Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2015 đến nay và những kiến nghị hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp đang sử dụng làm tài sản thế chấp, để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2015 đến nay

Hiện nay, việc các doanh nghiệp sử dụng quyền SDĐ để làm tài sản thế chấp không còn xa lạ trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Các doanh nghiệp thường dùng quyền SDĐ của mình làm tài sản thế chấp để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ cho bên thứ ba đối với các tổ chức tín dụng trong hoạt động tính dụng. Đây là hoạt động rất cần thiết cho quá trình kinh doanh, sản xuất của các doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng các giao dịch về dân sự, kinh doanh, thương mại, … kích thích sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế quốc gia.

Từ năm 2016 đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh Long An có 55 doanh nghiệp bị thu hồi đất để phục vụ cho mục đích phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Từ năm 2021 đến năm 2023, trên địa bàn tỉnh Long An có 34 doanh nghiệp bị thu hồi đất phục vụ cho mục đích phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng.44 Đa số các doanh nghiệp bị thu hồi đất nêu trên đều đang thực hiện hoạt động thế chấp quyền SDĐ tại các tổ chức tín dụng, gây nhiều khó khăn cho công tác thu hồi đất của Nhà nước.

Trên địa bàn tỉnh Long An, việc áp dụng quy định pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp đang sử dụng làm tài sản thế chấp còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng, dẫn đến những tranh chấp xảy ra không đáng có. Bởi, thế chấp quyền SDĐ là hoạt động pháp lý rất phức tạp, dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật đối với hoạt động thế chấp quyền SDĐ của các doanh nghiệp còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế. Đơn cử, trường hợp UBND tỉnh Long An thu hồi đất của DNTN Thăng Long, trên địa bàn huyện Cần Đước để thực hiện dự án Khu công nghiệp và Cầu cảng Phước Đông, do công ty Cổ phần IMG Phước Đông làm chủ đầu tư. Theo đó, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank Việt Nam) ủy quyền cho Agribank Thành phố Hồ Chí Minh ký hai hợp đồng tín dụng với ông Đinh Tuấn Kiệt – Chủ DNTN Thăng Long (DNTN Thăng Long), gồm hợp đồng tín dụng số 1700/LAV201002328/HĐTD ngày 17/12/2010, số tiền cho vay là 19 tỷ đồng, thời hạn cho vay là 12 tháng và hợp đồng tín dụng số 1700/LAV20100245/HĐTD ngày 09/02/2011, số tiền cho vay 07 tỷ đồng, thời hạn vay 06 tháng. Để đảm bảo cho hai hợp đồng nêu trên, hai bên đã ký hợp đồng thế chấp số 1700-LCP-201001361 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Long An ngày 23/12/2010, quyển số 05, số thứ tự 370, tài sản thế chấp là: Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

  • Quyền SDĐ theo giấy chứng nhận quyền SDĐ số T00045QSDĐ/0415-LA do UBND tỉnh Long An cấp ngày 29/9/2003 (Thửa số 2015, tờ bản đồ số 05, số phát hành Y 457938, số vào sổ cấp giấy số T00045).
  • Tài sản gắn liền với đất: Nhà văn phòng (Giấy phép xây dựng số 114/GPXD do UBND huyện Cần Đước cấp ngày 24/11/2003; Bản vẽ xây dựng ngày 24/11/2003. Giấy chủ quyền nhà số 232/UB.NĐ do UBND huyện Cần Đước cấp ngày 29/11/2004).

Do ông Kiệt vi phạm nghĩa vụ nên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank Việt Nam) ủy quyền cho Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng đã khỏi kiện ông Đinh Tuấn Kiệt – Chủ DNTN Thăng Long và được Tòa án Nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh theo Thông báo số 0688/2018/TB-TLVA ngày 15/8/2018. Trong quá trình giải quyết thì Agribank Việt Nam được biết UBND huyện Cần Đước đã ban hành các quyết định thu hồi đất, bồi thường và cưỡng chế thu hồi đất đối với DNTN Thăng Long để UBND tỉnh Long An giao đất cho Công ty Cổ phần IMG Phước Đông (Công ty IMG Phước Đông) thực hiện dự án Khu công nghiệp và Cầu cảng Phước Đông.

Ngày 22/5/2020, UBND huyện Cần Đước đã chi trả bồi thường, hỗ trợ đối với tài sản trên đất cho DNTN Thăng Long với số tiền 8,3 tỷ đồng. Tại cuộc họp giữa đại diện Agribank Việt Nam Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh các ngày 11/9/2020 và ngày 20/4/2021, Agribank thể hiện rõ quan điểm chỉ giải chấp tài sản thế chấp khi DNTN Thăng Long trả hết nợ hoặc khi có phán quyết của Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Nhưng DNTN Thăng Long vẫn được UBND huyện Cần Đước chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ. Do đó, Agribank Việt Nam đã khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy các quyết định về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ của UBND tỉnh Long An và UBND huyện Cần Đước. Đồng thời, yêu cầu xem xét hành vi chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ sai của UBND huyện Cần Đước cho DNTN Thăng Long và buộc UBND huyện Cần Đước có trách nhiệm thu hồi số tiền đã chi không đúng theo Phiếu chi ngày 22/5/2020 theo quy định và bồi thường nhà nước cho thiệt hại của Agribank Việt Nam.

Căn cứ Bản án số 76/2022/HC-ST, ngày 18/7/2022, của Tòa án Nhân dân tỉnh Long An tuyên xử:

  • Bác yêu cầu khởi kiện của Agribank Việt Nam về việc khởi kiện quyết định hành chính của UBND tỉnh Long An, Chủ tịch UBND huyện Cần Đước, UBND huyện Cần Đước.
  • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của hành vi hành chính của Agribank Việt Nam. Hành vi của UBND huyện Cần Đước đã chi trả số tiền bồi thường 8,3 tỷ đồng cho DNTN Thăng Long là hành vi trái pháp luật. Buộc UBND huyện Cần Đước phải có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, công vụ để ban hành quyết định và thực hiện việc thu hồi số tiền 8,3 tỷ đồng đã chi cho DNTN Thăng Long. Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Không đồng ý với quyết định của Tòa án Nhân dân tỉnh Long An, Agribank Việt Nam và UBND huyện Cần Đước kháng cáo đến Tòa án Nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua quá trình xét xử, Tòa án Nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định bác kháng cáo của Agribank Việt Nam và UBND huyện Cần Đước, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số: 76/2022/HC-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án Nhân dân tỉnh Long An.

Qua trường hợp trên, có thể thấy, việc thu hồi đất của doanh nghiệp đang sử dụng làm tài sản thế chấp đang gặp phải nhiều bất cập trong công tác áp dụng pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của doanh nghiệp và bên nhận thế chấp là các tổ chức tín dụng.

Theo quy định tại Điều 6, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/6/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ TN&MT và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm, đối với tài sản thế chấp là quyền SDĐ, tài sản gắn liền với đất trong trường hợp hợp đồng thế chấp được ký trước khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất sẽ được xử lý như sau:

“1. Trong quá trình lập phương án về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật đất đai, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường có trách nhiệm tìm hiểu thông tin về quyền SDĐ, tài sản gắn liền với đất bị thu hồi tại Văn phòng đăng ký quyền SDĐ.

Trên cơ sở nội dung đăng ký thế chấp được Văn phòng đăng ký quyền SDĐ cung cấp, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về số tiền bồi thường, thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường cho bên nhận thế chấp và bên thế chấp……3. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc bên nhận thế chấp được nhận số tiền bồi thường, các lợi ích phát sinh liên quan đến tài sản thế chấp trong thời gian hợp đồng thế chấp có hiệu lực thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường chỉ thực hiện việc chi trả tiền bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều này cho bên nhận thế chấp sau khi có văn bản đồng ý của bên thế chấp. Trường hợp bên thế chấp không đồng ý thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường chuyển số tiền bồi thường vào tài khoản do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường lập tại ngân hàng và thực hiện việc chi trả sau khi có bản án, quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Theo đó, quyền SDĐ và tài sản gắn liền với đất của DNTN Thăng Long vẫn đang thế chấp tại Agribank Việt Nam thông qua giao dịch bởi Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh nên việc chi tiền cho DNTN Thăng Long phải được sự đồng ý bằng văn bản thỏa thuận của bên nhận thế chấp là Agribank Việt Nam. Do đó, UBND huyện Cần Đước tiến hành chi trả số tiền 8,3 tỷ đồng cho DNTN Thăng Long là trái quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Ví dụ trên là một trong các trường hợp đặc trưng về những bất cập đối với việc áp dụng quy định pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp mà quyền SDĐ đang là tài sản thế chấp tại các tổ chức tín dụng. Tác giả nhận thấy, việc áp dụng quy định pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp đang sử dụng làm tài sản thế chấp, để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng chưa nhận được sự quan tâm sâu sắc từ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, dẫn đến các tranh chấp không đáng có, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Có thể thấy, giá trị tài sản thế chấp là quyền SDĐ của các doanh nghiệp thông thường rất lớn. Đối với việc thu hồi đất mà doanh nghiệp đang dùng làm tài sản bảo đảm cho hợp đồng vay, nếu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất lơ là về áp dụng các quy định pháp luật, sẽ dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng cho bên vay là doanh nghiệp và cả bên cho vay là các tổ chức tín dụng.

Bên cạnh đó, pháp luật điều chỉnh về xử lý tài sản thế chấp là quyền SDĐ, tài sản gắn liền với đất trong trường hợp hợp đồng thế chấp được ký trước khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất còn chưa phù hợp với thực tiễn. Theo Khoản 1, Điều 6, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/6/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ TN&MT và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quy định “trách nhiệm tìm hiểu thông tin về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất bị thu hồi tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất được Tổ chức làm nhiệm vụ GPMB thực hiện vào giai đoạn lập phương án về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”46 là khá muộn so với quy trình thu hồi đất, dẫn đến tình trạng lúng túng, cập rập trong việc xử lý, gây ra những thiếu sót trong áp dụng pháp luật.

Đồng thời, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN quy định “Trên cơ sở nội dung đăng ký thế chấp được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cung cấp, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về số tiền bồi thường, thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường cho bên nhận thế chấp và bên thế chấp.”47 Việc thông báo được Tổ chức làm nhiệm vụ GPMB thực hiện trong quá trình lập phương án về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là chưa phù hợp với thực tiễn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp. Quy định trên không xác định thời điểm cụ thể về việc thông báo đến bên thế chấp và bên nhận thế chấp mà sử dụng một khoản thời gian mở là “trong quá trình lập phương án về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”. Trên thực tế, “trong quá trình lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”, hay kể cả thời điểm đã lập xong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, Tổ chức làm nhiệm vụ GPMB cũng không thể thông báo đến bên thế chấp và bên nhận thế chấp về số tiền bồi thường, thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường khi phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chưa được UBND có thẩm quyền phê duyệt.

Như vậy, bên nhận thế chấp chỉ tiếp cận được thông tin về quyền SDĐ, tài sản gắn liền với đất đang được Nhà nước thu hồi ở giai đoạn đã có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quyết định thu hồi đất của UBND có thẩm quyền. Bởi, theo quy định pháp luật, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quyết định thu hồi đất của UBND có thẩm quyền phải được ban hành cùng một ngày. Hơn nữa, đây là cơ sở chính xác để Tổ chức làm nhiệm vụ GPMB làm căn cứ thông báo về số tiền bồi thường, thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường đến bên nhận thế chấp và bên thế chấp. Các giai đoạn trước đó như công bố chủ trương đầu tư, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm… bên nhận thế chấp không được thông báo về việc Nhà nước thu hồi quyền SDĐ đang được sử dụng làm tài sản thế chấp. Trong khi đó, tại Điều 43a, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 được bổ sung bởi Khoản 28, Điều 2, Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/1/2017 quy định như sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

“Đất đang cho thuê, thế chấp mà Nhà nước thu hồi theo quy định tại Điều 61 và Điều 62 của LĐĐ thì hợp đồng thuê đất, hợp đồng thế chấp bằng quyền SDĐ bị chấm dứt. Việc xử lý quyền và nghĩa vụ có liên quan đến quyền SDĐ giữa các bên trong hợp đồng thuê đất, hợp đồng thế chấp thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

Theo đó, hợp đồng thế chấp quyền SDĐ sẽ chấm dứt khi Nhà nước thu hồi đất. Quyết định thu hồi đất sẽ là căn cứ để xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng thế chấp quyền SDĐ. Như vậy, khi Tổ chức làm nhiệm vụ GPMB thông báo về số tiền bồi thường, thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường thì hợp đồng thế chấp quyền SDĐ đã chấm dứt. Bên thế chấp và bên nhận thế chấp sẽ hoàn toàn bị động trong việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng thế chấp theo quy định pháp luật.

Từ những lập luận trên, cho thấy việc áp dụng quy định pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp đang sử dụng làm tài sản thế chấp, để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng còn gặp phải nhiều khó khăn trong giải quyết các trường hợp xảy ra trên thực tế. Đồng thời, chưa nhận được sự quan tâm đúng mực từ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, dẫn đến các tranh chấp không đáng có, như trường hợp của UBND huyện Cần Đước, DNTN Thăng Long và Agribank Việt Nam. Bên cạnh đó, quy định pháp luật về mối quan hệ giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp khi Nhà nước thu hồi đất còn chưa cụ thể, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu từ thực tiễn. Do đó, pháp luật cần có những sự điều chỉnh, bổ sung phù hợp hơn.

2.2. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về hỗ trợ cho doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2015 đến nay Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

2.2.1. Thực trạng về mức hỗ trợ ổn định sản xuất cho doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất

Khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia công cộng gây thiệt hại về đất cho người SDĐ là điều vô cùng tất yếu. Thiệt hại về đất không chỉ là thiệt hại về giá trị quyền SDĐ mà còn là các thiệt hại về nhiều góc độ khác như thiệt hại về mất nơi ở đang sinh sống ổn định, thiệt hại về việc phải di chuyển chỗ ở, thiệt hại về cây trồng, vật nuôi đang canh tác, chăn nuôi trên đất, thiệt hại về hạn chế khả năng SDĐ do Nhà nước thu hồi một phần thửa đất mà phần còn lại không đủ để ở, canh tác hoặc chăn nuôi… Tính từ năm 2021 đến năm 2022, trên địa bàn tỉnh Long An có “9.372 hộ gia đình, cá nhân, tổ chức bị thu hồi đất để thực hiện các công trình, dự án nhằm mục đích phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Có thể thấy, đối với số lượng người dân bị thu hồi đất nhiều như vậy sẽ dẫn đến việc giải quyết hậu quả của hoạt động thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp. Do đó, bên cạnh việc bồi thường về đất thỏa đáng, việc giải quyết tốt vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất sẽ mang lại những ý nghĩa to lớn về nhiều mặt.

Đối với doanh nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH, dẫn đến những thiệt hại đáng kể cho doanh nghiệp như mất địa điểm kinh doanh, sản xuất, phải tự tìm kiếm nơi kinh doanh, sản xuất mới, tìm kiếm lao động mới để tiếp tục hoạt động, gây đình trệ trong kinh doanh, sản xuất. Cho nên, việc hỗ trợ doanh nghiệp sau khi Nhà nước thu hồi đất là vô cùng cần thiết, cần được sự quan tâm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp tục thực hiện hoạt động kinh doanh, sản xuất, góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế quốc gia.

Trên địa bàn tỉnh Long An, các quy định về hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp còn tồn tại nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn. Cụ thể, điều kiện để doanh nghiệp được “hỗ trợ ổn định sản xuất 30% mức thu nhập sau thuế, khi thuộc vào trường hợp giải tỏa trắng nhà xưởng, cơ sở kinh doanh, bị ngừng sản xuất kinh doanh do phải tháo dỡ, di dời nhà xưởng, cơ sở sản xuất kinh doanh. Đối với trường hợp giải tỏa một phần nhà xưởng, cơ sở sản xuất kinh doanh nhưng có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ được hỗ trợ 15% mức thu nhập sau thuế.

So với trường hợp giải tỏa trắng nhà xưởng, cơ sở kinh doanh, trường hợp giải tỏa một phần nhà xưởng, cơ sở kinh doanh, sản xuất có mức hỗ trợ ổn định sản xuất thấp hơn một nữa. Trên thực tiễn, đây là một điều khá vô lý, do các doanh nghiệp khi bị ảnh hưởng một phần diện tích đất và phải tháo dỡ một phần nhà xưởng, cơ sở kinh doanh, sản xuất mất nhiều thời gian, tiền bạc, công sức để sửa chữa phần nhà xưởng, cơ sở kinh doanh, sản xuất còn lại, làm cho quá trình hoạt động kinh doanh, sản xuất đang diễn ra bình thường bị ngừng trệ. Hơn nữa, mặc dù không phải di chuyển nhà xưởng, cơ sở kinh doanh nhưng diện tích kinh doanh, sản xuất đã bị thu hẹp so với ban đầu, quy mô kinh doanh bị giảm, làm cho doanh thu bị tuột giảm, ảnh hưởng lớn đến sự duy trì và phát triển của doanh nghiệp. Do đó, mức hỗ trợ ổn định sản xuất cho doanh nghiệp bị giải tỏa một phần nhà xưởng, cơ sở kinh doanh, sản xuất bằng 15% mức thu nhập sau thuế là thấp so với lợi ích của doanh nghiệp bị mất đi khi Nhà nước thu hồi đất.

Bên cạnh đó, đối tượng được hỗ trợ ổn định sản xuất bằng 15% mức thu nhập sau thuế cần có hai điều kiện. Một là, bị Nhà nước giải tỏa một phần nhà xưởng, cơ sở kinh doanh, sản xuất. Hai là, việc giải tỏa một phần nhà xưởng, cơ sở kinh doanh, sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, sản xuất. Tuy nhiên, việc xác định có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, sản xuất hay không là vô cùng khó khăn, đòi hỏi cách nhìn nhận khách quan từ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và hoạt động chứng minh của bản thân doanh nghiệp.

2.2.2. Thực trạng về giải quyết địa điểm kinh doanh, sản xuất mới cho doanh nghiệp sau khi Nhà nước thu hồi đất Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Tương tự quy định về hỗ trợ tái định cư cho hộ gia đình, cá nhà bị thu hồi đất, việc hỗ trợ địa điểm mới để doanh nghiệp tiếp tục sản xuất, kinh doanh là vô cùng cần thiết, đảm bảo quyền và lợi ích của doanh nghiệp, đồng thời tạo niềm tin và sự đồng thuận từ các doanh nghiệp khi bị giải tỏa nhà xưởng, cơ sở sản xuất, kinh doanh, đảm bảo tiến độ GPMB của các dự án được thực hiện theo đúng kế hoạch.

Khi thu hồi đất của doanh nghiệp, pháp luật có quy định về hỗ trợ cho thuê đất để doanh nghiệp tiếp tục sản xuất, kinh doanh nhưng chính sách này chỉ áp dụng đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng mà người SDĐ không được bồi thường về đất.51 Các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng mà không được bồi thường về đất được quy định cụ thể tại Điều 82, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018, bao gồm:

“- Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54 của Văn bản hợp nhất Luật Đất đai 2018;

  • Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;
  • Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;
  • Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;
  • Đất nhận khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

Như vậy, đối với các doanh nghiệp SDĐ theo các hình thức khác như Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ nhưng không thuộc trường hợp có thu tiền SDĐ nhưng được miễn tiền SDĐ; Nhà nước cho thuê đất thu tiền một lần cho cả thời gian thuê nhưng không thuộc trường hợp miễn tiền thuê đất, … thì không có chính sách cụ thể về hỗ trợ cho thuê đất để doanh nghiệp tiếp tục sản xuất, kinh doanh. Đây là một bất cập khá lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của doanh nghiệp khi Nhà nước tiến hành hoạt động thu hồi đất để phát triển KT – XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Hiện nay, UBND tỉnh Long An chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về chính sách hỗ trợ địa điểm mới để doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh, sản xuất sau khi bị thu hồi đất mà chỉ quy định về việc tạo điều kiện thuê trụ sở, nhà xưởng, nhà làm việc, kho tạm thời khi UBND tỉnh chưa bố trí kịp địa điểm mới, cụ thể: “Tổ chức bị thu hồi đất phải di chuyển đến cơ sở mới nhưng Ủy ban nhân dân tỉnh chưa kịp bố trí địa điểm di chuyển thì được hỗ trợ thuê trụ sở, nhà xưởng, nhà làm việc, kho tàng tạm thời trung chuyển. Mức hỗ trợ xác định bằng diện tích thuê (nhưng tối đa không vượt quá diện tích bị thu hồi) nhân đơn giá thuê cho thời gian tính từ khi bàn giao toàn bộ mặt bằng đến khi có thông báo nhận địa điểm mới của Ủy ban nhân dân tỉnh nhưng thời gian hỗ trợ tối đa không quá 12 tháng.”53 Theo đó, UBND tỉnh Long An chưa cụ thể hóa bằng văn bản quy phạm pháp luật đối với các quy định về đối tượng và điều kiện được hỗ trợ địa điểm sản xuất, kinh doanh mới khi Nhà nước thu hồi đất. Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An thường đặt vấn đề về việc Nhà nước hỗ trợ nơi kinh doanh, sản xuất mới khi các cơ quan có thẩm quyền thực hiện công tác GPMB nhưng UBND tỉnh chưa giải quyết thấu đáo các vấn đề nêu trên, gây bức xúc cho doanh nghiệp bị thu hồi đất, dẫn đến tình trạng khiếu nại kéo dài vì cho rằng quyền và lợi ích của doanh nghiệp liên quan đến bồi thường, hỗ trợ GPMB chưa được đảm bảo. Hiện nay, có một số trường hợp doanh nghiệp vẫn tiếp tục khiếu nại để được giải quyết về việc hỗ trợ địa điểm mới để xây cất nhà, xưởng tiếp tục kinh doanh, sản xuất. Như trường hợp thu hồi 3.592 m², loại đất SKK (Đất khu công nghiệp), Công ty TNHH Lợi Lợi là người SDĐ, tại địa bàn huyện Bến Lức để thực hiện dự án trạm 110KV, do Tổng công ty Điện lực Miền Nam làm chủ đầu tư. Kế hoạch thu hồi đất để thực hiện dự án được triển khai từ năm 2018, nhưng đến nay Công ty TNHH Lợi Lợi chưa đồng ý bàn giao mặt bằng do Công ty TNHH Lợi Lợi đã có đề nghị UBND tỉnh Long An bố trí một địa điểm khác tương đồng với hình thức “Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê”. Tuy nhiên, UBND tỉnh Long An vẫn chưa thể giải quyết được đề nghị của Công ty TNHH Lợi Lợi. Bên cạnh trường hợp nêu trên, theo Báo cáo số 248-BC/TU ngày 12/12/2022 của Tỉnh ủy Long An về việc nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, GPMB và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An cho thấy còn nhiều trường hợp doanh nghiệp không đồng ý nhận tiền bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất do có kiến nghị về việc được bồi thường về đất kinh doanh, sản xuất và hỗ trợ nơi sản xuất, kinh doanh mới. Cụ thể, từ năm 2021 đến năm 2022:

  • Huyện Đức Hòa đang tồn tại 03 trường hợp: Công ty TNHH Sơn Hiệp Phát, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Thiêm Hồng Phát, Công ty TNHH Sản xuất Thương Mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu Trường Vinh thuộc dự án Đường cập kênh Tây.
  • Huyện Cần Đước đang tồn tại 01 trường hợp: DNTN Thăng Long thuộc dự án Khu công nghiệp và Cầu cảng Phước Đông.
  • Huyện Bến Lức đang tồn tại 01 trường hợp: Công ty TNHH Lợi Lợi, dự án trạm 100kv.
  • Huyện Thủ Thừa đang tồn tại 01 trường hợp: Công ty TNHH MTV Phương Gạo, dự án Khu công nghiệp Hòa Bình.
  • Huyện Cần Giuộc đang tồn tại 01 trường hợp: Công ty Xây dựng Thương Mại Cơ khí Phúc Ngân, dự án Khu công nghiệp Đông Nam Á. Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.
  • Thành phố Tân An đang tồn tại 04 trường hợp: Công ty TNHH MTV Ngọc Mai, dự án Đường Vành đai thành phố Tân An và Cầu bắc qua sông Vàm Cỏ Tây; Công ty Xây lắp Cơ khí Lương thực Thực phẩm, Công ty Cổ phần Lương thực Long An, Công ty Cổ phần Xây dựng điện Minh Khôi, dự án Kè chống xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu sông Vàm Cỏ Tây.

Các doanh nghiệp nêu trên đa số không đồng ý nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, bàn giao mặt bằng một phần do giá bồi thường, hỗ trợ còn thấp, một phần do nhu cầu cần được Nhà nước hỗ trợ một vị trí mới, phù hợp để tiếp tục hoạt động kinh doanh, sản xuất. So với doanh nghiệp, việc hỗ trợ tái định cư cho hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước quan tâm rất sâu sắc, điều kiện và đối tượng được hỗ trợ tái định cư vô cùng đa dạng, đáp ứng được nhu cầu xây dựng nơi ở mới tốt hơn nơi ở trước khi bị thu hồi đất. Đối với doanh nghiệp, điều kiện và đối tượng được hỗ trợ cho thuê đất để tiếp tục sản xuất kinh doanh còn hẹp, chưa phản ánh được nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp có đất bị thu hồi.

Từ những phân tích trên cho thấy, bên cạnh các khoản bồi thường, hỗ trợ như bồi thường cho doanh nghiệp về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại, chi phí di chuyển và thiệt hại về tài sản – công trình xây dựng trên đất, việc hỗ trợ về địa điểm sản xuất, kinh doanh mới cho doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất cần nhận được sự quan tâm đúng mực từ các cơ quan có thẩm quyền, giúp bảo đảm tối đa quyền lợi của chủ thể bị thu hồi đất là doanh nghiệp, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, tiết kiệm thời gian thực hiện công tác GPMB, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư phát triển KT – XH được triển khai nhanh chóng.

2.3. Thực trang áp dụng quy định pháp luật về xác định giá đất cụ thể để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2015 đến nay

Với mong muốn “giá đất bồi thường” đảm bảo phù hợp với giá giao dịch quyền SDĐ trên thị trường, UBND tỉnh Long An quyết định giá bồi thường khi nhà nước thu hồi đất của các đối tượng SDĐ nói chung và doanh nghiệp nói riêng dựa trên cơ sở tư vấn của đơn vị thẩm định giá độc lập. Hoạt động này hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, “UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh được thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể.

Đơn vị thẩm định giá độc lập có trách nhiệm điều tra, khảo sát, lập chứng thư thẩm định giá, thông qua Hội đồng thẩm định giá đất và trình UBND cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tuy nhiên, do hạn chế về chuyên môn trong xác định giá đất, nên quyết định giá đất bồi thường của UBND cấp có thẩm quyền hiện nay phụ thuộc nhiều vào chứng thư thẩm định giá của đơn vị thẩm định giá độc lập. Giá đất khi thông qua Hội đồng thẩm định giá đất và trình UBND cấp có thẩm quyền phê duyệt, hầu như không thay đổi so với giá đất được đơn vị thẩm định giá độc lập tư vấn.

Việc phê duyệt “giá đất bồi thường” chỉ dựa trên tư vấn của duy nhất một đơn vị thẩm định giá là không khách quan. Hiện nay, các đơn vị thẩm định giá thường sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp để xác định “giá đất bồi thường”, cụ thể như sau: “thông qua việc phân tích mức giá của các thửa đất trống tương tự về mục đích SDĐ, vị trí, khả năng sinh lợi, điều kiện kết cấu hạ tầng, diện tích, hình thể, tính pháp lý về quyền SDĐ (sau đây gọi là thửa đất so sánh) đã chuyển nhượng trên thị trường, trúng đấu giá quyền SDĐ để so sánh, xác định giá của thửa đất cần định giá.”56 Mỗi đơn vị thẩm định giá có hoạt động khảo sát và thu thập thông tin khác nhau, cho ra giá đất sau khi thẩm định là khác nhau và có sự chênh lệch nhất định. Do đó, UBND cấp có thẩm quyền không thể căn cứ vào kết quả thẩm định giá của duy nhất một đơn vị thẩm định giá để làm cơ sở phê duyệt giá đất bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Cơ sở chủ yếu để đơn vị thẩm định giá độc lập xác định “giá đất bồi thường” là các hợp đồng chuyển nhượng quyền SDĐ. Tuy nhiên, hoạt động này còn gặp nhiều khó khăn, bất cập, không phản ánh chính xác được giá trị thực tế quyền SDĐ. Nguyên nhân chủ yếu, đó chính là việc các bên khi chuyển nhượng quyền SDĐ không đưa giá chuyển nhượng thực tế vào hợp đồng chuyển nhượng quyền SDĐ, giá được đưa vào hợp đồng thường thấp hơn rất nhiều so với giá các bên đã thỏa thuận. Việc làm này mặc dù tiềm ẩn nhiều rủi ro, dẫn đến các tranh chấp giữa các bên nhưng nó giúp giảm nhiều chi phí phải bỏ ra khi thực hiện chuyển nhượng quyền SDĐ như phí công chứng, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân.

Đối với hoạt động xác định “giá đất bồi thường” khi Nhà nước thu hồi đất, UBND tỉnh Long An cũng đã khẳng định, công tác quyết định giá đất để bồi thường hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, “thời gian qua, công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Chính sách, quy định về đơn giá đất bồi thường đã được sửa đổi, bổ sung, tuy nhiên chưa được đầy đủ, kịp thời và một số quy định chưa phù hợp thực tiễn thu hồi đất tại một số địa phương hoặc đặc thù của một số dự án, từ đó gây khó khăn cho công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Trong đó, việc xác định đơn giá bồi thường những loại đất của doanh nghiệp sử dụng để sản xuất, kinh doanh như đất khu công nghiệp (SKK), đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp (SKC) cũng gặp nhiều khó khăn, do hiện nay trên địa bàn tỉnh Long An, việc chuyển nhượng các loại đất nêu trên là rất ít nên để tìm kiếm các hợp đồng chuyển nhượng thành công, có vị trí, đặc điểm tương tự như các thửa đất bị thu hồi là không dễ dàng. Nếu có, giá trị trong hợp đồng chuyển nhượng quyền SDĐ cũng không đúng so với thực tế. Vì vậy, việc thẩm định giá đất để bồi thường cho các doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất còn gặp nhiều khó khăn, chưa phù hợp với thực tế, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, cơ sở để UBND tỉnh Long An phê duyệt “giá đất bồi thường” cho doanh nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất chỉ dựa trên tư vấn của đơn vị thẩm định giá do UBND cấp có thẩm quyền lựa chọn, doanh nghiệp bị thu hồi đất không được pháp luật trao quyền tham gia đóng góp ý kiến đối với việc xác định “giá đất bồi thường”. Vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến, “việc khởi xướng hoạt động định giá không phải từ phía người dân. Về nguyên tắc, nếu không đồng ý với giá đất do UBND cấp tỉnh quyết định, người dân hoàn toàn có thể tự mình thuê cơ quan định giá. Tuy nhiên, không có bất kỳ quy định nào để UBND cấp tỉnh xem xét đến chứng thư định giá này và việc người dân thuê tổ chức định giá trở nên vô nghĩa. Ngoài những quy định việc định giá là việc của cơ quan hành chính nhà nước, không có quy định nào hướng dẫn cụ thể quyền giám sát của người dân trong suốt quá trình định giá. Qua đó cho thấy, việc xác định giá bồi thường hiện nay chưa đảm bảo được nguyên tắc dân chủ, khách quan và công bằng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Hoạt động xác định giá đất cần “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất,”59 đây là nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động định giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Về cơ bản, nguyên tắc trên tương đối đảm bảo tính hợp lý về phương thức định giá đất và tính chất phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường. Tuy nhiên, do những bất cập đã phân tích ở trên, làm cho công tác xác định “giá đất bồi thường” không bù đắp đầy đủ những tổn thất thực tế của người bị thu hồi đất. Tại tỉnh Long An đã xảy ra nhiều trường hợp bất cập về xác định “giá đất bồi thường”, cùng một vị trí, triển khai nhiều dự án khác nhau nhưng giá bồi thường về đất có sự chênh lệch lớn giữa các dự án. Thậm chí, cùng một thửa đất bị ảnh hưởng hai dự án nhưng giá bồi thường của mỗi dự án lại khác nhau, dẫn đến những bức xúc từ các chủ thể bị thu hồi đất.

Từ những khó khăn, bất cập nêu trên, pháp luật cần có những rà soát, điều chỉnh để hoàn thiện các quy định về xác định đơn giá bồi thường, GPMB, đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể bị thu hồi đất nói chung và chủ thể bị thu hồi đất là doanh nghiệp nói riêng.

2.4. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Long An từ năm 2015 đến nay

Đối với doanh nghiệp, “thẩm quyền quyết định thu hồi đất thuộc về UBND cấp tỉnh. Tuy nhiên, UBND cấp huyện được quyết định thu hồi đất của doanh nghiệp khi thỏa hai điều kiện:

Một là, trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng bị thu hồi đất là doanh nghiệp và các đối tượng thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện.

Hai là, UBND cấp huyện được UBND cấp tỉnh ủy quyền để quyết định thu hồi đất của doanh nghiệp.

Như vậy, đối với trường hợp trong phạm vi GPMB của dự án chỉ có duy nhất chủ thể bị thu hồi đất là doanh nghiệp thì pháp luật không cho phép UBND cấp tỉnh ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi. Đây là một trong những quy định còn khá bất cập, không phù hợp với thực tiễn, rập khuôn và thiếu tính linh hoạt trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thu hồi đất đối với doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

Ngày 06/5/2023, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 73/NQ-CP ngày 06/5/2023 của Chính phủ về việc ủy quyền quyết định giá đất cụ thể. Thực hiện theo nội dung của Nghị quyết 73, UBND tỉnh Long An đã ban hành Quyết định số 4826/QĐ-UBND ngày 05/6/2023 về việc “ủy quyền cho UBND các huyện, thị xã Kiến Tường và thành phố Tân An quyết định giá đất cụ thể và thành lập Hội đồng thẩm định giá đất cho các nội dung, trong đó có việc tính tiền bồi thường, khi Nhà nước thu hồi đất.

Việc UBND tỉnh Long An ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định “giá đất bồi thường” giúp giảm thiểu thời gian, đơn giản hóa trình tự, thủ tục xác định “giá đất bồi thường”, đảm bảo tiến độ triển khai, thực hiện dự án. Tuy nhiên, quy định trên sẽ làm phát sinh một số bất cập về thẩm quyền thu hồi đất đối với doanh nghiệp.

Cụ thể, đối với các doanh nghiệp thuê đất trả tiền một lần để xây dựng nhà xưởng, khi Nhà nước thu hồi đất, thẩm quyền quyết định thu hồi đất của doanh nghiệp thuộc về UBND cấp tỉnh. Song song đó, thẩm quyền quyết định “giá đất bồi thường” sẽ do UBND tỉnh Long An quyết định. Tuy nhiên, hiện nay UBND tỉnh Long An đã ủy quyền cho UBND cấp huyện theo tinh thần Nghị quyết số 73/NQ-CP ngày 06/5/2023 của Chính phủ nên thẩm quyền quyết định “giá đất bồi thường” thuộc về UBND cấp huyện. Như vậy, khi thu hồi đất của doanh nghiệp thuộc trường hợp nêu trên, do Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 không cho phép UBND tỉnh Long An ủy quyền cho UBND các huyện quyết định thu hồi đất nên UBND tỉnh Long An là cơ quan ban hành quyết định thu hồi đất và UBND các huyện là cơ quan quyết định “giá đất bồi thường”.

Quy định trên sẽ gây ra sự thiếu đồng bộ và phức tạp, khó khăn trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thu hồi đất của doanh nghiệp giữa các cơ quan có thẩm quyền. Căn cứ quy định tại điểm a, Khoản 3, Điều 69, Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 “quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được cơ quan có thẩm quyền ban hành cùng một ngày. Theo đó, UBND cấp tỉnh ban hành quyết định thu hồi đất và UBND cấp huyện ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải trong cùng một ngày.

Như vậy, việc UBND cấp tỉnh ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định “giá đất bồi thường” để phê duyệt phương án bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đối với doanh nghiệp vô tình tạo nên sự “khập khiểng” về thẩm quyền. Bởi, theo nguyên tắc, quyết định thu hồi đất là cơ sở để thực hiện thủ tục xác định “giá đất bồi thường” và “giá đất bồi thường phải được xác định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.”64 Hơn nữa, việc xác định giá đất cụ thể để bồi thường rất phức tạp, không thể thực hiện trong một ngày, cần phải thuê đơn vị thẩm định giá lập chứng thư thẩm định giá thông qua Hội đồng thẩm định giá bồi thường và trình UBND cấp huyện phê duyệt. Do đó, khi UBND cấp tỉnh ban hành Quyết định thu hồi đất đối với doanh nghiệp thì trong cùng một ngày UBND cấp huyện không thể thực hiện các thủ tục để ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ.

Trên đây là những bất cập trong áp dụng quy định pháp luật về thẩm quyền thu hồi đất của doanh nghiệp. Văn bản hợp nhất LĐĐ 2018 cần có những sửa đổi, điều chỉnh các quy định về thẩm quyền thu hồi đất đối với tổ chức nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Từ đó, đảm bảo khung pháp lý vững chắc về thu hồi đất của doanh nghiệp để phát triển KT – XH, vì lợi ích quốc gia, công cộng ngày càng được hoàn thiện. Luận văn: Thực trạng pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất của doanh nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464