Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT – từ thực tiễn VKSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức

2.1.1. Đặc điểm kinh tế – xã hội, tình hình vi phạm, tội phạm trên địa bàn huyện Tuy Đức

Huyện Tuy Đức được thành lập theo Nghị định 142/2006/NĐ-CP, ngày 22/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ, là một huyện biên giới có vị trí địa lý giáp ranh với nước bạn Cam Pu Chia, dân số 70.675 người với 24 dân tộc sinh sống, trong đó tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 44,21%. Đời sống kinh tế, cơ sở hạ tầng còn gặp nhiều khó khăn. Do đó, nhận thức về pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng phát sinh tội phạm nói chung và nhóm tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện diễn biến ngày càng phức tạp, quy mô, tính chất, thủ đoạn ngày càng tinh vi, đặc biệt tại các xã có số lượng lớn người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như xã Quảng Trực, xã Đắk Ngo. Trong đó, xã Đắk Ngo là địa phương có tỉ lệ lớn người dân tộc Mông và một số người dân tộc vùng núi phía Bắc sinh sống, một số người dân lấy việc mua bán ma túy là nguồn sống chính. Vì vậy, việc xử lý dứt điểm nhóm tội phạm này là vấn đề hết sức khó khăn.

Về vị trí địa lý, Huyện Tuy Đức với tổng diện tích là 111.924 ha, chiếm 17,2% diện tích toàn tỉnh, nằm ở phía Tây của tỉnh Đăk Nông; địa bàn huyện được chia thành 06 xã với dân số trên 52 nghìn người. Trong đó, đồng bào các DTTS chiếm 43,66% với 6.676 hộ/28.793 khẩu. Đồng bào DTTS tại chỗ là 3.311 hộ/13.405 khẩu, chiếm 19,36% (M’nông, Mông, Mạ và Ê đê), DTTS khác là 3.365 hộ/15.388 khẩu, chiếm 19,68%. Tuy đức là một huyện biên giới, mới được thành lập, cách trung tâm thành phố Gia Nghĩa 50 km, có cửa khẩu Bu Prăng tiếp giáp với nước bạn Campuchia. Vì vậy, cơ sở hạ tầng còn nhiều thiếu thốn, dân cư một số xã còn thưa thớt, đời sống dân trí còn thấp vì vậy tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật diễn biến phức tạp.

Năm 2022, GRDP bình quân đầu người đạt 59,61 triệu đồng (tương ứng với 2.600 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,63%. Nền kinh tế nông nghiệp chiếm chủ yếu, trong đó các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, tiêu, mắc ma… Bên cạnh đó, Tuy Đức là huyện mới thành lập nên đã thu hút nhiều lao động trong và ngoài tỉnh. Dân di cư tự do từ nhiều địa phương khác nhau, một số trường hợp, người dân từ địa phương khác đến làm thuê sau đó thực hiện hành vi phạm tội rồi bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra, xác minh. Bên cạnh đó, tình hình tội phạm diễn ra ngày càng phức tạp với phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày một tinh vi, xảo quyệt. Người phạm tội có xu hướng trẻ hóa, đồng phạm.

Huyện Tuy Đức là một huyện thuần nông, tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm phần đông, do đó trình độ dân trí còn thấp, phong tục tập quán một số bon, bản còn lạc hậu, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa biên giới; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường nghỉ học nhiều. Do đó, nhận thức về pháp luật còn rất hạn chế. Đó là một trong những nguyên nhân phát sinh vi phạm và tội phạm. Trước tình hình trên, VKSND huyện Tuy Đức đã phối hợp với Phòng Tư pháp huyện và các cơ quan Ban, ngành tổ chức các buổi tuyên truyền, giáo dục pháp luật đến người dân đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, Cơ quan tư pháp huyện đã phối hợp tổ chức các phiên tòa lưu động tại Ủy ban nhân dân các xã nhằm tuyên truyền pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống của người dân. Ngoài ra, các Đoàn viên thanh niên khối Nội chính còn tổ chức các phiên Tòa giả định, dựa vào những vụ án có thật, xây dựng nên một phiên tòa có đầy đủ thành phần, tư cách tham gia tố tụng theo quy định để xét xử tại Trường THPT huyện, lựa chọn các nhóm tội phạm như Cố ý gây thương tích, Ma túy, Trộm cắp tài sản… để tuyên truyền pháp luật cho các em tuổi vị thành niên. Thông qua đó, tuyên tuyền pháp luật đến các em, góp phần nâng cao nhận thức và hiểu biết pháp luật cho các em học sinh, là lứa tuổi chưa trưởng thành dễ có những suy nghĩ lệch lạc, dễ bị các đối tượng xấu lôi kéo, rủ rê. Nhằm hạn chế phát sinh các tội phạm mà người phạm tội là người chưa thành niên. Đây không chỉ là hoạt động phòng, chống tội phạm mà còn là hoạt động có ý nghĩa và thiết thực trong việc nuôi dưỡng thế hệ trẻ cho đất nước.

2.1.2. Khái quát về tổ chức, bộ máy hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Ngành KSND được thành lập vào năm 1960, trải qua các thời kỳ, ngành Kiểm sát đã từng bước được kiện toàn và không ngừng nâng cao vị thế của mình.

VKSND huyện Tuy Đức được thành lập vào năm 2007, đến nay VKSND huyện Tuy Đức đã và đang thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành và địa phương phân công. Công tác phối hợp với các cơ quan tư pháp cũng như các cơ quan hữu quan trong thực thi và bảo về pháp luật luôn được đơn vị coi trọng. Bên cạnh đó, VKSND huyện Tuy Đức là một trong những cơ quan chủ chốt, cùng với Cơ quan CSĐT Công an huyện tham mưu với cấp ủy địa phương nhiều hoạt động tuyên truyền pháp luật, phương hướng giải quyết các vấn đề dư luận xã hội quan tâm…luôn tích cực trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm, ổn định tình hình chính trị, phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.

Về biên chế, đơn vị gồm: 14 người, Viện trưởng, 02 Phó Viện trưởng, 05 Kiểm sát viên, 01 Kiểm tra viên, 01 kế toán kiêm văn thư, 01 bảo vệ, 01 lái xe và 01 tạp vụ.

VKSND huyện Tuy Đức tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc chung của Ngành. Lãnh đạo đơn vị sắp xếp vị trí công tác dựa vào tình hình thực tiễn của địa phương và năng lực, sở trường công tác của từng công chức. Việc luân chuyển vị trí công tác được thay đổi theo từng năm công tác và được ban hành bằng Quyết định của Viện trưởng VKSND huyện. VKSND huyện Tuy Đức được phân công gồm ba bộ phận: (1) Bộ phận THQCT và kiểm sát tin báo, điều tra, truy tố, xét xử; thống kê liên ngành. (2) Bộ phận kiểm sát án dân sự dân sự và thi hành án dân sự, hành chính; (3) Bộ phận văn phòng tổng hợp.

Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của VKSND huyện gồm có 01 Thạc sĩ; 08 Cử nhân; 01 Cao đẳng kiểm sát; 03 đại học, trung cấp khác. Ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông nói chung và Viện KSND huyện Tuy Đức luôn xác định công tác tổ chức cán bộ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của Ngành. Lãnh đạo đơn vị chủ động sắp xếp, kiện toàn bộ máy làm việc và sắp xếp Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phù hợp với năng lực, sở trường theo hướng chuyên khâu, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu từng bộ phận công tác. Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Lãnh đạo Viện tăng cường chỉ đạo thực hiện kỷ cương, kỷ luật công vụ và trật tự nội vụ trong ngành Kiểm sát. Bên cạnh đó, Lãnh đạo đơn vị đặc biệt chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cũng như trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, KSV. Vì vậy, công tác cán bộ luôn được ưu tiên và đặt lên hàng đầu. Ngay đầu năm công tác, tổ chức đăng ký các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ do Ngành thực hiện. Việc cử cán bộ, KSV tham gia tập huấn luôn được đơn vị chú trọng và tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất. Tuy nhiên, công tác cán bộ của Ngành kiểm sát nói chung và Viện KSND huyện Tuy Đức nói riêng vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc, trong đó, đạo đức của người cán bộ kiểm sát là một trong những vẫn đề nhức nhối mà toàn ngành Kiểm sát cần phải quan tâm nhiều hơn trong thời gian tới. Thực tiễn nhận thấy, trong số các KSV tâm huyết với Ngành, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện bản thân thì vẫn còn tồn tại một số ít cán bộ, KSN về đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cấp bách khi tình hình tội phạm ngày một gia tang, phát sinh các nhóm tội phạm mới về tín dụng đen, tội phạm công nghệ cao. Thiếu ý thức, trách nhiệm và dễ dàng bị cám dỗ bởi những lợi ích nhất thời phần nào ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng của Ngành. Trước tình hình đó, đơn vị đã tăng cường tổ chức triển khai, quán triệt đến đội ngũ Kiểm sát viên, Kiểm tra viên tích cực nghiên cứu, nắm vững quy định trong các đạo luật mới, đảm bảo việc áp dụng trong thực tiễn; tăng cường trách nhiệm công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân trong sạch, vững mạnh. Đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên tích cực tham gia các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên sâu nội dung các đạo luật mới và các Hội nghị trực tuyến tập huấn các kỹ năng nghiệp vụ kiểm sát do VKSND tối cao tổ chức.

2.2. Kết quả hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Thực hiện đúng nhiệm vụ được giao, từ khi thành lập đến nay, Viện KSND huyện Tuy Đức đã đạt được những kết quả khả quan, hoàn thành chỉ tiêu công tác theo Nghị Quyết 96/2014/QH ngày 27/11/2019 về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, các Chỉ thị và Kế hoạch công tác hằng năm, cụ thể về các mặt sau đây:

2.2.1. Thực tiễn thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố

Công tác THQCT, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là khâu công tác quan trọng, chứa đựng các dấu vết, thông tin ban đầu quyết định cho cả quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, đây là giai đoạn để Cơ quan điều tra thu thập các chứng cứ quan trọng chứng minh hành vi phạm tội được thể hiện đầy đủ và rõ ràng nhất. Từ đó, việc nâng cao chất lượng trong khâu công tác này sẽ tạo nền tảng vững chắc cho cả quá trình giải quyết vụ án hình sự, giảm thiểu oan, sai và bỏ lọt tội phạm. Vì vậy, cần phối hợp chặt chẽ với Cơ quan CSĐT Công an huyện để nắm bắt kịp thời, đảm bảo mọi nguồn tin về tội phạm đều được phát hiện, tiếp nhận và xử lý kịp thời, đúng quy định của pháp luật. Ngoài kiểm sát các nguồn tin về tội phạm do Cơ quan CSĐT tiếp nhận, VKS kiểm sát chặt chẽ đối với các đơn, thư công dân gửi đến, thông qua đó đơn vị phân công KSV tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn theo quy định và lập sổ theo dõi riêng đối với những trường hợp công dân có đơn tố giác tội phạm gửi đến. Sau khi phân loại và chuyển đơn sẽ đôn đốc theo dõi việc xác minh và phân công tin báo của Cơ quan điều tra. Đây là một hoạt động thiết thực giúp VKS nắm bắt được các nguồn tin của công dân để có biện pháp kiểm sát hoạt động tiếp nhận, phân loại và xử lý nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra. Hạn chế trường hợp các tin báo phát sinh công dân đã trình báo nhưng không được phân loại, thụ lý kịp thời, mất các dấu vết và chứng cứ ban đầu quan trọng.

Đối với những trường hợp Cơ quan CSĐT Công an huyện ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự và tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm, Viện KSND cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, xem xét các căn cứ trước khi ban hành thông báo kiểm sát. Đảm bảo kiểm sát 100% tin báo, tố giác về tội phạm kể từ khi có Quyết định phân công; đối với các tin báo Cơ quan CSĐT Công an huyện ban hành Quyết định không khởi tố và Tạm đình chỉ đảm bảo kiểm sát chặt chẽ các căn cứ theo quy định của BLTTHS. Do đó, đồng chí Viện trưởng Viện KSND huyện Tuy Đức trực tiếp phụ trách khâu công tác kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại và giải quyết tin báo của Cơ quan CSĐT Công an huyện. Trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2022, VKSND huyện Tuy Đức đã THQCT và kiểm sát 272 hồ sơ tin báo của CQĐT Công an huyện. Đã giải quyết 267 tố giác, tin báo, đạt tỷ lệ 98 %. Bên cạnh đó, chỉ tiêu về trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khâu công tác này luôn được đơn vị chú trọng. Thực hiện kế hoạch công tác hằng năm, VKS tiến hành trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố 07 lượt đối với Cơ quan CSĐT Công an huyện, Hạt kiểm lâm và các Đồn biên phòng trên địa bàn huyện. Đã ban hành kết luận và kiến nghị trong Kết luận, ngoài ra đơn vị Ban hành 04 kiến nghị bằng văn bản riêng đối với CQĐT và 269 văn bản yêu cầu xác minh, điều tra đối với các tin báo, tố giác tội phạm; Ban hành 08 yêu cầu ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức; 01 yêu cầu thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm [2,3].

Chín tháng năm 2023, VKSND huyện Tuy Đức đã kiểm sát 85/85 hồ sơ tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT Công an huyện, ban hành yêu cầu xác minh tin đảm bảo 100%. Kiểm sát giải quyết 83/95 tin báo tố giác tội phạm, đạt tỷ lệ 87,3 %. Tiến hành 04 cuộc kiểm sát trực tiếp việc tiếp nhận, thụ lý giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT, Hạt kiểm lâm và Đồn biên phòng, đã ban hành kết luận và kiến nghị trong Kết luận; Ban hành 01 kiến nghị phòng ngừa vi phạm pháp luật trong việc giải quyết các giao dịch dân sự về đất đai đối với Chủ tịch UBND huyện Tuy Đức; 01 Kiến nghị phòng ngừa vi phạm trong tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm đối với Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức [3].

2.2.2. Công tác thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Trong giai đoạn THQCT kiểm sát án điều tra, VKS luôn chủ động đề ra yêu cầu điều tra, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của ĐTV, phối hợp với Cơ quan điều tra lấy lời khai ban đầu của các đối tượng để có cơ sở vững chắc cho các giai đoạn giải quyết vụ án sau này. Luôn bám sát hồ sơ vụ án, tham gia đối chất, tham gia hỏi cung và trực tiếp hỏi cung bị can trước khi kết thúc điều tra đề nghị truy tố. Việc đánh giá chứng cứ luôn được KSV chú trọng và là điều kiện bắt buộc để ban hành Kết luận điều tra đề nghị VKS truy tố. Trong quá trình kiểm sát điều tra, những vụ án phát sinh khó khăn, vướng mắc, KSV kịp thời báo cáo lãnh đạo để tổ chức họp liên ngành, đề ra phương hướng giải quyết dứt điểm.

Đối với những vi phạm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã ban hành 07 kiến nghị, yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan CSĐT chấn chỉnh, khắc phục [2, 3]. Công tác phối hợp luôn được chú trọng, thực hiện có hiệu quả. Lãnh đạo liên ngành quan tâm và có ý kiến chỉ đạo kịp thời. Vì vậy, trong thời gian vừa qua, tỷ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa VKS và Cơ quan điều tra trong phạm vi cho phép. Tổng số thụ lý từ án điều tra từ năm 2020 đến năm 2022 là 185 vụ/ 291 bị can; CQĐT đã giải quyết 169 vụ/ 272 bị can, đạt tỷ lệ 91,3%, trong đó đình chỉ điều tra 07 vụ 05 bị can, lý do người bị hại có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS. Liên ngành đã xác định 09 vụ làm án trọng điểm và 01 vụ làm án rút gọn. Tổng số thụ lý chín tháng năm 2023 là 45 vụ /68 bị can; CQĐT đã giải quyết 42 vụ/ 64 bị can (kết thúc điều tra đề nghị truy tố), tỷ lệ giải quyết 93%. Hiện còn: 03 vụ/04 bị can; không có án quá hạn. Trực tiếp hỏi cung đối với bị can trước khi ra quyết định truy tố 42 vụ/64 bị can [2, 3].

2.2.3. Thực tiễn thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố

Thực hiện tốt công tác kiểm sát từ giai đoạn điều tra, vì vậy, VKS luôn đảm bảo thời hạn và chất lượng trong giai đoạn truy tố. Đảm bảo 100% án truy tố đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không có trường hợp VKS phải rút quyết định truy tố, Tòa án tuyên không phạm tội, khác với khung, khoản của VKS đề nghị…

Đảm bảo truy tố đúng thời hạn và đúng tội danh 100% trên tổng số giải quyết, hàng năm VKS truy tố đều đạt từ 98 – 100% theo chỉ tiêu của Nghị quyết 96/2019, đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch công tác; chất lượng truy tố luôn đảm bảo, các vụ án đưa ra xét xử nhanh chóng, kịp thời, đúng các quy định pháp luật. Tổng số thụ lý của VKSND từ năm 2020 đến năm 2022: 134 vụ 234 bị can. VKS đã giải quyết: 134 vụ 234 bị can (quyết định truy tố), đạt tỷ lệ 100% [2, 3]. Tổng số thụ lý của VKSND huyện trong chín tháng năm 2023: 45 vụ/68 bị can. VKS đã giải quyết: 42 vụ/64 bị can (truy tố). Đạt tỷ lệ 93 % [2, 3]. Như vậy, trong thời gian qua, VKS đã thực hiện tốt chức năng truy tố, luôn đảm bảo truy tố đúng thời hạn, đúng tội danh; không để xảy ra trường hợp VKS phải rút quyết định truy tố, Tòa án xét xử khác với khung, khoản, tội danh mà VKS đề nghị. Vì vậy, trong thời gian tới, VKS sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đạt được và tang cường hơn nữa trong công tác phối hợp liên ngành để phát huy tốt kết quả phòng chống tội phạm của ngành Kiểm sát nói riêng và các cơ quan tư pháp nói chung, giữ vững niềm tin của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và toàn thể nhân dân của địa phương đối với các cơ quan tư pháp. Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

2.2.4. Công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự

Tiếp tục triển khai và thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động THQCT và kiểm sát xét xử, không ngừng nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa và nâng cao chất lượng các bản luận tội đối với bị cáo, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và đủ nghiêm minh để trừng trị người phạm tội. Bản Luận tội không chỉ là mức hình phạt mà VKS đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trước khi nghị án, thông qua bản Luận tội, VKS tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người phạm tội và tất cả người dân tham gia phiên tòa. Là phương thức tuyên truyền pháp luật trực tiếp đến với người dân. Vì vậy KSV cần không ngừng nâng cao chất lượng bản Luận tội, để tại phiên tòa, không chỉ thực hiện chức năng buộc tội mà còn lồng ghép cả hoạt động giáo dục, tuyên truyền pháp luật đến với người dân.

Trước khi tham gia phiên tòa, KSV xây dựng báo cáo án, đề xuất khung hình phạt đối với bị cáo, xây dựng đề cương xét hỏi và dự kiến các tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa để chuẩn bị các tài liệu, căn cứ để đối đáp, tranh luận với bị cáo và luật sư. Tham gia xét hỏi trọng tâm, làm sang tỏ được nội dung vụ án và những căn cứ để buộc tội đối với bị cáo; phát biểu bản Luận tội và đề nghị hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo. Trong trường hợp vụ án có đồng phạm, có sự phân công vai trò, vị trí, có bị cáo là người chưa thành niên, KSV cần phân hóa vai trò của từng bị cáo, có đề nghị mức án vừa đảm bảo tính răn đe nhưng cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Đặc biệt, chú trọng các vụ án Tòa án áp dụng án treo, phạt tiền… phải đảm bảo các căn cứ của pháp luật, không để xảy ra các trường hợp Tòa án tuyên mức án không phù hợp với tính chất, hành vi, mức độ phạm tội. Ngoài ra, hằng năm, theo kế hoạch công tác, VKS phối hợp với Tòa án tổ chức các phiên tòa xét xử lưu động và các phiên tòa để rút kinh nghiệm theo tinh thần cải cách tư pháp…. Nâng cao kỹ năng xét xử, tranh tụng cho KSV, từ đó giúp KSV có thêm nhiều kinh nghiệm, cách xử lý các tình huống phát sinh tại phiên tòa.

Sau khi kết thúc phiên tòa, KSV kiểm sát chặt chẽ biên bản phiên tòa, nội dung có phù hợp với diễn biến tại phiên tòa hay không, việc xét hỏi, tranh luận của KSV được ghi chép, thể hiện đầy đủ, khách quan; Bước sau cùng là kiểm sát Bản án của Tòa án tuyên về nội dung, hình thức đảm bảo đúng quy định, thời hạn chuyển bản án để kịp thời phát hiện những vi phạm, thiếu sót để báo cáo đề xuất lãnh đạo ban hành kiến nghị, kháng khi khi có đủ căn cứ. Vì vậy, hoạt động kiểm sát bản án là khâu công tác quan trọng, đảm bảo bản án của Tòa án tuyên phải trung thực, khách quan, đúng pháp luật. Thông qua công tác kiểm sát việc xét xử và kiểm sát Bản án của Tòa án, đã phát hiện một số vi phạm và ban hành 03 kiến nghị yêu cầu TAND cùng cấp khắc phục một số vi phạm, thiếu sót như vi phạm thời hạn chuyển giao Bản án cho Viện kiểm sát; trong một số bản án, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nội dung phần quyết định không đúng quy định của pháp luật… Các kiến nghị của Viện kiểm sát đều được Tòa án chấp nhận và khắc phục. Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Từ năm 2020 đến năm 2023, VKSND huyện Tuy Đức đã tham gia thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự với 139 vụ 231 bị cáo; đã giải quyết 136 vụ 242 bị cáo, đạt tỉ lệ 97%, trong đó xét xử rút kinh nghiệm 31 vụ 40 bị cáo, từ đó rút kinh nghiệm, phát hiện những thiếu sót của KSV và Thẩm phán để kịp thời khắc phục và nâng cao kỹ năng THQCT tại phiên tòa [2, 3]. Trong chín tháng năm 2023, VKSND huyện Tuy Đức đã kiểm sát 47 vụ/83 bị cáo, trong đó, THQCT và kiểm sát xét xử 33 vụ/61 bị cáo, đạt tỷ lệ 70%. VKSND và Tòa án nhân dân huyện phối hợp tổ chức 08 phiên tòa rút kinh nghiệm. Đảm bảo 100% Bản án của Tòa án tuyên đều được VKS kiểm sát theo quy định. Đối với những trường hợp Tòa án vi phạm thời hạn chuyển giao Bản án, Quyết định, KSV kịp thời ban hành yêu cầu và tổng hợp vi phạm để ban hành Kiến nghị. Qua kiểm sát, VKSND huyện Tuy Đức đã ban hành 01 kiến nghị đối với Tòa án. [2, 3].

2.3. Ưu điểm và hạn chế trong thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông

2.3.1. Ưu điểm trong thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông

Một là, thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, ngành KSND nói chung và VKSND huyện Tuy Đức nói riêng đã tích cực đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, đạt được kết quả cải cách toàn diện trên các lĩnh vực công tác, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong nhận thức và hành động của toàn thể đội ngũ công chức, KSV trong Ngành, đoàn kết, nhất trí thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng VKSND trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của Đảng và Nhà nước, xứng đáng với niềm tin và sự mong đợi của nhân dân. Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Hai là, không ngừng nâng cao trách nhiệm công tố của VKS, trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử; nâng cao hơn nữa chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, bảo vệ Cáo trạng và chống oan sai, bỏ lọt tội phạm. Hoạt động THQCT, chất lượng kiểm sát xét xử của KSV tại phiên tòa được nâng cao, đảm bảo đúng pháp luật, đúng người và đúng tội.

Trong thời gian qua, công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp ngày càng được chú trọng và và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Bên cạnh việc đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự nói chung, các vụ án phức tạp, được dư luận quan tâm nói riêng, đồng thời nhằm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân, góp phần thực hiện tốt công tác đấu tranh trấn áp và phòng ngừa tội phạm trên địa bàn tỉnh, nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm và kỹ năng nghề nghiệp của cán bộ các cơ quan tư pháp. Lãnh đạo VKSND đã chỉ đạo trong việc tăng cường phối hợp với Cơ quan điều tra và TAND xác lập và giải quyết các vụ án hình sự trọng điểm; Tích cực, chủ động phối hợp với TAND tổ chức các phiên toà xét xử lưu động làm các khâu công tác trọng tâm nhằm tạo sự đột phá trong các lĩnh vực này; đồng thời tăng cường phối hợp liên ngành để chọn và giải quyết án theo thủ tục rút gọn khi đủ điều kiện theo quy định của BLTTHS và tổ chức các phiên tòa để rút kinh nghiệm cho Kiểm sát viên và Thẩm phán theo tinh thần cải cách tư pháp, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Ngành. Cụ thể hóa chương trình phối hợp, trong kế hoạch công tác hằng năm của Ngành, lãnh đạo đơn vị đã giao các chỉ tiêu về xác lập án trọng điểm, tổ chức các phiên tòa xét xử lưu động cụ thể và cao hơn so với chỉ tiêu của Ngành

  • Về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Trong giai đoạn kiểm sát tin báo, tố giác tội phạm của Cơ quan CSĐT, VKS luôn bám sát và đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, đưa ra các yêu cầu ngay sau khi phân công tin để KSV chủ động kiểm sát và đánh giá nội dung tin báo toàn diện trước khi chuyển qua giai đoạn điều tra. Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đơn vị đã phát hiện các vi phạm của Cơ quan CSĐT, Công an xã cũng như các cơ quan hữu quan trên địa bàn huyện. Vì vậy, đã kịp thời ban hành 11 kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm đối với Thủ trưởng Cơ quan điều tra và 01 kiến nghị phòng ngừa đối với Chủ tịch UBND huyện trong công tác quản lý thuộc lĩnh vực đất đai, ban hành 277 văn bản yêu cầu trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Các dạng vi phạm như: không gửi quyết định trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát cùng cấp, vi phạm khoản 3 Điều 205 Bộ luật tố tụng hình sự; Vi phạm về thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, quy định tại khoản 2 Điều 147 Bộ luật tố tụng hình sự ,…tất cả kiến nghị, yêu cầu của VKSND huyện đều được CQĐT Công an huyện chấp nhận [2, 3].

Thực hiện tốt Thông tư liên tịch số 01/2017 và 01/2021/TTLT của Liên ngành Trung ương về Quy chế phối hợp giữa các cơ quan để kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố [38]; Năm 2018 và năm 2023, Liên ngành đã ban hành Quy chế phối hợp trong công tác tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, tạo cơ chế cho sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong công cuộc đấu tranh, phòng và chống tội phạm.

Ngoài quy định chức năng THQCT và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, Bộ luật TTHS đã quy định VKS có thẩm quyền trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong một số trường hợp như phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, vi phạm thủ tục tố tụng mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục; VKS trực tiếp khởi tố vụ án khi VKS phát hiện có dấu hiệu tội phạm và khi Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tin báo [5], những quy định trên giúp cho công tác tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm được khách quan và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, việc quy định thêm thẩm quyền của VKS trong THQCT, kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm đã đưa vai trò của ngành Kiểm sát lên một vị trí mới, không chỉ kiểm sát mà còn tự mình giải quyết nguồn tin. Đây là một trong những quy định mới ngành Kiểm sát cần phải phát huy và thực hiện hiệu quả. Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch công tác công tác năm, đơn vị đã tiến hành Trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm đối với Cơ quan CSĐT Công an huyện và ban hành Kiến nghị. Ngoài ra, VKS còn phối hợp với Cơ quan CSĐT kiểm tra và hướng dẫn nghiệp vụ cho Công an các xã theo quy định của TTLT số 01/2021 [39].

  • Thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện KSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn khởi tố – điều tra – truy tố – xét xử vụ án hình sự Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng, chống tội phạm và nâng cao vai trò trách nhiệm của Kiểm sát viên trong trong giai đoạn khởi tố – điều tra – truy tố – xét xử vụ án hình sự. Vì vậy, ngay từ giai đoạn kiểm sát tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, KSV được phân công cần phải kiểm sát chặt chẽ việc thu thập các tài liệu, chứng cứ được sử dụng làm căn cứ để xem xét việc phê chuẩn các lệnh, quyết định tố tụng do Cơ quan cảnh sát điều tra đề nghị, xây dựng yêu cầu xác minh tin, yêu cầu điều tra chất lượng, trọng tâm, đảm bảo thu thập đầy đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; không ngừng nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự, trước khi kết thúc điều tra, Kiểm sát viên và Điều tra viên cùng phân tích, đánh giá chứng cứ, tìm ra những hạn chế thiếu sót và kịp thời khắc phục, củng cố chứng cứ vững chắc, xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án;

Luật quy định, VKS có thẩm quyền ban hành quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, VKS trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố….Tuy nhiên, tại địa phương công tác phối hợp liên ngành luôn được duy trì tốt, vì vậy chưa phát sinh trường hợp VKS trực tiếp khởi tố vụ án hình sự.

Sau giai đoạn kiểm sát tin báo, tố giác tội phạm, khi có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, VKS kiểm sát các hoạt động của Cơ quan CSĐT, khi có đủ căn cứ, dựa trên đề nghị của Cơ quan CSĐT, VKS phê chuẩn các Quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn Lệnh tạm giam và ban hành yêu cầu điều tra trong từng giai đoạn và khi thấy cần thiết. Yêu cầu CQĐT chuyển hồ sơ để xem xét, đánh giá chứng cứ khi xét thấy việc điều tra chưa đầy đủ, chưa chính xác hoặc có vi phạm pháp luật; khi phát hiện vi phạm thủ tục tố tụng, VKS yêu cầu Cơ quan CSĐT bổ sung, cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi theo quy định; ban hành Kiến nghị đề nghị Thủ trưởng Cơ quan CSĐT kiểm điểm cán bộ điều tra, ĐTV chấn chỉnh, khắc phục vi phạm. Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung trong trường hợp Cơ quan điều tra bỏ lọt tội phạm, chưa thực hiện đúng các yêu cầu điều tra, yêu cầu xác minh của VKS, chưa thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo quy định.

Công tác kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự trong thời gian qua đã đạt được những kết quả khả quan. Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử ngày càng nâng cao, đạt và vượt chỉ tiêu Kế hoạch công tác; không có trường hợp VKS truy tố nhưng Tòa án tuyên không phạm tội, Tòa án tuyên khác khung, khoản của VKS đề nghị truy tố. Kịp thời phát hiện các dạng vi phạm của Cơ quan Điều tra cũng như các cơ quan hữu quan trong công tác phối hợp và ban hành các kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm; kiến nghị phòng ngừa đối với các cơ quan quản lý Nhà nước để có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục vi phạm. Hoạt động THQCT, kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử của VKSND huyện Tuy Đức giữ vai trò nòng cốt trong đấu tranh phòng chống tội phạm của địa phương. Tích cực tham mưu cho Huyện ủy trong công tác phòng, chống tội phạm, đề xuất các giải pháp thiết thực trong việc xử lý các hành vi vi phạm, giải quyết dứt điểm không để xảy ra điểm nóng, dư luận trong xã hôi. Bên cạnh đó, đơn vị không ngừng chú trọng công tác Kháng nghị phúc thẩm, kịp thời kiểm sát bản án và kiểm sát chặt chẽ biên bản phiên tòa để kháng nghị khi có căn cứ, trong năm 2023, đơn vị đã ban hành 01 kháng nghị phúc thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với 01 vụ án hình sự [2]. Đối với những vụ án phức tạp, nhiều bị can cùng tham gia và thực hiện tội phạm trên nhiều địa phương, Lãnh đạo Viện KSND huyện luôn bám sát tiến độ giải quyết và chỉ đạo các Kiểm sát viên nghiên cứu kỹ những quy định của pháp luật. Liên ngành cấp huyện kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết án hình sự, tổ chức họp liên ngành và xin ý kiến thỉnh thị trong trường hợp có mâu thuẫn về quan điểm giải quyết. Vì vậy, trong thời gian qua, không phát sinh trường hợp phải đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can vì không chứng minh được bị can thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình kiểm sát án tạm đình chỉ, Viện kiểm sát và Cơ quan CSĐT Công an huyện đã ban hành Quyết định thành lập tổ rà soát tin, án Tạm đình chỉ. Hoạt động của tổ rà soát đảm bảo không có tin, án Tạm đình chỉ không có căn cứ và quá hạn luật định. Ngoài ra, Viện KSND tối cao cũng như các cơ quan tư pháp Trung ương đặc biệt chú trọng đến việc quản lý, theo dõi tin, án Tạm đình chỉ, định kỳ hằng thắng, quý, năm liên ngành cấp huyện đều phải đối chiếu số liệu và báo cáo Liên ngành cấp tỉnh để tổng hợp báo cáo trung ương. Do đó, số lượng tin, án Tạm đình chỉ hiện tại ở địa phương không nhiều, phần lớn đã được phục hồi giải quyết theo quy định. Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Trong công tác THQCT và kiểm sát xét xử, VKS đã phối hợp với Tòa án nhân dân huyện xét xử rút kinh nghiệm theo tinh thần của Nghị quyết 08 tổng 31 vụ/40 bị cáo, trong chín tháng năm 2023 xét xử 08 vụ/14 bị cáo, thông qua các phiên tòa rút kinh nghiêm, Lãnh đạo đơn vị, các KSV cùng đưa ra các ý kiến đóng gơp, xây dựng nhằm nâng cao kỹ năng tranh tụng cho kiểm sát viên tại phiên tòa và thực hiện tốt chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý. Bên cạnh đó, liên ngành cấp huyện tổ chức một số phiên tòa lưu động xét xử để tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho người dân, góp phần nâng cao nhận thức về pháp luật cho người dân ở địa phương.

2.3.2. Những hạn chế, bất cập trong thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông

  • Về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Công tác kiểm sát tin báo, điều tra, kiểm sát xét xử hình sự của Viện kiểm sát đã có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ cơ quan tư pháp và mang lại hiệu quả. Phối hợp ngay từ giai đoạn tiếp nhận nguồn tin và xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án, KSV và ĐTV kịp thời trao đổi, đánh giá chứng cứ, đề ra phương hướng giải quyết vụ án triệt để đảm bảo về thời hạn và trình tự, thủ tục. Vì vậy, VKSND huyện Tuy Đức đã đạt được những thành tích nhất định trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đảm bảo tình hình chính trị tại địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn tồn tại một số hạn chế như: công tác nắm bắt tin báo, tố giác tội phạm của VKS chưa được kịp thời, đặc biệt là những nguồn tin do Công an xã tiếp nhận. Sau khi tiếp nhận, thực hiện phân loại nguồn tin và xác minh ban đầu, xác định tin báo, tố giác tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan CSĐT Công an huyện (các nhóm tội phạm về trật tự xã hội, sở hữu như trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích) cần phải có Kết luận định giá, Kết luận giám định của cơ quan chức năng. Tuy nhiên Công an xã không chuyển để giải quyết theo thẩm quyền mà giữ lại để xử phạt vi phạm hành chính dẫn đến một số vụ, việc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Một số trường hợp, sau khi phân loại, xác định nguồn tin thuộc thẩm quyền của Cơ quan CSĐT nhưng không chuyển kịp thời, vi phạm về thời hạn giải quyết. Từ đó phát sinh một số khó khăn vướng mắc trong công tác khám nghiệm hiện trường, xác minh hiện trường, truy tìm dấu vết… gây khó khăn trong quá trình giải quyết tiếp theo. Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

  • Về thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện KSND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự

Trong thời gian qua, dù công tác phối hợp liên ngành đã được các cơ quan tư pháp chú trọng. Tuy nhiên, tình trạng án trả hồ sơ điều tra bổ sung vẫn còn xảy ra, một số vụ án do phát sinh tình tiết mới tại phiên tòa, vẫn có những vụ án do nhận thức pháp luật của ĐTV, KSV chưa thống nhất, chủ quan trong đánh giá chứng cứ dẫn đến hồ sơ chuyển sang Tòa án mới được phát hiện. Trong thời gian vừa qua, các cơ quan tư pháp vẫn còn để xảy ra tình trạng án trả hồ sơ điều tra bổ sung, tuy tỉ lệ không nhiều, nhưng đây là vấn đề mà các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chú trọng nhiều hơn trong thời gian tới, đặc biệt, đối với VKS cần hạn chế thấp nhất án trả hồ sơ điều tra bổ sung có lỗi của KSV. Với chức năng THQCT, kiểm sát án điều tra, truy tố, xét xử, thông qua hoạt động kiểm sát, VKS phải kịp thời phát hiện và có biện pháp tác động phù hợp nhằm đảm bảo mọi tội phạm và hành vi phạm tội đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh. Do vậy, VKS cần phải thận trọng trong mọi quyết định của mình, không ngừng nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự, trước khi kết thúc điều tra, Kiểm sát viên và Điều tra viên cùng phân tích, đánh giá chứng cứ, tìm ra những hạn chế thiếu sót và kịp thời khắc phục, củng cố chứng cứ vững chắc, xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án. Làm tốt công tác phối hợp trên là điều kiện đảm bảo cho chất lượng hoạt động phòng, chống tội phạm của các cơ quan tư pháp nói chung và chất lượng THQCT của VKS nói riêng không ngừng được nâng cao.

2.4. Nguyên nhân của thực trạng thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

2.4.1. Nguyên nhân của ưu điểm

Các quy định của pháp luật đã và đang không ngừng được hoàn thiện, trong đó Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và BLTTHS đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi THQCT và kiểm sát giải quyết án hình sự, ngày càng khẳng định rõ hơn chức năng, vai trò của ngành Kiểm sát. Xác định tầm quan trọng của công tác THQCT, kiểm sát tin báo, tố giác tội phạm nên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đã trực tiếp phụ trách khâu công tác đồng thời phân công các Kiểm sát viên có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ để kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác, đảm bảo 100% tin báo đều có yêu cầu kiểm tra, xác minh nhằm đảm bảo kiểm sát chặt chẽ, thu thập các tài liệu, chứng cứ quan trọng và đảm bảo về thời hạn theo luật định.

Công tác phối hợp liên ngành luôn được chú trọng, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng như xuyên suốt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. VKSND, Cơ quan điều tra và Hội liên hiệp phụ nữ cùng các cơ quan hữu quan xây dựng quy chế phối hợp để bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em gái. Phối hợp với MTTQ, Ban pháp chế HĐND tham gia trực tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố tại Cơ quan CSĐT và Công an xã, thông qua đó Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện và VKSND huyện đã kịp thời kiến nghị đến cơ quan chức năng khắc phục vi phạm trong lĩnh vực này; chấn chỉnh vi phạm về tiếp nhận, phân loại nguồn tin về tội phạm.

Các thông tư, Nghị định được đã được ban hành kịp thời, hướng dẫn áp dụng pháp luật trong một số luật quy định chồng chéo, chưa cụ thể.

2.4.2. Nguyên nhân của những hạn chế Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

  • Nguyên nhân chủ quan
  • Về thực hành quyền công tố:

Một là, nhận thức về pháp luật của một số cán bộ, KSV còn có những hạn chế nhất định, KSV mới được bổ nhiệm chưa có kinh nghiệm thực tiễn. Chưa nghiên cứu những quy định của pháp luật, thiếu linh hoạt trong vận dụng pháp luật, ADPL còn máy móc và thiếu linh động. Cán bộ, KSV mới được bổ nhiệm chưa có nhiều kinh nghiệm trong định tội danh, phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm từ giai đoạn khởi tố, là một trong những nguyên nhân dẫn đến thiếu sót, lệch lạc trong giai đoạn điều tra ban đầu.

Hai là, việc bố trí, sắp xếp các bộ, KSV có lúc chưa phù hợp, chưa xem xét năng lực, sở trường công tác. Tùy vào từng khâu công tác, lãnh đạo đơn vị phân công từng KSV phù hợp. Đối với khâu công tác THQCT là công tác đòi hỏi KSV phải nắm vững quy định của pháp luật, nắm bắt tâm lý người phạm tội, có cách nhìn bao quát và đánh giá chứng cứ một cách tỉ mỉ, logic… Vì vậy, KSV được phân công trong khâu công tác là người nhạy bén, tháo vát, hiểu biết sâu, rộng về nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về các nhóm tội phạm mới như tín dụng đen, công nghệ cao… vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình mới.

Ba là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành cũng như trách nhiệm của người đứng đầu chưa được chú trọng và còn nhiều bất cập. Công tác tổ chức cán bộ, sắp xếp vị trí công tác; cho ý kiến chỉ đạo trong từng vụ, việc cụ thể có lúc chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách của công việc. Công tác kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ; trả lời thỉnh thị của cấp trên đối lúc chưa kịp thời và chưa cụ thể, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng pháp luật.

Bốn là, công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp và các cơ quan hữu quan trong việc xác minh, điều tra, trưng cầu giám định có lúc chưa kịp thời, thiếu thống nhất, ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết vụ án. Ngoài ra công tác phối hợp Liên ngành có lúc chưa được kịp thời, nhiều quan điểm trái chiều khó khăn trong đường lối giải quyết vụ án, còn xảy ra tình trạng cục bộ. Với những vụ án được dư luận quan tâm, bình luận trên các phương tiện thông tin đại chúng, một số KSV có thái độ né tránh, sợ trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, lo lắng phải chịu trách nhiệm theo Luật Bồi thường Nhà nước quy định về trách nhiệm bồi thường oan sai trong hoạt động tố tụng; quy định về xem xét kỷ luật khi xảy ra vi phạm… là những yếu tố tác động trực tiếp và ảnh hưởng đến hoạt động của KSV được phân công kiểm sát giải quyết vụ án.

Năm là, quy định của Nhà nước về chế độ, phụ cấp vẫn chưa thực sự được chú trọng, trong khi trách nhiệm của KSV là rất nặng nề, hoạt động THQCT luôn gắn liền với sinh mệnh chính trị của KSV. Nhiệm vụ của KSV trong công tác THQCT luôn gắn với hoạt động của Cơ quan điều tra, tham gia kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra… Tuy nhiên, chế độ đãi ngộ, quy định về lương theo quy định của cơ quan hành chính. Đây là điều bất cập mà những năm gần đây Viện KSND tối cao đã có kiến nghị nhưng chưa được Nhà nước xem xét.

  • Về quy định pháp luật: Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Một là, các quy định của pháp luật chưa có tính ổn định và lâu dài, việc xây dựng luật, sửa đổi, bổ sung luật chưa dự liệu được các tình huống có thể xảy ra theo xu hướng phát triển trên thực tế của đời sống xã hội. Quy định pháp luật mang tính chất tương đối, chưa cụ thể đối với những vụ việc thực tế trong đời sống, các văn bản, thông tư hướng dẫn còn chồng chéo, mang tính nội bộ của từng ngành gây khó khăn trong việc áp dụng. Thực tế, việc ban hành văn bản hướng dẫn của các cơ quan tư pháp trung ương có lúc chưa được kịp thời, còn chồng chéo, dẫn đến việc áp dụng pháp luật trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn. Cùng một vụ việc nhưng có nhiều văn bản hướng dẫn khác nhau, thiếu thống nhất. Thực tế cho thấy, một số vụ án phức tạp, cấp huyện xin ý kiến thỉnh thị phòng nghiệp vụ hoặc Liên ngành cấp trên nhưng chưa được trả lời kịp thời hoặc có trả lời nhưng nội dung chung chung, chưa cụ thể và mang tính chất tham khảo, không phải là ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ. Đây là một trong những khó khăn trên thực tế mà đơn vị cấp huyện chưa có hướng giải quyết. Mặt khác, pháp luật hình sự của nước ta chưa hoàn thiện, chưa bắt kịp với sự phát triển kinh tế – xã hội, một số trường hợp chưa được quy định nên khi phát sinh pháp luật chưa thể điều chỉnh được; liên ngành tư pháp Trung ương chưa có văn bản hướng dẫn kịp thời, dẫn đến khó khăn trong áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Bên cạnh đó, thời hạn giải quyết tin, án là quá ngắn, trong một số trường hợp có nhiều đối tượng, bị can tham gia, có nơi cư trú không cụ thể, sống nhiều tỉnh thành… việc xác minh, trích lục tiền án, tiền sự không đảm bảo thời hạn. Tuy nhiên, đó là một trong những tiêu chí mấu chốt làm căn cứ để truy tố bị can của VKS. Ngoài ra, thời gian trả kết quả giám định, định giá tài sản sau khi cơ quan tư pháp trưng cầu giám định có những trường hợp cần nhiều thời gian, như giám định âm thanh, giọng nói, tài liệu giả… một số trường hợp, đối tượng thực hiện hành vi phạm tội không có nơi cư trú rõ ràng, sinh sống ở nhiều tỉnh thành hoặc là đối tượng có nhiều tiền án, tiền sự. Do đó, thời hạn theo quy định của BLTTHS có lúc chưa đảm bảo.

Ba là, việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thực tiễn, hướng dẫn áp dụng pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ… tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu

Bốn là, công tác tuyên truyền, phổ biến quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của VKS trên các phương tiện truyền thông đại chúng chưa được chú trọng và chưa mang lại hiệu quả. Thực tế, một số người dân chưa hiểu biết nhiều về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của VKSND, điều này phần nào ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của VKSND.

  • Nguyên nhân khách quan Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

Quy định về chính sách đãi ngộ, chế độ, tiền lương của công chức, người lao động chưa đảm bảo, chưa đáp ứng được nhu cầu cuộc sống trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến cán bộ, KSV nói riêng và công chức, người lao động nói riêng dễ bị sa ngã, cám dỗ bởi lợi ích vật chất, dẫn đến vi phạm pháp luật; Bên cạnh đó lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, một số đối tượng đã làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan chức năng; thông qua các trang mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân. Hoặc một số trường hợp, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, cấp sổ đỏ không đúng quy định… đó là những dạng tội phạm xuất hiện phổ biến hiện nay. Chủ thể của tội phạm trên là chủ thể đặc biệt, là người làm việc trong cơ quan Nhà nước, có chức vụ, có hiểu biết về pháp luật, do đó khó khăn trong quá trình đấu tranh, giải quyết vụ án.

Hoạt động giám định tư pháp còn nhiều hạn chế, chưa có quy định cụ thể về thời hạn gửi kết quả giám định cho các cơ quan trưng cầu, bên cạnh đó pháp luật cũng chưa có cơ chế kiểm soát chặt chẽ các hoạt động giám định. Tuy nhiên, thời hạn khởi tố, điều tra, truy tố theo BLTTHS quy định cụ thể từng trường hợp. Vì vậy, đã gây áp lực cho các cơ quan tiến hành tố tụng.

Điều kiện về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và kinh phí phục vụ công tác THQCT, kiểm sát HĐTP còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới; việc thực hiện quy định về ghi âm, ghi hình có âm thanh, việc hỏi cung bị can, lấy lời khai chưa được thực hiện vì lý do chưa lắp đặt được các trang thiết bị theo quy định… Trang thiết bị cấp cho KSV khi thực hiện biện pháp nghiệp vụ chưa đáp ứng được yêu cầu công việc thực tế, máy ghi âm, máy quay phim bị hư hỏng nhưng quy định về sửa chữa, thanh lý còn nhiều khó khăn; kinh phí chưa được cấp hoặc quy định chưa cụ thể; chế độ đãi ngộ đối với KSV, công chức ngành KSND chưa phù hợp với đặc thù trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho KSV chưa đảm bảo và chưa đáp được nhu cầu, thực tế một số trường hợp KSV tham gia các lớp tập huấn phải tự túc về kinh phí, đi lại, sinh hoạt dẫn đến nhiều khó khăn, bất cập.

Tiểu kết chương 2

Chương 2 đã tập trung phân tích, tổng hợp, dẫn chứng số liệu cụ thể để làm rõ thực trạng thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND huyện Tuy Đức, huyện Đắk Nông. Chương 2 đã nêu bật những kết quả VKSND huyện Tuy Đức đạt được trong công tác THQCT, cũng như làm rõ những hạn chế cần phải được khắc phục trong thời gian tới. Nhận thấy, trong thời gian vừa qua, việc thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua THQCT của VKSND huyện Tuy Đức đã đạt được những kết quả khả quan, tích cực trong công cuộc đấu tranh, phòng, chống tội phạm và giữ vững an ninh trật tự tại địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. Bênh cạnh đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau vì vậy vẫn tồn tại những hạn chế nhất định. Do điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ công tác chưa đảm bảo; công tác phối hợp giữa VKSND với các cơ quan tư pháp, cơ quan hữu quan; nhận thức về pháp luật, năng lực, trình độ của cán bộ, KSV còn một số hạn chế; Hệ thống pháp luật vẫn chưa được hoàn thiện; chưa có hướng dẫn kịp thời và còn nhiều bất cập. Từ thực trạng trên cho thấy, cần đề ra những giải pháp, định hướng cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tiễn để nâng cao chất lượng công tác THQCT của ngành kiểm sát trong thời gian tới, góp phần đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp quyền lực NN thông qua quyền công tố

One thought on “Luận văn: Thực trạng quyền lực NN thông qua quyền công tố

  1. Pingback: Luận văn: Quyền lực NN thông qua thực hành quyền công tố

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464