiết kiệm và hiệu quả có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc ổn định đời sống, bảo đảm an ninh lương thực và bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh quốc gia đồng thời phải khai thác các nguồn lực từ đất để phát triển kinh tế – xã hội đất nước, đưa nước ta sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại trong tương lai không xa./. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464