Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng áp dụng pháp luật về hòa giải tại tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Pháp luật hoà giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
2.1.1. Nguyên tắc hòa giải
Nguyên tắc hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là các nguyên tắc và quy định hướng dẫn quá trình hòa giải giữa các bên tranh chấp. Các nguyên tắc được thiết lập để đảm bảo tính công bằng, trung lập và hiệu quả của quá trình hòa giải. Một số nguyên tắc hòa giải quan trọng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại:
Nguyên tắc tự nguyện: Các bên tham gia hòa giải phải tự nguyện hòa giải. Đây là một nguyên tắc quan trọng trong quá trình hòa giải. Theo nguyên tắc này, các bên tham gia hòa giải phải tham gia vào quá trình này tự nguyện, tức là đều đồng ý và tham gia vì ý muốn của mình, không bị ép buộc hay bắt buộc. Nguyên tắc tự nguyện đảm bảo rằng các bên có quyền tự quyết định liệu họ muốn tham gia vào quá trình hòa giải hay không. Không có ai được ép buộc hoặc bắt buộc tham gia hòa giải nếu họ không muốn. Nguyên tắc này tôn trọng quyền tự quyết và sự tự do của các bên trong việc quyết định cách giải quyết tranh chấp của mình. Việc các bên tham gia hòa giải tự nguyện cũng giúp tạo ra một môi trường tích cực và tập trung vào tìm kiếm giải pháp chung. Khi các bên tham gia hòa giải theo ý muốn và cam kết của mình, khả năng đạt được thỏa thuận và sự hợp tác giữa các bên được nâng cao.
Nguyên tắc tự nguyện trong hòa giải đảm bảo rằng các bên tham gia vào quá trình này tự nguyện và có quyền tự quyết định về việc tham gia hoặc không tham gia. Điều này tạo ra một môi trường tích cực và tập trung vào tìm kiếm giải pháp chung trong giải quyết tranh chấp. Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận, thống nhất của các bên; không được ép buộc các bên thỏa thuận, thống nhất trái với ý chí của họ. Đây là một nguyên tắc quan trọng trong quá trình hòa giải. Theo nguyên tắc này, không được ép buộc các bên thỏa thuận hoặc thống nhất với điều khoản, điều kiện hoặc giải pháp mà không phù hợp hoặc trái với ý chí của họ. Điều này đảm bảo rằng các bên có quyền tự do thể hiện ý kiến, đưa ra đề xuất và thương lượng để đạt được thỏa thuận mà họ cho là công bằng và hợp lý.
Nguyên tắc này đặt sự tôn trọng quyền tự quyết của các bên lên hàng đầu. Nó đảm bảo rằng quyết định cuối cùng về việc thỏa thuận hoặc thống nhất chỉ được đạt sau khi các bên đã tự do, tự nguyện và cùng nhau đạt được sự đồng thuận. Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận và thống nhất sẽ tạo ra sự bền vững cho quá trình hòa giải. Khi các bên cảm thấy rằng quyết định được đạt ra là kết quả của ý chí và thỏa thuận chung của tất cả các bên, khả năng tuân thủ và thực hiện quyết định đó sẽ được nâng cao.
Nguyên tắc bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là một nguyên tắc quan trọng để đảm bảo rằng các bên trong tranh chấp được đối xử công bằng trong quá trình hòa giải và quy trình giải quyết tranh chấp được thực hiện theo nguyên tắc của công lý và tôn trọng quyền tự quyết của các bên.
Các bên trong quá trình hòa giải bình đẳng về quyền, có quyền được nghe và được lắng nghe, đưa ra quan điểm và đề xuất, và tham gia vào quá trình đưa ra quyết định. Đông thời, các bên cũng phải chấp hành các nghĩa vụ và trách nhiệm được quy định trong quá trình hòa giải. Điều này đảm bảo rằng không có bên nào được miễn trừ hoặc tránh khỏi trách nhiệm của mình.
Các bên được cung cấp cơ hội bình đẳng để tham gia vào quá trình hòa giải. Điều này có nghĩa là không có bên nào bị loại trừ hoặc bị hạn chế khỏi quá trình hòa giải chỉ vì lý do phi công bằng hoặc phân biệt đối xử. Nguyên tắc này đảm bảo rằng các bên được đảm bảo quyền lợi của mình trong quá trình hòa giải. Nếu các bên không đạt được thỏa thuận, họ vẫn có quyền tiến đến các phương án khác để giải quyết tranh chấp, như tố tụng tại tòa án.
Nguyên tắc đảm bảo các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải, đối thoại phải được giữ bí mật: Nguyên tắc này có mục đích bảo vệ quyền riêng tư và tin cậy của các bên tham gia, đồng thời tạo ra một môi trường an toàn và tin cậy để thảo luận và tiến hành quá trình hòa giải. Các thông tin liên quan đến quá trình hòa giải và đối thoại, bao gồm tài liệu, thông tin cá nhân, quan điểm và ý kiến của các bên tham gia, được coi là nhạy cảm và phải được giữ bí mật. Điều này đảm bảo rằng các bên có thể tự do chia sẻ thông tin và tham gia một cách chân thành mà không lo ngại về việc thông tin của họ sẽ bị tiết lộ hoặc lạm dụng.
Bảo mật thông tin trong quá trình hòa giải cũng góp phần tạo ra một môi trường an toàn và tin cậy cho các bên tham gia. Nếu các bên có niềm tin rằng thông tin của họ sẽ được bảo mật và không bị sử dụng chống lại họ, họ sẽ dễ dàng hơn để chia sẻ thông tin quan trọng và tham gia một cách chân thành trong quá trình hòa giải.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng bảo mật thông tin không có nghĩa là việc che giấu các hành vi bất hợp pháp hoặc vi phạm đạo đức. Nếu có sự vi phạm pháp luật hoặc hành vi gian lận trong quá trình hòa giải, các bên có trách nhiệm báo cáo và tuân thủ quy định pháp luật. Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Hòa giải viên tiến hành hòa giải, đối thoại độc lập và tuân theo pháp luật. Hòa giải viên đóng vai trò là người trung gian không thiên vị trong việc hướng dẫn và quản lý quá trình hòa giải. Họ phải giữ tính độc lập và trung lập, không có mối quan hệ lợi ích cá nhân hoặc quan hệ bất lợi đối với bất kỳ bên nào trong tranh chấp. Điều này đảm bảo rằng hòa giải viên có thể đưa ra các quyết định và giải pháp công bằng và khách quan dựa trên quyền và lợi ích chung của các bên tham gia.
Hòa giải viên cũng phải tuân thủ các quy định và quy tắc pháp luật liên quan đến quá trình hòa giải. Họ phải có hiểu biết về các quy định pháp luật liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, thương mại hoặc tranh chấp cụ thể mà họ đang tham gia giải quyết. Tuân thủ pháp luật đảm bảo tính hợp pháp và đáng tin cậy của quá trình hòa giải và đảm bảo rằng quyết định hoặc thỏa thuận đạt được có giá trị pháp lý.
Vai trò độc lập và tuân theo pháp luật của hòa giải viên là đảm bảo tính công bằng, chính xác và tin cậy của quá trình hòa giải. Điều này đảm bảo rằng quá trình hòa giải được thực hiện theo cách khách quan và có thể được chấp nhận bởi các bên tham gia và hệ thống pháp luật.
Bên cạnh đó, căn cứ Điều 3 Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án 2020 còn quy định một số nguyên tắc như: Nội dung thỏa thuận hòa giải, thống nhất đối thoại không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; Phương thức hòa giải, đối thoại được tiến hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi loại vụ việc; Tiếng nói và chữ viết dùng trong hòa giải, đối thoại là tiếng Việt. Người tham gia hòa giải, đối thoại có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình; trường hợp này họ có thể tự bố trí hoặc đề nghị Hòa giải viên bố trí phiên dịch cho mình. Người tham gia hòa giải, đối thoại là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại và họ cũng được coi là người phiên dịch; Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong hòa giải, đối thoại.
2.1.2. Phạm vi hòa giải Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Phạm vi hòa giải (hay còn gọi là phạm vi áp dụng hòa giải) là phạm vi các tranh chấp hoặc vấn đề mà quá trình hòa giải có thẩm quyền can thiệp để giải quyết. Điều này xác định rõ những vấn đề cụ thể mà các bên tranh chấp sẽ tham gia vào quá trình hòa giải và mà hòa giải viên có thẩm quyền giải quyết. Về phạm vi hòa giải tại toà án, căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật HGĐTTTA 2020, hòa giải được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án đối với về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.
Tuy nhiên, nếu vụ việc tranh chấp rơi vào các trường hợp như có yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; vụ việc phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được mời tham gia hòa giải, đối thoại hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc không thể tham gia hòa giải, đối thoại được vì có lý do chính đáng; Một trong các bên đề nghị không tiến hành hòa giải, đối thoại; Một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì sẽ không tiến hành hòa giải tại Tòa án. Trong những trường hợp này, việc không tiến hành hòa giải tại Tòa án có thể được xem xét để đảm bảo rằng vụ việc được giải quyết một cách hiệu quả và công bằng dưới sự hướng dẫn của luật và quy định áp dụng.
Giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội: Trong trường hợp tranh chấp phát sinh từ các giao dịch hoặc hành vi vi phạm pháp luật hoặc đạo đức xã hội, việc hòa giải có thể không hiệu quả hoặc không khả thi do tính chất của vụ việc. Trong trường hợp này, việc đưa vụ việc ra Tòa án để xem xét và giải quyết phù hợp hơn.
Yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước: Trường hợp này liên quan đến việc bồi thường các thiệt hại gây ra cho tài sản của Nhà nước, và có thể đòi hỏi quy trình pháp lý cụ thể. Hòa giải có thể không phù hợp trong trường hợp này và vụ việc cần được xử lý tại Tòa án.
Người tham gia không tham gia hòa giải lần thứ hai: Nếu một trong các bên đã được mời tham gia hòa giải hoặc đối thoại hợp lệ lần thứ hai mà vẫn không tham gia vì lý do chính đáng, thì quy trình hòa giải có thể bị trì hoãn hoặc không tiến hành. Việc tham gia hòa giải là quyền của các bên, và nếu họ không tham gia, Tòa án có thể tiến hành quy trình tố tụng.
Một bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Nếu một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án có thể không tiến hành hòa giải mà thay vào đó sẽ xem xét và quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp để bảo vệ quyền và lợi ích của bên yêu cầu.
Quy định không tiến hành hòa giải tại Tòa án trong các trường hợp cụ thể là cách để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của quy trình tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên, và đảm bảo rằng việc yêu cầu can thiệp của Tòa án chỉ xảy ra trong những trường hợp cần thiết. Trong một số trường hợp, việc hòa giải có thể không phù hợp hoặc không đủ để giải quyết vụ việc một cách công bằng và hiệu quả. Các trường hợp như giao dịch vi phạm pháp luật hoặc đạo đức xã hội, yêu cầu đòi bồi thường từ Nhà nước, hoặc khi một bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thường đòi hỏi sự can thiệp của Tòa án để đảm bảo tính công bằng và ngăn ngừng thiệt hại. Quy định này cũng đảm bảo rằng quyền và lợi ích của các bên liên quan được bảo vệ. Nếu một bên đã được mời tham gia hòa giải hoặc đối thoại hợp lệ lần thứ hai mà vẫn không tham gia do lý do chính đáng, thì việc tiếp tục hòa giải có thể không hợp lý và có thể dẫn đến trì hoãn không cần thiết. Trong trường hợp yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, quy định này giúp Tòa án quản lý tài sản của Nhà nước một cách chặt chẽ và theo đúng quy trình pháp lý. Nếu một trong các bên đề nghị không tiến hành hòa giải hoặc đối thoại, quy định này có thể ngăn chặn việc lạm dụng quyền yêu cầu hòa giải và đảm bảo rằng các trường hợp thực sự cần sự can thiệp của Tòa án sẽ được xem xét.
2.1.3. Trình tự, thủ tục hòa giải Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Hiện nay, Thủ tục hòa giải được quy định tại Chương III Luật HGĐTTTA, và được tiến hành thực hiện gồm 5 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Nhận, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và chỉ định Hòa giải viên
Người khởi kiện, người yêu cầu gửi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự kèm theo tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Sau khi nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, nếu đủ điều kiện thì Tòa án thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện, người yêu cầu biết về quyền được lựa chọn hòa giải. Đồng thời sẽ tiến hành phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải, chỉ định Hòa giải viên.
- Giai đoạn 2: Tiến hành phiên hòa giải tại Tòa án
Căn cứ khoản 1 Điều 24 Luật HGĐTTTA thì khi các bên đồng ý gặp nhau để thống nhất phương án giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính, Hòa giải viên ấn định thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải, đối thoại và thông báo cho các bên, người đại diện, người phiên dịch chậm nhất là 05 ngày trước ngày mở phiên hòa giải, đối thoại.
Xác định thời điểm mở phiên hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo quá trình giải quyết tranh chấp được diễn ra một cách hiệu quả và công bằng. Đồng thời cho phép các bên tranh chấp có thời gian và không gian để tiến hành đàm phán và thương lượng. Đây là cơ hội để các bên trao đổi quan điểm, lắng nghe nhau và tìm kiếm các giải pháp hợp tác và công bằng.
Việc xác định thời điểm mở phiên hòa giải cung cấp một khung thời gian chính xác và đảm bảo tính công bằng và trung lập trong quá trình giải quyết tranh chấp. Các bên có thể chuẩn bị tư duy và chứng cứ để đưa ra lập luận một cách hợp lý và thuyết phục. Thời điểm mở phiên hòa giải cụ thể giúp đảm bảo sự hiện diện của các bên liên quan. Điều này cho phép tất cả các bên có thể tham gia vào phiên hòa giải, trình bày quan điểm của mình và tham gia vào quá trình tìm kiếm giải pháp.
Xác định thời điểm mở phiên hòa giải là một bước quan trọng để đưa ra quyết định cuối cùng trong tranh chấp. Sau khi các bên đã trao đổi quan điểm, thương lượng và đánh giá các tùy chọn, phiên hòa giải cung cấp một cơ hội để đưa ra quyết định cuối cùng hoặc tiến đến giai đoạn tiếp theo của quá trình pháp lý.
Trình tự phiên hòa giải, đối thoại tại Tòa án được quy định tại Điều 26 Luật HGĐTTTA, Hòa giải viên giới thiệu thành phần tham gia phiên hòa giải; trình bày nội dung cần hòa giải; diễn biến quá trình chuẩn bị hòa giải, đối thoại; phổ biến quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành, đối thoại thành.
Sau đó người khởi kiện, người yêu cầu hoặc người đại diện của họ trình bày nội dung yêu cầu, khởi kiện; đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải và hướng giải quyết tranh chấp. Đồng thời người bị kiện hoặc người đại diện của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, người yêu cầu; đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải; hướng giải quyết tranh chấp. Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Hòa giải viên thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều 23 của Luật HGĐTTTA để hỗ trợ các bên trao đổi ý kiến, trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ và đi đến thỏa thuận, thống nhất việc giải quyết tranh chấp. Cuối cùng Hòa giải viên tóm tắt những vấn đề các bên đã thỏa thuận, thống nhất hoặc chưa thỏa thuận, thống nhất.
- Giai đoạn 3: Tiến hành phiên họp ghi nhân kết quả phiên hòa giải tại Tòa án
Căn cứ Điều 27 Luật HGĐTTTA Khi các bên đạt được sự thỏa thuận, thống nhất với nhau về việc giải quyết toàn bộ hoặc một phần vụ việc dân sự, Hòa giải viên ấn định thời gian, địa điểm mở phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải. Phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải có thể được tổ chức ngay sau phiên hòa giải hoặc vào thời gian phù hợp khác. Hòa giải viên tiến hành phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại trụ sở Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc.
- Giai đoạn 4: Ra biên bản ghi nhận kết quả phiên hòa giải tại Tòa án
Theo quy định Điều 30 Luật HGĐTTTA, sau khi Hòa giải viên trình bày tóm tắt diễn biến quá trình hòa giải, đối thoại và nội dung các bên đã thỏa thuận, thống nhất. Các bên, người đại diện phát biểu ý kiến về nội dung đã thỏa thuận, thống nhất thì Hòa giải viên lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và đọc lại biên bản cho các bên nghe. Các bên, người đại diện, người phiên dịch ký hoặc điểm chỉ, Hòa giải viên ký vào biên bản ghi nhận kết quả hòa giải. Thẩm phán tham gia phiên họp ký xác nhận biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, và giữ bí mật thông tin về nội dung hòa giải do các bên cung cấp tại phiên họp theo yêu cầu của họ.
- Giai đoạn 5: Ra quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án
Sau khi lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, Hòa giải viên chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong trường hợp các bên có yêu cầu, thời hạn chuẩn bị ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành là 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo. Hết thời hạn này thì Thẩm phán phải ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong Trường hợp có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật HGĐTTTA hoặc ra quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành và nêu rõ lý do. Thẩm phán chuyển quyết định, biên bản và tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật về tố tụng trong trường hợp không có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật HGĐTTTA.
2.1.4. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Quyết định công nhận sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của các bên tranh chấp có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo tuân thủ và thi hành các thỏa thuận hợp đồng và giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động kinh doanh và thương mại. Quyết định công nhận sự thỏa thuận xác nhận rằng thỏa thuận đó là pháp lý có hiệu lực và có thể thực thi. Nó tạo ra một cơ sở pháp lý cho việc thi hành thỏa thuận và áp dụng các biện pháp pháp lý khi có tranh chấp, cũng như giúp xác định rõ ràng quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia. Nó đảm bảo rằng mỗi bên sẽ tuân thủ cam kết và thực hiện các nghĩa vụ của mình dưới thỏa thuận. Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Quyết định công nhận sự thỏa thuận thiết lập một cơ chế giải quyết tranh chấp cho các vấn đề phát sinh trong quá trình kinh doanh và thương mại. Nó cung cấp một khung pháp lý để giải quyết các tranh chấp theo quy định của thỏa thuận và/hoặc theo quy định pháp luật hiện hành. Đảm bảo rằng quyền lợi và lợi ích của các bên được bảo vệ và tuân thủ.
- Điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án
Kết quả hòa giải thành được công nhận khi có đủ các điều kiện: Các bên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Các bên là ngưòi có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận, thống nhất; Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải, thống nhất đối thoại của các bên liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người khác nhưng người đó không có mặt tại phiên hòa giải thì thỏa thuận, thống nhất chí được công nhận khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của họ.
- Hiệu lực của quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án
Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhằm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho sự thực hiện và thúc đẩy quá trình hòa giải. Hòa giải được xây dựng dựa trên nguyên tắc ý chí tự nguyện, trong đó các bên tự nguyện đưa ra thỏa thuận để giải quyết tranh chấp. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để các bên thể hiện ý chí và chấp nhận kết quả hòa giải. Do đó, về mặt lý thuyết, quyết định công nhận kết quả hòa giải được xem như một sự thỏa thuận hợp tác giữa các bên, và không cần phải tiếp tục qua các thủ tục kháng cáo hoặc kháng nghị.
Một trong những lợi ích quan trọng của hòa giải là khả năng giảm thiểu tranh chấp và giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và hiệu quả. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành không bị kháng cáo hoặc kháng nghị thúc đẩy việc thực hiện nhanh chóng kết quả hòa giải và giữ vững tính hợp tác giữa các bên, một điều cần thiết để duy trì sự tin tưởng và sự hiệu quả của quá trình hòa giải. Khi các bên đồng ý tham gia vào quá trình hòa giải và ký kết thỏa thuận hòa giải, thỏa thuận đó trở thành một văn bản pháp lý có hiệu lực. Việc công nhận kết quả hòa giải thành đồng nghĩa với việc công nhận tính pháp lý của thỏa thuận đó.
Mặc dù quyết định công nhận kết quả hòa giải thành không bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhưng nếu có căn cứ cho rằng nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên vi phạm một trong các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật HGĐTTTA 2020 thì có thể bị xem xét lại theo đề nghị của các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án, kiến nghị của Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà họ không thực hiện được quyền đề nghị theo đứng thời hạn thì thời gian đó không tính vào thời hạn đề nghị. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
2.2. Các hạn chế của pháp luật hoà giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Những lợi ích của Luật HGĐTTTA như đã phân tích ở trên, tuy nhiên trong quá trình hòa giải nói chung, và hòa giải giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại nói riêng thì vẫn còn nhiều bất cập, từ thực trạng quy định pháp luật cho đến thực tiễn áp dụng pháp luật. Bởi vì đây là một văn bản mới được ban hành, mặc dù đã có một số văn bản hướng dẫn thi hành luật, tuy nhiên vẫn tồn tại những bất cập cần được hoàn thiện như thảo luận dưới đây.
2.2.1. Thủ tục hoà giải tại toà án
- Nhận, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại Tòa án và chỉ định Hòa giải viên
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc tranh chấp về kinh doanh thương mại thì Tòa án thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện, người yêu cầu biết về quyền được lựa chọn hòa giải, đối thoại và lựa chọn Hòa giải viên. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, người khởi kiện, người yêu cầu nhận được thông báo phải trả lời bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác cho Tòa án biết về những nội dung đã được Tòa án thông báo.
Việc quy định thời gian xem xét đơn và thông báo về quyền được lựa chọn hòa giải là quá ngắn làm ảnh hưởng lớn đến việc nghiên cứu vụ việc của tòa án, ảnh hưởng đến quá trình xây dựng phương án, giải pháp hòa giải, đối thoại của Hòa giải viên, vì Hòa giải viên sẽ không thể biết được yêu cầu cụ thể của người khởi kiện, người yêu cầu.
Hiện nay, luật chỉ quy định về việc tòa án nhận đơn theo Điều 190 BLTTDS và thông báo về việc lựa chọn hòa giải trong thời hạn 2 ngày. Vấn đề là sẽ phát sinh các trường hợp cần phải sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện (sai, thiếu sót về về hình thức và nội dung đơn). Như vậy, trường hợp này Tòa án chỉ cần nhận đơn và thông báo mà không yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đơn yêu cầu là không phù hợp với quy định của BLTTDS bởi vì giữa 2 văn bản này có mối liên hệ với nhau trong việc áp dụng để giải quyết theo thủ tục hòa giải. Đặc biệt là những tranh chấp chấp về kinh doanh, thương mại thường sẽ có tính phức tạp hơn so với các loại vụ việc thông thường, nên vì vậy để đảm bảo cho quá trình hòa giải đạt được hiệu quả thì cần phải có đủ thời gian để xử lý những vấn đề thủ tục đầu tiên, hồ sơ đầy đủ. Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Liên quan đến vấn đề có ý kiến về việc chọn hòa giải của các chủ thể được quy định tại Điều 16 Luật HGĐTTTA thì Luật chỉ quy định trường hợp người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện được thông báo về quyền lựa chọn hòa giải cũng như là ý kiến về việc chọn hòa giải tại Tòa án mà không quy định trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thông báo và có ý kiến chọn hòa giải tại Tòa án cũng như chọn Hòa giải viên. Thực tế, trong quan hệ tố tụng thì bên cạnh người khởi kiện và người bị kiện thì còn có chủ thể là người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Khoản 7 Điều 16 Luật HGĐTTTA quy định Tòa án thông báo bằng văn bản về việc chuyển vụ việc sang hòa giải và văn bản chỉ định Hòa giải viên cho Hòa giải viên, người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khôn được ý kiến về việc chọn hòa giải tại Tòa án cũng như chọn Hòa giải viên nhưng lại được thông báo về việc chọn hòa giải của các bên thì chưa hợp lý. Như vậy thì nếu trong trường hợp người khởi kiện, người bị kiên đồng ý chọn hòa giải tại Tòa án nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý chọn hòa giải tại Tòa án hay không đồng ý chọn hòa giải viên thì sẽ giải quyết như thế nào.
- Vấn đề về cấp, tống đạt văn bản
Liên quan đến vấn đề cấp tống đạt văn bản các văn bản cho đương sự thì hiện nay trong quá trình tổ chức hòa giải nói chung và hòa giải tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng theo quy định của Luật HGĐTTTA thì không có quy định về thủ tục này. Mặc dù nhiều hoạt động trong hòa giải sẽ liên quan đến việc cấp, tống đạt như thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện, người yêu cầu theo quy định khoản 3 Điều 16, hay thông báo lại lần thứ hai cho người khởi kiện, người yêu cầu biết để thực hiện quyền lựa chọn hòa giải, đối thoại và lựa chọn Hòa giải viên nếu người này chưa có ý kiến trả lời tại điểm c khoản 4 Điều 16 Luật HGĐTTTA;… trách nhiệm cấp, tống đạt này sẽ thuộc về ai. Luật HGĐTTTA hiện nay không có quy định liên quan đến trách nhiệm cấp tống đạt văn bản cho đương sự thuộc về thư ký tòa án, thẩm phán được phân công hay là hòa giải viên. Đây là thủ tục được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ việc tranh chấp về kinh doanh thương mại thì áp dụng các quy định của BLTTDS 2015 sẽ không phù hợp.
- Vấn đề về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ từ các bên tham gia trong quá trình giải quyết tranh chấp
Trong trường hợp quá trình hòa giải, đối thoại diễn ra, việc cung cấp tài liệu, chứng cứ từ các bên tham gia tranh chấp là một phần quan trọng để hỗ trợ quá trình giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, Luật HGĐTTTA không đề cập đến việc ai phải lập biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ trong quá trình này. Vậy Hòa giải viên lập biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ hay Thẩm phán phụ trách vụ việc phải lập biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ. Do có vụ việc sau khi Tòa án chuyển hồ sơ sang hòa giải, đối thoại và Hòa giải viên hòa giải, đối thoại xong chuyển trả hồ sơ lại cho Tòa án xem xét xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng thì phát sinh nhiều tài liệu, chứng cứ mới (so với khi Tòa án tiếp nhận ban đầu) mà Tòa án không biết nguồn tài liệu, chứng cứ đó là từ đâu để có cơ sở xem xét sau khi Tòa án xử lý theo tố tụng. Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Trong thực tế, do Luật HGĐTTTA không quy định và không có hướng dẫn nên thường thực tiễn tiến hành các hoạt động hòa giải thì người tham gia hòa giải (bao gồm cả Hòa giải viên và Thẩm phán phụ trách vụ việc) sẽ lập biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ để đảm bảo tính minh bạch và chính xác trong việc thu thập và trao đổi thông tin giữa các bên. Việc này giúp đảm bảo rằng mọi bên đều có được thông tin đầy đủ và chính xác để tham gia vào quá trình hòa giải. Khi quá trình hòa giải kết thúc và hồ sơ được trả lại cho Tòa án để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng, Tòa án sẽ sử dụng các tài liệu, chứng cứ mà các bên đã cung cấp trong quá trình hòa giải. Nếu có thêm tài liệu, chứng cứ mới phát sinh, Tòa án sẽ xem xét và xử lý theo quy trình tố tụng, đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia tranh chấp được bảo đảm.
- Vấn đề thay đổi ý kiến tại phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án
Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật HGĐTTTA thì khi các bên đạt được sự thỏa thuận, thống nhất với nhau về việc giải quyết toàn bộ hoặc một phần vụ việc dân sự Hòa giải viên ấn định thời gian, địa điểm mở phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải. Phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải có thể được tổ chức ngay sau phiên hòa giải hoặc vào thời gian phù hợp khác. Tuy nhiên, trường hợp người tham gia hòa giải khi tiến hành phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án thì thay đổi ý kiến khác so với thời điểm tiến hành hòa giải thì sẽ giải quyết như thế nào. Hiện nay, Luật chưa có quy định đối với trường hợp này, việc khi hòa giải thì các bên tranh chấp đồng ý với kết quả và phương án giải quyết tranh chấp nhưng khi tiến hành phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải thì từ những vấn đề mang tính khách quan như từ phía của các bên hoặc từ sự tư vấn của luật sư mà họ sẽ thay đổi ý kiến. trường hợp này phải hoãn phiên họp, hay phải tiến hành hòa giải lại. Quy định tại khoản 1 Điều 29 về hoãn phiên họp, mở lại phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án cũng không có quy định về trường hợp này, thực tế khi tiến hành hòa giải tại một số Tòa án trong thời gian qua gặp phải tình huống này, khi hòa giải thì đồng thuận, nhưng sau đó là thay đổi ý kiến, làm cho quá trình hòa giải gặp rất nhiều khó khắn.
2.2.2. Công nhận hòa giải thành Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
- Thủ tục ra quyết định công nhận hòa giải thành tại Tòa án
Sau khi lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải Hòa giải viên chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong trường hợp các bên có yêu cầu. Sau thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo thì Thẩm phán phải ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành nếu đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật HGĐTTTA.
Điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Tòa án Căn cứ Điều 33 Luật HGĐTTTA thì kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án được công nhận khi có các điều kiện sau đây:
- Các bên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Các bên là ngưòi có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận, thống nhất;
- Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;
Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải của các bên liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người khác nhưng người đó không có mặt tại phiên hòa giải thì thỏa thuận, thống nhất chí được công nhận khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của họ.
- Thời gian ra quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành
Quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật HGĐTTTA sau khi lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, Hòa giải viên chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong trường hợp các bên có yêu cầu. Thời hạn chuẩn bị ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành là 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo. Thực tế, thời gian qua một số vụ việc có tính chất đơn giản, cần phải tiến hành ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngay sau khi tiến hành phiên họp ghi nhận kết quả thành nhưng phải đợi đến 15 ngày là quá dài. Mặc dù, đa phần các tranh chấp về kinh doanh thương mại thường có tính chất phức tạp, nhưng việc quy định thiếu tính linh hoạt về thời hạn ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành làm cho các bên dễ dẫn đến việc thay đổi kết quả hòa giải. Để chứng minh cho quan điểm của mình, tác giả xin phân tích và đánh giá một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, về cách lập pháp trong quy định của Điều luật. Chúng ta so sánh khoản 2, khoản 3 Điều 32 của Luật HGĐT tại Tòa án với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) – “Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật này; Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác; Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng; Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án; Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Đưa vụ án ra xét xử” thì thấy được thực tế áp dụng BLTTDS trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán có quyền ra một trong các quyết định nên trên, nếu hết thời hạn mà Thẩm phán không ra các quyết định và không thuộc trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì xem như Thẩm phán đã vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Đối chiếu lại quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 32 Luật HGĐT tại Tòa án thì chúng ta có thể thấy được cách lập pháp tương tự như vậy, quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật HGĐT tại Tòa án là nói về thời hạn chuẩn bị ra quyết định Thẩm phán được thực hiện các quyền theo quy định để xem xét ra quyết định nếu có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 33 thì ra Quyết định công nhận và nếu không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 33 thì ra Quyết định không công nhận trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo. Như vậy, nếu hiểu quy định tại khoản 3 Điều 23 Luật HGĐT tại Tòa án hết thời hạn 15 ngày thì Thẩm phán mới có quyền xem xét ra quyết định công nhận hoặc không công nhận là chưa đúng với tinh thần và nội dung của Điều luật. Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Hiệu lực của quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Tại Tòa án, kết quả hòa giải và đối thoại được công nhận thông qua thủ tục nhanh chóng và có giá trị thi hành tương tự như bản án, khi mà các bên tham gia hòa giải hoặc đối thoại yêu cầu điều này. Điều đáng chú ý là trong quá trình này, các bên không phải trả lệ phí cho thủ tục xét công nhận kết quả hòa giải hay đối thoại tại Tòa án.
Thực tế đã chứng minh rằng, trong thời gian gần đây, kết quả giải quyết các tranh chấp thông qua hòa giải và đối thoại thường được các bên tự nguyện thực hiện và thậm chí được thực hiện ngay tại phiên hòa giải. Các bên tham gia hòa giải tự thỏa thuận và đồng ý với phương án giải quyết tranh chấp, và điều này đã mang lại hiệu quả cao trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp.
Trong quá trình tố tụng truyền thống, việc thi hành quyết định và bản án của Tòa án thường gặp nhiều khó khăn. Bên phải thi hành án thường không tự nguyện thi hành, dẫn đến kéo dài vụ việc và các bên phải chịu thêm chi phí thi hành án. Điều này tạo ra sự bất tiện và khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, khi thực hiện hòa giải tại Tòa án và kết quả được công nhận thông qua quyết định hòa giải, việc thi hành kết quả này thường nhanh chóng và hiệu quả hơn. Vì các bên đã thỏa thuận và đồng ý với kết quả hòa giải, họ có xu hướng tự nguyện thi hành, không cần đến sự can thiệp của Tòa án. Điều này giúp giảm thời gian và chi phí thi hành, đồng thời tạo ra hiệu quả cao hơn trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên.
2.2.3. Thi hành Quyết định công nhận hòa giải thành
Căn cứ Điều 35 Luật HGĐTTTA về hiệu lực của quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án thì Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định công nhận kết quả hòa giải thành được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Tuy nhiên, căn cứ quy định Điều 482 BLTTDS 2015 thì những bản án, quyết định của Tòa án được thi hành trong đó không có quyết định công nhận hòa giải thành theo Khoản 2 Điều 35 của Luật HGĐTTA. Bởi vì, hoạt động hòa giải giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án là hoạt động ngoài tố tụng nên quyết định công nhận kết quả hòa giải thành không phải là văn bản tố tụng. Đồng thời, Điều 1 Luật THADS 2014 quy định phạm vi điều chỉnh về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại cũng không quy định thi hành án đối với quyết định công nhận hòa giải thành nên trong quá trình triển khai thực hiện quy định này của Luật HGĐTTA trên thực tế gặp khó khăn trong việc tiến hành thi hành án. Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
2.2.4. Những thủ tục sau khi hòa giải không thành theo Luật HGĐTTTA đối với tranh chấp kinh doanh, thương mại
Quá trình hòa giải không thành khi các bên không đạt được thỏa thuận, thống nhất về toàn bộ nội dung tranh chấp, hoặc chỉ thỏa thuận, thống nhất được một phần vụ việc nhưng phần đó có liên quan đến những phần khác của vụ việc dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật HGĐTTTA đối với tranh chấp kinh doanh, thương mại thì chấm dứt hòa giải. Hòa giải viên lập biên bản chấm dứt việc hòa giải và trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản, Hòa giải viên phải gửi biên bản kèm theo đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tài liệu kèm theo cho Tòa án đã nhận đơn và thông báo cho các bên biết.
Để xử lý việc chấm dứt hòa giải tại Tòa án thì Hòa giải viên chuyển đơn và tài liệu kèm theo cho Tòa án đã nhận đơn để tiến hành xem xét, thụ lý vụ việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong trường hợp hòa giải không thành.
Theo quy định tại khoản 4, 5, 6 và 8 Điều 16 của Luật HGĐTTTA, trong trường hợp người khởi kiện hoặc người yêu cầu không có ý kiến trả lời về việc đồng ý hoặc không lựa chọn hòa giải và không lựa chọn Hòa giải viên; và người bị kiện không có ý kiến về việc đồng ý hoặc không đồng ý tham gia hòa giải thì Tòa án sẽ tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo. Tòa án sẽ phân công Thẩm phán phụ trách việc hòa giải, chỉ định Hòa giải viên và chuyển vụ việc sang thủ tục hòa giải mà không chuyển đơn sang giải quyết theo thủ tục tố tụng.
Khoản 1 Điều 41 Luật HGĐTTTA quy định Hòa giải viên chuyển đơn và tài liệu kèm theo cho Tòa án đã nhận đơn để tiến hành xem xét, thụ lý vụ việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 40 của Luật HGĐTTTA.
Khoản 2 Điều 40 Luật HGĐTTTA quy định về việc hòa giải chấm dứt khi thuộc trường hợp một bên hoặc các bên không đồng ý tiếp tục hòa giải hoặc vắng mặt sau 02 lần được thông báo hợp lệ về việc hòa giải.
Nếu đương sự không có bất cứ ý kiến gì và muốn chuyển đơn để tiến hành xem xét, việc thụ lý vụ việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự sẽ yêu cầu trải qua toàn bộ các thủ tục giống như một vụ việc hòa giải, đối thoại khi đương sự có ý kiến đồng ý hòa giải, đối thoại. Thực tế này cũng tạo ra sự tốn thời gian cho Thẩm phán được phân công phụ trách và Hòa giải viên được chỉ định, và đồng thời đòi hỏi kinh phí để chi trả cho hoạt động hòa giải, đối thoại.
Vì vậy, trong trường hợp người khởi kiện hoặc người yêu cầu không đưa ra ý kiến trả lời trong thời gian đã được xác định sau lần thông báo thứ hai, Tòa án có thể tự động chuyển đơn để tiến hành xem xét và thụ lý vụ việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật hoà giải tại toà án ở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
2.3.1. Khái quát chung về tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
Năm 1997, thông qua Nghị quyết Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX, tỉnh Sông Bé đã chia thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước. Vào ngày 16/12/1996, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 1040/QĐ-QLTA thành lập Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương, và từ ngày 01/01/1997 cho đến hiện nay, tổ chức này đã hoạt động.
Trong suốt hơn 25 năm, Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương đã không ngừng nâng cao chất lượng tổ chức, cơ sở vật chất, và đội ngũ nhân sự. Hoạt động xét xử các vụ án hình sự và thi hành án đã được đội ngũ Thẩm phán quan tâm và lãnh đạo một cách cẩn thận, đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội, và không gây tổn hại cho người vô tội. Công việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, và hành chính cũng được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Trong việc tổ chức và phát triển, Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương đã không ngừng mở rộng quy mô và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Ban đầu, năm 1997, tổ chức này có 07 Tòa, Phòng, trong đó có 05 Tòa chuyên trách (Hình sự, Dân sự, Kinh tế, Hành chính, Lao động) và 02 Phòng (Giám đốc kiểm tra và Văn phòng). Đến năm 2005, Tòa án đã nâng cấp cơ cấu tổ chức lên thành 08 Tòa, Phòng, bao gồm cả Phòng tổ chức Cán bộ.
Tại cấp huyện, năm 1997, chỉ có 04 đơn vị Tòa án cấp huyện, trong đó có 01 Tòa án thị xã (Thủ Dầu Một) và 03 Tòa án huyện (Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên). Sau hai lần tách huyện, tổ chức Tòa án cấp huyện trực thuộc Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương đã tăng lên thành 09 đơn vị.
Ban đầu năm 1997, tổng số biên chế của Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương chỉ có 49 cán bộ công chức (tỉnh: 26, huyện: 43), trong đó có 25 Thẩm phán (tỉnh: 09, huyện: 16) và 94 Hội thẩm nhân dân (tỉnh: 25; huyện: 69). Tuy số lượng biên chế luôn thiếu so với yêu cầu, Tòa án đã tiến hành nhiều đợt tuyển dụng công chức và điều động để bổ sung biên chế. Tính đến tháng 3/2016, Tòa án có 289 biên chế, trong đó có 01 Thẩm phán cao cấp, 30 Thẩm phán trung cấp, và 88 Thẩm phán sơ cấp.
Về trình độ chuyên môn: Thời điểm năm 1997, toàn ngành TAND tỉnh Bình Dương có 21/25 Thẩm phán có trình độ Cử nhân Luật (tỉnh: 08/09; huyện 13/16). Thời điểm hiện tại 119/119 Thẩm phán của TAND 2 cấp tỉnh Bình Dương đều có trình độ Cử nhân Luật, đảm bảo đủ tiêu chuẩn về trình độ theo yêu cầu của TAND tối cao, trong đó có 09 Thẩm phán có trình độ Thạc sĩ Luật (01 trường hợp được đào tạo ở nước ngoài).
Về trình độ lý luận chính trị: Trước đây toàn ngành có 03 CBCC có trình độ Cử nhân chính trị, 01 CBCC có trình độ Cao cấp chính trị và 01 CBCC có trình độ Trung cấp chính trị. Hiện tại, số lượng CBCC có trình độ lý luận chính trị đã tăng lên với 31 CBCC có trình độ Cử nhân, Cao cấp, 07 CBCC có trình độ trung cấp. Ngoài ra, còn 75 CBCC đang đi học (03 Cao cấp và 72 Trung cấp). Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Về trụ sở, trang thiết bị phục vụ cho công tác ngày càng hiện đại: Giai đoạn đầu sau khi tái lập, ngành TAND vẫn thuộc Bộ Tư pháp quản lý về tổ chức và kinh phí. Tháng 10/2006, TAND tối cao đã cấp kinh phí xây dựng trụ sở mới cho TAND tỉnh tại số 559 Đại lộ Bình Dương với diện tích gần 9.000 m2.
Công tác đào tạo và bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ công chức (CBCC) và hội thẩm nhân dân (HTND) của Tòa án Nhân dân 2 cấp tỉnh Bình Dương được thực hiện đều đặn, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trong quá trình cải cách tư pháp. Do tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm trên địa bàn tỉnh ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất phức tạp, nhiệm vụ của ngành tư pháp nói chung và Tòa án Nhân dân nói riêng là đảm bảo vừa đủ số lượng và chất lượng cán bộ, cùng với việc giải quyết các loại án, không để án tồn đọng, kéo dài và giảm tỷ lệ án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan.
Để thực hiện các yêu cầu trên, công tác đào tạo và bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho CBCC, đặc biệt là lực lượng Thẩm phán, Thư ký, và HTND luôn được lãnh đạo Tòa án tỉnh Bình Dương đặt lên hàng đầu. Các hoạt động này đã được thực hiện qua nhiều năm thông qua việc kiện toàn đội ngũ, đào tạo, và bồi dưỡng. Hiện tại, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán và HTND đã có sự cải thiện rõ rệt.
Công tác xét xử các loại vụ án đạt chỉ tiêu đề ra hàng năm, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm, góp phần ổn định tình hình chính trị tại địa phương: Năm 1997, lượng án phải giải quyết của toàn ngành TAND tỉnh Bình Dương chỉ có 2.035 vụ, đã giải quyết 1.897 vụ, đạt tỷ lệ 93,2%. Đến năm 2015, số lượng án đã thụ lý của TAND 2 cấp là 14.096, giải quyết 13.350, đạt tỷ lệ 94,71%. Trong gần 6 tháng đầu năm 2016, TAND 2 cấp đã thụ lý 7.874, giải quyết 5.075. Lượng án thụ lý và giải quyết tăng lên rất nhiều và tăng mạnh theo từng năm. Tính từ khi thành lập TAND tỉnh Bình Dương đến nay, TAND 2 cấp tỉnh Bình Dương đã thụ lý 928, giải quyết 123.129 vụ án các loại, ban hành 34.353 quyết định thi hành án hình sự, xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho 35.949 phạm nhân.
Đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính đem lại nhiều thuận lợi cho nhân dân: Để đảm bảo tính công khai, minh bạch trong thực thi công vụ, kế thừa quy chế của những năm 1997, 1998, vào năm 2007 TAND tỉnh Bình Dương đã bổ sung và ban hành mới Quy chế về trách nhiệm cán bộ công chức, Quy chế dân chủ cơ sở, Quy chế tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo, Quy trình công tác Văn phòng và những năm gần đây đều bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế phát sinh… Thực hiện cải cách hành chính, các bản án, quyết định do TAND tỉnh phát hành từ ngày 01/10/2013 đều được lưu trữ điện tử trên phần mềm nội bộ số hóa theo chỉ đạo của TAND tối cao, trong thời gian tới sẽ triển khai thực hiện ở cấp huyện.
Thực hiện chương trình cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ và địa phương, TAND tỉnh Bình Dương là đơn vị đầu tiên cũng là đơn vị duy nhất trong hệ thống Tòa án cả nước triển khai thực hiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000. Năm 2008, TAND tỉnh Bình Dương triển khai thực hiện và được Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng cấp Giấy chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2000 trong các lĩnh vực giải quyết án: Hình sự, hành chính, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động; giải quyết khiếu nại giám đốc thẩm, tái thẩm. Đến tháng 8/2012 hệ thống quản lý chất lượng của TAND tỉnh đã được chuyển đổi sang phiên bản TCVN ISO 9001:2008. Đến nay, TAND tỉnh tiếp tục duy trì, cải tiến hệ thống tạo mọi thuận lợi cho tổ chức, cá nhân khi đến liên hệ giải quyết công việc tại Tòa án.
2.3.2. Kết quả các vụ hòa giải thành trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giai đoạn 2021 – đến nay Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
TAND 2 cấp đã triển khai áp dụng Luật HGĐTTTA có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Chánh án TAND tỉnh đã ban hành quyết định bổ nhiệm 58 Hòa giải viên (tỉnh: 06, huyện: 52). Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 30/9/2021, TAND 2 cấp đã chuyển 2.585 đơn (tỉnh: 09, huyện: 2.576) cho Hòa giải viên trong đó đã tổ chức hòa giải thành 1090 đơn (tỉnh 2, huyện 1088). Trong đó, số vụ tranh chấp về kinh doanh thương mại nộp đơn yêu cầu giải quyết tại Tòa án 2 cấp là 403 đơn; số đơn không thuộc trường hợp tiến hành hòa giải tại Tòa án: 172 đơn; Đơn đủ điều kiện tiến hành hòa giải: 231 đơn; Đương sự không đồng ý hòa giải: 142 đơn (Người khởi kiện không đồng ý: 136; Người bị kiện không đồng ý: 06); Đương sự đồng ý hòa giải 89 đơn (Các bên đồng ý hòa giải: 87); Do không nhận được trả lời của các bên đương sự về lựa chọn hòa giải và hòa giải viên: 02); Kết quả hòa giải thành: 27 vụ việc (Đương sự thống nhất được toàn bộ vấn đề cần giải quyết 27; Các bên thỏa thuận, thống nhất một phần tranh chấp kinh doanh thương mại không liên quan đến phần khác của tranh chấp đó: 0).
Trong năm 2022, TAND 2 cấp đã nhận 5.575 đơn (tỉnh: 29; huyện: 5.546). Hòa giải viên đã tổ chức hòa giải được 5.383 đơn (tỉnh: 28; huyện: 5.355), kết quả hòa giải thành 3.430 đơn. Trong đó, số vụ tranh chấp về kinh doanh thương mại nộp đơn yêu cầu giải quyết tại Tòa án 2 cấp là 1440 đơn; số đơn không thuộc trường hợp tiến hành hòa giải tại Tòa án: 463 đơn; Đơn đủ điều kiện tiến hành hòa giải: 977 đơn; Đương sự không đồng ý hòa giải:691 đơn (Người khởi kiện không đồng ý: 679; Người bị kiện không đồng ý: 12); Đương sự đồng ý hòa giải: 286 (Các bên đồng ý hòa giải: 285; Do không nhận được trả lời của các bên đương sự về lựa chọn hòa giải và hòa giải viên: 01); Kết quả hòa giải thành: 24 vụ việc (Đương sự thống nhất được toàn bộ vấn đề cần giải quyết: 24; Các bên thỏa thuận, thống nhất một phần tranh chấp kinh doanh thương mại không liên quan đến phần khác của tranh chấp đó: 0).
Thống kê thụ lý và giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại được hòa giải tại tòa án từ 1/10/2022 đến 30/6/2023, số số vụ tranh chấp về kinh doanh thương mại nộp đơn yêu cầu giải quyết tại Tòa án 2 cấp là 468 đơn; số đơn không thuộc trường hợp tiến hành hòa giải tại Tòa án:102 đơn; Đơn đủ điều kiện tiến hành hòa giải: 366 đơn ; Đương sự không đồng ý hòa giải:179 đơn (Người khởi kiện không đồng ý: 174; Người bị kiện không đồng ý: 05); Đương sự đồng ý hòa giải 187 đơn (Các bên đồng ý hòa giải: 187; Do không nhận được trả lời của các bên đương sự về lựa chọn hòa giải và hòa giải viên: 00); Kết quả hòa giải thành:18 vụ việc (Đương sự thống nhất được toàn bộ vấn đề cần giải quyết: 18; Các bên thỏa thuận, thống nhất một phần tranh chấp kinh doanh thương mại không liên quan đến phần khác của tranh chấp đó: 0).
Luật HGĐTTTA đã có hiệu lực gần 3 năm, áp dụng các quy định của Luật đã góp phần giảm tải được số lượng công việc cho Tòa án 2 cấp một cách đáng kể trong thời gian qua, hiệu quả của việc áp dụng đã được thể hiện thông qua số liệu báo cáo của Tòa án qua từng năm. Tuy nhiên, bởi vì mỗi loại tranh chấp có đặc thù khác nhau nên tính phức tạp của vụ việc cũng sẽ quyết định đến việc khi yêu cầu giải quyết tại Tòa án thì có lựa chọn phương thức hòa giải tại Tòa án theo Luật HGĐTTTA hay không. Nếu so với số lượng vụ việc được yêu cầu giải quyết tại TAND 2 cấp được hòa giải qua từng năm với số lượng tranh chấp kinh doanh thương mại được hòa giải là tương đối ít, đặc biệt hơn là kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp kinh doanh thương mại hòa giải thành trong năm 2021 chỉ chiếm tỉ lệ 15,5% so với kết quả hòa giải thành của toàn tỉnh 2021 là thấp, hay năm 2022 thì tỉ lệ hòa giải thành các tranh chấp kinh doanh thương mại là 25,8%. Một trong những lí do cho việc số lượng vụ việc tranh chấp kinh doanh thương mại được hòa giải tại Tòa án ít và kết quả hòa giải thành chiếm tỉ lệ thấp là xuất phát từ bản chất của các vụ việc tranh chấp phức tạp, các bên trong tranh chấp không muốn tiến hành hòa giải ngoài tố tụng tại Tòa án, vì quyền và lợi ích giữa các bên không thể điều hòa được thông qua thủ tục này. Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
2.3.3. Hạn chế trong hoà giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương
Ngoài các hạn chế chung như phân tích ở mục 2.2 thì việc áp dụng pháp luật hoà giải tại toà án ở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương còn gặp một số các hạn chế khác như sau:
Thứ nhất, trong quá trình áp dụng Luật HGĐTTTA từ ngày 01/01/2021 đến nay đã góp phần đảm bảo hiệu quả trong công tác giải quyết tranh chấp tại Tòa án, TAND tỉnh Bình Dương đã giảm thiểu đáng kể số lượng vụ việc phải giải quyết theo thủ tục tố tụng khi các bên đương sự chấp nhận hòa giải và hòa giải thành. Tuy nhiên, từ thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật trong công tác hòa giải gặp phải những hạn chế nhất định, làm cho công tác hòa giải các vụ việc tranh chấp về kinh doanh thương mại tại Tòa án ở Bình Dương tồn tại một số hạn chế. Xuất phát từ việc không có quá nhiều hiểu biết về kiến thức hòa giải, đặc biệt là quy định của Luật HGĐTTTA chưa được phổ biến một cách rộng rãi. Trong nhiều trường trường hợp, khi nộp đơn khởi kiện đều kèm yêu cầu không tiến hành hòa giải vì các bên có nhu cầu giải quyết vấn đề nhanh chóng và muốn đưa sự việc ra xét xử tại Tòa án để có quyết định chính thức và rõ ràng. Họ có thể không đồng ý tham gia hòa giải hoặc đối thoại vì nghĩ rằng quá trình này có thể kéo dài và không đảm bảo kết quả mà họ mong muốn. Nên vì vậy khi các bên nộp đơn yêu cầu giải quyết vụ việc tranh chấp nói chung và tranh chấp về kinh doanh thương mại nói riêng tại Tòa án thì khi được thông báo về việc lựa chọn hòa giải thường có tâm lý không muốn thực hiện thủ tục này do chưa hiểu rõ hoặc do cán bộ được phân công phụ trách việc nhận đơn phổ biến cho các bên chưa đầy đủ. Đồng thời, xuất phát từ đặc thù của các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại thường có tính chất phức tạp, vì vậy khi đương sự nộp đơn khởi kiện tại tòa án thường có tâm lý không muốn lựa chọn phương thức hòa giải ngoài tố tụng tại Tòa án.
Thứ hai, hiện nay Tòa án 2 cấp đã triển khai thực hiện Luật HGĐTTTA, trong năm 2021 Chánh án TAND tỉnh đã bổ nhiệm 58 Hòa giải viên (tỉnh: 06, huyện: 52), trong năm 2022 TAND tỉnh đã cử 02 Hòa giải viên đăng ký tham gia lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Hòa giải viên do Học viện Tòa án tổ chức, cả 02 trường hợp đã hoàn thành khóa học và được cấp chứng chỉ. Các hòa giải viên phần lớn có kiến thức pháp luật, kỹ năng, kỹ năng tiếp dân tốt, nhiều Hòa giải viên là luật sư, hoặc cán bộ công chức nghỉ hưu từng công tác trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, có tinh thần trách nhiệm cao, ý thức tổ chức kỷ luật, quan hệ phối hợp tốt.
Tuy nhiên, hiện nay một số Hòa giải viên tại TAND tỉnh Bình Dương vẫn đang đối diện với việc còn hạn chế về kỹ năng hòa giải và đối thoại. Mặc dù họ đã được bổ nhiệm vào vị trí nhưng chưa nhận được đào tạo, bồi dưỡng hoặc tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ, hoặc nếu đã được tập huấn thì kinh nghiệm và kỹ năng của họ vẫn còn hạn chế, đặc biệt là trong việc giải quyết các vụ việc tranh chấp dân sự, kinh doanh, và thương mại phức tạp. Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Thứ ba, liên quan đến quyền của Hòa giải viên về việc yêu cầu các bên cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tranh chấp, khiếu kiện; các thông tin, tài liệu liên quan khác cần thiết cho việc hòa giải, đối thoại. Trong một số vụ việc tranh chấp về kinh doanh thương mại được tiến hành hòa giải tại Tòa án tỉnh Bình Dương thì khi Hòa giải viên yêu cầu đương sự trong vụ việc tranh chấp kinh doanh thương mại cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan thì không được sự hợp tác của đương sự vì không có quy định liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu của đương sự nên khi này Hòa giải viên nhân danh gì để có quyền yêu cầu và yêu cầu bằng hình thức nào, phương thức cũng như trình tự thủ tục cung cấp được thực hiện như thế nào.
Hòa giải tại Tòa án được tiến hành trên tinh thần tự nguyên của các bên với sự hỗ trợ của Hòa giải viên. Do đó, nếu Hòa giải viên yêu cầu các bên cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tranh chấp mà các bên không cung cấp thì Hòa giải viên động viên, thuyết phục các bên cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ. Bởi vì, nếu Hòa giải viên không có đầy đủ các thông tin, tài liệu, chứng cứ một cách đầy đủ để đánh giá một cách toàn diện vụ việc tranh chấp thì sẽ rất khó để có thể đưa ra những giải pháp, những gợi ý để các bên tranh chấp đồng thuận với phương án hòa giải. Đây cũng là lý do cho việc mặc dù số lượng vụ việc tranh chấp được tiến hành hòa giải nhiều tại TAND tỉnh Bình Dương nhưng kết quả hòa giải thành rất thấp.
Thứ tư: đây là phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải tại Tòa án, khác với phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án như tranh chấp thương mại. Luật HGĐTTTA quy định việc hòa giải được tiến hành tại trụ sở Tòa án hoặc có thể ngoài trụ sở Tòa án theo lựa chọn của các bên và phiên hòa giải có thể được thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc hình thức phù hợp khác theo đề nghị của các bên, trong một số vụ việc tại TAND tỉnh Bình Dương khi đương sự yêu cầu tiến hành hòa giải bên ngoài trụ sở của Tòa án hoặc bằng phương thức trực tuyến, tuy nhiên nếu thực hiện như vậy sẽ không đảm bảo việc tổ chức hòa giải được tổ chức tại Tòa án cũng như nếu như hòa giải bằng phương thức trực tuyến sẽ không đảm bảo được tính khách quan, vấn đề bí mật thông tin của phiên hòa giải. Đồng thời, trường hợp các bên yêu cầu tiến hành phiên hòa giải ngoài Tòa án thì trình tự thực hiện hòa giải có giống với hòa giải tại Tòa án hay không. Không có quy định về việc TA từ chối yêu cầu tổ chức phiên hòa giải ngoài Tòa án nên khi có yêu cầu của đương sự thì việc giải thích cho đương sự hiểu cũng như lý do tại sao phải tiến hành phiên hòa giải phải tại Tòa án rất khó. Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
Thứ năm, Luật sư và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện có nhiệm vụ đảm bảo rằng quyền và lợi ích của người khởi kiện được bảo vệ tốt nhất trong quá trình giải quyết tranh chấp. Trong một số trường hợp khởi kiện tại TAND tỉnh Bình Dương, khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án, luật sư và người bảo vệ quyền và lợi ích của người khởi kiện đã thấy rằng hòa giải hoặc đối thoại có thể không phù hợp hoặc không thể đạt được kết quả mà người khởi kiện mong muốn nên trong nhiều trường hợp họ tư vấn cho các bên không lựa chọn hòa giải hoặc khi nộp hồ sơ khởi kiện có kèm đơn không yêu cầu hòa giải để tòa án xem xét thụ lý đơn khởi kiện luôn mà không cần tiến hành thủ tục hòa giải.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 thông qua việc trình bày các quy định pháp luật về thủ tục hòa giải giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án, thực trạng hoạt động hòa giải tại tòa án trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng như phân tích, đánh giá các quy định của Luật HGĐTTTA, làm rõ thực trạng quy định pháp luật về hòa giải giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án ở Việt Nam để từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp mang tính định hướng cũng như những giải pháp cụ thể để hoàn thiện các quy định pháp luật về hòa giải góp phần nâng cao hiệu quả trong hoạt động hòa giải tại Tòa án. Và xác định rõ tầm quan trọng của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật này để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh. Luận văn: Thực trạng PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật hoà giải trong giải quyết tranh chấp KD