Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng quy định pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

2.1.1. Thực trạng quy định pháp luật về trách nhiệm thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường của doanh nghiệp

  • Quy định về đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường

Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nhiều doanh nghiệp hoạt động có nguy cơ gây tác động xấu đến môi trường cần được kiểm soát chặt chẽ.

Kiểm soát ô nhiễm môi trường được hiểu một cách tổng quát là tổng hợp các hoạt động, hành động, biện pháp và công cụ nhằm phòng ngừa, khống chế không cho ô nhiễm xảy ra, hoặc khi có ô nhiễm xảy ra thì có thể chủ động xử lý làm giảm thiểu hay loại trừ được nó. Các hoạt động, hành động, biện pháp và công cụ phải được áp dụng với cấu trúc có sẵn, đó chính là thể chế, luật pháp, chính sách văn bản, tiêu chuẩn, quy định, các giải pháp công nghệ, các công cụ kinh tế, đánh giá tác động môi trường, quan trắc và giám sát môi trường.

Trong một số trường hợp, nhiều chủ thể thực hiện những hành vi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tuy đã bị xử lý vi phạm nhưng những hậu quả môi trường do chúng để lại vẫn kéo dài hàng chục năm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, ngoài việc dựa vào các tiêu chí môi trường cụ thể, cần căn cứ vào tính chất, mục đích, nội dung, quy mô của dự án, địa điểm thực hiện dự án… để tiến hành thực hiện ĐTM mới thật sự có hiệu quả trong thực tế. Các tiêu chí về môi trường được quy định khá chung chung trong Luật bảo vệ môi trường những giai đoạn trước như quy định dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; hoặc dự án sử dụng đất thuộc khu bảo tồn động vật hoang dã, vườn quốc gia, di tích lịch sử – văn hóa, di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng, hoặc các dự án có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Các tiêu chí về môi trường theo Luật bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định cụ thể và đặc biệt là quy định chi tiết về các dự án phải xin giấy phép môi trường. Yếu tố nhạy cảm về môi trường cũng là một trong những tiêu chí mới về môi trường được quy định trong Luật bảo vệ môi trường năm 2020 như các khu dân cư tập trung, nguồn nước được dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, khu bảo tồn thiên nhiên theo quy định của pháp luật về đa dạng sinh học, thủy sản, các loại rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp, di sản văn hóa vật thể, di sản thiên nhiên khác, đất trồng lúa nước từ 2 vụ trở lên, vùng đất ngập nước quan trọng, yêu cầu di dân, tái định cư và yếu tố nhạy cảm khác về môi trường

Dưới góc độ luật thực định, Khoản 1 Điều 30 Luật BVMT 2020 đã xác định cụ thể 02 nhóm dự án cần phải thực hiện ĐTM gồm:

Thứ nhất, dự án đầu tư nhóm I là dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao, bao gồm:

  • Dự án thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với quy mô, công suất lớn, dự án thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại, dự án có nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất.
  • Dự án thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với quy mô, công suất trung bình nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường; dự án không thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với quy mô, công suất lớn nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường.
  • Dự án sử dụng đất, đất có mặt nước, khu vực biển với quy mô lớn hoặc với quy mô trung bình nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường; Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
  • Dự án khai thác khoáng sản, tài nguyên nước với quy mô, công suất lớn hoặc với quy mô, công suất trung bình nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;
  • Dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất quy mô trung bình trở lên nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

Thứ hai, dự án đầu tư nhóm II là dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường, bao gồm:

  • Dự án sử dụng đất, đất có mặt nước, khu vực biển với quy mô trung bình hoặc với quy mô nhỏ nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường.
  • Dự án khai thác khoáng sản, tài nguyên nước với quy mô, công suất trung bình hoặc với quy mô, công suất nhỏ nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường.
  • Dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất với quy mô nhỏ nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường.
  • Dự án có yêu cầu di dân, tái định cư với quy mô trung bình.

Quy định này của Luật BVMT năm 2020 là hoàn toàn phù hợp nhằm tạo sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật hiện hành, xây dựng một hệ thống pháp luật môi trường cụ thể, xuyên suốt và minh bạch, ví dụ như Luật Đầu tư năm 2020. Đồng thời, Khoản 1 Điều 31 Luật BVMT năm 2020 cũng quy định: “Đánh giá tác động môi trường do chủ dự án đầu tư tự thực hiện hoặc thông qua đơn vị tư vấn có đủ điều kiện thực hiện”.

Như vậy, trách nhiệm thực hiện ĐTM là của chủ đầu tư dự án. Họ có thể tự mình thực hiện hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiện ĐTM. Dù chủ đầu tư dự án tự mình thực hiện hay thuê tổ chức tư vấn thực hiện ĐTM thì chủ đầu tư dự án đầu tư đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện ĐTM.

Đối với trường hợp dự án phải có quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư, xây dựng, thì ĐTM được thực hiện sau khi dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư.

  • Quy định về nội dung đánh giá tác động môi trường

Điều 32 Luật BVMT năm 2020 quy định chi tiết và đầy đủ các nội dung trong báo cáo ĐTM. Theo đó, các nội dung chính của báo cáo đánh giá tác động môi trường bao gồm:

  • Xuất xứ của dự án đầu tư, chủ dự án đầu tư, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư, căn cứ pháp lý, kỹ thuật, phương pháp đánh giá tác động môi trường và phương pháp khác được sử dụng (nếu có);
  • Sự phù hợp của dự án đầu tư với Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và quy định khác của pháp luật có liên quan.
  • Đánh giá việc lựa chọn công nghệ, hạng mục công trình và hoạt động của dự án đầu tư có khả năng tác động xấu đến môi trường. Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, đa dạng sinh học, đánh giá hiện trạng môi trường, nhận dạng các đối tượng bị tác động, yếu tố nhạy cảm về môi trường nơi thực hiện dự án đầu tư, thuyết minh sự phù hợp của địa điểm lựa chọn thực hiện dự án đầu tư;
  • Nhận dạng, đánh giá, dự báo các tác động môi trường chính, chất thải phát sinh theo các giai đoạn của dự án đầu tư đến môi trường, quy mô, tính chất của chất thải, tác động đến đa dạng sinh học, di sản thiên nhiên, di tích lịch sử – văn hóa và yếu tố nhạy cảm khác; tác động do giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư (nếu có); nhận dạng, đánh giá sự cố môi trường có thể xảy ra của dự án đầu tư;
  • Công trình, biện pháp thu gom, lưu giữ, xử lý chất thải;
  • Biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực khác của dự án đầu tư đến môi trường; phương án cải tạo, phục hồi môi trường (nếu có); phương án bồi hoàn đa dạng sinh học (nếu có); phương án phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường;
  • Chương trình quản lý và giám sát môi trường;
  • Kết quả tham vấn;
  • Kết luận, kiến nghị và cam kết của chủ dự án đầu tư.

2.1.2. Thực trạng quy định pháp luật về trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải ra môi trường của doanh nghiệp

Thu gom, xử lý chất thải một quá trình gồm nhiều khâu, nhiều công đoạn khác nhau nhằm kiểm soát chất thải trong suốt quá trình từ phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát đến phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý chất thải. Trong đó:

Một là, phòng ngừa chất thải là việc ngăn chặn sự phát thải hoặc tránh tạo ra việc phát thải chất thải, khi sự phát thải đạt được đến mức bằng không đó là sự phòng ngừa tuyệt đối, phòng ngừa được coi là phương thức tốt nhất để giảm thiểu chất thải ngay từ nguồn phát sinh. Giảm thiểu chất thải là việc hạn chế tối đa sự phát thải chất thải. Phòng ngừa và giảm thiểu được xem là hai nấc thang trên cùng trong thang bậc thu gom, xử lý chất thải. Giám sát chất thải là việc theo dõi, xem xét, đánh giá đối với chất thải, hoạt động giám sát không chỉ thực hiện ngay từ ban đầu mà còn được thực hiện trong tất cả các khâu, các bước trong quy trình thu gom, xử lý chất thải, giám sát giúp thực tốt công tác thu gom, xử lý chất thải.

Hai là, phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải thành các loại khác nhau tùy vào đặc tính nguy hại, mục đích tái sử dụng, tái chế hoặc xử lý, tiêu hủy nhằm phòng tránh bị ngộ độc khi tiếp xúc và đảm bảo an toàn khi lưu giữ, vận chuyển, xử lý, chất thải phải được phân loại theo mã chất thải để lưu giữ trong các bao bì hoặc thiết bị lưu chứa phù hợp, đối với các mã chất thải có cùng tính chất, không có khả năng gây phản ứng, tương tác lẫn nhau và có khả năng xử lý cùng một phương pháp thì có thể được sử dụng chung bao bì hoặc thiết bị lưu chứa. Hoạt động phân loại chất thải không chỉ giúp tránh được các nguy cơ ô nhiễm mà còn tạo điều kiện thuận lợi và khoa học cho việc vận chuyển, lưu giữ, tiết kiệm được thời gian, đẩy nhanh quá trình xử lý chúng sau này. Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Ba là, thu gom chất thải là hoạt động thu nhặt, tập hợp chất thải từ các nguồn thải, các điểm tập kết sau khi đã thực hiện phân loại và lưu giữ tạm thời trước khi vận chuyển đến nơi xử lý theo quy định, thu gom chất thải là một giai đoạn trong quá trình thu gom, xử lý chất thải.

Quá trình thu gom chất thải là một quá trình có nhiều công đoạn nhỏ phải làm trong hoạt động thu gom, xử lý chất thải, bao gồm việc thu gom từ các nguồn thải sau đó tập trung thành một điểm gọi là điểm tập kết hoặc trung chuyển, sau đó tiếp tục thu gom từ các điểm tập kết, trung chuyển để đưa đến nơi xử lý theo đúng quy định. Việc thu gom chất thải chỉ được phép thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân có Giấy phép xử lý chất thải, các phương tiện, thiết bị thu gom chất thải phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và quy trình quản lý theo quy định.

Bốn là, vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi tái sử dụng, tái chế, xử lý và tiêu hủy. Chất thải phải được vận chuyển bằng phương tiện, thiết bị chuyên dụng phù hợp và được ghi trong giấy phép xử lý chất thải. Việc vận chuyển chất thải phải theo lộ trình tối ưu về tuyến đường, quãng đường, thời gian, bảo đảm an toàn giao thông và phòng ngừa, ứng phó sự cố, phù hợp với quy định của cơ quan có thẩm quyền về phân luồng giao thông.

Năm là, tái sử dụng chất thải là việc sử dụng lại chất thải một cách trực tiếp hoặc sau khi sơ chế mà không làm thay đổi tính chất của chất thải. Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ chất thải. Việc tái sử dụng, tái chế chất thải sẽ vừa hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường, vừa tiết kiệm được chi phí cho việc tiêu hủy, vừa mang lại hiệu quả cho việc phát triển kinh tế thông qua việc tận dụng các giá trị có ích còn lại của chất thải.

Sáu là, xử lý chất thải là quá trình sử dụng công nghệ nhằm làm mất khả năng gây hại của chất thải đối với sức khỏe của con người và môi trường. Các công nghệ, thiết bị phục vụ cho việc xử lý phải phù hợp với đặc tính hóa học, lý học và sinh học của từng loại chất thải để đảm bảo xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường, trường hợp trong nước không có công nghệ, thiết bị xử lý thì phải lưu giữ theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của các cơ quan quản lý nhà nước về BVMT cho đến khi được xử lý. Xử lý chất thải thường được thực hiện bằng hai phương thức gồm chôn lấp dưới lòng đất và thiêu đốt. Chôn lấp chất thải là việc loại bỏ chất thải bằng phương pháp chôn nén và phủ lấp bề mặt trong điều kiện được hoặc không được kiểm soát, chôn lấp là công nghệ cổ điển và thông dụng đối với nhiều nơi và nhiều nước trên thế giới, chôn lấp là giải pháp lựa chọn cuối cùng, về phương diện kinh tế là giải pháp ít tốn kém, nhưng về phương diện xã hội và môi trường lại thường đặt ra nhiều vấn đề giải quyết phải cân nhắc. Thiêu đốt chất thải là quá trình xử lý chất thải ở nhiệt độ cao, thiêu đốt ở nhiệt độ cao chất thải sẽ được xử lý triệt để, đảm bảo loại trừ các độc tính, có thể giảm thiểu thể tích rác đến 90-95% và tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn gây bệnh. Phương pháp này đáp ứng tất cả các tiêu chí về tiêu hủy an toàn ngoại trừ việc phát thải ra các khí thải cần được xử lý nên đây có thể coi là phương pháp xử lý triệt để nhất so với các phương pháp xử lý khác.

Thu gom, xử lý chất thải là một trong những vấn đề rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường (BVMT) bởi thu gom, xử lý chất thải được thực hiện hiệu quả thì hoạt động BVMT mới được bảo đảm. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung thêm những quy định về hoạt động thu gom, xử lý chất thải. Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Thứ nhất, yêu cầu thực hiện thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại và chất thải rắn công nghiệp thông thường được quy định theo hướng linh hoạt về cách thức quản lý.

Đối với chủ nguồn thải: Chủ nguồn thải chất thải nguy hại, chất thải rắn công nghiệp thông thường có trách nhiệm tự mình tái sử dụng, tái chế, xử lý và thu hồi năng lượng từ chất thải hoặc có thể chuyển giao cho cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp để xử lý. Theo cách quy định này, có thể hiểu, chủ nguồn thải chất thải nguy hại, chủ nguồn thải chất thải rắn công nghiệp thông thường sẽ có hai lựa chọn trọng việc trong việc thu gom, xử lý chất thải, đó là tự mình thu gom, xử lý chất thải hoặc chuyển giao cho các chủ thể đáp ứng đủ yêu cầu thay mình quản lý. Tức là, tùy thuộc vào điều kiện của từng chủ nguồn thải mà họ có thể lựa chọn cách tự quản lý trực tiếp hay quản lý gián tiếp thông qua việc chuyển giao. Đây là một dạng quy định mang tính tùy nghi theo hướng tạo sự thuận lợi cho chủ nguồn thải. Quy định này không mang tính chất bắt buộc mà theo hướng chủ nguồn thải có điều kiện phù hợp với trách nhiệm nào thì sẽ áp dụng trách nhiệm đó, tuy nhiên, phải bảo đảm rằng, sự phù hợp này là đúng đắn và không trái quy định pháp luật. Ngoài ra, chủ nguồn thải còn phải có trách nhiệm trong việc phân định chất thải giữa chất thải nguy hại và chất thải rắn công nghiệp thông thường bằng cách thông qua hoạt động lấy, phân tích mẫu do cơ sở có chức năng, đủ năng lực thực hiện theo quy định của pháp luật.

Đối với tổ chức, cá nhân vận chuyển: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng đã quy định đặt ra trách nhiệm vận chuyển chất thải cho tổ chức, cá nhân vận chuyển theo hướng được lựa chọn. Cụ thể, tổ chức, cá nhân vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại, chất thải rắn công nghiệp thông thường phải xử lý có trách nhiệm vận chuyển chất thải đến cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp hoặc chuyển giao cho tổ chức, cá nhân vận chuyển khác để vận chuyển đến cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã cho phép tổ chức, cá nhân vận chuyển có thể lựa chọn một trong hai cách thức, hoặc tự mình vận chuyển chất thải đến cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp; hoặc chuyển giao cho tổ chức, cá nhân vận chuyển khác để vận chuyển đến cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp. Cách quy định này là linh hoạt và cần thiết, bởi khi cho phép các tổ chức, cá nhân vận chuyển được quyền lựa chọn trong việc trực tiếp hoặc chuyển giao trách nhiệm thực hiện việc vận chuyển sẽ giúp tạo được điều kiện tốt nhất có thể cho việc vận chuyển được thực hiện dễ dàng.

Như vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định bổ sung về các yêu cầu chung của chủ nguồn thải và các chủ thể có liên quan đến thu gom, xử lý chất thải, về quy định trách nhiệm cho cả chủ nguồn thải và các chủ thể có liên quan trong hoạt động thu gom, xử lý chất thải, từ đó góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát tối đa vấn đề xử lý chất thải, tăng hiệu quả quản lý môi trường. Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

  • Thứ hai, yêu cầu chung trong hoạt động quản lý nước thải.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 tại khoản 2 Điều 72 quy định chung về quản lý nước thải phù hợp, rõ ràng và thống nhất theo hướng đưa ra bốn yêu cầu trong hoạt động quản lý nước thải. Cụ thể:

Một là, nước thải phải được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi xả ra nguồn tiếp nhận: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung thời điểm của việc thu gom, xử lý bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường của nước thải, việc thu gom, xử lý nước thải phải được thực hiện trước khi xả ra môi trường tiếp nhận.

Thực tế, nếu không quy định rõ về thời điểm thu gom và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường khi xả thải trong Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn liên quan thì các chủ nguồn thải có thể tự lựa chọn thời điểm và có lý do để phủ nhận hành vi vi phạm của mình. Trong trường hợp, nếu việc xử lý nước thải này xảy ra sau khi các chủ nguồn thải đã xả thải ra ngoài và môi trường tự nhiên đã tiếp nhận thì việc xử lý sẽ không còn ý nghĩa. Do vậy, sự bổ sung này là rất cần thiết bởi điều này sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc theo hướng đặt ra trách nhiệm và tạo được sự ràng buộc rõ ràng cho chủ nguồn thải trong hoạt động quản lý nước thải.

Hai là, nước thải được khuyến khích tái sử dụng khi đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường và mục đích sử dụng nước. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 bổ sung theo hướng quy định cụ thể đó là nước thải được khuyến khích tái sử dụng khi đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường và mục đích sử dụng nước. bởi vì, nếu tái sử dụng nhưng không đáp ứng điều kiện thì điều này sẽ đi ngược lại bản chất của tái sử dụng. Việc khuyến khích tái sử dụng nước thải là nhằm mục đích sử dụng lại nước thải để không lãng phí nguồn tài nguyên nước. Tuy nhiên, nếu việc tái sử dụng không đem lại hiệu quả và không đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường cũng như không phù hợp với mục đích sử dụng nước thì nguy cơ ảnh hưởng xấu đến môi trường là rất lớn. Do vậy, khi thực hiện việc tái sử dụng nước thải, người dân cần phải cân nhắc, xem xét nhiều mặt để việc tái sử dụng thực sự đem lại hiệu quả.

Ba là, nước thải có chứa thông số môi trường nguy hại vượt ngưỡng quy định phải được quản lý theo quy định về thu gom, xử lý chất thải nguy hại. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã sử dụng cụm từ “thông số môi trường nguy hại” thay cho cụm từ “yếu tố nguy hại” của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Như vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã cụ thể yếu tố nguy hại bằng cách dựa vào thông số môi trường nguy hại. Việc quy định theo hướng thay đổi “yếu tố nguy hại” thành “thông số môi trường nguy hại” sẽ giúp tạo được cơ sở căn cứ chính xác trong việc quản lý nước thải. Vì thực tế, có rất nhiều tiêu chuẩn đưa ra để đánh giá về yếu tố nguy hại và tất nhiên, điều này sẽ là lỗ hổng khi chủ thể quản lý nước thải muốn trốn tránh trách nhiệm. Bởi thực tế, sẽ có trường hợp chủ thể quản lý nước thải có thể cố tình lựa chọn một yếu tố có mức độ nhẹ hơn để nước thải do họ phát sinh không bị quản lý theo quy định về thu gom, xử lý chất thải nguy hại. Vì vậy, chính sự thay đổi trong cách quy định này sẽ giúp việc quản lý nước thải đạt được hiệu quả và giúp cơ quan có thẩm quyền dễ dàng đánh giá nước thải có thuộc nước thải nguy hại hay không.

Bốn là, việc xả nước thải sau xử lý ra môi trường phải được quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường tiếp nhận: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung điều kiện của việc xả nước thải sau xử lý ra môi: Phải được quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường tiếp nhận. Trường hợp xả nước thải vượt quá sức chịu đựng của môi trường thì cần đưa ra phương án khác phù hợp hơn với tình hình thực tế. Cách quy định này là cần thiết bởi điều này đã tạo ra được căn cứ pháp lý cần thiết để phục vụ cho việc quản lý nước thải hiệu quả trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu của quy định pháp luật và bảo vệ môi trường.

2.1.3. Thực trạng quy định pháp luật về trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tài chính dựa trên nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” của doanh nghiệp

  • Quy định về nghĩa vụ nộp thuế bảo vệ môi trường

Thuế là một khoản đóng góp dưới hình thức tiền tệ mà các cá nhân công dân phải nộp về cho Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định để trang tải cho các chi tiêu vì lợi tích chung và lý do duy nhất mà các công dân phải nộp thuế vì họ là thành viên của một cộng đồng có tổ chức.

Trong lĩnh vực môi trường, xuất phát từ nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP- The Polluter Pays Principle) với nguyên lý: “Những người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, những người có hành vi xả thải vào môi trường cũng như những người có hành vi khác gây tác động xấu tới môi trường đều phải trả tiền”. Do đó, Nhà nước ban hành sắc luật thuế BVTM là điều tất yếu, phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Với tư cách là một loại thuế do nhà nước ban hành, đánh vào các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường, thuế BVMT là công cụ kinh tế (CCKT) hiệu quả và phổ biến được áp dụng để quản lý và BVMT. Đây được biện pháp kinh tế lâu đời nhất trong quản lý và BVMT.

Theo Khoản 1, Điều 2 Luật thuế BVMT năm 2010 quy định: “Thuế BVMT là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường”. Đồng thời, quy định: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế” quy định tại Điều 3 của Luật thuế BVTM năm 2010 thì phải nộp thuế”.

Mục tiêu của thuế BVMT là tạo ra nguồn thu cho NSNN lấy từ những người sản xuất, kinh doanh những sản phẩm mà việc sản xuất và tiêu dùng chúng tiềm ẩn nguy cơ gây tác động xấu tới môi trường để bù đắp các chi phí xã hội.

Trên cơ sở tác động trực tiếp vào lợi ích kinh tế của người gây ô nhiễm theo nguyên tắc PPP thì việc sử dụng CCKT này sẽ làm thay đổi hành vi của người gây ÔNMT theo hướng phòng, chống, khắc ÔNMT, suy thoái, sự cố môi trường, về thực hiện cam kết BVM. Có thể thấy, thuế BVMT có vai trò quan trọng, đặc biệt tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường đang ngày càng trở thành vấn đề cấp bách cần giải quyết của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển.

Các chính sách thuế BVMT kể từ thời điểm sắc thuế có hiệu lực thi hành trên thực tiễn (1/1/2012), đã hướng đến mục tiêu bảo vệ môi trường như quy định mức thuế suất khá cao vì thế, người tiêu dùng (NTD) sẽ có xu hướng chuyển sang tiêu dùng những sản phẩm khác có cùng công dụng, chức năng nhưng có giá rẻ hơn do không bị đánh thuế và cũng chính vì thế mà các doanh nghiệp tiêu thụ được ít sản phẩm hơn. Đồng thời, khuyến khích NTD và doanh nghiệp sử dụng các năng lượng có lợi cho môi trường. Tuy nhiên, thực tiễn thực thi loại CCKT này đã có nhiều vấn đề đặt ra, Cụ thể:

Thứ nhất, Đối tượng đối tượng chịu thuế. Điều 3 Luật Thuế BVMT năm 2010 quy định 8 nhóm sản phẩm hàng hóa thuộc diện chịu thuế là chưa đầy đủ. Trên thực tế, có nhiều sản phẩm, hàng hóa mà việc sử dụng có khả năng gây ÔNMT nhưng lại chưa được đưa vào diện điều chỉnh của Luật Thuế BVMT năm 2010. Ví dụ như các chất tẩy rửa trong công nghiệp, chất kích thích tăng trưởng, khí than, khí thiên nhiên..vvv mà khi đưa vào sử dụng có mức độ gây ô nhiễm trên diện rộng, tác động xấu đến môi trường sinh thái và sức khỏe con người Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Thứ hai, Mức thuế suất đối với một số sản phẩm, hàng hóa là đối tượng chịu thuế. Mức thuế BVMT thể hiện mức độ điều tiết của Nhà nước đối với những hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường. Luật thuế BVMT năm 2010 quy định biểu khung thuế BVMT với mức thuế “tuyệt đối”. Tuy nhiên, khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa áp dụng cho một loại hàng hóa là tương đối lớn nhất “Biên độ khung thuế suất quy định là quá rộng” đối với hầu hết các nhóm hàng, mặt hàng, dẫn tới khả năng việc áp dụng sẽ không thống nhất đối với các doanh nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng nhưng tại các địa phương khác nhau.

  • Quy định về nghĩa vụ nộp phí bảo vệ môi trường

Phí bảo vệ môi trường là một CCKT hữu hiệu được sử dụng phổ biến ở trên thế giới nhằm kiểm soát ÔNMT và tạo nguồn thu cho NSNN dành cho hoạt động BVMT. Theo cách tiếp cận của cơ quan thống kê Châu Âu thì BVMT được hiểu là loại phí có căn cứ tính phí dựa trên các chất gây hại cho môi trường. Theo đó, phí BVMT là loại phí được xếp vào loại phí bảo vệ môi trường nếu căn cứ tính phí là một đơn vị vật chất (hoặc đại diện cho nó) của một vật gì đó đã được chứng minh sẽ gây ra một tác động có hại đặc biệt đến môi trường.

Phí BVMT nhưng với những mục tiêu và cơ sở tính phí BVMT được xác định rõ ràng trong Luật BVMT năm 2014, Luật phí và lệ phí năm 2015 định nghĩa: “Phí BVMT là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc làm phát sinh tác động xấu đối với môi trường phải nộp nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp dịch vụ cho hoạt động BVMT

Với tư cách là CCKT phí BVMT là khoản thu được sử dụng để bù đắp một phần các chi phí cho công tác BVMT, giải quyết một phần các vấn đề môi trường do những người đóng phí gây ra. Theo đó, mức phí BVMT phải được tính toán đảm bảo bù đắp chi phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bỏ ra để thực hiện công việc, cung cấp dịch vụ phục vụ người nộp phí BVMT.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, với tư cách là CCKT thì phí BVMT có tác dụng điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm theo hướng có lợi cho môi trường. Với lý do phải chi trả chi phí môi trường nên buộc doanh nghiệp phải chủ động cân nhắc một cách linh hoạt các phương án tối ưu trong hoạt động sản xuất và tiêu dùng để vừa thực hiện được biện pháp có lợi hơn cho môi trường nhưng đồng thời có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Đây được gọi là nguyên tắc lợi đôi đường “Win – Win” principle, được hình thành nhờ việc áp dụng tốt CCKT trong BVMT. Đồng thời, phí BVMT tạo nguồn thu cho NSNN trong hoạt động BVMT. Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

So với các nước trên thế giới, công cụ phí BVMT ở Việt Nam được áp dụng khá muộn. Hiện nay, phí BVMT của Việt Nam về cơ bản có hai loại là phí nước thải và phí rác thải (gọi tắt là “Chất thải”) .

Trong quá trình thực hiện, pháp luật về phí BVMT đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn đời sống.

Nhìn chung, các quy định về phí BVMT đã mang lại những hiệu quả nhất định trong việc BVMT, điều chỉnh hành vi chủ thể xả thải theo hướng có lợi cho môi trường và tạo được nguồn tài chính đáng kể cho ngân sách trung ương và địa phương trong BVMT. Tuy nhiên, pháp luật về phí BVMT cũng dần bộc lộ những hạn chế và bất cập, làm giảm hiệu lực và hiệu quả của phí BVMT đối với khả năng giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Cụ thể:

Thứ nhất, mức thu phí BVTM hiện nay còn khá thấp, điều này chưa thực sự bù đắp được các chi phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bỏ ra để thực hiện công việc, cung cấp dịch vụ phục vụ người nộp phí BVMT. Bên cạnh đó, mức thu phí theo quy định hiện hành không đủ liều lượng để buộc các doanh nghiệp phải cải tạo hệ thống xử lý chất thải. Điều này sẽ không phát huy được hiệu quả thực thi của pháp luật.

Thứ hai, đối tượng chịu phí BVMT chưa đầy đủ. Ví dụ, pháp luật không quy định đối tượng chịu phí là các của hàng thức ăn nhanh, siêu thị; khu công nghệ cao; hệ thống xử lí nước thải tập trung khu đô thị…vvv. Do đó, dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện của cơ quan chức năng. Điển hình, hiện nay cả nước có 3 khu công nghệ cao ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng. Tuy nhiên, Nghị định số 154/2016/NĐ-CP không có quy định về đối tượng chịu phí là khu công nghệ cao đã gây lúng túng cho các địa phương trong việc xác định khu công nghệ cao thuộc đối tượng chịu phí nước thải công nghiệp hay nước thải sinh hoạt.

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

2.2.1. Những kết quả đạt được

  • Kết quả thực hiện quy định về báo cáo đánh giá tác động môi trường

Căn cứ vào quy định về thẩm quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM được thực hiện theo Quyết định 13/2016/QĐ-UBND về bảo vệ môi trường tỉnh Bình Dương; Quyết định 50/2015/QĐ-UBND về phê duyệt đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường (Hiện nay được thay thế bởi Quyết định 12/2022/QĐ-UBND Bình Dương) , kể từ năm 2019-2022, đã tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM dự án, bao gồm các án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật tại các KCN,. cụ thể như sau:

Năm 2019 thì Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương đã tổ chức họp hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường 146 dự án; phê duyệt 85 báo cáo đánh giá tác động môi trường (tăng 4,2% so với cùng kỳ), 6 đề án bảo vệ môi trường chi tiết (giảm 83,3% so với cùng kỳ), 27 kế hoạch bảo vệ môi trường, 9 phương án cải tạo phục hồi môi trường (tăng 12,5% so với cùng kỳ). Tham gia Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM tại Ban Quản lý các khu công nghiệp Bình Dương và Ban Quản lý khu công nghiệp Việt Nam Singapore 145 dự án (tăng 10,6% so với cùng kỳ). Tham gia góp ý hội đồng thẩm định của Bộ Tài Nguyên và Môi trường đối với 22 dự án; có ý kiến chuyên ngành đối với 121 dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp.

Năm 2020 thì Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương đã tổ chức họp hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường 68 dự án; phê duyệt 44 báo cáo đánh giá tác động môi trường, 25 kế hoạch bảo vệ môi trường. Tham gia Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM tại Ban Quản lý các khu công nghiệp Bình Dương và Ban Quản lý khu công nghiệp Việt Nam Singapore 68 dự án; tham gia thẩm định báo cáo ĐTM cấp Bộ 17 dự án. Thẩm định và có ý kiến trả lời 119 dự án đầu tư; góp ý đồ án quy hoạch chi tiết 71 dự án; góp ý quy hoạch chi tiết khu nhà ở, thiết kế cơ sở công trình hạ tầng kỹ thuật cho 154 dự án.

Năm 2021 thì Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương đã tổ chức họp hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với 106 dự án; trình phê duyệt/xác nhận 50 báo cáo ĐTM, 22 kế hoạch bảo vệ môi trường. Tham gia Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM tại Ban Quản lý các Khu công nghiệp Bình Dương đối với 66 dự án. Tham gia góp ý báo cáo ĐTM cấp Bộ đối với 10 dự án. Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Năm 2022 thì Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương đã tổ chức họp Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cho 31 dự án; trình phê duyệt 38 báo cáo ĐTM; thông báo kết quả thẩm định Báo cáo ĐTM 12 dự án; thông báo xác nhận đăng ký Kế hoạch bảo vệ môi trường 03 dự án. Họp Hội đồng thẩm định/tổ thẩm định báo cáo đề xuất Giấy phép môi trường 24 dự án; thông báo kết quả họp Hội đồng thẩm định/tổ thẩm định 34 dự án; cấp Giấy phép môi trường đối với 07 dự án. Tham dự họp Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với 12 dự án và họp Tổ thẩm định cấp Giấy phép môi trường đối với 11 dự án theo thư mời của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường cho 03 doanh nghiệp.

  • Kết quả thực hiện quy định về xử lý nước thải công nghiệp

Đối chiếu với các quy định của Nghị định số 38/2015/NĐ-CP và Nghị định 08/2022/NĐ-CP hiện nay việc thực hiện các quy định về xử lý nước thải ở tỉnh Bình Dương đã đạt được những kết quả cụ thể như sau:

  • Khu công nghiệp Bàu Bàng

KCN được đầu tư trạm xử lý nước thải tập trung với công suất thiết kế là là 16.000 m3 /ngày đêm do Tổng công ty Đầu tư và Phát triển công nghiệp – TNHH Một thành viên (Becamex IDC) là chủ đầu tư. Hiện tại hệ thống xử lý nước thải tập trung đã xây dựng hoàn chỉnh, lắp đặt giai đoạn vận hành thử nghiệp hoàn thành và đi vào vận hành phục vụ cho cả 02 giai đoạn.

Đối với giai đoạn 1: Cho đến thời điểm hiện tại các cơ sở đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại đây chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong đó, chiếm tới 95% thuộc đối tượng lập bản cam kết BVMT (nay gọi là đăng ký kế hoạch BVMT) không có doanh nghiệp nào phát sinh khí thải gây ô nhiễm môi trường. Các doanh nghiệp phải chấp hành các biện pháp BVMT như trong cam kết và được UBND tỉnh cấp phép xả thải theo quy định. Do vậy công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải thông thường được Công Ty TNHH Môi Trường Đô Thị Bình Dương thực hiện hợp đồng với các doanh nghiệp lưu trữ theo quy định hợp đồng với đơn vị chức năng vận chuyển và xử lý.

Đối với giai đoạn 2: Đến năm 2022 đã cơ bản hoàn thành hạ tầng KCN và thu hút 43 nhà đầu tư thứ cấp trong đó có 21 cơ sở đã đi vào hoạt động sản xuất và 22 dự án đã và đang xây dựng. Do trạm xử lý nước thải tập trung chưa đi vào hoạt động nên các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải tự đầu tư xây dựng và các biện pháp giảm thiểu xử lý ô nhiễm môi trường đạt chuẩn trước khi thải ra hệ thống thoát nước của KCN.

  • Khu công nghiệp Việt Hương 1 Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Đến nay, KCN Việt Hương 1 đã có 25 dự án, trong đó số dự án đang hoạt động là 16/26. Các dự án đã phê duyệt báo cáo ĐTM là 20 dự án, 02 dự án xác nhận kế hoạch BVMT; 05 dự án xác nhận hoàn thành công trình BVMT.

Hiện nay, KCN Việt Hương 1 đã xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung với công suất 1.000 m3/ngày đêm do Công ty TNHH Công nghệ Môi trường Hòa Bình Xanh thiết kế thi công

  • KCN Sóng Thần 1

Tại KCN Sóng Thần 1, các dự án đang hoạt động có phát sinh lưu lượng nước thải lớn khoảng 8.400 m3/ngày đêm trở lên hoặc phát sinh nước thải sản xuất từ đều được chủ đầu tư xây dựng hệ thống XLNTTT đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả thải ra môi trường. Các dự án chỉ phát sinh nước thải sinh hoạt với lưu lượng thấp, nước thải từ hoạt động chế biến thức ăn, nhà vệ sinh được xử lý sơ bộ bằng hố gas hoặc bể tự hoại trước khi thải ra môi trường. Căn cứ kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước của các dự án cho thấy, các chỉ tiêu phân tích đều nằm trong giới hạn cho phép theo quy chuẩn Việt Nam (QCVN), QCVN 14: 2008 – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải sinh hoạt và QCVN40: 2011-Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải công nghiệp… Biến thiên chất lượng môi trường nước thải sau xử lý tại một số dự án cụ thể như sau:

  • Bảng 2.1: Đánh giá diễn biến kết quả quan trắc một số thông số trong nước thải sau xử lý năm 2019 so sánh với một số quy chuẩn hiện hành tại Nhà máy xử lý nước thải tập trung của KCN Sóng Thần 1
  • Hình 1: Hàm lượng BOD5 trong nước thải đầu ra của hệ thống XLNT năm 2019 được so sánh với cột A của QCVN 40:2011/BTNMT (Kq = 0,9; Kf = 1,1)
  • Hình 2: Hàm lượng COD trong nước thải đầu ra của hệ thống XLNT năm 2019 được so sánh với các quy chuẩn kỹ thuật hiện hành (Kq = 0,9; Kf = 1,1)
  • Hình 3: Hàm lượng TSS trong nước thải đầu ra của hệ thống XLNT năm 2019 được so sánh với cột A, QCVN 40:2011/BTNMT (Kq = 0,9; Kf = 1,1)
  • Hình 4: Hàm lượng dầu mỡ khoáng trong nước thải đầu ra của hệ thống XLNT năm 2019 được so sánh với cột A, QCVN 40:2011/BTNMT (Kq = 0,9; Kf Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Như vậy, sau kết quả quan trắc, hàm lượng các thông số ô nhiễm trong nước thải đầu ra đều nằm trong ngưỡng cho phép so với cột A, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải công nghiệp QCVN 40:2011/BTNM- Quy định các thông số trong nước thải công nghiệp khi thải vào nguồn nước được dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt.

Từ các số liệu báo cáo công tác của Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương qua các năm kể từ 2019-2022 thì thực tiễn thực hiện quy định về xử lý nước thải trong các KCN trên địa bàn Tỉnh Bình Dương đã đạt được một số kết quả sau:

Năm 2019 thì Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương đã tổ chức kiểm tra và xác nhận kết nối dữ liệu hệ thống quan trắc nước thải tự động đối với 22 doanh nghiệp, luỹ kế đến nay có 92 nguồn thải đã lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động và kết nối về Trạm điều hành trung tâm, có 8 nguồn thải đã lắp đặt hệ thống quan trắc khí thải tự động và kết nối về Trạm điều hành trung tâm; đã thông báo kết quả quan trắc nước thải tự động đến quý II năm 2019, trong đó có 18 nguồn nước thải xả nước thải vượt quy chuẩn cho phép, thông số vượt chủ yếu là COD.

Bên cạnh đó, Sở TN&MT cũng đã tổ chức quan trắc tuân thủ và giám sát tự động 94 trạm quan trắc, trong đó – có 92 trạm đã được lắp đặt thiết bị đo chất lượng nước thải tự động; kết quả quan trắc cho thấy có 91,3% nguồn thải xử lý nước thải đạt quy chuẩn, 8,7% các nguồn thải có nước thải thường xuyên vượt quy chuẩn môi trường do trạm gặp sự cố trong quá trình vận hành hệ thống xử lý nước thải, tuy nhiên các sự cố này đã được doanh nghiệp khắc phục ngay sau đó, đồng thời đã thực hiện mời họp và nhắc nhở các đơn vị có thiết bị hư hỏng nhưng chưa khắc phục sửa chữa và yêu cầu nhanh chóng khắc phục các tồn tại. Quản lý và vận hành 4 trạm quan trắc nước mặt, 2 trạm nước dưới đất; nhìn chung các trạm quan trắc hoạt động ổn định, kết quả đo các chỉ tiêu hầu hết không có nhiều biến động, riêng chỉ tiêu TSS có thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Hoàn thành lấy mẫu các chương trình quan trắc năm đúng theo chương trình, kế hoạch đề ra.

Năm 2020 thì Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương đã tiến hành kiểm tra và xác nhận kết nối dữ liệu hệ thống quan trắc nước thải tự động đối với 22 doanh nghiệp, luỹ kế đến thời điểm hiện nay có 99 nguồn thải đã lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động và kết nối về Trạm điều hành trung tâm, có 16 nguồn thải đã lắp đặt hệ thống quan trắc khí thải tự động và kết nối về Trạm điều hành trung tâm; đã thông báo kết quả quan trắc nước thải tự động đến quý II năm 2020, trong đó có 8 nguồn nước thải xả nước thải vượt quy chuẩn cho phép, thông số vượt chủ yếu là COD. Hoàn thành lấy mẫu cho 05 chương trình quan trắc đúng theo chương trình, kế hoạch đề ra.

Năm 2021 thì Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương đã tiến hành kiểm tra và xác nhận kết nối dữ liệu hệ thống quan trắc nước thải tự động đối với 01 doanh nghiệp, luỹ kế đến thời điểm hiện nay có 102 nguồn thải đã lắp đặt hệ thống quan trác nước thải tự động (kiểm soát được 450.000 m3 nước thải/ngày) và 28 nguồn thải đã lắp đặt hệ thống quan trắc khí thải tự động và kết nối về Trạm điều hành trung tâm. Quản lý và vận hành trạm quan trắc nước mặt tự động; Trạm nước nước dưới đất, nước dưới đất tự động; các trạm Thủy văn Tân Uyên trên sông Đồng Nai và Trạm thủy văn Lái Thiêu trên sông Sài Gòn; kết quả định kỳ cho thấy chất lượng nước mặt đạt tiêu chuẩn, các trạm hoạt động và kết quả đo các chỉ tiêu hầu hết tương đối ổn định. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn trình tự thủ tục, hồ sơ và thẩm quyền thành lập trạm thủy văn chuyên dùng; đã trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt phương án cắm mốc giới Trạm thủy văn Lái Thiêu.

Bên cạnh đó, Sở TN&MT cũng đã triển khai thực hiện các chương trình quan trắc và tổ chức giám định theo yêu cầu; đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ giám sát môi trường, hoạt động thiết kế thi công các công trình xử lý nước thải. Theo đó đã thực hiện lấy mẫu giám định theo yêu cầu của các đơn vị quản lý cho 869 lượt doanh nghiệp (bằng 46,82 % so với năm 2020). Đo đạc dịch vụ và giám sát môi trường cho 819 lượt doanh nghiệp với 77.614 chỉ tiêu/10.275 mẫu; phân tích và thử nghiệm được tổng cộng là 138.664 chỉ tiêu/14.246 mẫu, trong đó thực hiện QA/QC 12.604 chỉ tiêu. Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

  • Từ những kết quả trên có thể khái quát những ưu điểm trong lĩnh vực này như sau:

UBND tỉnh, Sở Tài Nguyên và Môi trường, Ban Quản lý các KCN tỉnh Bình Dương, các chủ thể được ủy quyền đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, bảo đảm thẩm định, phê duyệt kịp thời, giám sát thường xuyên nên các công trình xử lý nước thải ở các KCN trên địa bàn tỉnh đều xây dựng đúng thiết kế, yêu cầu kỹ thuật nên từ khi vận hành đến nay không gây ô nhiễm môi trường (so với quy chuẩn Việt Nam) không gây sự cố môi trường.

Các doanh nghiệp đã tích cực, chủ động thực hiện xây dựng, lắp đặt hệ thống xử lý nước thải, có công nghệ xử lý hiện đại, bảo đảm chất lượng nước thải đấu nối với hệ thống xử lý nước thải tập trung

  • Kết quả thực hiện quy định về thu gom, xử lý nguồn chất thải rắn và chất thải khác

Thứ nhất, về công tác thẩm định và cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải

Quy trình cấp Sổ Đăng ký chủ nguồn thải bao gồm: tiếp nhận các hồ sơ của doanh nghiệp tự kê khai đăng ký cấp sổ theo cơ chế “Một cửa”, sau đó hồ sơ sẽ được chuyển về cho Chi cục BVMT thông qua phòng Kiểm soát ô nhiễm, kiểm tra và thẩm định hồ sơ. Hiện nay, tỉnh Bình Dương đang nỗ lực thực hiện công tác cải cách hành chính mạnh mẽ, thời gian thực hiện thủ tục hành chính được rút ngắn từ 50-60% so với quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cụ thể như sau:

  • Năm 2019 thì Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương đã cấp mới và cấp lại 245 sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại (tăng 23,6% so với cùng kỳ), có văn bản hướng dẫn 120 doanh nghiệp chỉnh sửa việc đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại (tăng 17,6% so với cùng kỳ)
  • Năm 2020 thì Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương đã cấp mới và cấp lại 206 sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại, có văn bản hướng dẫn 131 doanh nghiệp chỉnh sửa việc đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại
  • Năm 2021 thì Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương đã cấp mới và cấp lại 152 số đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại, có văn bản hướng dẫn 76 doanh nghiệp chỉnh sửa việc đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại

Thứ hai, về công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý CTR và thực hiện chế độ báo cáo quản lý chất thải rắn định kỳ

Trong giai đoạn vừa qua, tỉnh Bình Dương đã rất nỗ lực trong công tác quản lý chất thải rắn với nhiều các biện pháp được triển khai đồng bộ như tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật, kiểm tra uốn nắn nhắc nhở… Kết quả bước đầu đã đạt được nhiều thành công đáng khích lệ, tỷ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh chấp hành tốt các quy định về quản lý chất thải rắn ngày càng tăng Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Nhìn chung hình thức quản lý chất thải rắn hiện nay tại các cơ sở sản xuất kinh doanh là phân loại thu gom, lưu giữ trong kho, khi nào khối lượng CTR đạt số lượng lớn thì tiến hành thuê đơn vị chức năng vận chuyển, xử lý.

Việc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ công tác quản lý chất thải rắn đối với cơ quan quản lý nhà nước đã được các cơ sở sản xuất kinh doanh quan tâm thực hiện, thống kê Số lượng các doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo định kỳ công tác quản lý chất thải rắn một số năm gần đây như sau:

  • Bảng 2.2: Thống kê số lượng các doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo định kỳ công tác về hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn ở tỉnh Bình Dương

Như vậy, từ năm 2017 đến nay, số lượng các doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo định kỳ công tác thu gom chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã tăng lên liên tục và đáng kể. Điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn của các doanh nghiệp ở tỉnh Bình Dương ngày càng nâng lên.

  • Thứ ba, về công tác đầu tư và xã hội hóa kinh phí sự nghiệp môi trường

Hiện nay công tác BVMT rất được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo. Kinh phí chi sự nghiệp môi trường ở tất cả các cấp (tỉnh, huyện, xã) đều tăng qua các năm. Các công trình, dự án xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường được đầu tư tập trung vào các vấn đề trọng điểm như: Các điểm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; Chất thải sinh hoạt; nước thải sinh hoạt đô thị; nước thải công nghiệp, chăn nuôi.

Bên cạnh đó, tỉnh Bình Dương từng bước thực hiện xã hội hoá công tác BVMT trong đầu tư, tranh thủ được các nguồn lực từ các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp và dân cư cho công tác bảo vệ môi trường, thu hút đầu tư xây dựng các công trình xử lý chất thải, đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường. Trong giai đoạn 2016-2020 Tình Bình Dương đã từng bước triển khai khá kịp thời đáp ứng công tác phòng ngừa khác phục ô nhiễm môi trường, đánh giá chất lượng môi trường, hỗ trợ công tác xử lý chất thải. Báo cáo của hội Liên hiệp phụ nữ Tỉnh Bình Dương sau 2 năm triển khai thực hiện dự án “Tổng hợp nguồn lực xã hội trong công tác giảm thiểu rác thải trên địa bàn TP Dĩ An, Bình Dương” đã hoàn thành, đáp ứng được mục tiêu đề ra và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Trong đó, 100% người dân trong địa bàn thực hiện dự án với tổng 1.800 hộ dân đã được tuyên truyền, nắm bắt thông tin về việc thực hiện phân loại rác tại nguồn. 80% hộ dân có ý thức thực hiện phân loại rác theo tiêu chí của dự án trên địa bàn 2 phường tham gia mô hình dự án. Hoàn thành việc tuyên truyền, ký kết 100 bản cam kết giảm thiểu rác thải nhựa tại các nhà hàng, quán ăn và phát các vật dụng thân thiện môi trường.

2.2.2. Hạn chế, bất cập phát sinh Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

  • Thứ nhất, việc triển khai thực hiện pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT còn chậm, thiếu chủ động.

Việc thực hiện pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT đã được triển khai thực hiện và đạt được kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện. Việc triển khai những quy định của Luật Bảo vệ môi trường còn chậm, chưa thường xuyên chỉ đạo sơ kết, tổng kết và ít kiểm tra đôn đốc, nhắc nhở. Các văn bản pháp luật trong lĩnh vực BVMT thường xuyên thay đổi, song các doanh nghiệp ít tìm hiểu, thiếu chủ động mà hầu như khi có sự đôn đốc nhắc nhở của các cơ quan chức năng mới thực hiện. Việc thực hiện pháp luật BVMT, các chủ thể thực hiện pháp luật BVMT, cấp uỷ Đảng, chính quyền, đội ngũ cán bộ, công chức đã nhận thức tương đối đầy đủ về việc BVMT và quán triệt nội dung BVMT. Song chưa thực sự có “Tâm huyết” đến cùng trong thực hiện các quy định pháp luật về BVMT. Việc thông tin đến được với các doanh nghiệp hầu như chỉ một chiều, khi các doanh nghiệp thắc mắc thì cán bộ, công chức mới giải đáp. Cán bộ, công chức làm công tác quản lý môi trường chưa thực sự chủ động đến với doanh nghiệp, chưa thực sự coi doanh nghiệp như “Khách hàng” của mình để có tinh thần thái độ phục vụ tốt nhất.

Việc đôn đốc, nhắc nhở chưa thật sự sát sao khiến cho việc chấp hành Luật BVMT của các doanh nghiệp chưa thật sự quan tâm đến việc BVMT, cũng như ý thức được trách nhiệm trong việc thực hiện pháp luật BVMT một cách nghiêm túc, dẫn đến tình trạng môi trường vẫn còn bị ô nhiễm.

  • Thứ hai, công tác giám sát thực hiện ĐTM và thực hiện ĐTM được phê duyệt thực hiện chưa nghiêm.

ĐTM là một trong những giải pháp quan trọng trong quản lý các KCN, góp phần tích cực trong việc phòng ngừa ô nhiễm do các hoạt động sản xuất công nghiệp gây ra. Báo cáo ĐTM phải được lập đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án đầu tư để phân tích dự án báo cáo tác động môi trường và trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp BVMT khi triển khai dự án.

Nhưng một thực tế đặt ra là sau khi nhận được giấy phép đầu tư cùng với quyết định phê chuẩn báo cáo ĐTM, hoặc xác nhận đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường thì các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường không có đủ nhân lực, trang thiết bị và thời gian để giám sát môi trường trong quá trình xây dựng và hoạt động của dự án. Hơn thế nữa, họ lại không có đủ thẩm quyền cưỡng chế việc thực thi các yêu cầu được ghi trong quyết định phê chuẩn báo cáo ĐTM, hoặc bản xác nhận đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường. Chính vì vậy mà mặc dù trong báo cáo ĐTM, chủ đầu tư có trình bày các phương án hạn chế tác động như hệ thống xử lý khí thải, rác thải, chất thải rắn và chất thải rắn nguy hại,… nhưng khi xây dựng và hoạt động, nhiều chủ dự án sợ đầu tư tốn kém nên không chịu thực hiện đúng, hoặc hoàn toàn không thực hiện các phương án nhằm hạn chế ô nhiễm, trong KCN có tới 49 dự án chưa được xác nhận hoàn thành công trình BVMT.

Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng dự án đầu tư được phê duyệt nhưng chưa hoặc không làm thủ tục về ĐTM. ĐTM có nhiều bước khác nhau, trong đó chủ dự án chỉ làm một số bước với mục đích được cấp phép đầu tư. Nguyên nhân chủ yếu là do sự nhận thức chưa đầy đủ về công tác ĐTM của các chủ dự án, thậm chí của cả cơ quan xét duyệt dự án. Mặt khác, do các cơ quan quản lý Nhà nước về BVMT thiếu các điều kiện về phương tiện để theo dõi kiểm tra; thiếu lực lượng cán bộ, công chức để xử lý khi có vi phạm; thiếu kiên quyết xử lý khi sự việc xảy ra. Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Một vấn đề thực tế hiện nay nữa là Ban quản ký KCN là cơ quan quản lý trực tiếp các doanh nghiệp, nhưng khi tiến hành kiểm tra các doanh nghiệp, nếu phát hiện có hành vi vi phạm các quy đinh về BVMT nhưng lại không có thẩm quyền xử phạt.

  • Thứ ba, việc thực hiện xây dựng hệ thống xử lý chất thải của các doanh nghiệp chưa đúng quy định.

Trong thời gian qua nhiều doanh nghiệp đã tích cực đầu tư mở rộng sảnxuất, đổi mới trang thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước đầu tư hệ thống xử lý các chất thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường. Tỷ lệ doanh nghiệp có hệ thống xử lý nước thải sơ bộ đạt tiêu chuẩn môi trường có tỷ lệ thấp, hầu hết nước thải của doanh nghiệp được thải trựctiếp ra môi trường trong khi đa số các KCN này đều nằm gần khu dân cư nên nước thải đã ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của người dân.

Qua khảo sát sơ bộ của Sở Tài nguyên và Môi trường thì các KCN, nhiều nhà máy đã đi vào hoạt động song nước thải vẫn chưa được thu gom triệt để, mặc dù hệ thống xử lý nước thải đã được thiết kế, phê duyệt. Các doanh nghiệp chưa xử lý nước thải sơ bộ trước khi thải vào hệ thống XLNTTT của KCN.

Đối với việc trang bị các thiết bị, dụng cụ thu gom, tập trung chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại, các KCN hầu như chưa có đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các cơ sở trong KCN theo quy định. Mặc dù rác thải rắn nguy hại được các doanh nghiệp tự ký hợp đồng với các đơn vị có chức năng vận chuyển, xử lý nhưng việc thu gom vẫn còn nhiều bất cập, chất thải rắn, chất thải nguy hại vẫn được thu gom với rác thải sinh hoạt hoặc chuyển giao vận chuyển, xử lý rác thải rắn nguy hại cho các đơn vị không có chức năng vận chuyển, xử lý.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu có ý thức trong việc BVMT, muốn đầu tư xây dựng công trình xử lý chất thải đặc biệt là rác thải và nước thải trong quá trình sản xuất và sinh hoạt của mình nhưng chưa làm được hoặc không thể là được vì thiếu kinh phí. Bên cạnh đó, việc kiểm soát chưa chặt chẽ dẫn đến KCN phát triển thiếu đồng bộ, đặc biệt là công trình xử lý nước thải. Nhiều KCN tuỳ tiện để doanh nghiệp tự ý khai thác nước ngầm, không kết nối vào đường cấp nước và xả nước thải trong cùng KCN nên không thể kiểm soát được. Như vậy, do kinh phí đầu tư cho công tác BVMT, chưa xây dựng công trình xử lý chất thải tập trung trong KCN, vì thế chưa triển khai được công tác quan trắc giám sát môi trường đối với các công trình xử lý ô nhiễm môi trường trong các KCN còn hạn chế.

Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Chương 2 của luận văn đã tập trung trình bày thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam. Đánh giá chung về thực trạng TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam, luận văn cho rằng trong thời gian vừa qua chúng ta đã có những bước tiến đáng kể trong điều chỉnh pháp luật và thực hiện pháp luật liên quan đến TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT. Tuy nhiên, trên cả hai phương diện này, hiện vẫn còn nhiều hạn chế, vướng mắc, bất cập. Có nhiều nguyên nhân trong đó có thể kể đến những nguyên nhân quan trọng liên quan đến quy mô doanh nghiệp ở Việt Nam dẫn đến khả năng áp dụng pháp luật và thực hiện các tiêu chuẩn về TNXH gặp khó khăn, liên quan đến nhận thức của người dân và doanh nghiệp về TNXH của DN chưa đầy đủ và hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cũng như nghĩa vụ đạo đức của doanh nghiệp chưa tốt,… Đặc biệt, nhìn từ góc độ pháp lý, nguyên nhân căn bản là những thiếu hụt hoặc chưa đồng bộ, thiếu chuẩn xác của một loạt quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của DN trong lĩnh vực BVMT

Ý kiến nhận xét của luận văn về thực trạng TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam có thể chưa sâu sắc nhưng mang tính bao quát và toàn diện. Tác giả luận văn xem đây là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp tăng cường TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

One thought on “Luận văn: Thực trạng PL xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật trách nhiệm xã hội lĩnh vực bảo vệ môi trường

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464