Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương
3.1.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm thực hiện lâp báo cáo đánh giá tác động môi trường của doanh nghiệp
- Thứ nhất, hoàn thiện quy định về nội dung của báo cáo đánh giá tác động môi trường
Mọt là bổ sung tiêu chí “nhận biết, đánh giá, dự báo tác động của các dự án và đề xuất các biện pháp giảm thiểu, quản lý rủi ro đến sức khỏe cộng đồng” bởi thực tế trong thời gian vừa qua, việc xác định, đánh giá, dự báo tác động đến sức khỏe cộng đồng của các dự án chưa được chú trọng, dẫn đến việc thực hiện các nội dung theo cam kết tại báo cáo ĐTM được phê duyệt chưa cao.
Hai là, pháp luật môi trường cần quy định rõ cấp độ thực hiện báo cáo ĐTM từ đơn giản đến chi tiết, bổ sung thêm một số nội dung quan trọng vào báo cáo ĐTM. Cụ thể, việc ĐTM được thực hiện dựa theo kinh nghiệm của quốc tế. Theo kinh nghiệm quốc tế, ít nhất phải thực hiện ĐTM ở hai cấp độ là sơ bộ và chi tiết tùy theo mức độ chi tiết của dự án đầu tư và mức độ chi tiết của các thông tin về đối tượng bị tác động. Điều này là hợp lý, bởi thường thì hiếm có trường hợp mà ngay từ đầu đã có đủ mọi thông tin để làm báo cáo ĐTM chi tiết, mà thưởng đều cần phải đi từ ĐTM sơ bộ để phục vụ cho việc lựa chọn địa điểm dự án. Đặc biệt, các dự án đầu tư có vốn nước ngoài thưởng có quy mô lớn và khá phức tạp nên việc làm được báo cáo ĐTM chi tiết ngay từ đầu là rất khó thực hiện được trên thực tế. Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Thứ hai, hoàn thiện quy định về thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
Một là, việc thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM các dự án thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh do Sở TN&MT tham mưu thực hiện. Tuy nhiên, Luật BVMT 2020 chưa quy định việc UBND tỉnh “ủy quyền” cho Sở TN&MT thực hiện nhiệm vụ này. Do vậy, Khoản 3, Điều 35 Luật BVMT cần bổ sung quy định về việc UBND tỉnh ủy quyền cho Sở TN&MT thực hiện thẩm định và phê duyệt các báo cáo ĐTM đối với các dự án thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh.
Hai là, pháp luật BVMT cần xem xét và đưa ra quy định nhằm đảm tính độc lập trong quá trình tiến hành thẩm định báo cáo ĐTM. Trong đó, cần đưa ra quy định về việc thành lập hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM độc lập và mang tính dài hạn. Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM sẽ không phụ thuộc vào thủ trưởng người đứng đầu cơ quan phân cấp thẩm định thành lập, mà lúc này hội đồng thẩm định là một tổ chức độc lập. Đồng thời, các thành viên trong hội đồng thẩm định không phải là cán bộ đang công tác tại cơ quan được phân cấp thẩm định. Đặc biệt, tách bạch vai trò, vị trí, quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan được phân cấp thẩm định và cơ quan phê duyệt triển khai dự án, thay đổi quy định cơ quan được phân cấp thẩm định; đồng thời cũng là cơ quan tiến hành phê duyệt dự án như quy định hiện hành nhằm đảm bảo tính độc lập trong việc đưa ra ý kiến phân tích, xem xét và phản biện của hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM. Pháp luật cần đưa ra quy định hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM không hoạt động và giải thể ngay sau khi thông qua ý kiến mà hội đồng thẩm định này vẫn tiếp tục duy trì trong quá trình triển khai, vận hành dự án, đi vào hoạt động trong thực tế. Điều này nhằm góp phần nhằm đảm bảo vấn đề khi xảy ra sai phạm, sự cố môi trường đối với dự án đó, cơ quan điều tra có thể xác định được trách nhiệm trong xử lý sai phạm thuộc về chủ thể nào. Từ đó, đảm bảo yếu tố trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ thể vi phạm và đảm bảo quyền lợi của bên chịu thiệt hại.
- Thứ ba, hoàn thiện quy định về phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường
Một là, theo quy định tại Khoản 1, Điều 36 Luật BVMT năm 2020 thì “Quyết định đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e Khoản 1 Điều 36.”, một số ý kiến thắc mắc rằng thực tế có những dự án cần phải thực hiện cả 03 việc tại 03 thời điểm khác nhau (quyết định chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư và cấp giấy phép xây dựng) thì Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM là căn cứ để thực hiện việc nào trong 03 việc nêu trên bởi quy định này liên quan đến thời điểm dự án phải có báo cáo ĐTM được phê duyệt. Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM là căn cứ phê duyệt chủ trương đầu tư là không khả thi bởi thời điểm này chưa rõ nội dung của dự án một cách chi tiết, đặc biệt khó khăn với các dự án đầu tư công vì phê duyệt chủ trương chỉ với các nội dung mang tính nguyên tắc nên không biết phải thực hiện ĐTM như thế nào.
Về giá trị pháp lý của báo cáo ĐTM, báo cáo ĐTM chỉ nên là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM và không nên cho rằng báo cáo ĐTM có giá trị pháp lý tương đương với Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM. Việc sử dụng báo cáo ĐTM đã được phê duyệt là căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính là không phù hợp về mặt khoa học và về mặt thực tiễn. Lý do là báo cáo ĐTM là công cụ dự báo, phục vụ cho việc quyết định đầu tư, xây dựng của dự án mà lại dùng cho các cơ sở đi vào hoạt động chính thức là không đúng với thực tế.
Hai là, Luật BVMT 2020 hiện nay không có quy định về giám sát sau phê duyệt ĐTM (hậu thẩm). Do vậy, cần quy định rõ thẩm quyền, nội dung của hoạt động hậu thẩm để kịp thời phát hiện hành vi không tuân thủ của chủ dự án và điều chỉnh các báo cáo ĐTM nếu cần thiết. Đây là nội dung quan trọng cần phải bổ sung và quy định cụ thể trong Luật BVMT, đây là giai đoạn dễ gây ra sự cố môi trường và cần phải có quy định giám sát, kiểm soát ô nhiễm môi trường chi tiết, đặc biệt là giai đoạn vận hành thử nghiệm.
3.1.2. Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải ra môi trường của doanh nghiệp Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Thứ nhất, bổ sung quy định về cán bộ chuyên trách thực hiện thu gom, xử lý chất thải tại các cơ sở có phát sinh chất thải.
Do thu gom, xử lý chất thải là hoạt động mang tính chuyên môn, đòi hỏi cán bộ tại các cơ sở có phát sinh chất thải phải được đào tạo về chuyên môn. Song, tại các doanh nghiệp, đây là vấn đề còn bị xem nhẹ, đặc biệt là tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên hiệu quả thu gom, xử lý chất thải chưa cao. Vì vậy, cần bổ sung quy định về việc bắt buộc phải có người chịu trách nhiệm chuyên môn về thu gom, xử lý chất thải tại các doanh nghiệp. Người đó phải được tập huấn chuyên môn về thu gom, xử lý chất thải nói chung. Khi đó, họ sẽ có khả năng phát hiện sớm những bất ổn về môi trường tại doanh nghiệp trước khi nó xảy ra, đảm bảo sự chủ động của doanh nghiệp trong phòng ngừa ÔNMT, đồng thời giảm thiểu gánh nặng về thủ tục hành chính của doanh nghiệp trong thu gom, xử lý chất thải.
Đề xuất này liên quan đến người chịu trách nhiệm chuyên môn về thu gom, xử lý chất thải và là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp có phát sinh chất thải (không nhất thiết phải là cơ sở có phát sinh lượng chất thải lớn, có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường như quy định tại Luật BVMT năm 2020). Chủ thể này chỉ cần có chứng chỉ về việc đã được tập huấn, chứ không phải là yêu cầu cao về chuyên môn, nên sẽ phù hợp cho các cơ sở vừa và nhỏ, có lượng chất thải thải vào môi trường không lớn. Quan trọng, người đó đảm bảo yêu cầu chuyên môn trong thu gom, xử lý chất thải và thể hiện được trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Đối với những cơ sở có lượng chất thải thải ra môi trường lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường thì có thể quy định thêm các yêu cầu cao hơn về nhân sự.
- Thứ hai, bãi bỏ một số quy định trùng lặp về thu gom, xử lý chất thải trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Các doanh nghiệp dịch vụ trong mọi lĩnh vực là chủ nguồn thải của rất nhiều loại chất thải. Việc thực hiện thu gom, xử lý chất thải phát sinh tại các cơ sở này là hết sức cần thiết và là trách nhiệm của các chủ cơ sở đó. Việc thực hiện các yêu cầu thu gom, xử lý chất thải trong quá trình hoạt động của các cơ sở nêu trên là đúng, song việc quy định lặp đi, lặp lại trong Luật BVMT năm 2020 là không cần thiết, khi đã có quy định chung về trách nhiệm thực hiện xử lý nước thải, chất thải rắn và khí thải cho mọi tổ chức, cá nhân có làm phát sinh chất thải trong quá trình hoạt động. Dù đó là chất thải phát sinh trong nông nghiệp hay trong các cơ sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm, hoặc các hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản, thì các chủ cơ sở đó đều phải thực hiện các yêu cầu thu gom, xử lý chất thải theo quy định chung. Điều đó có nghĩa, việc nhắc lại các yêu cầu này trong từng lĩnh vực, tại nhiều điều luật khác nhau trong cùng một đạo luật là thiếu khoa học, trừ khi có những yêu cầu đặc thù
- Thứ ba, quy định rõ về trách nhiệm phân loại chất thải của chủ nguồn thải.
Về mặt khoa học cũng như thực tiễn, phân loại chất thải tại nguồn là giải pháp hiệu quả cả về phương diện kinh tế lẫn môi trường. Song nếu chỉ dừng lại ở yêu cầu chung là phải phân loại chất thải như quy định hiện hành, thì không thể ràng buộc trách nhiệm của bất kỳ một chủ thể nào trong quy trình thu gom, xử lý chất thải. Thiết nghĩ, sẽ khả thi hơn khi quy định rõ trách nhiệm phân loại chất thải này, trước hết cho chủ nguồn thải, sau đó là cho các chủ thể có liên quan (chủ vận chuyển chất thải hay chủ thu gom, xử lý chất thải) trong trường hợp chủ nguồn thải vì lý do nào đó chưa thực hiện nghĩa vụ này. Do đó, sẽ hợp lý hơn khi quy định rõ trách nhiệm phân loại chất thải tại nguồn của chủ nguồn thải trong nhóm quy định chung về thu gom, xử lý chất thải.
- Thứ tư, hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiểm soát vận chuyển chất thải.
Cần sớm có một quy định hoặc sớm pháp điển hóa để thống nhất về hiệu lực của Công ước quốc tế BASEL nói riêng và các ĐƯQT nói chung mà Việt Nam là thành viên. Phải coi chúng là bộ phận của pháp luật quốc gia, có giá trị pháp lý như pháp luật quốc gia. Vì dù muốn hay không thì theo nguyên tắc về tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta Sun Servanda) của luật quốc tế, mỗi quốc gia có nghĩa vụ tuân thủ và thực hiện các nghĩa vụ đã quy định trong ĐƯQT. Nhất là trong thời đại toàn cầu hóa như hiện nay, chúng ta không thể không tuân theo các quy định của luật quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Cần xem xét và khắc phục những hiện tượng mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật của các ngành, các lĩnh vực; giữa các điều luật trong một văn bản pháp luật. Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm dân sự: bồi thường thiệt hại do hành vi nhập khẩu, quá cảnh, thu gom, xử lý chất thải mà gây ra thiệt hại; ban hành các quy định về thủ tục, căn cứ xác định thiệt hại…vvv; để các cơ quan QLNN có cơ sở pháp lý tính toán thiệt hại và yêu cầu đòi bồi thường.
Cần có các quy định pháp luật để đảm bảo tính phòng ngừa cao trong lĩnh vực có liên quan đến vận chuyển chất thải qua biên giới. Từ thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời gian qua, phần lớn chất thải nhập lậu vào Việt Nam thông qua các hoạt động nhập khẩu phế liệu, phương tiện, thiết bị đã qua sử dụng. Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này, trong đó có nguyên nhân là các quy định về trình tự, thủ tục kiểm tra, kiểm soát còn chưa đảm bảo yêu cầu phòng ngừa. Với quy định người nhập khẩu phế liệu có nghĩa vụ thông báo với Sở Tài nguyên và Môi trường chậm nhất trước khi bốc, vận chuyển…vvv; không đảm bảo hiệu quả cho hoạt động kiểm soát của cơ quan nhà nước. Quy định này không chỉ rõ các loại tài liệu cần cung cấp để chứng minh việc thực hiện nghĩa vụ thông báo. Đây là nguy cơ dẫn đến việc cung cấp thông tin không đầy đủ. Vì vậy, theo chúng tôi, trong điều kiện Việt Nam vẫn cần phải cho nhập khẩu chất thải (thường gọi là phế liệu) để đảm bảo phát triển kinh tế, thì cần sửa đổi quy định về thủ tục nhập khẩu phế liệu sao cho chặt chẽ hơn và phù hợp với thông lệ quốc tế hơn. Cụ thể, nên sửa theo phương án:
Sau khi ký hợp đồng và chậm nhất là trước khi phế liệu được vận chuyển, chủ thể nhập khẩu phế liệu phải thông báo cho cơ quan nhà nước về BVMT cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính về quốc gia xuất khẩu, tổ chức xuất khẩu, chủng loại, số lượng, chất lượng phế liệu nhập khẩu, cửa khẩu nhập. Ngoài ra, chủ thể nhập khẩu phế liệu phải cung cấp một số văn bản như: Hợp đồng nhập khẩu, thông báo về cửa khẩu nhập khẩu… để cơ quan nhà nước có thẩm quyền có đủ thời gian và các biện pháp kiểm tra, kiểm soát thích hợp.
Cơ quan QLNN về môi trường nơi có chủ thể nhập khẩu có trụ sở chính (Sở Tài nguyên và Môi trường) có trách nhiệm tiếp nhận thông báo và có trách nhiệm trả lời về việc nhập khẩu được thông báo trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. Khi tiếp nhận thông tin về hoạt động nhập khẩu phế liệu cơ QLNN về môi trường có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp tục thông báo với cơ quan xử lý về môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường) nơi có cửa khẩu nhập khẩu phế liệu để phối hợp hoạt động kiểm soát và có văn bản gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền về môi trường quốc gia xuất khẩu để xác minh tính xác thực của thông tin
3.1.3. Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tài chính dựa trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” của doanh nghiệp
- Hoàn thiện quy định về thuế bảo vệ môi trường Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Thứ nhất, các quy định về đối tượng chịu thuế BVMT phải bao hàm mọi sản phẩm, hàng hóa gây tác động tiêu cực đến môi trường. Điều này Luật Thuế BVMT năm 2010 đã không làm được. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy, pháp luật thuế BVMT đã quy định các đối tượng chịu thuế mà Luật thuế BVMT năm 2010 không đề cập như sản phẩm phân bón hóa học, chất tẩy rửa, chất kích thích tăng trưởng, khí than, khí thiên nhiên (CHLB Đức, Bỉ).
Do đó, để bảo đảm tính bao quát, công bằng của quy định về đối tượng chịu thuế, cần phải rà soát lại danh mục hàng hóa, khảo sát thêm thực tiễn, bổ sung các đối tượng chịu thuế dựa trên nguyên tắc đã là sản phẩm gây tác động tiêu cực đến môi trường thì phải thuộc diện chịu thuế. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định của Luật Thuế BVMT, tránh tình trạng phải sửa đổi, bổ sung, đồng thời Luật Thuế BVMT cho phép Chính phủ quy định chi tiết về đối tượng chịu thuế bằng văn bản dưới luật. Do đó, Chính phủ cần sửa đổi Nghị định 67/2011/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường rà soát, bổ sung và quy định chi tiết các đối tượng chịu thuế.
Thứ hai, như đã đề cập, biên độ khung thuế suất quy định là quá rộng đối với hầu hết các nhóm hàng, mặt hàng. Bên cạnh đó, các tiêu chí để xây dựng khung thuế suất đối với một số đối tượng chịu thuế như trong Luật Thuế BVMT năm 2010 là chưa đủ căn cứ thực tiễn nên tính thuyết phục chưa cao. Việc xác định khung thuế suất đối với một số mặt hàng như xăng, dầu,…vvv; dựa trên mức phí BVMT là chưa hợp lý vì hai công cụ kinh tế này là khác nhau.
Để khắc phục điều này, theo tác giả thì Nghị định 67/2011/NĐ-CP vàThông tư số 152/2011/TT-BTC (sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 106/2018/TT-BTC) hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP cần quy định cụ thể và chi tiết theo hướng chia nhỏ các nhóm hàng ra, có khung thuế suất riêng đối với từng mặt hàng. Đối với hàng hóa chịu sự biến động lớn về giá (xăng, dầu..vvv), có thể quy định biên độ rộng, còn đối với những mặt hàng khác cần thu hẹp biên độ lại.
- Hoàn thiện quy định về phí bảo vệ môi trường
Thứ nhất, xây dựng mức thu phí tương xứng với mức độ gây ô nhiễm và tốc độ lạm phát. Kinh nghiệm thế giới cho thấy trong những năm đầu áp dụng phí BVMT, mức thu phí có thể quy định ở mức thấp, sau đó tăng dần ở những năm tiếp theo. Nhờ áp dụng nguyên tắc này mà một số quốc gia đã rất thành công trong việc thu phí ô nhiễm như Đức, Trung Quốc. Điển hình ở Trung Quốc, quy định tính phí ÔNMT với tất các các đơn vị ô nhiễm, cả đơn vị trên và dưới tiêu chuẩn cho phép. Các tiêu chuẩn được quy định phù hợp với từng ngành công nghiệp. Mức phí sẽ thay đổi tùy theo loại chất gây ô nhiễm. Pháp luật Trung Quốc cho phép các địa phương có thể đưa ra các tiêu chuẩn chặt chẽ hơn tiêu chuẩn quốc gia và có thể đưa ra mức phí cao hơn mức phí chung của quốc gia. Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Thứ hai, bổ sung quy định đối tượng chịu phí BVMT
Xác định rõ ràng đối tượng chịu phí đối với nước thải tại các siêu thị có hoạt động chế biến thực phẩm, thức ăn nhanh, sản xuất bánh, các cửa hàng thức ăn Cụ thể, trường hợp các siêu thị, trung tâm thương mại là các cơ sở kinh doanh không có hoạt động chế biến thực phẩm, thức ăn nhanh sẽ thuộc đối tượng chịu phí nước thải sinh hoạt. Trường hợp các cơ sở này có hoạt động chế biến thực phẩm, thức ăn nhanh mà hoạt động chế biến thực phẩm, thức ăn nhanh là hoạt động chính thì các cơ sở này sẽ thuộc đối tượng chịu phí nước thải công nghiệp;
- Bổ sung hệ thống xử lý nước thải tập trung khu đô thị là đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp.
- Bổ sung khu công nghệ cao là đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp.
3.2. Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Dương
3.2.1. Giải pháp về nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ xử lý theo hướng giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn tại khu công nghiệp
Thứ nhất, xây dựng và ban hành danh mục công nghệ xử lý chất thải rắn để khuyến cáo các địa phương áp dụng cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, trong đó chú trọng đến các công nghệ xử lý đi kèm với các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải, hạn chế tối đa lượng chất thải phải chôn lấp, ứng dụng các công nghệ sẵn có tốt nhất, công nghệ thân thiện môi trường, tiết kiệm đất và thu hồi tài nguyên, năng lượng.
Thứ hai, xây dựng phương án chuyển đổi phương pháp xử lý chất thải rắn bằng phương pháp chôn lấp truyền thống sang đốt để thu hồi năng lượng ở các thành phố lớn, có hướng dẫn xử lý tro đáy, tro bay phát sinh phù hợp, đẩy mạnh thực hiện chính sách ưu đãi giá mua, bán điện từ xử lý chất thải rắn đã ban hành. Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Thứ ba, đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình điểm về phân loại tại nguồn (phù hợp với các công nghệ xử lý chất thải, đặc biệt là việc phân loại để làm cơ sở cho việc áp dụng các công nghệ thu hồi năng lượng từ chất thải); thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ chất thải rắn nhằm lựa chọn các mô hình phù hợp để nhân rộng trên phạm vi cả nước.
Thứ tư, xây dựng và triển khai chương trình khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường đối với các bãi chôn lấp chất thải rắn không hợp vệ sinh hiện nay bằng một số giải pháp như: (i) Lựa chọn các địa điểm hợp lý để đầu tư các trung tâm xử lý và tái chế chất thải ở quy mô liên vùng, liên tỉnh; xây dựng kế hoạch và tổ chức cải tạo, xử lý các bãi chôn lấp chất thải rắn tại các đô thị, nông thôn đã đóng cửa để tái sử dụng đất; xây dựng cập nhật và tích hợp cơ sở dữ liệu về thu gom, xử lý chất thải rắn vào hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia; (ii) Ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát, quản lý hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn.
Thứ năm, cập nhật và triển khai thực hiện các giải pháp giảm thiểu chất thải nhựa khó phân hủy như: (i) Đánh giá tổng thể thực trạng thu gom, xử lý và tái chế chất thải nhựa; xây dựng các mô hình thu gom, xử lý chất thải nhựa; (ii) Xây dựng và triển khai chương trình giảm thiểu chất thải nhựa một cách đồng bộ từ công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng của từng địa phương; (iii) Xây dựng các mô hình “Nói không với chất thải nhựa sử dụng một lần và túi ni lông khó phân hủy”, quy định giảm thiểu nhựa trong bao bì, thiết bị lưu chứa chất thải rắn tại hộ gia đình, chủ nguồn thải và tại khu vực công cộng phục vụ công tác phân loại tại nguồn và giảm thiểu chất thải nhựa phát sinh.
Bên cạnh đó, cần tăng cường giới thiệu các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường. Tuyên truyền, vận động và tổ chức ký cam kết giảm thiểu chất thải nhựa, không sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần đối với các cơ sở sản xuất, các tổ chức phân phối sản phẩm, trung tâm thương mại, cửa hàng, nhà hàng, chợ, siêu thị; thúc đẩy hoạt động Liên minh tái chế bao bì Việt Nam
3.2.2. Ban hành cơ chế khuyến khích, ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm thân thiện với môi trường
Dưới góc độ pháp lý thì Luật BVMT năm 2020 định nghĩa: “Sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường là sản phẩm, dịch vụ được tạo ra từ các nguyên liệu, vật liệu, công nghệ sản xuất và quản lý thân thiện môi trường, giảm tác động tiêu cực đến môi trường trong quá trình sử dụng, thải bỏ, bảo đảm an toàn cho môi trường, sức khỏe con người và được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận hoặc công nhận”. Đồng thời, Luật BVMT quy định sản phẩm thân thiện với môi trường là sản phẩm đáp ứng các tiêu chí nhãn sinh thái Việt Nam và được chứng nhận nhãn sinh thái.
Như vậy, khi NTD lựa chọn những sản phẩm thân thiện với môi trường sẽ làm giảm những tác động tiêu cực tới môi trường gây ra từ quá trình sản xuất và tiêu dùng. Nói cách khác, việc sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường (tiêu dùng xanh) sẽ gián tiếp thúc đẩy sản xuất thân thiện với môi trường (sản xuất xanh). Đây cũng là giải pháp hữu hiệu cho việc giảm thiểu nguy cơ biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên hiện nay các quy định về sử dụng sản phẩm thân thiện môi trường mới chỉ dừng lại việc ghi nhận các nguyên tắc trong Luật BVMT năm 2020; mà chưa được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng hướng dẫn thi hành và áp dụng triển khai trên thực tế. Do đó, để thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm thân thiện với môi trường thì cần sớm ban hành các quy định cụ thể điều chỉnh lĩnh vực này như: các quy định về trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thân thiện với môi trường; những ưu đãi hỗ trợ, ưu đãi đầu tư….vvv. Điều này sẽ tạo cơ sở pháp lý và khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường, qua đó thực hiện tốt hơn trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT.
3.2.3. Tăng cường phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư về tầm quan trọng của hoạt động BVMT Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Hiện nay, công tác truyền thông, phổ biến giáo dục kiến thức pháp luật về BVMT nói chung chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Nhận thức của người dân đối với vấn đề BVMT còn chưa cao. Tuy nhiên, đây là giải pháp rất cần thiết và hiệu quả để hỗ trợ các giải pháp về chính sách, pháp luật được triển khai thành công, đồng thời đẩy mạnh việc triển khai thực hiện hiệu quả chủ trương kinh tế hoá trong phát triển BVMT. Do đó, tác giả cho rằng cần tiến hành các giải pháp sau:
Thứ nhất, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về trách nhiệm BVMT và tự giác thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về BVMT theo nguyên tắc người gây ô nhiễm môi trường phải trả tiền, người hưởng lợi từ môi trường phải trả tiền.
Thực tiễn tại tỉnh Bình Dương cho thấy, trong giai đoạn 2015-2020, việc tổ chức các sự kiện môi trường như: Ngày Môi trường thế giới (05/6), Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn (tuần thứ 3 tháng 9), Ngày Trái Đất (22/4), Ngày Đa dạng sinh học thế giới (22/5), Giải thưởng Môi trường Việt Nam, Liên hoan phim môi trường…vvv; ngày càng được nhiều Bộ, ngành và địa phương hưởng ứng với các hoạt động tuyên truyền thiết thực, hiệu quả, hình thức phong phú, hấp dẫn. Các hoạt động này đã góp phần nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội từ Trung ương đến địa phương, qua đó giúp triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ BVMT hàng năm. Hàng tháng, trên các phương tiện thông tin đại chúng đã có hàng trăm lượt tin, bài phản ánh đa dạng và chuyên sâu về các vấn đề môi trường; các cơ quan thông tấn báo chí đã dành thời lượng xứng đáng trong ngày, trong tuần cho các chuyên mục, chuyên trang, chương trình về môi trường; kịp thời phản ánh các hành vi gây ô nhiễm môi trường, sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, đồng thời nêu gương các tổ chức, cá nhân có thành tích tốt về BVMT. Do đó, trong thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức về BVMT của người dân và doanh nghiệp. Từ ý thức của người dân và doanh nghiệp được nâng cao thì họ sẽ tự nguyện và sẵn sàng tuân thủ và thực hiện các quy định về BVMT.
Thứ hai, tăng cường vai trò của các hiệp hội ngành nghề, tổ chức chính trị – xã hội trong công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về BVMT. Đặc biệt là vai trò của Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam có trách nhiệm tuyên truyền, nâng cao nhận thức và liên kết, hợp tác phát triển ngành công nghiệp môi trường. Nhiều hoạt động truyền thông, giáo dục môi trường của các tổ chức chính trị – xã hội không còn dừng lại ở mức nâng cao nhận thức mà đã tập trung vào tuyên truyền các phương pháp, kỹ năng thực hiện hành động BVMT, thực hiện các mô hình truyền thông lồng ghép trong các dự án phát triển kinh tế – xã hội. Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Thứ ba, tổ chức tập huấn, đào tạo cho cán bộ các cấp, doanh nghiệp, hiệp hội và các bên có liên quan về BVMT nói chung. Xây dựng và tổ chức các chương trình truyền thông, các cuộc thi và trao giải về doanh nghiệp cung ứng dịch vụ BVMT xuất sắc; phổ biến, nhân rộng các kết quả, công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến phát triển BVMT
Thứ tư, cần lồng ghép hiệu quả hơn nội dung BVMT vào các chương trình giáo dục ở tất cả các bậc học và nội dung đào tạo ở các cơ sở dạy nghề, cơ sở kinh doanh. Phải có chính sách khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh đối với những cá nhân, tập thể nhằm tạo động lực và phát huy vai trò chủ đạo của người dân trong công tác BVMT.
3.2.4. Xây dựng bộ quy tắc về trách nhiệm xã hội
Có thể thấy, bên cạnh các quy định của pháp luật thì bộ quy tắc ứng xử cũng có vai trò rất quan trọng trong việc cụ thể hoá và thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT.
Dưới góc nhìn so sánh, hiện nay trên thế giới hiện nay đã có khoảng hơn 10.000 bộ quy tắc ứng xử được các doanh nghiệp của các quốc gia áp dụng làm tiêu chí xây dựng thương hiệu cho các doanh nghiệp, trong đó đặt vấn đề bảo vệ nhân quyền làm trọng tâm của hoạt động kinh doanh. Các bộ quy tắc này đảm bảo cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hoá. Trong số các bộ quy tắc ứng xử đã nêu, có những bộ quy tắc đặc biệt quan trọng như: SA 8000 (tiêu chuẩn về quản lý lao động); WRAP (tiêu chuẩn trách nhiệm toàn cầu về sản xuất may mặc), BSCI (bộ quy tắc trách nhiệm xã hội trong kinh doanh); OHSAS 18001:2007 (hệ thống tiêu chuẩn quản lý về sức khỏe và an toàn quốc tế) và ICTI (tiêu chuẩn xã hội về trách nhiệm trong ngành công nghiệp sản xuất đồ chơi)…… Chúng có thể được áp dụng bởi mọi doanh nghiệp trên thế giới, trong đó có các doanh nghiệp Việt Nam.
Ở Việt Nam hiện nay, chúng ta chưa xây dựng được các Bộ Quy tắc ứng xử và các tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; về phía doanh nghiệp, chưa nhiều doanh nghiệp của Việt Nam có bộ quy tắc ứng xử có tính chất chuẩn mực áp dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhằm định hướng cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội. Vì vậy mà chưa tạo ra được môi trường, khung pháp lý – biện pháp có hiệu lực nhất mang tính bắt buộc hỗ trợ giải pháp đạo đức trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Về nguyên tắc, các Bộ quy tắc ứng xử không thay thế pháp luật nhưng chúng được xem là tiêu chí để các doanh nghiệp tham gia vào thị trường kinh doanh, đánh giá về đạo đức trong kinh doanh cũng như phản ánh mức độ thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT. Việc áp dụng các quy tắc này không chỉ đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp mà còn góp phần xây dựng môi trường kinh doanh văn minh, hiện đại. Do vậy, việc hỗ trợ, thúc đẩy các doanh nghiệp nghiên cứu xây dựng, chuyển hóa, áp dụng nội dung của các Bộ quy tắc ứng xử tiến bộ, phù hợp với điều kiện của đất nước và doanh nghiệp là rất quan trọng ở nước ta.
Kết luận Chương 3
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang phát triển mạnh trong những năm gần đây và là chiến lược phát triển của các doanh nghiệp trong khu vực và trên thế giới. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT được xem là nòng cốt để xây dựng thương hiệu và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT là rất cần thiết để duy trì và phát triển doanh nghiệp. Thực thi tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT chính là xây dựng được văn hóa doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên trường khu vực và quốc tế. Hoàn thiện hành lang pháp lý quốc gia, xây dựng Bộ quy tắc ứng xử hợp nhất và tạo cơ chế mở linh hoạt trong kiểm tra, giám sát chính là những bước đi đúng đắn để thúc đẩy hiệu quả thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Ô nhiễm và suy thoái môi trường đã trở thành vấn đề cấp bách đối với Việt Nam. Bảo vệ môi trường (BVMT) vì thế trở thành mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Một trong những biện pháp hữu được nhiều quốc gia trên thế giới vận dụng để khuyến khích doanh nghiệp thực hiện các tiêu chuẩn xã hội và môi trường, đó là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR). Các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội sẽ được cộng đồng ủng hộ, uy tín được nâng cao và cuối cùng, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, thông thường, đạt được cao hơn. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tương đối mới mẻ với Việt Nam. Vai trò của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là rất lớn xét trên nhiều phương diện. Đối với nhiều quốc gia thì trách nhiệm doanh nghiệp của xã hội đang trở thành một yếu tố của quản trị tốt và được thực hành khá rộng rãi. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam đang ở giai đoạn đầu tiên. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đảm bảo thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là yêu cầu cơ bản và quyết định không nhỏ hiệu quả của công tác BVMT. Mặc dù đã có những thay đổi tích cực, song trong thời gian tới, khung pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT vẫn cần tiếp tục hoàn thiện nhằm thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong việc hướng dẫn, ràng buộc và khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội trong quá trình khai thác, sử dụng và tác động đến môi trường. Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật trách nhiệm xã hội lĩnh vực bảo vệ môi trường

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
